1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với phép thử từ cuộc khủng hoảng kinh tế

84 408 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 627,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì những lý do trên chúng tôi thực hiện đề tài “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinhtế quốc tế với phép thử từ cuộc khủng hoảng kinh t

Trang 1

MỤC LỤC DANH MỤC BẢNG

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 4

1.1 KHÁI NIỆM DNVVN 4

1.2 KHÁI NIỆM VỀ NLCT 8

1.2.1 Khái niệm cạnh tranh 8

1.2.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh 9

1.2.3 Những yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp .11

1.3 VAI TRÒ CỦA NLCT ĐỐI VỚI DNVVN TRONG GIAI ĐOẠN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 13

1.4 NLCT CỦA DNVVN VỚI THƯỚC ĐO LÀ SẢN PHẨM MỚI VÀ CẢI TIẾN SẢN PHẨM 16

1.4.1 Sản phẩm mới 16

1.4.2 Cải tiến sản phẩm 18

1.4.3 Các yếu tố tác động đến việc tạo sản phẩm mới và cải tiến sản phẩm 18

1.4.3.1 Nhóm quản lý doanh nghiệp 18

1.4.3.2 Tình trạng doanh nghiệp 19

1.4.3.3 Môi trường doanh nghiệp 20

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NLCT CỦA CÁC DNVVN Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2007-2011 22

2.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI VIỆT NAM 22

2.1.1 Các DNVVN có vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam 22

Trang 2

2.1.2 Ưu thế của DNVVN của Việt Nam 28

2.1.3 Hạn chế của DNVVN của Việt Nam 30

2.2 BỐI CẢNH CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TỚI CÁC DNVVN Ở VIỆT NAM 31

2.2.1 Nội dung cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 31

2.2.2 Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 tới các DNVVN ở Việt Nam 38

2.2.3 Hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế tới các DNVVN ở Việt Nam 51

2.3 THỰC TRẠNG NLCT CỦA CÁC DNVVN TRONG GIAI ĐOẠN 2007-2011 53

2.3.1 Thực trạng nhóm quản lý doanh nghiệp 53

2.3.2 Tình trạng doanh nghiệp 55

2.3.3 Tình hình tài chính doanh nghiệp 58

2.3.4 Môi trường doanh nghiệp 59

2.3.5 Nhóm biến phụ thuộc 60

CHƯƠNG 3: : SỬ DỤNG MÔ HÌNH KINH TẾ LƯỢNG ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI NLCT CỦA DNVVN Ở VIỆT NAM 62

3.1 PHƯƠNG PHÁP ƯỚC LƯỢNG 62

3.1.1 Mô hình logit thường 62

3.1.2 Mô hình logit dạng mảng 62

3.1.3 Số liệu và các biến số 63

3.1.3.1 Số liệu 63

3.1.3.2 Bảng biến số 63

3.2 KẾT QUẢ CHẠY MÔ HÌNH 66

Trang 3

3.2.1 Kết quả mô hình từ phương pháp logit thường 66

3.2.1.1 Kết quả mô hình với biến khả năng sáng tạo sản phẩm mới 66

3.2.1.2 Kết quả mô hình với biến khả năng cải tiến sản phẩm 71

3.2.2 Kết quả mô hình từ phương pháp logit dạng mảng 72

3.2.2.1 Kết quả mô hình ước lượng sáng tạo sản phẩm mới với mô hình logit mảng 72

3.2.2.2 Kết quả mô hình ước lượng cải tiến sản phẩm mới với mô hình logit mảng 73

3.3 KẾT LUẬN 73

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 76

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

Trang 4

DANH MỤC BẢNG Bảng 1: Định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ 6 Bảng 2: Bảng mô tả các yếu tố chịu tác động của khủng hoảng đối với DNVVN 52 Bảng 3: Bảng mô tả trình độ văn hóa của chủ doanh nghiệp trong ba năm 2007, 2009, 2011 55 Bảng 4: Bảng phản ánh tình trạng xuất khẩu của các DNVVN ở Việt Nam 56 Bảng 5: Tình trạng doanh nghiệp có thể tăng sản lượng 57 Bảng 6: Bảng phản ánh tỷ lệ số doanh nghiệp sử dụng quảng cáo sản phẩm các năm 2007, 2009, 2011 60 Bảng 7: Các biến phụ thuộc được sử dụng trong mô hình 63 Bảng 8: Các biến độc lập được sử dụng trong mô hình 64 Bảng 9: Kết quả mô hình ước lượng tỷ lệ sáng tạo sản phẩm mới được vói những biến đã lựa chọn năm 2007 66 Bảng 10: Kết quả mô hình ước lượng tỷ lệ sáng tạo sản phẩm mới sau khi đã bỏ biến năm 2007 67 Bảng 11: Kết quả mô hình ước lượng tỷ lệ sáng tạo sản phẩm mới ba năm 2007, 2009, 2011 69 Bảng 12: Kết quả mô hình với biến khả năng cải tiến sản phẩm trong ba năm 2007, 2009, 2011 71 Bảng 13: Kết quả mô hình ước lượng sáng tạo sản phẩm mới với mô hình logit mảng 72 Bảng 14: Kết quả mô hình ước lượng cải tiến sản phẩm mới với mô hình logit mảng 73

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Hội nhập kinh tế quốc tế đang là xu hướng tất yếu trên thế giới hiệnnay, việc hội nhập mang lại cho mỗi quốc gia rất nhiều cơ hội, tạo điềukiện thuận lợi để phát triển thị trường, huy động nguồn vốn nước ngoài,phát triển công nghệ mới và đưa sản phẩm đến người tiêu dùng quốc tế.Đồng thời cũng mang đến không ít khó khăn và thách thức cho mỗi quốcgia, đặc biệt là một quốc gia đang phát triển như Việt Nam Trong đó khókhăn lớn nhất chính là vấn đề cạnh tranh trong điều kiện không cân sức.Tham gia vào nền kinh tế thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam phải cạnhtranh với các công ty, tập đoàn kinh tế hàng đầu với tiềm lực tài chínhlớn và công nghệ hiện đại Điều đó đặt ra yêu cầu cho các doanh nghiệpphải khẩn trương tạo thế lực nâng cao năng lực cạnh tranh của mìnhkhẳng định đẳng cấp doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốctế

Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam thì DNVVN đóngvai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế: phần lớn giải quyếtđược việc làm cho lao động cả nước, hiệu quả làm việc cao, đặc biệt rấtlinh hoạt đối với sự thay đổi, sốc kinh tế và đang đóng góp ngày càngnhiều vào GDP của quốc gia Đây chính là nguồn phát triển để trở thànhdoanh nghiệp lớn của đất nước

Do vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đóng vai trò quantrọng trong sự phát triển của nền kinh tế Năng lực cạnh tranh có thể đobằng nhiều khía cạnh nhưng đối với các nước đang phát triển như ViệtNam và đang định hướng xuất khẩu thì có thể đo bằng khả năng sáng tạosản phẩm mới và cải tiến sản phẩm Điều đó là cần thiết để nền kinh tếViệt Nam có thể hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 6

Vì những lý do trên chúng tôi thực hiện đề tài “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh

tế quốc tế với phép thử từ cuộc khủng hoảng kinh tế”

Mục đích nghiên cứu: Đề tài nhằm mục đích đưa ra được bức tranh

toàn cảnh về sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) ở ViệtNam; nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh củaDNVVN, và từ đó đưa ra các khuyến nghị về mặt chính sách nhằm nângcao năng lực của các DNVVN ở Việt Nam

Đối tượng nghiên cứu : là các DNVVN ở Việt Nam, NLCT của các

DNVVN ở Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu số liệu năm 2007, 2009 và 2011

của các DNVVN ở Việt Nam

Bộ số liệu sử dụng : là 3 bộ số liệu SME_2007, SME_2009,

SME_2011

Phương pháp nghiên cứu: chúng tôi sử dụng các phương pháp:

phân tích tổng hợp-so sánh; phương pháp thống kê mô tả, thống kê suydiễn và các mô hình định lượng

Cấu trúc đề tài: đề tài gồm 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận

Trong chương này chúng tôi sẽ nêu ra những khái niệm, cơ sở lýthuyết để thực hiện đề tài

Chương 2: Thực trạng NLCT của các DNVVN ở Việt Nam tronggiai đoạn 2007-2011

Trong chương này chúng tôi có thực hiện một số so sánh thực trạngphát triển của DNVVN ở Việt Nam trước và trong khủng hoảng kinh tếtoàn cầu

Chương 3: Sử dụng mô hình kinh tế lượng đánh giá các yếu tố tácđộng tới NLCT của DNVVN ở Việt Nam

Trang 7

Trong chương này chúng tôi sẽ xây dựng các mô hình logit nhằmđánh giá khả năng sáng tạo sản phẩm và cải tiến sản phẩm của DNVVN ởViệt Nam.

Chương 4: Kết luận và khuyến nghị

Chương này chúng tôi sẽ đưa ra kết chung của đề tài và từ đó đềxuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao NLCT của DNVVN ở Việt Namtrong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay

Trang 8

1CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

Mặt khác việc lượng hoá các tiêu thức để phân loại quy mô doanhnghiệp còn tuỳ thuộc vào những yếu tố như:

Trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước và những quy định

cụ thể phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội trong từng giaiđoạn

Trong ngành nghề khác nhau thì chỉ tiêu độ lớn của các tiêu thứccũng khác nhau

 Sau đây là khái niệm DNVVN: Doanh nghiệp nhỏ và vừa(Small and medium enterprises - SMEs) là đối tượng doanh nghiệp đặctrưng của nền kinh tế Việc định nghĩa rõ doanh nghiệp nào là vừa và nhỏ

là rất linh hoạt và tùy thuộc vào từng quốc gia, từng khu vực kinh tế.Thông thường sẽ có những mức giới hạn cho một doanh nghiệp để đượccoi là vừa và nhỏ Khi vượt qua rào đó, doanh nghiệp vượt cấp trở thànhdoanh nghiệp lớn, thành các tập đoàn

 Nhận biết DNVVN:

Hiện nay, ở Việt Nam nói riêng và toàn bộ thế giới nói chung, xét cả

về phương diện thực tế và lý luận chưa có một sự thống nhất các chỉ tiêunhằm xác định loại hình (DNVVN) Có quan điểm gắn việc phân loại quy

mô doanh nghiệp với đặc điểm kinh tế kỹ thuật của từng ngành và dựatrên cơ sở hai tiêu thức vốn và lao động Các nước có quan điểm đánh giáquy mô doanh nghiệp theo các tiêu thức vốn và lao động dựa trên cơ sở

Trang 9

đặc tính kinh tế kỹ thuật của từng ngành Nhật Bản, Malayxia, Thailan Chẳng hạn, ở Nhật Bản, theo quy định của Bộ luật cơ bản về DNVVN,trong lĩnh vực công nghiệp chế biến và khai thác thì doanh nghiệp sửdụng dưới 300 lao động, có số vốn sản xuất kinh doanh dưới 100 triệuyên thuộc doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, còn ở Malayxia, doanhnghiệp có số vốn nhỏ hơn 500 Ringit và sử dụng dưới 50 lao động làDNVVN.

- Trong năm 2013, theo thông tư số 16/2013/TT-BTC, ban hànhngày 08 tháng 02 năm 2013 thì doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, baogồm cả chi nhánh, đơn vị trực thuộc nhưng hạch toán độc lập, hợp tác xã( sử dụng dưới 200 lao động làm việc toàn bộ thời gian năm và có doanhthu không quá 20 tỷ đồng ) gọi chung là doanh nghiệp vừa và nhỏ Còntheo điều 3 nghị định 56/2009/NĐ-CP của Chính Phủ ban hành vào ngày

30 tháng 6 năm 2009 thì doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở kinh doanh đãđăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêunhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn ( tổng nguồn vốn tươngđương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanhnghiệp ) hoặc số lao động bình quân năm ( tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu

tiên ), cụ thể như sau:

Trang 10

Bảng 1: Định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ

Quy mô

Khu vực

DN siêunhỏ

động

Tổngnguồn vốn

Số laođộng

Tổngnguồn vốn

20 tỷ đồngtrở xuống

Từ trên 10người đến

20 tỷ đồngtrở xuống

Từ trên 10người đến

10 tỷ đồngtrở xuống

Từ trên 10người đến

100 người

 Đặc trưng hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp vừa

và nhỏ

Tính chất hoạt động kinh doanh

Doanh nghiệp vừa và nhỏ thường tập trung ở nhiều khu vực chế biến

và dịch vụ, tức là gần với người tiêu dùng hơn Trong đó cụ thể là:

 Doanh nghiệp vừa và nhỏ là vệ tinh, chế biến bộ phận chi tiết chocác doanh nghiệp lớn với tư cách là tham gia vào các sản phẩm đầu tư

 Doanh nghiệp vừa và nhỏ thực hiện các dịch vụ đa dạng và phongphú trong nền kinh tế như các dịch vụ trong quá trình phân phối vàthương mại hoá, dịch vụ sinh hoạt và giải trí, dịch vụ tư vấn và hỗ trợ

 Trực tiếp tham gia chế biến các sản phẩm cho người tiêu dùng cuốicùng với tư cách là nhà sản xuất toàn bộ

Trang 11

 Chính nhờ tính chất hoạt động kinh doanh này mà các doanhnghiệp vừa và nhỏ có lợi thế về tính linh hoạt Có thể nói tính linh hoạt làđặc tính trội của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhờ cấu trúc và quy mônhỏ nên khả năng thay đổi mặt hàng, chuyển hướng kinh doanh thậm chí

cả địa điểm kinh doanh được coi là mặt mạnh của các doanh nghiệp vừa

và nhỏ

Về nguồn lực vật chất

Nhìn chung các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị hạn chế bởi nguồn vốn,tài nguyên, đất đai và công nghệ Sự hữu hạn về nguồn lực này là do tônchỉ và nguồn gốc hình thành doanh nghiệp Mặt khác còn do sự hạn hẹptrong các quan hệ với thị trường tài chính – tiền tệ, quá trình tự tích luỹthường đóng vai trò quyết định của từng doanh nghiệp vừa và nhỏ

Nhận thức về vấn đề này các quốc gia đang tích cực hỗ trợ cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ để họ có thể tham gia tốt hơn trong các tổ chức

hỗ trợ để khắc phục sự hạn hẹp này

Về năng lực quản lý điều hành

Xuất phát từ nguồn gốc hình thành, tính chất, quy mô các quản trịdoanh nghiệp vừa và nhỏ thường nắm bắt, bao quát và quán xuyến hầuhết các mặt của hoạt động kinh doanh Thông thường họ được coi là nhàquản trị doanh nghiệp hơn là nhà quản lý chuyên sâu Chính vì vậy mànhiều kỹ năng, nghiệp vụ quản lý trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ cònrất thấp so với yêu cầu

Về tính phụ thuộc hay bị động

Do các đặc trưng kể trên nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị thụđộng nhiều hơn ở thị trường Cơ hội “đánh thức”, “dẫn dắt” thị trườngcủa họ rất nhỏ Nguy cơ “bị bỏ rơi”, phó mặc được minh chứng bằng con

số doanh nghiệp vừa và nhỏ bị phá sản ở các nước có nền kinh tế thịtrường phát triển Chẳng hạn ở Mỹ, bình quân mỗi ngày có tới 100 doanhnghiệp vừa và nhỏ phá sản (đương nhiên lại có số doanh nghiệp tương

Trang 12

ứng phù hợp các doanh nghiệp vừa và nhỏ mới xuất hiện), nói cách kháccác doanh nghiệp vừa và nhỏ có “tuổi thọ” trung bình thấp.

1.2 KHÁI NIỆM VỀ NLCT

1.2.1 Khái niệm cạnh tranh

Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một kháiniệm có nhiều cách hiểu khác nhau Khái niệm này được sử dụng cho cảphạm vi doanh nghiệp, phạm vi ngành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vikhu vực liên quốc gia.vv điều này chỉ khác nhau ở mục tiêu được đặt ra ởchỗ quy mô doanh nghiệp hay ở quốc gia mà thôi Trong khi đối với mộtdoanh nghiệp mục tiêu chủ yếu là tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sởcạnh tranh quốc gia hay quốc tế, thì đối với một quốc gia mục tiêu lànâng cao mức sống và phúc lợi cho nhân dân.vv

Vậy cạnh tranh là sự tranh đua giữa những cá nhân, tập thể, đơn vịkinh tế có chức năng như nhau thông qua các hành động, nỗ lực và cácbiện pháp để giành phần thắng trong cuộc đua, để thỏa mãn các mục tiêucủa mình Các mục tiêu này có thể là thị phần, lợi nhuận, hiệu quả, antoàn, danh tiếng…

Tuy nhiên, không phải tất cả các hành vi cạnh tranh là lành mạnh,hoàn hảo và nó giúp cho các chủ thể tham gia đạt được tất cả những gìmình mong muốn.Trong thực tế, để có lợi thế trong kinh doanh các chủthể tham gia đã sử dụng những hành vi cạnh tranh không lành mạnh đểlàm tổn hại đến đối thủ tham gia cạnh tranh với mình Cạnh tranh khôngmang ý nghĩa triệt tiêu lẫn nhau, nhưng kết quả của cạnh tranh mang lại

là hoàn toàn trái ngược Giống như bất kỳ sự vật hiện tượng nào khác,cạnh tranh cũng luôn tồn tại hai mặt của một vấn đề: mặt tích cực và mặttiêu cực Ở khía cạnh tích cực, cạnh tranh là nhân tố quan trọng góp phầnphân bổ các nguồn lực có hạn của xã hội một cách hợp lý, trên cơ sở đógiúp nền kinh tế tạo lập một cơ cấu kinh tế hợp lý và hoạt động có hiệuquả Bên cạnh đó, cạnh tranh góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của khoa học

Trang 13

công nghệ, dẫn đến gia tăng năng suất sản xuất xã hội, sử dụng hiệu quảcác yếu tố sản xuất đầu vào nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu xã hội thôngqua các sản phẩm, dịch vụ chất lượng cao, giá thành hạ, mẫu mã đadạng… Ở góc độ tiêu cực, nếu cạnh tranh chỉ nhằm mục đích chạy theolợi nhuận mà bất chấp tất cả thì song song với lợi nhuận được tạo ra, cóthể xảy ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho xã hội như môi trường sinhthái bị hủy hoại, nguy hại cho sức khỏe con người, đạo đức xã hội bịxuống cấp, nhân cách con người bị tha hóa Nếu xảy ra tình trạng này,nền kinh tế quốc gia sẽ phát triển một cách lệch lạc và không vì lợi íchcủa số đông.

1.2.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh

Khái niệm năng lực cạnh tranh được đề cập đầu tiên ở Mỹ vào đầunhững năm 1990 Theo Aldington Report (1985): “Doanh nghiệp có khảnăng cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ vớichất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ khác trong nước vàquốc tế Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dàicủa doanh nghiệp và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động vàchủ doanh nghiệp” Tuy nhiên, khái niệm năng lực cạnh tranh đến nayvẫn chưa được hiểu một cách thống nhất Theo Buckley (1988), năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp cần được gắn kết với việc thực hiện mụctiêu của doanh nghiệp với 3 yếu tố: các giá trị chủ yếu của doanh nghiệp,mục đích chính của doanh nghiệp và các mục tiêu giúp các doanh nghiệpthực hiện chức năng của mình Để có thể đưa ra quan niệm năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp phù hợp, cần lưu ý những đặc thù khái niệmnày như Henricsson và các cộng sự (2004) chỉ ra: đó là tính đa nghĩa (cónhiều định nghĩa), đa trị (có nhiều cách đo lường), đa cấp (với các cấp độkhác nhau), phụ thuộc, có tính quan hệ qua lại, tính chất động và là mộtquá trình Ngoài ra, khi đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp, cần lưu ý thêm một số vấn đề sau đây:

Trang 14

Một là, quan niệm năng lực cạnh tranh cần phù hợp với điều kiện,bối cảnh và trình độ phát triển trong từng thời kỳ Chẳng hạn, trong nềnkinh tế thị trường tự do trước đây, cạnh tranh chủ yếu trong lĩnh vực bánhàng và năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với việc bán được nhiều hànghóa hơn đối thủ cạnh tranh Trong điều kiện thị trường cạnh tranh hoànhảo, cạnh tranh trên cơ sở tối đa hóa số lượng hàng hóa nên năng lựccạnh tranh thể hiện ở thị phần Còn trong điều kiện kinh tế tri thức hiệnnay, cạnh tranh đồng nghĩa với mở rộng “không gian sinh tồn”, doanhnghiệp phải cạnh tranh không gian, cạnh tranh thị trường, cạnh tranh tưbản và do vậy quan niệm về năng lực cạnh tranh cũng phải phù hợp vớiđiều kiện mới Đối với Việt Nam hiện nay, với trình độ phát triển kinh tếcòn thấp, nhưng lại đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và cạnhtranh gay gắt, việc đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh cho phù hợp vớibối cảnh hiện nay là không đơn giản.

Hai là, năng lực cạnh tranh cần thể hiện khả năng đua tranh, tranhgiành giữa các doanh nghiệp không chỉ về năng lực thu hút và sử dụngcác yếu tố sản xuất, khả năng tiêu thụ hàng hóa, mà cả khả năng mở rộngkhông gian sinh tồn của sản phẩm, khả năng sáng tạo sản phẩm mới

Ba là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần thể hiện đượcphương thức cạnh tranh phù hợp, bao gồm cả những phương thức truyềnthống và các phương thức hiện đại – không chỉ dựa trên lợi thế so sánh

mà dựa vào lợi thế cạnh tranh, dựa vào quy chế

Từ những yêu cầu trên, có thể đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranhcủa doanh nghiệp như sau:

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nângcao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lướitiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợiích kinh tế cao và bền vững

Trang 15

Như vậy, năng lực cạnh tranh không phải là chỉ tiêu đơn nhất màmang tính tổng hợp, bao gồm nhiều chỉ tiêu cấu thành và có thể xác địnhđược cho nhóm doanh nghiệp (ngành) và từng doanh nghiệp.

1.2.3 Những yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Cũng như bản thân doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp chịu tác động của rất nhiều nhân tố khác nhau như điềukiện cầu (thị trường), điều kiện yếu tố(nguồn lực đầu vào), các ngànhcung ứng và liên quan (cạnh tranh ngành), các sản phẩm mới và sự cảitiến sản phẩm , dịch vụ mới của doanh nghiệp, các yếu tố ngẫu nhiên vàyếu tố nhà nước Tuy nhiên, có thể chia các nhân tố tác động đến nănglực cạnh tranh của doanh nghiệp làm hai nhóm: các yếu tố bên trongdoanh nghiệp và các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp

Các yếu tố bên trong doanh nghiệp

- Trình độ tổ chức quản lý của doanh nghiệp

Tổ chức quản lý tốt trước hết là áp dụng phương pháp quản lý hiệnđại đã được doanh nghiệp của nhiều nước áp dụng thành công nhưphương pháp quản lý theo tình huống, quản lý theo tiếp cận quá trình vàtiếp cận hệ thống Bản thân doanh nghiệp phải tự tìm kiếm và đào tạo cán

bộ quản lý cho chính mình, phải thiết lập được cơ cấu tổ chức đủ độ linhhoạt, thích nghi cao với sự thay đổi

- Trình độ lao động trong doanh nghiệp

Nhân lực là một nguồn lực rất quan trọng vì nó đảm bảo nguồn sángtạo trong mọi tổ chức Trình độ nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra các sảnphẩm có chất lượng tốt, thể hiện trong kết cấu kỹ thuật của sản phẩm,mẫu mã, chất lượng và từ đó uy tín, danh tiếng của sản phẩm sẽ ngàycàng tăng, nhiều sản phẩm mới của doanh nghiệp sẽ được mở rộng ra thịtrường, tạo được vị trí vững chắc của doanh nghiệp trên thương trường

và trong lòng công chúng, hướng tới sự phát triển bền vững

Trang 16

- Năng lực tài chính của doanh nghiệp

Bên cạnh nguồn nhân lực, vốn là một nguồn lực liên quan trực tiếptới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có năng lựccạnh tranh cao là doanh nghiệp có nguồn vốn dồi dào, luôn đảm bảo huyđộng được vốn trong những điều kiện cần thiết, có nguồn vốn huy độnghợp lý, có kế hoạch sử dụng vốn hiệu quả để phát triển lợi nhuận và phảihạch toán các chi phí rõ ràng để xác định được hiệu quả chính xác

- Khả năng liên kết và hợp tác với doanh nghiệp khác và hội nhậpkinh tế quốc tế

Một doanh nghiệp tồn tại trong mối liên hệ nhiều chiều với các đốitượng hữu quan trong môi trường kinh doanh Trong kinh doanh thườngxuất hiện nhu cầu liên kết và hợp tác giữa nhiều đối tác với nhau làm tăngkhả năng cạnh tranh Khả năng liên kết và hợp tác của doanh nghiệp thểhiện ở việc nhận biết các cơ hội kinh doanh mới, lựa chọn đúng đối tácliên minh và khả năng vận hành liên minh một cách có kết quả và đạthiệu quả cao, đạt được các mục tiêu đặt ra

- Trình độ thiết bị, công nghệ và sự cải tiến sản phẩm, tạo ra sảnphẩm mới

Thiết bị, công nghệ sản xuất là yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng rấtlớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Công nghệ phù hợp cùngvới nguồn nhân lực dồi dào, trình độ cao giúp rút ngắn thời gian sản xuất,giảm mức tiêu hao năng lượng, tăng năng suất, hạ giá thành sản phẩm,nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra nhiều sản phẩm mới tạo ra lợi thếcạnh tranh đối với sản phẩm của doanh nghiệp

- Trình độ năng lực marketing

Năng lực marketing của doanh nghiệp là khả năng nắm bắt nhu cầuthị trường Khả năng marketing tác động trực tiếp tới sản xuất và tiêu thụsản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng, góp phần làm tăng doanh thu,tăng thị phần tiêu thụ sản phẩm, nâng cao vị thế của doanh nghiệp Đây là

Trang 17

nhóm nhân tố rất quan trọng tác động tới năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp.

Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp

Có rất nhiều nhân tố bên ngoài tác động đến năng lực cạnh tranh củadoanh

nghiệp, có thể chia thành 4 nhóm yếu tố:

- Một là, các điều kiện yếu tố đầu vào, gồm 5 phân nhóm: kết cấu hạtầng vật chất – kỹ thuật; hạ tầng hành chính, nguồn nhân lực, hạ tầngcông nghệ, thị trường tài chính

- Hai là, các điều kiện về cầu: sở thích của người mua, tình hìnhpháp luật về

tiêu dùng, về công nghệ thông tin…

- Ba là, các ngành cung ứng và ngành liên quan: chất lượng và sốlượng các nhà cung cấp địa phương, khả năng tại chỗ về nghiên cứuchuyên biệt và dịch vụ đào tạo, mức độ hợp tác giữa các khu vực kinh tế,khả năng cung cấp tại chỗ các chi tiết và phụ kiện máy móc

- Bốn là, bối cảnh đối với chiến lược và cạnh tranh của doanhnghiệp, gồm hai phân nhóm là động lực và cạnh tranh (các rào cản vôhình, sự cạnh tranh của các nhà sản xuất địa phương, hiệu quả của việcchống độc quyền)

1.3 VAI TRÒ CỦA NLCT ĐỐI VỚI DNVVN TRONG GIAI ĐOẠN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh tồn tại như một quy luậtkinh tế

khách quan và do vậy việc nâng cao năng lực cạnh tranh để cạnhtranh trên thị

trường luôn được đặt ra đối với các doanh nghiệp, nhất là trongbối cảnh hội

Trang 18

nhập kinh tế sâu rộng như hiện nay Cạnh tranh ngày càng gay gắtkhi trên thị

trường ngày càng xuất hiện nhiều các đối thủ cạnh tranh nước ngoàivới tiềm

lực mạnh về tài chính, công nghệ, quản lý và có sức mạnh thịtrường Nâng cao

năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp là một đòi hỏi cấp bách đểdoanh nghiệp

đủ sức cạnh tranh một cách lành mạnh và hợp pháp trên thươngtrường

Không những thế, với xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới hiệnngay, việc nâng cao năng lực cạnh tranh ở các doanh nghiệp có ý nghĩahết sức quan trọng và quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp Bởi

lẽ suy cho cùng, mục đích cuối cùng trong hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp là mang lại càng nhiều lợi nhuận, khi đó việc nâng caonăng lực cạnh tranh tại doanh nghiệp được xem như là một chiến lượckhông thể thiếu trong định hướng phát triển và nó góp phần vào việc hoànthành mục tiêu của doanh nghiệp Nâng cao năng lực cạnh tranh khôngchỉ nhằm mục đích là đem lại lợi ích cho doanh nghiệp, mà còn gópphần vào sự tăng trưởng của ngành và cả quốc gia

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng nhận được sự cạnh tranhtrong nước và quốc tế Họ đặc biệt cần có thông tin về thị trường, ngườimua, người bán, giá cả, các quy định thương mại và cách thức buôn bántrên thị trường mục tiêu Vậy năng lực cạnh tranh có vai trò như thế nàotrong thời kỳ hiện nay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Namtrong quá trình hội nhập kinh tế hiện nay?

Thứ nhất, năng lực cạnh tranh thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ

nỗ lực nhằm khác biệt hoá sản phẩm, tạo ra hình ảnh hay đáp ứng sởthích của người tiêu dùng, phát triển sản phẩm, thiết kế lại hay sửa lại

Trang 19

Điều này đòi hỏi phải có chuyên môn cao mà ở những nước đang pháttriển thì việc này rất khó.

Thứ hai, hiện nay thị trường quốc tế có nhiều doanh nghiệp củanhiều quốc gia khác nhau với những đặc điểm và lợi thế riêng đã tạo ramột sức ép cạnh tranh mạnh mẽ, không cho phép các doanh nghiệp hànhđộng theo ý muốn của mình mà buộc doanh nghiệp phải quan tâm đếnviệc thúc đẩy khả năng cạnh tranh của mình theo hai xu hướng: Tăng chấtlượng của sản phẩm và hạ chi phí sản xuất, muốn thực hiện được điều nàycác doanh nghiệp vừa và nhỏ phải xác định được tầm quan trọng củanăng lực cạnh tranh trong tổ chức của mình

Thứ ba, chính sự tồn tại khách quan và sự ảnh hưởng của cạnh tranhđối với nền kinh tế nói chung và đến từng doanh nghiệp nói riêng nênviệc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là một đòi hỏi tấtyếu khách quan trong nền kinh tế thị trường

Thứ tư, trên thị trường có sự cạnh tranh rất khốc liệt đối với nhữngdoanh nghiệp có năng lực cạnh tranh tốt sẽ thể hiện được khả năng “ bảnlĩnh” của mình trong quá trình kinh doanh Nó sẽ làm cho doanh nghiệpcàng vững mạnh và phát triển hơn nếu nó chịu được áp lực cạnh tranhtrên thị trường

Thứ năm, năng lực cạnh tranh cao giúp các doanh nghiệp có khảnăng hội nhập với quốc tế, tăng năng suất lao động và sử dụng tốt cácnguồn lực của doanh nghiệp, vượt qua được các khó khăn trong quá trìnhkinh doanh và sản xuất Dựa trên năng lực cạnh tranh, các nhà đầu tưcũng có thể đánh giá và quyết định đầu tư vào các doanh nghiệp trongthời kì khó khăn như hiện nay

Tóm lại, kinh tế thế giới phát triển, quốc tế hóa thương mại đòi hỏicác nước phải xóa bỏ rào cản, chấp nhận tự do buôn bán, vì thế mỗi nướcphải mở cửa thị trường trong nước, điều đó cũng đồng nghĩa với việcnâng cao sức cạnh tranh của nước đó phù hợp với sự phát triển của thế

Trang 20

giới Do đó, năng lực cạnh tranh có vai trò khá quan trọng đối với cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ trong quá trình toàn cầu hóa như hiện nay.

1.4 NLCT CỦA DNVVN VỚI THƯỚC ĐO LÀ SẢN PHẨM MỚI

VÀ CẢI TIẾN SẢN PHẨM

Trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu, các DNVVN gặp phảirất nhiều khó khăn như lao động ít, trình độ còn thấp, nguồn vốn đầu tưhạn hẹp… Do vậy, các DNVVN cần có giải pháp để tăng năng lực cạnhtranh của mình so với các đối thủ khác Để tăng năng lực canh tranh củamình, các doanh nghiệp cần khác biệt hóa sản phẩm, cải tiến sản phẩm,

và không ngừng sáng tạo tạo ra sản phẩm mới, hình ảnh mới đáp ứngđược nhu cầu người tiêu dùng Vì những lý do trên mà chúng tôi quyếtđịnh chọn yếu tố doanh nghiệp có sản phẩm mới hay cải tiến sản phẩmhay không để đánh giá năng lực cạnh tranh của DNVVN

1.4.1 Sản phẩm mới

Khái niệm sản phẩm theo quan niệm truyền thống: Sản phẩm là tổnghợp đặc tính vật lý học, hóa học, sinh học có thể quan sát được, dùng đểthỏa mãn những nhu cầu cụ thể của sản xuất và đời sống

Khái niệm sản phẩm theo quan niệm của Maketing: Sản phẩm là thứ

có khả năng thỏa mãn nhu cầu mong muốn của khách hàng, cống hiếnnhững lợi ích cho họ và có thể đưa ra chào bán trên thị trường với khảnăng thu hút sự chú ý mua sắm và tiêu dùng Theo đó sản phẩm được cấuthành từ hai yếu tố cơ bản là: yếu tố vật chất và yếu tố phi vật chất

Theo quan niệm này, sản phẩm vừa là cái đã có vừa là cái đang vàtiếp tục phát sinh trong trạng thái biến đổi không ngừng của nhu cầu.Ngày nay người tiêu dùng không chỉ quan tâm đến khía cạnh vật chất màcòn quan tâm đến nhiều khía cạnh phi vật chất, khía cạnh hữu hình và cảcác yếu tố vô hình của sản phẩm

Vậy sản phẩm mới là gì? Có phải những sản phẩm các doanh nghiệpđưa ra thị trường đều được gọi là sản phẩm mới hay không? Nếu doanh

Trang 21

nghiệp chỉ thêm một vài thành phần mới, vài chi tiết mới của sản phẩmthì đấy có phải là một sản phẩm mới hay không? Hay chỉ những sảnphẩm hoàn toàn mới về mặt quan niệm mới được coi là một sản phẩmmới?

Đứng trên góc độ của các doanh nghiệp để đánh giá, người ta chiasản phẩm mới thành hai loại: sản phẩm mới tương đối và sản phẩm mớituyệt đối

Sản phẩm mới tương đối là sản phẩm đầu tiên doanh nghiệp sản xuất

và đưa ra thị trường, nhưng không mới đối với doanh nghiệp khác và đốivới thị trường chúng cho phép doanh nghiệp mở rộng dòng sản phẩm chonhững cơ hội kinh doanh mới Chi phí để phát triển loại sản phẩm nàythường thấp, nhưng khó xác định vị trí của sản phẩm trên thị trường vìngười tiêu dùng vẫn có thế thích sản phẩm của đối thủ cạnh tranh hơn.Sản phẩm mới tuyệt đối là sản phẩm mới đối với cả doanh nghiệp vàđối với cả thị trường doanh nghiệp giống như ngươi “tiên phong” đi đầutrong sản xuất sản phẩm này Sản phẩm này ra mắt nguời tiêu dùng lầnđầu tiên Đây là một quá trình tương đối phức tạp và khó khăn (cả tronggiai đoạn sản xuất và bán hàng) Chi phí dành cho nghiên cứu, thiết kế,sản xuất thử và thử nghiệm trên thị trường thường rất cao Vậy liệu mộtsản phẩm có được coi là mới hay không phụ thuộc vào cách mà thịtrường nhận thức về nó Nếu người tiêu dùng đánh giá sản phẩm này khácđáng kể so với các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh về hình thức, chấtlượng, mẫu mã thì sản phẩm đó được coi là sản phẩm mới

1.4.2 Cải tiến sản phẩm

Sự cải tiến là điều kiện cần thiết và quan trọng giúp doanh nghiệpnâng cao lợi thế canh tranh và phát triển bền vững Theo Schrumpter(Xem Rogers 1998:6) có năm loại cải tiến, bao gồm cải tiến sản phẩmmới hoặc thay đổi sản phẩm cũ; phương pháp sản xuất mới; mở cửa thịtrường mới; nguồn lực đầu vào mới; đổi mới tổ chức Gần đây Porter and

Trang 22

Stern đưa ra khái niệm cải tiến “Sự cải tiến – là phép biến đổi trí thứctrong sản phẩm mới, quy trình mới, và dịch vụ mới - chứa đựng nhiềuhàm lượng công nghệ và khoa học hơn để đáp ứng nhu cầu đa dạng củakhách hàng”.

Cải tiến sản phẩm tức là sử dụng thông tin có được từ việc sử dụngcác công cụ như thiết kế thử nghiệm và đánh giá vòng đời sản phẩm đểtiến hành sự điều chỉnh sản phẩm Sự điều chỉnh này sẽ cải tiến năng suất,chất lượng sản phẩm giúp cho sản phẩm có tính cạnh tranh trên thịtrường

Những sản phẩm cải tiến thường khai thác các đặc điểm hay côngnghệ hiện đại để phục vụ một mục đích khác Theo nghĩa này, cải tiến sảnphẩm chỉ đại diện cho hình thức đổi mới không triệt để

So với các sản phẩm đột phá, cải tiến sản phẩm mất ít thời gian vàchi phí để phát triển hơn, vì phần cốt lõi của sản phẩm vẫn giữ nguyên,chỉ một vài tính năng được thay đổi để cải thiện hiệu suất hoặc làm chosản phẩm có sức thu hút hơn với khách hàng

1.4.3 Các yếu tố tác động đến việc tạo sản phẩm mới và cải tiến sản phẩm

1.4.3.1 Nhóm quản lý doanh nghiệp

Nhóm quản lý doanh nghiệp gồm có tuổi chủ doanh nghiệp, trình độchủ doanh nghiệp

Chủ doanh nghiệp có trình độ càng cao, độ tuổi cao thì sẽ có nhiềukinh nghiệm trong việc quản lý doanh nghiệp, đưa ra các chiến lược sảnphẩm phù hợp với tình trạng doanh nghiệp cũng như trong thời kỳ khủnghoảng kinh tế toàn cầu Người quản lý giữ vai trò quan trọng trong việcdoanh nghiệp phát triển hay đi xuống, mỗi quyết định của họ cần phảichính xác, đúng thời điểm Chủ doanh nghiệp có kinh nghiệm quản lý sẽbiết khi nào đưa ra sản phẩm mới hay cải tiến sản phẩm để phát triểndoanh nghiệp

Trang 23

1.4.3.2 Tình trạng doanh nghiệp

Tình trạng doanh nghiệp gồm có hình thức sở hữu, ngành sản xuấtchính, loại máy móc đang sử dụng, mức tăng sản lượng số lượng kháchhàng, doanh nghiệp có hàng tồn kho hay không và xuất khẩu

Hình thức sở hữu là loại hình doanh nghiệp như doanh nghiệp hộ giađình, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, công ty cổ phần, công ty TNHH,

Xuất khẩu hàng hoá là hoạt động kinh doanh buôn bán ở phạm viquốc tế Nó không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là cả một hệthống các quan hệ mua bán trong một nền thương mại có tổ chức cả bêntrong và bên ngoài nhằm bán sản phẩm, hàng hoá sản xuất trong nước ranước ngoài thu ngoại tệ, qua đẩy mạnh sản xuất hàng hoá phát triển,chuyển đổi cơ cấu kinh tế ổn định từng bước nâng cao mức sống nhândân Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh dễ đem lại hiệu quả đột biến Mởrộng xuất khẩu để tăng thu ngoại tệ, tạo điều kiện cho nhập khẩu và thúcđẩy các ngành kinh tế hướng theo xuất khẩu, khuyến khích các thànhphần kinh tế mở rộng xuất khẩu để giải quyết công ăn việc làm và tăngthu ngoại tệ

Để đưa ra sản phẩm mới, cải tiến sản phẩm doanh nghiệp cần nắm rõtình trạng của mình Thời gian dự trữ hàng hóa càng lâu chứng tỏ hànghóa càng lâu thì hàng hóa dễ bị lỗi thời, không đáp ứng nhu cầu ngườitiêu dùng Việc xuất khẩu cũng tạo động lực cho các doanh nghiệp ưuviệt hóa sản phẩm để đáp ứng được nhu cầu người tiêu dùng quốc tế Máymóc sử dụng ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất sản phẩm Nếunhư doanh nghiệp có lượng hàng tồn kho càng lớn có thể cho rằng sảnphẩm của doanh nghiệp chưa làm hài lòng người tiêu dùng Mức sảnlượng thấp cũng cho thấy doanh nghiệp kinh doanh không có hiệu quả Vìvậy doanh nghiệp cần cải tiến lại sản phẩm, sáng tạo ra những sản phẩmmới

Trang 24

1.4.3.3 Môi trường doanh nghiệp

Theo Luật Quảng cáo năm 2012 định nghĩa về quảng cáo: “Quảngcáo là việc sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sảnphẩm, hàng hóa, dịch vụ có mục đích sinh lợi hay sản phẩm, dịch vụkhông có mục đích sinh lợi Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ, hànghóa, sản phẩm được giới thiệu, trừ tin thời sự Chính sách xã hội Thông

tin cá nhân.

Quảng cáo sản phẩm nhằm mục đích giới thiệu hàng hóa, dịch vụcủa các doanh nghiệp nhằm tăng thêm hiểu biết của người tiêu dùng đốivới sản phẩm từ đó kích thích sức mua của người tiêu dùng, đẩy mạnhhoạt động sản xuất, bán hàng và các dịch vụ Quảng cáo giúp tăng cườngnhận thức của người tiêu dùng về sản phẩm, giúp họ có có lựa chọn đượcsản phẩm thích hợp và đây cũng là cách mà các doanh nghiệp quảng básản phẩm của mình

Quy trình sản xuất mới là việc thay đổi ít nhất một khâu sản xuấthay việc áp dụng công nghệ cao để sản xuất làm rút ngắn các khâu sảnxuất mà vẫn bảo đảm chất lượng sản phẩm Quy trình mới cũng giúp chocác doanh nghiệp tăng năng suất lao động, cải tiến được chất lượng sảnphẩm nhằm giúp sản phẩm có sức cạnh tranh hơn trên thị trường

Dự kiến phát triển là kế hoạch, mục tiêu, chiến lược mà doanhnghiệp vạch ra nhằm giúp phát triển doanh nghiệp, có những ý tưởng rõràng nhằm đưa sản phẩm của mình tới người tiêu dùng Khi có dự kiếnphát triển thì các doanh nghiệp sẽ cố gắng để thực hiện được nó tạo thêmđộng lực cho các doanh nghiệp trong việc cạnh tranh trên thị trường.Quảng cáo là điều không thể thiếu ở bất kỳ doanh nghiệp nào Đây

là một chiến lược maketing tốt, các doanh nghiệp có thể cung cấp thôngtin của sản phẩm đến đông đảo người tiêu dùng Để có được sản phẩmmới hay cải tiến sản phẩm một cách tốt hơn thì không thể thiếu quy trìnhsản xuất Nếu có được một quy trình sản xuất mới phù hợp thì sản phẩm

Trang 25

của doanh nghiệp cũng được thiện cách rõ ràng Và cuối cùng là phảivạch ra kế hoạch phát triển cách chi tiết nhằm có những bước đi phù hợp.Tóm lại, để có thể cạnh tranh thì các doanh nghiệp cần có chiến lượccải tiến sản phẩm, sáng tạo ra những sản phẩm mới vượt trội hơn so vớiđối thủ của mình luôn luôn thay đổi sản phẩm sao cho phù hợp với từngthời kỳ, từng đối tượng tiêu dùng.

Trang 26

2CHƯƠNG 2:

THỰC TRẠNG NLCT CỦA CÁC DNVVN Ở VIỆT NAM

TRONG GIAI ĐOẠN 2007-2011.

2.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI VIỆT NAM

2.1.1 Các DNVVN có vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam.

- So với các doanh nghiệp lớn, DNVVN có những lợi thế cơ động,linh hoạt, dễ dàng chuyển hướng sản xuất kinh doanh, nhạy bén vớinhững sự thay đổi của thị trường, sẵn sàng đầu tư vào những lĩnh vực thửnghiệm đổi mới công nghệ Bên cạnh đó, số lượng các DNVVN của ViệtNam là rất lớn, vì vậy DNVVN có vai trò quan trọng đối với kinh tế xãhội của đất nước Một trong số những vai trò quan trọng của DNVVN là:

Đóng góp lớn vào kết quả hoạt động nền kinh tế

Bình quân trong giai đoạn 2002 đến 2006, số DN dân doanh tănggần 22%/năm, số vốn tăng trên 45%/năm Năm 2006, cả nước có khoảng

245 nghìn DNVVN hoạt động trong các ngành (trong đó trên 240 nghìndoanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ngoài Nhà nước)

Năm 2007 con số này là khoảng 310 nghìn doanh nghiệp, năm 2008

là khoảng 335 nghìn doanh nghiệp chiếm khoảng 95% tổng số doanhnghiệp trong cả nước, gần 3 triệu hộ kinh doanh cá thể và gần 20.000 hợptác xã Số lượng DNVVN trong lĩnh vực công nghiệp thường chiếm 29-30% tổng số chung (tương đương khoảng 106 nghìn doanh nghiệp)

Sự phát triển của các DNVVN có sự khác nhau giữa các vùng Nếuxét theo số lượng thì số các doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ ở cácvùng chênh lệch nhau tương đối lớn, tập trung chủ yếu ở vùng Đông Nam

Bộ và Đồng bằng sông Hồng Tuy nhiên, xét về tốc độ tăng bình quân thì

“các vùng đều có sự phát triển số lượng doanh nghiệp” Theo đó, tốc độphát triển bình quân giai đoạn 2003-2007 của các vùng như sau: VùngĐồng bằng Bắc Bộ: tăng 4,5%; Vùng Đông Bắc: 5,5%; Vùng Tây Bắc:

Trang 27

2,6%; vùng Bắc Trung Bộ: 5,8%; Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ: 4,9%;vùng Đông Nam Bộ: trên 6,5%; vùng Tây Nam Bộ: 3,5 % (theo CụcCông Nghiệp địa phương thuộc Bộ Công Thương)

Trong nhiều ngành sản xuất, các doanh nghiệp dân doanh côngnghiệp đang giữ vị trí khá quan trọng, ví dụ như: Trong ngành sản xuất,phân phối điện, nước, khí đốt, doanh nghiệp dân doanh chiếm trên 61%;Khai thác mỏ là trên 83%; Công nghiệp chế biến trên 86%; Sửa chữa xe

có động cơ, mô tô, xe máy, đồ dùng 93%; Sản xuất giấy 88%

Các DNVVN đóng góp hơn 40% GDP, chiếm tỷ trọng 29% tổngkim ngạch xuất khẩu của cả nước, đóng góp hơn 15% tổng thu ngân sáchNhà nước, 78% mức bán lẻ, 33% giá trị sản lượng công nghiệp

Tạo ra nhiều việc làm với chi phí thấp

Với tốc độ tăng dân số hiện nay so với tốc độ tăng của nền kinh tếthì tỷ lệ người thất nghiệp sẽ gia tăng, do đó ngoài các chính sách làmgiảm tốc độ tăng dân số cần phải kết hợp với tăng nhanh số lượng doanhnghiệp vừa và nhỏ để giải quyết vấn đề công ăn việc làm cho người laođộng

Các cơ sở doanh nghiệp vừa và nhỏ rất thích hợp với các phươngpháp tiết kiệm vốn và do đó chúng được công nhận là phương tiện giảiquyết thất nghiệp hiệu quả nhất

Thứ nhất, do đặc tính phân bố rải rác của chúng Các doanh nghiệploại này thường phân tán nên chúng có thể đảm bảo cơ hội việc làm chonhiều vùng địa lý và nhiều đối tượng lao động, đặc biệt là với các vùngsâu, vùng xa, vùng chưa phát triển kinh tế, với các đối tượng lao động cótrình độ tay nghề thấp Nhờ vậy chúng ta vừa giải quyết thất nghiệp vừagóp phần giảm số người chuyển về thành phố tìm việc làm

Thứ hai, do tính linh hoạt, uyển chuyển dễ thích ứng với các thayđổi của thị trường của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trong trường hợp cóbiến động xảy ra, các doanh nghiệp lớn sẽ đối phó khá chậm chạp, không

Trang 28

phải vì cấp quản lý bất tài mà bởi vì doanh nghiệp lớn thì khó xoay trởnhanh Họ sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt động, sau đó sẽ phải sathải bớt lao động để cắt giảm chi phí đến mức có thể tồn tại và phát triểnđược trong điều kiện cung lớn hơn cầu Trong khi đó do khả năng linhhoạt, có thể thích ứng nhanh với thay đổi của thị trường, các DNVVNvẫn có thể tồn tại được mà không phải sử dụng đến biện pháp cắt giảmlao động.

Nhờ những đặc tính này mà các DNVVN của Việt Nam đã và đangthu hút hơn 50% tổng số lao động trong doanh nghiệp tức khoảng 13 triệulao động đang hoạt động cho các DNVVN Điều này đóng góp không nhỏvào việc giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo cho người lao động

Cung cấp cho xã hội một khối lượng hàng hoá đáng kể về cả chấtlượng, số lượng và chủng loại

Các công ty, DNVVN thu hút một lượng lớn lao động và tài nguyêncủa xã hội để sản xuất ra hàng hoá Để có thêm sức cạnh tranh trực tiếpvới các công ty và tập đoàn lớn, hàng hoá của họ nói chung thiên về sự đadạng về chất lượng và chủng loại, tạo cho người tiêu dùng có nhiều cơhội được lựa chọn Bên cạnh đó họ cũng tiến vào nhiều thị trường nhỏ màcác công ty lớn bỏ qua vì doanh thu từ đó quá nhỏ

DNVVN góp phần làm năng động nền kinh tế trong cơ chế thịtrường

Các công ty lớn và các tập đoàn không có được tính năng động củacác đơn vị kinh tế nhỏ hơn chúng vì một nguyên nhân đơn giản là quy môcủa chúng quá lớn Quy luật của vật lý là khối lượng một vật càng lớn thìquán tính của nó càng lớn Cũng vậy, các đơn vị kinh tế càng to lớn thìcàng thiếu tính linh hoạt, thiếu khả năng phản ứng nhanh, nói cách khác

là sức ỳ càng lớn Một nền kinh tế đặt một tỷ lệ quá lớn nguồn lao động

và tài nguyên vào tay các doanh nghiệp quy mô lớn sẽ trở nên chậm chạp,không bắt kịp và phản ứng kịp với các thay đổi trên thị trường Ngược lại,

Trang 29

một nền kinh tế có một tỷ lệ thích hợp các DNVVN sẽ trở nên “nhanhnhẹn” hơn, phản ứng kịp thời hơn Tính hiệu quả của nền kinh tế sẽ đượcnâng cao Do lợi thế quy mô nhỏ là năng động, linh hoạt, sáng tạo trongkinh doanh, cùng với hình thức tổ chức kinh doanh có sự kết hợp chuyênmôn hóa và đa dạng hóa mềm dẻo, hòa nhịp được với những đòi hỏi củanền kinh tế thị trường.

DNVVN thu hút được khá nhiều vốn ở trong dân

Do tính chất nhỏ lẻ, dễ phân tán đi sâu vào dân cư và yêu cầu về sốlượng vốn ban đầu không nhiều, cho nên các DNVVN có tác dụng rất lớntrong việc thu hút các nguồn vốn nhỏ lẻ, nhàn rỗi trong các tầng lớp dân

cư đầu tư vào sản xuất kinh doanh, chúng tạo lập dần tập quán đầu tư vàosản xuất kinh doanh và hình thành các khu vực để thực hiện có kết quảvấn đề huy động vốn của dân cư theo luật khuyến khích đầu tư trongnước

DNVVN có vai trò to lớn đối với quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế đặc biệt đối với khu vực nông nghiệp

DNVVN thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làmcho công nghiệp phát triển mạnh, đồng thời thúc đẩy các ngành thươngmại- dịch vụ phát triển Sự phát triển DNVVN cũng góp phần làm tăng tỷtrọng công nghiệp, dịch vụ và làm thu hẹp dần tỷ trọng khu vực nôngnghiệp trong nền kinh tế quốc dân Các DNVVN còn góp phần đa dạnghoá cơ cấu công nghiệp

DNVVN góp phần vào đô thị hoá phi tập trung và thực hiệnphương châm “ly nông bất ly hương”

Sự phát triển của các DNVVN ở nông thôn sẽ thu hút những ngườilao động thiếu hoặc chưa có việc làm và có thể thu hút lượng lớn laođộng thời vụ trong các kỳ nông nhàn vào hoạt động sản xuất-kinh doanh,rút dần lao động làm nông nghiệp sang làm công nghiệp hoặc dịch vụ,nhưng vẫn sống tại quê hương bản quán, không phải di chuyển đi xa, thực

Trang 30

hiện phương châm “ly nông bất ly hương” Đồng hành với nó là hìnhthành những khu vực khá tập trung các cơ sở công nghiệp và dịch vụngay tại nông thôn, tiến dần lên hình thành những thị tứ, thị trấn, là hìnhthành các đô thị nhỏ đan xen giữa những làng quê, là quá trình đô thị hoáphi tập trung.

Gieo mầm cho các tài năng quản trị kinh doanh

Một số những người có tài trong quản trị kinh doanh không muốnlàm việc cho các công ty lớn mà muốn mở công ty riêng để thể hiện vàphát huy được hết khả năng của mình Kinh doanh quy mô nhỏ sẽ là nơiđào tạo, rèn luyện các nhà doanh nghiệp làm quen với môi trường kinhdoanh Bắt đầu từ kinh doanh quy mô nhỏ và thông qua điều hành quản

lý kinh doanh quy mô vừa và nhỏ, một số nhà doanh nghiệp sẽ trưởngthành nên những nhà doanh nghiệp lớn tài ba, biết đưa doanh nghiệp củamình nhanh chóng phát triển Các tài năng kinh doanh sẻ được ươm mầm

Một nền kinh tế bao giờ cũng có “vùng biên giới”, “vùng sâu”,

“vùng xa” Đó là các khu vực địa lý hoặc các thị trường có quy mô nhỏ,kém phát triển, hoặc là xa tuyến giao thông, thiếu tài nguyên Các công

ty lớn thường bỏ qua các khu vực đó và cho rằng nguồn lợi thu được từ

đó không lớn bằng nguồn lợi thu được từ nơi khác với cùng một chi phí

bỏ ra, nói cách khác là chi phí cơ hội của vùng đó cao Nếu một nền kinh

tế chỉ có các doanh nghiệp lớn thì điều này sẽ dẫn đến một sự phát triểnkhông đều giữa các vùng, không tận dụng hết tài nguyên và giảm hiệuquả hoạt động của nền kinh tế cũng như gây ra các thiệt hại tiềm tàng chonền kinh tế Tuy nhiên đối với các DNVVN thì chi phí cơ hội của các

Trang 31

vùng này là chấp nhận được, xứng đáng với nguồn lợi thu lại Vì vậy họsẵn sàng hoạt động ở đây nếu có các chính sách ưu đãi thích hợp củachính quyền địa phương.

Giữ gìn và phát huy các ngành nghề truyền thống, thể hiện bản sắcdân tộc

Trong quá trình hiện đại hoá, công nghiệp hoá các ngành nghềtruyền thống đang đứng trước sự cạnh tranh khốc liệt, giữa chế tạo sảnphẩm thủ công với sản xuất dây chuyền hàng loạt Một ví dụ như: thợđóng giày có thể đóng những đôi giày rất bền dùng được hàng năm khônghỏng Nhưng trong thời hiện đại phải đối mặt với các xí nghiệp sản xuấtgiày có sản phẩm không bền lắm, đổi mới theo mùa và giá rẻ hơn so vớigiày thủ công Một thợ thủ công hay vài người thì không thể đương đầuđược với các doanh nghiệp lớn đó Muốn tồn tại được các thợ thủ côngphải hợp nhau lại thành lập doanh nghiệp, sau đó quảng cáo xa rộng đểtìm đến các khách hàng tiềm năng của các sản phẩm thủ công Trong xãhội luôn tồn tại nhu cầu đối với các sản phẩm truyền thống, vấn đề là phảilàm cho những khách hàng đó biết đến sản phẩm của mình Loại hìnhDNVVN có thể nói là rất thích hợp cho sản xuất thủ công Các ngànhnghề truyền thống có thể dựa vào đó để sản xuất, kinh doanh, quảng cáo.Bên cạnh đó công nghệ tiên tiến cũng sẽ dần tiếp cận vào các ngành nghềnày Và đó cũng là một điều cần phải xảy ra trong thời đại công nghiệp

Cụ thể hơn ta hãy hình dung một cảnh như sau: một số thợ đóng giày hợpnhau lại thành một doanh nghiệp Trong thành phố địa phương của họ chỉ

có một số nhỏ khách hàng ưa thích loại giày đóng thủ công và sẵn sàngtrả giá (dù là cao) để đi loại giày này vậy cầu với loại giày này là cầu nhỏ.Doanh nghiệp đó đáp ứng được nhu cầu đó Sau đó doanh nghiệp tiếnhành một chiến dịch quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng

và trên Internet Sau một thời gian các khách hàng có nhu cầu tương tự ởtại các thành phố khác trong cả nước liên lạc đặt mua Tiếp sau nữa là các

Trang 32

khách hàng nước ngoài ưa thích kiểu dáng giày quảng cáo trên Internetcũng liên lạc đặt mua Bên cạnh đó các nghệ nhân cũng sử dụng thêmmột số công nghệ mới để hỗ trợ thêm cho việc chế tạo giày như là dùngmáy tính để tạo hình sản phẩm trước, Trong quá trình phát triển đó họtiếp cận và làm quen với các kỹ thuật và công nghệ mới Tuy khách hàngđịa phương của họ không nhiều nhưng khách hàng trên toàn cầu chiếmmột lượng đủ để họ tồn tại được trước thách thức của những đôi giày hiệnđại giá rẻ rất mốt được sản xuất hàng loạt kia.

2.1.2 Ưu thế của DNVVN của Việt Nam

- DNVVN có những lợi thế rõ ràng, đó là khả năng thỏa mãn nhucầu có hạn trong những thị trường chuyên môn hóa, khuynh hướng sửdụng nhiều lao động với trình độ kỹ thuật trung bình thấp, đặc biệt là rấtlinh hoạt, có khả năng nhanh chóng thích nghi với các nhu cầu và thayđổi của thị trường DNVVN có thể bước vào thị trường mới mà khôngthu hút sự chú ý của các doanh nghiệp lớn (do quy mô doanh nghiệpnhỏ), sẵn sàng phục vụ ở những nơi xa xôi nhất, những khoảng trống vừa

và nhỏ trên thị trường mà các doanh nghiệp lớn không đáp ứng được domối quan tâm của họ đặt ở các thị trường có khối lượng lớn DNVVN làloại hình sản xuất có địa điểm sản xuất phân tán, tổ chức bộ máy chỉ đạogọn nhẹ nên nó có nhiều điểm mạnh:

- Dễ dàng khởi sự, bộ máy chỉ đạo gọn nhẹ và năng động, nhạy bénvới thay đổi của thị trường

Doanh nghiệp chỉ cần một số vốn hạn chế, mặt bằng không lớn, cácđiều kiện sản xuất đơn giản là đã có thể bắt đầu hoạt động Vòng quaysản phẩm nhanh hơn nhờ có thể sử dụng vốn tự có, hoặc vay bạn bè,người thân dễ dàng Bộ máy tổ chức gọn nhẹ linh hoạt, dễ quản lý, dễquyết định Đồng thời, do tính chất linh hoạt cũng như quy mô nhỏ của

nó, doanh nghiệp có thể dễ dàng phát hiện thay đổi nhu cầu của thịtrường, nhanh chóng chuyển đổi hướng kinh doanh, phát huy tính năng

Trang 33

động sáng tạo, tự chủ, nhạy bén trong lựa chọn thay đổi mặt hàng Từ đódoanh nghiệp sẽ tạo ra sự sống động trong phát triển kinh tế.

- Sẵn sàng đầu tư vào các lĩnh vực mới, lĩnh vực có mức độ rủi rocao

Đó là bởi vì các doanh nghiệp loại này có mức vốn đầu tư nhỏ, sửdụng ít lao động nên có khả năng mạo hiểm và sẵn sàng mạo hiểm.Trong trường hợp thất bại thì cũng không bị thiệt hại nặng nề như cácdoanh nghiệp lớn, có thể làm lại từ đầu được Bên cạnh đó các DNVVN

có động cơ để đi vào các lĩnh vực mới này: do tính chất nhỏ bé về quy mônên khó cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong sản xuất dây chuyềnhàng loạt Họ phải dựa vào lợi nhuận thu được từ các cuộc kinh doanhmạo hiểm

- Dễ dàng đổi mới trang thiết bị, đổi mới công nghệ, hoạt động hiệuquả với chi phí cố định thấp Doanh nghiệp có nguồn vốn kinh doanh ítnên đầu tư vào các tài sản cố định cũng ít, do đó dễ tiến hành đổi mớitrang thiết bị khi điều kiện cho phép Đồng thời doanh nghiệp tận dụngđược lao động dồi dào để thay thế vốn Với chiến lược phát triển, đầu tưđúng đắn, sử dụng hợp lý các nguồn lực của mình, các DNVVN có thểđạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao, cũng như có thể sản xuất đượchàng hoá có chất lượng tốt và có sức cạnh tranh trên thị trường ngay cảkhi điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều hạn chế

- Không có hoặc ít có xung đột giữa người thuê lao động với ngườilao động Quy mô doanh nghiệp nhỏ và vừa tất nhiên là không lớn lắm

Số lượng lao động trong một doanh nghiệp không nhiều, sự phân cônglao động trong xí nghiệp chưa quá mức rõ rệt Mối quan hệ giữa ngườithuê lao động và người lao động khá gắn bó Nếu xảy ra xung đột, mâuthuẫn thì dễ dàn xếp

Trang 34

- Sự đình trệ, thua lỗ, phá sản của các doanh nghiệp nhỏ và vừa cóảnh hưởng rất ít hoặc không gây khủng hoảng kinh tế- xã hội, đồng thời ítchịu ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng dây chuyền.

2.1.3 Hạn chế của DNVVN của Việt Nam

Các hạn chế của loại hình doanh nghiệp này đến từ hai nguồn Cáchạn chế khách quan đến từ thực tế bên ngoài, và các hạn chế đến từ chínhcác lợi thế của DNVVN

- Hạn chế đầu tiên và lớn nhất của DNVVN nằm trong chính đặcđiểm của nó, đó là quy mô nhỏ, vốn ít, do đó các doanh nghiệp nàythường lâm vào tình trạng thiếu vốn trầm trọng mỗi khi muốn mở rộng thịtrường, hay tiến hành đổi mới, nâng cấp trang thiết bị

- Các DNVVN thường phụ thuộc vào doanh nghiệp mà nó cung cấpsản phẩm

- Khó khăn trong nâng cấp trang thiết bị, đầu tư công nghệ mới, đặcbiệt là các công nghệ đòi hỏi vốn lớn, từ đó ảnh hưởng đến năng suất laođộng, chất lượng sản phẩm và tính cạnh tranh trên thị trường

- Có nhiều hạn chế trong đào tạo công nhân và chủ doanh nghiệp,thiếu bí quyết và trợ giúp kỹ thuật, không có kinh nghiệm trong thiết kếsản phẩm, thiếu đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, nói cách khác làkhông đủ năng lực sản xuất để đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, khónâng cao được năng suất và hiệu quả kinh doanh

- Thiếu trợ giúp về tài chính và tiếp cận thị trường thế nên các doanhnghiệp nhỏ và vừa thường tỏ ra bị động trong các quan hệ thị trường

- Do tính chất vừa và nhỏ của nó, các DNVVN gặp khó khăn trongthiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác với các đơn vị kinh tế bên ngoài địaphương doanh nghiệp đó đang hoạt động

- Cũng do tính chất vừa và nhỏ của nó, các DNVVN gặp khó khăntrong thiết lập chỗ đứng vững chắc trong thị trường

Trang 35

2.2 BỐI CẢNH CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TỚI CÁC DNVVN

Ở VIỆT NAM

Việc trở thành thành viên WTO, nền kinh tế nước ta được xác lậpmột vị thế mới, ngày càng vững chắc trong hệ thống kinh tế thế giới, sứchấp dẫn đầu tư tăng lên mạnh mẽ.Nền kinh tế nước ta đã đổi mới căn bản

cả thế và lực, đang đứng trước những cơ hội to lớn và triển vọng sáng sủahơn bao giờ hết Đó là sự thay đổi chất lượng quan trọng của quá trìnhphát triển, đưa nền kinh tế nước ta sang một giai đoạn mới, giai đoạn đổimới và phát triển trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế toàn diện vàsâu sắc hơn.Hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta sẽ có nhiều cơ hội hơn.Nhưng mặt khác, thách thức cũng lớn hơn và khó khăn cũng tăng lên.Nền kinh tế và các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với các đốithủ mạnh hơn gấp bội, trong một môi trường quốc tế có nhiều biến động,khó dự đoán và có độ rủi ro cao Nếu như so với năm 1991, khi cuộckhủng hoảng dầu mỏ thế giới xảy ra, nền kinh tế Việt Nam gần nhưkhông bị ảnh hưởng do vẫn còn đóng với nền kinh tế thế giới thì đếnnăm 2008, hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã tác động tớikinh tế Việt Nam một cách sâu sắc

2.2.1 Nội dung cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008

Cuộc khủng hoảng kinh tế trên thế giới khởi nguồn từ Mỹ hồi đầunăm 2008 và nó đã biến thành cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới vàotháng 8/2008, khi Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) buộc phải thi hànhbiện pháp khẩn cấp nhằm cứu vãn các ngân hàng trước nguy cơ sụp đổ docác khoản cho vay nợ thế chấp khó đòi Sau khi Chính phủ Mỹ tung ra kếhoạch giải cứu tài chính trị giá 700 tỷ USD cùng một loạt biện pháp mạnhthời gian qua, ngày 25/11/2008, FED tiếp tục công bố kế hoạch sẵn sàngbơm 800 tỷ USD cứu nguy thị trường tín dụng và Tổng thống mới đắc cửBa-rắc Ô-ba-ma cũng đưa ra kế hoạch kích cầu Thế giới đang theo dõi

Trang 36

sát sao tình hình kinh tế Mỹ và các giải pháp cứu nguy đang được thực thihoặc bàn thảo, bởi lẽ, nền kinh tế Mỹ lớn mạnh nhất, chiếm 22% GDPtoàn cầu, đóng góp 60% vào đà tăng trưởng của kinh tế thế giới, chủ yếunhờ sức tiêu thụ tới 70% GDP của Mỹ Cuộc khủng hoảng tài chính bùng

nổ vào thời điểm mà kinh tế Mỹ bị suy thoái sau 6 năm tăng trưởng liêntục, thế giới thật sự lo ngại vì các nước khác như Tây Âu và Nhật Bản đều bị đình trệ và suy thoái Vấn đề đặt ra hiện nay là liệu nền kinh tế Mỹ

có sớm thoát khỏi giai đoạn suy thoái hay không Đây là điều hết sứcphức tạp, hiện chưa có nhà kinh tế nào đưa ra câu trả lời bởi các lý dochủ yếu sau:

- Khi nền kinh tế Mỹ đang bị suy giảm thì các số liệu về thông tinkinh tế thường không chính xác, các công ty và tập đoàn kinh tế khôngmuốn công bố số liệu phản ánh thực trạng kinh doanh của mình Chínhphủ cũng không muốn công bố các thông tin tiêu cực về kinh tế, họ longại rằng sẽ gây ra tâm lý hoảng loạn trong xã hội Do vậy, tình hình xấu

đi của hệ thống tài chính và kinh tế Mỹ chưa được phản ánh đầy đủ Đểminh chứng cho điều này, các chuyên gia đã dẫn ra sự kiện năm 2007,Ngân hàng đầu tư Lehman Brothers còn được Tạp chí Fotune xếp hạngcông ty chứng khoán vinh danh nhất, nhưng đến tháng 9/2008 đã phải đệđơn xin phá sản với khoản nợ khổng lồ lên đến 613 tỷ USD

- Tuy mới chỉ là phần nổi của tảng băng chìm, nhưng các chỉ số củakinh tế Mỹ hiện đã là rất nghiêm trọng: 12.000 tỷ USD cho vay thế chấpmua nhà mà phần lớn trong số đó là cho vay dưới chuẩn; cho vay thếchấp mua ô tô cũng đã lên tới hàng chục tỷ USD, nợ xấu gia tăng và đượcphỏng đoán lên hàng nghìn tỷ USD Do vậy, gói giải cứu của Chính phủ

Mỹ không đủ để mua hết các khoản nợ xấu Thử giả định rằng, giải pháp

700 tỷ USD đủ để mua hết các khoản nợ xấu, thì cũng chỉ đủ để cứu nguycho hệ thống tài chính Mỹ qua cơn hấp hối, chứ không thể tài trợ cho pháttriển Vì thế, các chỉ số của nền kinh tế Mỹ cũng không mấy sáng sủa

Trang 37

Mức lạm phát đã là 4,5% vào tháng 7/2008 cao nhất trong 18 năm qua,không những đã cao hơn mức tăng trưởng, mà còn cao hơn mức lãi suất2% do FED quy định, điều đó có nghĩa là công cụ lãi suất “thần diệu”trong tay FED đã mất hiệu lực Nếu FED hạ mức lãi suất xuống thấp hơnmức 2% để chống suy thoái, thì với lãi suất âm nặng hơn sẽ đẩy lạm phátcao hơn và sẽ làm cho nền kinh tế Mỹ bất ổn nhiều hơn Thâm hụt ngânsách Mỹ trong năm tài khóa 2008 đã ở mức cao kỷ lục 455 tỷ USD, tănghơn gấp đôi so với một năm trước đó Theo dự báo của các nhà nghiêncứu kinh tế, mức thâm hụt ngân sách liên bang Mỹ có thể còn tăng lênđến khoảng 1.000 tỷ USD trong tài khóa 2009 Như vậy, với 700 tỷ USD

sẽ khó có thể cải thiện các chỉ số của nền kinh tế Mỹ

- Gói giải pháp cứu trợ 700 tỷ USD có thể tạm thời ổn định hệ thốngtín dụng Mỹ bằng cách mua lại các khoản nợ xấu, nhưng điều quan trọnghơn là phải giải quyết những nguyên nhân dẫn tới các khoản nợ xấu đó.Cho đến thời điểm này, chính phủ Mỹ vẫn chưa đề xuất được các phương

án khả thi nào Trong tình trạng như vậy, các khoản nợ xấu có thể vẫntiếp tục gia tăng Nguy cơ cạn kiệt năng lực tài chính của chính phủ Mỹnếu không đủ sức mua các khoản nợ xấu thì tình hình kinh tế Mỹ sẽ còntồi tệ hơn

Sau đây là những ghi nhận của Liên Hiệp Quốc:

Tăng tỷ lệ thất nghiệp (50 triệu việc làm bị mất trong năm nay theo

Tổ chức Lao động quốc tế), đói nghèo và đói

Giảm tốc độ tăng trưởng, suy giảm kinh tế

Tác động tiêu cực đến cán cân thương mại và cán cân thanh toán

Suy giảm mức độ đầu tư trực tiếp nước ngoài (giảm 54% trong quýđầu tiên của năm 2009, theo UNCTAD)

Phong trào lớn và biến động tỷ giá hối đoái

Thâm hụt ngân sách, giảm doanh thu thuế và giảm không gian tàichính

Trang 38

Hành động hợp đồng của thương mại thế giới

Tăng biến động và giá giảm các mặt hàng thiết yếu

Giảm kiều hối chuyển về các nước đang phát triển

Doanh thu giảm mạnh từ du lịch

Đảo ngược lớn chảy vốn tư nhân

Giảm tiếp cận tín dụng và tài trợ thương mại

Giảm niềm tin của công vào các tổ chức tài chính

Khả năng để duy trì mạng lưới an sinh xã hội và cung cấp các dịch

vụ xã hội khác như y tế và giáo dục giảm

Tăng trẻ sơ sinh và tỷ lệ tử vong bà mẹ

Sự sụp đổ của thị trường nhà ở

Mức nợ của các nước đang phát triển con người là trên 150% GDP

Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tới nền kinh tếcác nước phát triểu trên thế giới

Các nền kinh tế châu Âu cũng đang đứng trước nhiều vấn đề phứctạp và nan giải Theo số liệu của Liên minh châu Âu (EU), nền kinh tếcủa 15 nước sử dụng đồng ơ-rô lần đầu tiên kể từ khi được thành lập(1999) cũng đã rơi vào giai đoạn suy thoái, do tăng trưởng âm (GDP giảm0,2%) trong hai quý liên tiếp Khủng hoảng địa ốc gắn với tín dụng cũng

là căn bệnh của một số nước châu Âu như Anh, Pháp, Tây Ban Nha Tình hình công nghiệp và thương mại của châu Âu tụt giảm nghiêmtrọng, đặc biệt là thị trường chứng khoán và ngân hàng, được thể hiện rõnhất về tốc độ tăng trưởng quý III/2008 đã ở con số âm, thấp hơn nhiều

so với dự báo (2%) đầu năm 2008 Các ngân hàng thua lỗ nặng nề, riêng

hệ thống ngân hàng Pháp chỉ trong vòng 12 tháng đã mất 12 tỷ ơ-rô; một

số ngân hàng của Anh đã tuyên bố phá sản do cho vay thế chấp; ngânhàng Fortis trong nhóm 20 ngân hàng lớn nhất châu Âu đang đứng bên bờphá sản và được 3 nước châu Âu mua lại Bản thân các nền kinh tế châu

Âu vốn đã có nhiều vấn đề nan giải, nay lại bị cộng hưởng từ “cơn bão tài

Trang 39

chính” Mỹ càng làm cho các vấn đề kinh tế của châu Âu thêm nghiêmtrọng Chính phủ các nước châu Âu đã có chính sách ứng phó với tìnhhình khẩn cấp trên như bơm thêm tiền cho hệ thống tín dụng, giảm thuế nhưng hiện vẫn chưa có tín hiệu nào chứng tỏ tình hình kinh tế đã đượccải thiện.

Kinh tế Nhật Bản cũng rơi vào suy thoái với tốc độ nhanh hơn dựđoán Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng này là do các công tygiảm đầu tư để đối phó với khủng hoảng tài chính Theo Văn phòng Nộicác Nhật Bản, tốc độ tăng trưởng quý III/2008 giảm 0,5% so với quýII/2008 và giảm 1,8% so với cùng kỳ năm trước Trong quý II/2008, kinh

tế Nhật Bản giảm 1% so với quý I và 3,7% so với cùng kỳ năm 2007.Đây là lần đầu tiên Nhật Bản bước vào suy thoái kinh tế trong hai quýliên tiếp có mức tăng trưởng âm Thực trạng này cho thấy, nền kinh tế lớnnhất châu Á sẽ phải trải qua thời kỳ suy thoái nghiêm trọng và kéo dàihơn dự đoán Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã ảnh hưởng tiêu cựcđến nền kinh tế Nhật Bản, vốn phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu Điều nàykhiến kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản giảm đi đáng kể trong bối cảnhnhu cầu tiêu dùng nội địa vẫn chưa có dấu hiệu lạc quan Tình trạng giảmđầu tư đã gây ra suy thoái cho nền kinh tế nước này khi các công ty giảm2% vốn đầu tư vào thiết bị và xây dựng nhà máy mới Theo các chuyêngia kinh tế Nhật bản, chỉ số niềm tin kinh doanh của các công ty lớn ởNhật Bản sẽ giảm từ mức âm -3 (9/2008) xuống mức âm -3,6 Đây làmức thấp nhất trong 30 năm qua Nhật Bản gọi cuộc khủng hoảng kinh tếtoàn cầu hiện nay là một sự kiện "trăm năm có một", theo đó, Ngân hàngTrung ương Nhật Bản (BOJ) đã bơm 1.000 tỷ yên (9,8 tỷ USD) vào thịtrường tiền tệ nhằm hỗ trợ hoạt động cho vay trên thị trường liên ngânhàng Ngày 30/10/2008 Nhật Bản đã công bố gói kích thích kinh tế trị giá26,9 nghìn tỷ yên (277 tỷ USD) nhằm vào việc cắt giảm thuế, tiền trợ cấp

Trang 40

trực tiếp cho các hộ gia đình và các khoản cho vay dành cho các doanhnghiệp nhỏ.

Nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc đang phải đối mặt với nhữngthách thức nghiêm trọng về môi trường ô nhiễm, giá cả nguyên liệu tăngcao, thị trường bên ngoài bị thu hẹp và xu hướng giảm tốc độ tăngtrưởng trong năm 2008 và các năm tiếp theo là điều khó tránh TrungQuốc thừa nhận cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã ảnh hưởng đếnnền kinh tế nước này "nghiêm trọng hơn dự đoán của Chính phủ" Tuyên

bố trên đưa ra ngay sau khi Trung Quốc công bố một loạt số liệu thống kêkinh tế của nước này như: sản xuất công nghiệp giảm liên tục từ 16% hồitháng 6/2008, đã rơi xuống 11,4% trong tháng 9/2008, xuống còn 8,2%khi bước sang tháng 10/2008 Đây là mức tăng trưởng công nghiệp thấpnhất từ 7 năm qua Đầu tư quốc tế trực tiếp vào Trung Quốc cũng thuyêngiảm Hậu quả là tất cả chỉ số kinh tế của Trung Quốc đều ở mức báođộng cùng với tỷ lệ tăng trưởng từ hai con số xuống một con số 7,5%(theo dự báo của WB) Dự báo thâm hụt tài chính của Trung Quốc năm

2009 sẽ từ 2 đến 3% GDP, do vậy, Chính phủ Trung Quốc đã có phảnứng nhanh, mạnh bằng một gói kích thích kinh tế trị giá 585 tỷ USD,tương đương với 15% GDP

Khủng hoảng tài chính toàn cầu đã làm cho nền kinh tế lớn mạnhnhất nhì trên thế giới cũng phải lúng túng trước những quyết định vềchính sách của mình, những chính sách mà chưa từng được đưa ra đểnghiên cứu nền kinh tế suy thoái từ trước cho đến nay

 Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tới nềnkinh tế Việt Nam

Cuộc khủng hoảng tài chính kéo dài đã phá vỡ các hoạt động kinh tếtoàn cầu Kinh tế thế giới cuối năm 2008 và đầu năm 2009 tiếp tục suygiảm mạnh, các nước công nghiệp phát triển đang rơi vào giai đoạnkhủng hoảng tồi tệ nhất trong gần 70 năm qua Đối với Việt Nam, mặc dù

Ngày đăng: 09/11/2015, 21:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. GS.TS Nguyễn Quang Dong và PGS.TS Nguyễn Thị Minh(2011), Giáo trình kinh tế lượng, NXB Đại học kinh tế quốc dân Khác
2. Tổng Cục thống kê(GSO), bộ số liệu SME_2007, SME_2009, SME_2011 Khác
3. Bộ kế hoạch và Đầu tư, Cục phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ(2008), Báo cáo thường niên doanh nghiệp nhỏ và vừa 2008 Khác
4. Trần Sửu, NXB Lao Động(2006), Năng lực canh tranh của doanh nghiệp trong thời đại toàn cầu hóa Khác
5. GS.TS Chu Văn Cấp: Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2002 Khác
6. Vneconomy(2008), ảnh hưởng khủng hoảng tài chính đến Việt Nam: được và mất Khác
7. Ngọc Châu, Vnexpress(2008), 80% doanh nghiệp vừa và nhỏ đang gặp khó khăn Khác
8. BBC Tiếng Việt (2009), Chuyên đề suy thoái kinh tế toàn cầu Khác
9. Website Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam Khác
10. Đoàn Nhật Dũng: Nâng cao khả năng cạnh tranh- vấn đề sống còn đối với các doanh nghiệp Việt Nam tham gia AFTA Khác
11. Vũ Bá Định: Chiến lược sản phẩm của doanh nghiệp Khác
12. Nguyễn Đình Hưởng: Giải pháp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam Khác
13. Nguyễn Hải Hữu: Đổi mới quản lý doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995 Khác
14. PTS. Trần Kim Hào: Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Tạp chí kinh tế và dự báo, số 4/2004 Khác
15. Th.S Ngô Thị Thu Hồng: Doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, Tạp chí tài chính doanh nghiệp, số 9/2003 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ - Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với phép thử từ cuộc khủng hoảng kinh tế
Bảng 1 Định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ (Trang 11)
Bảng 2: Bảng mô tả các yếu tố chịu tác động của khủng hoảng - Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với phép thử từ cuộc khủng hoảng kinh tế
Bảng 2 Bảng mô tả các yếu tố chịu tác động của khủng hoảng (Trang 57)
Bảng 3: Bảng mô tả trình độ văn hóa của chủ doanh nghiệp trong ba - Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với phép thử từ cuộc khủng hoảng kinh tế
Bảng 3 Bảng mô tả trình độ văn hóa của chủ doanh nghiệp trong ba (Trang 60)
Bảng 4: Bảng phản ánh tình trạng xuất khẩu của các - Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với phép thử từ cuộc khủng hoảng kinh tế
Bảng 4 Bảng phản ánh tình trạng xuất khẩu của các (Trang 61)
Bảng 5: Tình trạng doanh nghiệp có thể tăng sản lượng - Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với phép thử từ cuộc khủng hoảng kinh tế
Bảng 5 Tình trạng doanh nghiệp có thể tăng sản lượng (Trang 62)
Bảng 7: Các biến phụ thuộc được sử dụng trong mô hình - Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với phép thử từ cuộc khủng hoảng kinh tế
Bảng 7 Các biến phụ thuộc được sử dụng trong mô hình (Trang 68)
3.1.3.2. Bảng biến số - Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với phép thử từ cuộc khủng hoảng kinh tế
3.1.3.2. Bảng biến số (Trang 68)
Bảng 8: Các biến độc lập được sử dụng trong mô hình - Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với phép thử từ cuộc khủng hoảng kinh tế
Bảng 8 Các biến độc lập được sử dụng trong mô hình (Trang 69)
Bảng 9: Kết quả mô hình ước lượng tỷ lệ sáng tạo sản phẩm mới - Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với phép thử từ cuộc khủng hoảng kinh tế
Bảng 9 Kết quả mô hình ước lượng tỷ lệ sáng tạo sản phẩm mới (Trang 70)
Bảng 10: Kết quả mô hình ước lượng tỷ lệ sáng tạo sản phẩm mới - Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với phép thử từ cuộc khủng hoảng kinh tế
Bảng 10 Kết quả mô hình ước lượng tỷ lệ sáng tạo sản phẩm mới (Trang 71)
Bảng 11: Kết quả mô hình ước lượng tỷ lệ sáng tạo sản phẩm mới ba - Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với phép thử từ cuộc khủng hoảng kinh tế
Bảng 11 Kết quả mô hình ước lượng tỷ lệ sáng tạo sản phẩm mới ba (Trang 73)
Bảng 12: Kết quả mô hình với biến khả năng cải tiến sản phẩm trong - Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với phép thử từ cuộc khủng hoảng kinh tế
Bảng 12 Kết quả mô hình với biến khả năng cải tiến sản phẩm trong (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w