1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tác động thuế TTĐB của thuốc lá đối với Ngân sách nhà nước và vấn đề xã hội

13 383 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 89,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ hai, bài nghiên cứu về tăng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với thuốc lá, ảnh hưởng của việc tăng thuế đến sức khỏe và ngân sách quốc gia được thực hiện bởi Văn phòng Ngân sách Quốc hội c

Trang 1

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT CỦA THUỐC LÁ ĐỐI VỚI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1 Tổng quan nghiên cứu về đề tài

1.1 Tổng quan nghiên cứu trong nước

- Điều tra toàn cầu về thuốc lá ở người trưởng thành tại Việt Nam (GATS), 2010 do Tổ chức Y tế thế giới tại Việt Nam phối hợp với Bộ Y

tế, Trường Đại học Y Hà Nội và Tổng cục thống kê thực hiện Đây là một điều tra quan trọng giúp Việt Nam đánh giá được tỷ lệ sử dụng thuốc lá, thuốc lào và các yếu tố liên quan tới việc sử dụng thuốc lá

- Bài nghiên cứu về thuế thuốc lá ở Việt Nam, năm 2010 do tác giả Hoàng Văn Kình, đến từ Trường Đại học thương mại cùng cộng sự thực hiện, đã ước tính rằng, với giả thiết tổng độ co giãn cầu theo giá ở mức trung bình, tức là -0,50, thì khi tăng thuế tiêu thụ đặc biệt từ mức 65% lên đến 85%, tức là tăng mức thuế thuốc lá trong giá bán lẻ từ mức 42.6% lên 48.5%, ước tính sẽ làm giảm số lượng người hút thuốc đi khoảng 300.000 người, giàm được hơn 100.000 ca chết sớm cộng vào năm 2050, và tăng thu nhập thuế của chính phủ thêm 119 triệu đô la Mỹ

- Bài nghiên cứu về chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp do việc hút thuốc lá tại Việt Nam do tác giả Phan Thị Hoàng Anh cùng các cộng sự thực hiện Nhóm tác giả đã ước lượng chi phí trực tiếp và gián tiếp từ 5 bệnh thường gặp do thuốc lá gây ra, gồm có: ung thư phổi, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, bệnh tim do thiếu máu cục bộ, bệnh đột quỵ, ung thư vùng miệng Theo kết quả nghiên cứu thì tổng chi phí ước lượng năm

2011 do thuốc lá gây ra từ 5 bệnh này đạt 24679 tỷ đồng, trong đó chi phí trực tiếp cho điều trị nội trú và ngoại trú lần lượt là 9896 và 2567 tỷ đồng Trong khi đó, chi phí gián tiếp do giảm năng suất lao động từ người bị bệnh và tử vong lần lượt đạt 2652 và 9563 tỷ đồng

1.2 Tổng quan nghiên cứu nước ngoài

Thứ nhất, trong một nghiên cứu về quản lí thuốc lá do Ngân hàng thế giới tiến hành thì đã chỉ ra rằng, trung bình tăng giá 10% sẽ làm giảm nhu cầu đối vơi các sản phẩm từ thuốc lá đi khoảng 4% ở các nước thu nhập cao

và khoảng 8% ở các nước thu nhập thấp và trung bình Từ đó Ngân hàng thế giới cũng đề xuất với mức thuế thuốc lá chiếm từ 65-80% giá bán lẻ

sẽ đạt được sự kiểm soát thuốc lá có hiệu quả

Thứ hai, bài nghiên cứu về tăng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với thuốc lá, ảnh hưởng của việc tăng thuế đến sức khỏe và ngân sách quốc gia được thực hiện bởi Văn phòng Ngân sách Quốc hội của Mỹ (CBO -

Congressional Budget Office) Trong nghiên cứu này, CBO áp dụng mô hình phân tích một chính sách liên quan đến thuốc lá – giả định tăng 50 cent cho mỗi bao thuốc lá bằng cách tăng thuế tiêu thụ đặc biệt Phân tích của CBO cho thấy rằng việc giả định tăng thuế và các tác động dẫn đến

Trang 2

hành vi và sức khỏe của người dân sẽ làm tăng doanh thu liên bang

khoảng 41 tỷ USD và tăng bổ sung ngân sách 38 tỷ USD đến năm 2021

2 Cơ sở lí luận về tác động của thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ngân sách và vấn đề xã hội

2 Cơ sở lý luận về tác động của thuế TTĐB đối với ngân sách nhà nước

và vấn đề xã hội

Thuế tiêu thụ đặc biệt là một loại thuế gián thu, đánh vào một số hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế theo quy định của luật thuế tiêu thụ đặc biệt Thuế được cấu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ và do người tiêu dùng chịu khi mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ

2.1 Thuế TTĐB đối với ngân sách nhà nước

2.1.1 Vai trò của thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ngân sách nhà nước

Thuế tiêu thụ đặc biệt ở Việt Nam được coi là khoản thu quan trọng nhất đối với ngân sách nhà nước vì khoản thu này mang tính chất ổn định

và khi nền kinh tế càng phát triển thì khoản thu này càng tăng, trong đó mặt hàng thuốc lá cũng nằm trong danh mục hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt với thuế suất lên đến 65%

2.1.2 Nguyên tắc đánh thuế TTĐB đối với thuốc lá

Ngoại ứng tiêu cực là những chi phí áp đặt lên một đối tượng thứ ba (ngoài người mua và người bán trên thị trường) nhưng chi phí đó lại không được phản ánh trong giá cả thị trường

Hút thuốc lá là một hoạt động gây ra ngoại ứng tiêu cực Cụ thể, khi một cá nhân hút thuốc lá, khói thuốc lá độc hại được thải ra ngoài môi trường, nó sẽ gây tổn hại đến sức khỏe của những người xung quanh ở gần đó, khiến họ dễ mắc các bệnh liên quan đến đường hô hấp Nhưng người hút thuốc lá lại không phải đền bù cho những thiệt hại do mình gây

ra, vì thế khi tính toán chi phí, họ không đưa những tổn hại này vào giá thành thuốc lá

Hình 2.1 Sự phi hiệu quả của ngoại ứng tiêu cực do thuốc lá gây ra

MB, MC MSC = MPC + MEC

C

A MPC

B MEC

MB

Người hút thuốc gây ngoại ứng tiêu cực đã tiêu dùng quá nhiều so với mức tối ưu xã hội (Q1>Qo) Điều này gây ra tổn thất cho xã hội Và mức tổn thất cho xã hội bằng đúng diện tích tam giác ABC

Giải pháp khắc phục:

Trang 3

Một trong những giải pháp đạt hiệu quả mà Chính phủ có thể can thiệp,

đó chính là biện pháp đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với mặt hàng thuốc

lá Thuế sẽ được đánh vào mỗi đơn vị sản phẩm thuốc lá được tiêu thụ trên thị trường, sao cho nó đúng bằng chi phí ngoại ứng biên tại mức sản lượng tối ưu xã hội

Cụ thể, Chính phủ đánh thuế t đồng / sản phẩm tiêu thụ Và mức thuế hiệu quả chính là đoạn AE Khi chịu thuế này, đường MPC sẽ dịch

chuyển song song lên trên thành đường MPC + t Khi đó, để tối đa hóa lợi nhuận của cá nhân thì MPC + t = MB, tức sản xuất đúng tại điểm Qo như

xã hội mong muốn Khi đó, Chính phủ sẽ thu được một doanh thu thuế bằng chính diện tích tô đậm trong hình Chính phủ sẽ sử dụng khoản thuế này để bồi thường cho những người bị thiệt hại

2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng nguồn thu NSNN từ thuế TTĐB

- Chính phủ và quốc hội : Chính phủ và Quốc hội đóng vai trò quan trọng trong việc xác định nguồn thu từ thuế của Ngân sách quốc gia Đây

là nhân tố tác động đến nguồn thu thuế TTĐB của thuốc lá thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, các định hướng về chính sách thể chế chính trị và mô hình nhà nước

- Cơ quan thuế : Việc nộp thuế được thực hiện ở các cơ quan thuế, nên cách thức hoạt động của cơ quan thuế, cơ cấu tổ chức trong cơ quan thuế, chất lượng cán bộ, thủ tục kê khai nộp thuế có ảnh hưởng đến nguồn thu thuế hằng năm

- Người nộp thuế : Người nộp thuế là người thực hiện nghĩa vụ nộp thuế tại các cơ quan thuế Người nộp thuế có thể là thể nhân hoặc pháp nhân Mỗi đối tượng nộp thuế có sự khác nhau nhất định về năng lực, trình độ học vấn, ý thức chấp hành luật, và số thuế phải nộp

- Nhân tố khác : GDP bình quân đầu người, tốc độ tăng trưởng kinh tế, lạm phát

2.2 Thuế TTĐB đối với vấn đề xã hội

2.2.1 Các vấn đề xã hội tồn tại liên quan đến thuế TTĐB của thuốc lá (1) Hộ nghèo ở Việt Nam: Thu nhập khả dụng tăng lên, cú sốc sức khỏe giảm đi

Chi tiêu hộ gia đình vào thuốc lá đặc biệt trở thành vấn đề ở những nước có tình trạng kinh tế xã hội còn thấp như Việt Nam, nơi mà các hộ gia đình có người hút thuốc tiêu tốn khoảng 627.000 VNĐ mỗi năm vào thuốc lá Nếu một phần tiền do các hộ gia đình nghèo ở Việt Nam tiêu vào thuốc lá được dùng để mua thực phẩm thì sẽ có khoảng 11,2% trong

số các hộ gia đình nghèo đói sẽ vượt lên được ngưỡng đói nghèo Các nhu cầu thiết yếu khác sẽ được đảm bảo hơn, hiệu quả tạo ra được sẽ rất lớn Hơn nữa, nếu như người đàn ông trụ cột trong gia đình không may mắc phải một căn bệnh nào đó liên quan đến thuốc lá thì kinh tế của hộ gia đình sẽ càng khó khăn hơn

(2) Tăng thuế và việc làm

Trang 4

Vì mức giá thuốc lá cao do thuế cao có thể dẫn đến giảm sử dụng thuốc lá, với các yếu tố khác không đổi thì mọi người thường lí luận rằng thuế thuốc lá cao thường dẫn đến mất việc làm Tuy nhiên, lý luận này đã

bỏ yếu tố là tiền không tiêu dùng vào thuốc lá sẽ được tiêu dùng vào các hàng hóa khác và tạo ra việc làm mới ở các khu vực khác, với tác động ròng thường là tích cực

(3) Vấn nạn buôn lậu thuốc lá

Nguyên nhân gây ra nạn buôn lậu thuốc lá ở Việt Nam :

• Sự quan niệm của công chúng là chất lượng thuốc lá nhập lậu cao hơn thuốc sản xuất hợp pháp ở thị trường Việt Nam

• Thuế thấp và quản lý lỏng ở các nước láng giềng, như Lào và Campuchia

• Sự phối hợp hạn chế giữa các cơ quan như biên phòng, hải quan

• Thiếu yếu tố động viên cho các viên chức làm công tác chống buôn lậu

• Mức phạt thấp một cách không hợp lý đối với người buôn lậu

• Hạn chế về việc làm hoặc các cơ hội thu nhập thay thế cho người buôn lậu

• Chiến lược định giá của công ty thuốc lá như BAT đã được điều chỉnh theo kênh phân phối

2.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá tác động thuế TTĐB đối với vấn đề xã hội

• Tỷ lệ ngân sách hộ gia đình chi cho việc sử dụng thuốc lá

Tỷ lệ ngân sách hộ gia đình biểu diễn mối tương quan giữa chi tiêu cho thuốc lá và thu nhập khả dụng Chi tiêu vào thuốc lá có thể dẫn đến nghèo và làm trầm trọng thêm những ảnh hưởng của tình trạng nghèo qua việc dịch chuyển thu nhập của hộ gia đình khỏi các nhu cầu thiết yếu Tỷ

lệ ngân sách hộ gia đình chi cho việc sử dụng thuốc lá càng lớn thì mức

độ chuyển dịch càng nhiều, và càng làm trầm trọng hơn tỷ lệ đói nghèo ở Việt Nam

• Tỷ lệ ngân sách hộ gia đình chi cho việc điều trị bệnh về thuốc lá

Mối tương quan giữa chi phí điều trị cho thấy mức gánh nặng mà gia đình có người bị bệnh phải chịu Khi tỷ lệ ngân sách gia đình chi cho điều trị bệnh gia tăng làm cho gánh nặng tài chính tăng lên, tỷ lệ hộ nghèo tăng

• Chỉ tiêu khả năng mua các sản phẩm của thuốc lá

Đây là chỉ tiêu phản ánh khoảng cách giữa thu nhập và giá thuốc lá Khoảng cách này càng tăng cho thấy thuốc lá càng trở nên dễ mua hơn, từ

đó làm tăng lượng tiêu thụ thuốc lá và gia tăng nghèo đói ở những hộ gia đình có người thân hút thuốc lá

2.2.3 Các nguyên tắc khắc phục vấn đề xã hội do thuốc lá gây ra

Trang 5

• Nguyên tắc phát triển bền vững

Nguyên tắc phát triển bền vững đặt ra mục tiêu cho các quốc gia cần giải quyết tình trạng nghèo đói cũng như các vấn đề xã hội khác hiện nay, đảm bảo cho các như cầu thiết yếu của người dân ở hiện tại và tương lai được đáp ứng về nhiều mặt

• Nguyên tắc an sinh xã hội

Với vấn đề hộ nghèo do thuốc lá, nguyên tắc an sinh xã hội đưa ra cách khắc phục duy trì thu nhập dựa trên sự kết hợp của ba loại chương trình chính:

- Bảo hiểm xã hội

- Lợi ích thẩm tra thu nhập: Đây là hỗ trợ tài chính được cung cấp cho những người không có khả năng trang trải các nhu cầu cơ bản, chẳng hạn như thực phẩm, quần áo và nhà ở, do nghèo đói hoặc thiếu thu nhập

vì ốm đau, bệnh tật liên quan đến thuốc lá

- Lợi ích phổ quát hoặc lợi ích vô điều kiện, còn được gọi là tài trợ nhân khẩu Đây là những lợi ích không đóng góp trao cho toàn bộ các bộ phận dân cư mà không cần thẩm tra thu nhập hoặc thẩm tra nhu cầu, chẳng hạn như trợ cấp hộ gia đình

2.2.4 Kinh nghiệm một số nước áp dụng thành công thuế TTĐB với thuốc lá

- Thụy Điển: Thụy Điển là nước có giá thuốc lá cao nhất thế giới nhưng

có tỷ lệ buôn lậu thấp nhất thế giới (tỷ lệ buôn lậu là 9% năm 2011) Về tăng thuế mạnh vào năm 2007 và tăng ít hơn vào năm 2008, một nghiên cứu độc lập của Trường Đại học Stockholm và Tổng cục Hải quan Thụy điển, đã không đưa ra khẳng định tăng thuế khiến tăng buôn lậu, như ngành công nghiệp thuốc lá viện dẫn

- Braxin: Tình trạng hút thuốc giảm mạnh từ năm 1989 đến năm 2005 Trong năm 2006, khoảng 20% nam giới và 13% nữ giới hút thuốc tại các thành phố lớn Để đạt được những thành công trên, chương trình kiểm soát thuốc lá của Bra-xin mang tính đổi mới rất cao, thường tập trung vào các công cụ phi giá cả, bao gồm: cấm quảng cáo thuốc lá và hút thuốc tại các phương tiện giao thông công cộng; quản lý nhà nước về sản phẩm thuốc lá, như hạn chế các mức nhựa thuốc lá, ni-cô-tin, các-bon mô-nô-xít trong thuốc lá và cả những cảnh báo nghiêm trọng và hình ảnh trên các gói thuốc và sản phẩm thuốc lá; triển khai các chiến dịch giáo dục và nâng cao nhận thức

- Thái Lan: Tại Thái Lan, thuế thuốc lá đã tăng hơn 10 lần trong vòng

20 năm (từ năm 1994 đến năm 2012) Hiện nay mức thuế trên giá bán lẻ của Thái Lan là 70% Nếu tính trên giá xuất xưởng, mức thuế này tương đương 567% thuế theo giá xuất xưởng của Việt Nam Giá thuốc lá tăng từ

15 Bath/bao (năm 1994) lên 65 Bath/bao năm 2012 Tỷ lệ hút thuốc ở nam giới giảm từ 59,33% năm 1991 xuống 41,69% năm 2011 Tiêu dùng thuốc lá giảm nhẹ: sản lượng năm 1994 là 2,328 triệu bao; năm 2012 là

Trang 6

2,130 triệu bao (tuy tỷ lệ hút giảm nhưng do dân số tăng và có một số lượng nhất định người hút mới nên số lượng người hút ít thay đổi).Ước tính số ca tử vong sớm tránh được từ việc tăng thuế trong giai đoạn

1991-2006 tại Thái Lan là 31,867 người

3 Mô hình đo lường thực trạng thuế tiêu thụ đặc biệt của thuốc lá đối với Ngân sách nhà nước và vấn đề xã hội

3.1 Thực trạng thuế TTĐB của thuốc lá đối với NSNN và vấn đề xã hội

Ngành công nghiệp thuốc lá ở Việt Nam có khả năng sản xuất khoảng 6.200 triệu bao mỗi năm, trong đó 70% đến 80% công suất được sử dụng Sản lượng thuốc lá của ngành đã tăng liên tục từ năm 2000, ngay cả khi tính đến tăng trưởng dân số, chủ yếu là do đầu tư vào trồng, chế biến lá thuốc và các thiết bị sản xuất thuốc lá và do việc kiểm soát chặt chẽ hơn

để chống buôn lậu

Biểu đồ 3.3: Tổng sản lượng sản xuất thuốc lá hằng năm

Đơn vị: triệu bao

Tăng thuế thuốc lá sẽ gần như luôn dẫn đến tăng thu nhập thuế cho chính phủ Đặc biệt, sau khi tăng thuế TTĐB đối với thuốc lá năm 2006 và năm

2008, nguồn thu từ thuế TTĐB của thuốc lá đã tăng lên đáng kể vào năm tiếp sau đó: năm 2007 nguồn thu tăng gần 28% so với năm 2006, và năm

2009 tăng hơn 33% so với 2008

Biểu đồ 3.4: Tổng thu từ thuế TTĐB của thuốc lá qua các năm

Đơn vị: tỷ đồng

Nguồn: Tổng cục thống kê

Tuy nhiên, nguồn thu thuế nhanh chóng giảm xuống từ năm 2010 trở đi

Lí giải cho điều này là do một vài nguyên nhân Thứ nhất là do thuế suất thuế TTĐB của mặt hàng này không thay đổi để theo kịp lạm phát chung

và mức tăng trưởng kinh tế Thứ hai là do mức tăng thuế suất vào năm

2006 và 2008 còn quá thấp nên chưa duy trì lâu dài được mức tăng nguồn thu thuế TTĐB

Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất thế giới Hiện nay, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo tại Việt Nam tuy có cải thiện trong những năm gần đây nhưng tình trạng hút thuốc lá ngày càng gia tăng đang khiến cho những hộ gia đình này gánh chịu rất nhiều gánh nặng từ kinh tế đến sức khỏe

Thứ nhất, số lượng các ca tử vong ở Việt Nam do mắc các bệnh liên quan đến thuốc lá như ung thư phổi, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, bệnh tim do thiếu máu cục bộ đang ngày càng gia tăng

Biểu đồ 3.5: tổng số ca tử vong ở Việt Nam do các bệnh liên quan đến thuốc lá gây ra Đơn vị: nghìn người

Trang 7

Nguồn: WHO

Thứ hai, không chỉ gánh nặng về sức khỏe mà cả gánh nặng về kinh tế do mắc những bệnh này gây ra cũng rất lớn

Thứ ba, việc làm trong ngành canh tác và sản xuất thuốc lá chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng số việc làm ở Việt Nam Sự giảm sút trong ngành trồng và sản xuất thuốc lá, khi có thay đổi thuế và giá, chỉ có thể xảy ra khi lượng tiêu thụ thuốc lá thực tế giảm Tuy nhiên, việc tăng dân số và tăng thu nhập ở Việt Nam nhiều khả năng sẽ bù lại bất kỳ ảnh hưởng tiêu cực nào mà việc đánh thuế cao có thể có lên việc làm trong ngành thuốc

lá nói chung

3.2 Mô hình đo lường thực trạng của thuế TTĐB của thuốc lá đối với NSNN

3.2.1 Cơ sở dữ liệu

Nghiên cứu của nhóm tác giả sử dụng số liệu của Việt Nam trong giai đoạn 1995-2014 Năm 1995 được lấy làm năm cơ sở để tính toán các biến CPI, GDP Nguồn dữ liệu được sử dụng trong bài nghiên cứu này được lấy từ WB (World Bank), GSO (Tổng cục thống kê Việt Nam)

3.2.2 Biến phụ thuộc

Theo một vài nghiên cứu trước đây, tác động của việc tăng thuế TTĐB của thuốc lá đến nguồn thu NSNN từ thuế được đánh giá dựa trên hai thước đo chính:

- Thứ nhất là nguồn thu của Chính phủ từ thuế TTĐB của thuốc lá, bằng VNĐ

- Thứ hai là sự ổn định của nguồn thu Chính phủ qua các thời kì, được xác định bởi sự khác biệt về nguồn thu của Chính phủ năm hiện tại

và trước đây

Trong khuôn khổ bài nghiên cứu, nhóm tác giả lựa chọn biến phụ thuộc là nguồn thu của Chính phủ từ thuế TTĐB (government revenue) để đánh giá sự tăng/giảm của nguồn thu NSNN nếu thuế suất thuế TTĐB của thuốc lá biến động

3.2.3 Biến độc lập

• Xây dựng giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết 1: GDP thực tế bình quân đầu người tác động tỷ lệ thuận đến thu NSNN từ thuế TTĐB của thuốc lá

Giả thuyết 2: Tỷ lệ thất nghiệp tác động tỷ lệ thuận đến thu NSNN từ thuế TTĐB của thuốc lá

Giả thuyết 3: Dân số tác động tỷ lệ thuận đến thu NSNN từ thuế TTĐB của thuốc lá

Giả thuyết 4: Tổng sản lượng tiêu thụ thuốc lá hằng năm tỷ lệ thuận đến thu NSNN từ thuế TTĐB của thuốc lá

Giả thuyết 5: CPI thuốc lá (thực tế) có thể tác động tỷ lệ nghịch hoặc tỷ lệ thuận đến nguồn thu NSNN

Trang 8

Giả thuyết 6: CPI thuốc lá/CPI tất cả các mặt hàng tác động tỷ lệ nghịch đến nguồn thu NSNN từ thuế TTĐB của thuốc lá

Giả thuyết 7: Thuế suất có thể tác động tỷ lệ nghịch hoặc tỷ lệ thuận đến nguồn thu thuế TTĐB của thuốc lá

• Xây dựng chỉ số tổng hợp

Dựa trên nguồn dữ liệu thống kê của Việt Nam, nhóm nghiên cứu tiến hành xử lí số liệu, sau đó tính các chỉ tiêu tổng hợp có ảnh hưởng tới nguồn thu từ thuế TTĐB của Ngân sách Nhà nước theo phương pháp phân tích thành phần chính (PCA) Nhóm tác giả sử dụng phần mềm SPSS 20.0, kết quả được cho dưới đây:

Bảng 3.1 Ma trận xoay nhân tố

Component

Sản lượng thuốc lá tiêu thụ hằng năm 920 328

GDP bình quân đầu người (thực tế) 897 219

Tỷ lệ thất nghiệp 915 034

Dân sô 909 352

Thuế suất 299 632

CPI thuốc lá/CPI tất cả các mặt hàng -.134 -.771

CPI thuốc lá (thực tế) -.055 -.916

Dựa vào bảng trên, nhóm tác giả chia các chỉ số thành 2 nhóm nhân tố: Nhóm 1 (Biến chỉ số kinh tế vĩ mô – IMV): Sản lượng tiêu thụ thuốc lá hằng năm, GDP bình quân đầu người (thực tế), tỷ lệ thất nghiệp, dân số Nhóm 2 (Biến chỉ số giá thuốc lá – IPV): Thuế suất, CPI thuốc lá/CPI tất

cả các mặt hàng, CPI thuốc lá (thực tế)

3.2.4 Mô hình và kết quả

Mô hình đánh giá tác động của thuế TTĐB của thuốc lá đối với NSNN theo chỉ số tổng hợp:

Nhóm tác giả sử dụng phần mềm Eview 4 chạy mô hình, lấy mức ý nghĩa α=0.05

Bảng 3.2 Kết quả mô hình

Dependent Variable: GOVREV

Method: Least Squares

Date: 04/22/15 Time: 00:38

Sample: 1995 2014

Included observations: 20

Variable Coefficient Std Error t-Statistic Prob

C 5388.133 307.6599 17.51328 0.0000

IMV 1254.921 315.6525 3.975643 0.0010

IPV 619.0986 315.6523 1.961331 0.0064

R-squared 0.536185 Mean dependent var 5388.135

Adjusted R-squared 0.481619 S.D dependent var 1911.002

Trang 9

S.E of regression 1375.897 Akaike info criterion 17.42908

Sum squared resid 32182567 Schwarz criterion 17.57844

Log likelihood -171.2908 F-statistic 9.826273

Durbin-Watson stat 0.428428 Prob(F-statistic) 0.001459

Ở mô hình, β1 = 5388.133, β2 = 1254.921, β3 = 619.0986 Từ kết quả mô hình trên ta có thể thấy biến IMV và biến IPV đều ảnh hưởng tích cực đến nguồn thu ngân sách nhà nước từ thuế TTĐB của thuốc lá Ở mô hình này, R2 = 53.6% cho thấy mức độ phù hợp của mô hình

Kết hợp với bảng 3.3 mô tả mối tương quan giữa các biến ngẫu nhiên và biến tổng hợp, ta có thể thấy với mức ý nghĩa 5%, mối quan hệ tác động giữa các biến ngẫu nhiên và biến phụ thuộc đúng với các giả thuyết nghiên cứu đã xây dựng Từ đây ta có thể kết luận thuế suất thuế TTĐB tác động tích cực đến thu NSNN, nếu Chính phủ tăng mức thuế suất lên cao thì doanh thu của Nhà nước cũng tăng lên đáng kể Ngoài ra, CPI thuốc lá (thực tế) có xu hướng giảm cho thấy việc tăng thuế suất thuế TTĐB chưa đủ lớn và giá thuốc lá gần như chưa bị ảnh hưởng nhiều bởi việc tăng thuế

3.3 Mô hình đo lường thực trạng thuế TTĐB thuốc lá đối với vấn đề xã hội

3.3.1 Cơ sở dữ liệu

Nghiên cứu về vấn đề xã hội, nhóm tác giả sử dụng số liệu của Việt Nam trong giai đoạn 1995-2012 Nguồn dữ liệu được sử dụng trong bài nghiên cứu này được lấy từ WB (World Bank), GSO (Tổng cục thống kê Việt Nam), WHO (World Health Organization)

3.3.2 Biến phụ thuộc

Trong phạm vi bài nghiên cứu, nhóm tác giả lựa chọn tỷ lệ hộ nghèo hằng năm (poverty rate) làm biến phụ thuộc, biểu diễn ảnh hưởng của việc tăng thuế TTĐB của thuốc lá đến hộ nghèo ở Việt Nam

3.3.3 Biến độc lập

Biến độc lập của mô hình gồm hai biến: IRV (biến chỉ số thu nhập hộ gia đình) và IDV (biến chỉ số bệnh tật) Công thức xây dựng các biến độc lập như sau:

IRV = - β1X1 + β2X2 - β3X3 + β4X4 - β5X5

Trong đó: βi, với i = 1,…,5 lần lượt là nghịch đảo độ lệch chuẩn của biến Xi

IDV = β1Y1 + β2Y2 + β3Y3

Trong đó: βi, với i = 1,…,3 lần lượt là nghịch đảo độ lệch chuẩn của biến Xi

Các chỉ tiêu xây dựng biến độc lập được thể hiện trong bảng 3.3

Bảng 3.3 Các chỉ tiêu xây dựng biến IRV và IDV được giả định như sau: IRV IDV

Chỉ tiêu Kí hiệu Tác động Chỉ tiêu Kí hiệu Tác động

Trang 10

GDP bình quân đầu người (thực tế) X1 - Số ca tử vong do bệnh ung thư phổiY1 +

CPI tất cả các mặt hàng (thực tế) X2 + Số ca tử vong do bệnh

CPI thuốc lá (thực tế) X3 - Số ca tử vong do bệnh thiếu máu

GDP bình quân đầu người/CPI thuốc lá X4 +

Thuế suất X5

-Nguồn: Theo kết quả nghiên cứu thế giới và sự tổng hợp của tập thể tác giả

Dấu “ + ” : tác động cùng chiều với tỷ lệ hộ nghèo

Dấu “ - ”: tác động ngược chiều với tỷ lệ hộ nghèo

3.3.4 Mô hình và kết quả

Mô hình hồi quy đánh giá tác động cơ bản nhất của thực trạng thuế

TTĐB của thuốc lá đến tỷ lệ hộ nghèo có dạng:

Nhóm tác giả sử dụng phần mềm Eview 4 chạy mô hình, lấy mức ý nghĩa α=0.05

Bảng 3.4 Kết quả mô hình

Dependent Variable: POVRATE

Method: Least Squares

Date: 04/22/15 Time: 11:15

Sample: 1995 2012

Included observations: 18

Variable Coefficient Std Error t-Statistic Prob

C 207.0398 20.34718 10.17536 0.0000

IRV 0.017301 0.011131 1.554312 0.0410

IDV -1.628667 0.102977 -15.81587 0.0000

R-squared 0.943429 Mean dependent var 30.95000

Adjusted R-squared 0.935886 S.D dependent var 18.88536 S.E of regression 4.781917 Akaike info criterion 6.118572

Sum squared resid 343.0010 Schwarz criterion 6.266967

Log likelihood -52.06715 F-statistic 125.0761

Durbin-Watson stat 0.830529 Prob(F-statistic) 0.000000

Từ bảng kết quả mô hình, ta thấy β1 = 207.0398, β2 = 0.0173, β3 = -1.628 cho thấy biến chỉ số IRV tác động cùng chiều với tỷ lệ hộ nghèo; biến chỉ số IDV tác động ngược chiều với tỷ lệ hộ nghèo Ở mô hình này, R2 = 94,3% cho thấy mức độ phù hợp của mô hình là rất cao

Kết hợp với bảng 3.7, ta thấy với mức ý nghĩa 5% mối tương quan giữa các biến ngẫu nhiên và biến phụ thuộc có 5 giả thuyết giả định từ đầu đã được chứng minh và phù hợp với mô hình Từ đây ta cũng có thể kết luận thuế suất thuế TTĐB tăng làm giảm tỷ lệ hộ nghèo quốc gia, việc tăng thuế có thể giúp cải thiện thu nhập khả dụng của hộ gia đình

Ngày đăng: 09/11/2015, 21:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w