1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tác động thuế TTĐB của thuốc lá đối với Ngân sách nhà nước và vấn đề xã hội

62 524 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 369 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu • Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về thuế tiêu thụ đặc biệt, tác động của việc tăng thuế tiêu thụ đặc biệt đối ngân sách nhà nước cũngnhư xem xét được các kinh

Trang 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu 7

5 Điểm mới của đề tài 8

6 Kết cấu của đề tài 8

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI 10

1.1 Tổng quan nghiên cứu trong nước 10

1.2 Tổng quan nghiên cứu nước ngoài 12

1.3 Khoảng trống nghiên cứu 13

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ TIÊU THỤĐẶC BIỆT ĐỐI VỚI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

15

2.1 Khái quát về thuế tiêu thụ đặc biệt 15

2.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thuế tiêu thụ đặc biệt 15

2.1.2 Tác động của thuế tiêu thụ đặc biệt 16

2.1.3 Nội dung của thuế tiêu thụ đặc biệt 19

2.2 Thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ngân sách nhà nước 23

2.2.1 Vai trò của thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ngân sách nhà nước 232.2.2 Nguyên tắc đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với thuốc lá 23

2.2.3 Cơ sở đánh giá đóng góp từ thuế TTĐB cho số thu NSNN 26

2.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn thu từ thuế tiêu thụ đặc biệt cho ngân sách nhà nước 28

2.3 Thuế tiêu thụ đặc biệt đối với vấn đề xã hội 29

2.3.1 Các vấn đề xã hội tồn tại liên quan đến thuế TTĐB của thuốc lá 292.3.2 Các tiêu chí đánh giá tác động của thuế TTĐB của thuốc lá đối với vấn đề xã hội 33

2.3.3 Các nguyên tắc khắc phục vấn đề xã hội gây ra từ thuốc lá 35

2.4 Kinh nghiệm của một số nước trong việc áp dụng thuế TTĐB hạn chếcác vấn đề xã hội 36

2.4.1 Kinh nghiệm một số nước 36

2.4.2 Bài học rút ra cho Việt Nam 39

CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH ĐO LƯỜNG THỰC TRẠNG CỦA THUẾ TTĐB CỦA THUỐC LÁ ĐỐI VỚI NSNN VÀ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 413.1 Thực trạng thuế TTĐB của thuốc lá đối với NSNN và vấn đề xã hội

41

3.1.1 Cơ sở pháp lí thu thuế TTĐB đối với thuốc lá41

3.1.2 Thực trạng thuế TTĐB của thuốc lá đối với NSNN và vấn đề xã hội 42

Trang 2

3.2 Cơ sở đề xuất mô hình đánh giá 50

3.2.1 Mô hình đánh giá tác động của thuế TTĐB của thuốc lá đối với

3.5.1 Kiểm định ý nghĩa thống kê của các biến độc lập 68

3.5.2 Kiểm định sự phù hợp của mô hình 71

CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP TĂNG THU NSNN VÀ HẠN CHẾ TÁC ĐỘNG THUẾ TTĐB CỦA THUỐC LÁ ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ XÃ HỘI 734.1 Chiến lược của Nhà nước đối với thuế tiêu thụ đặc biệt và thuốc lá

73

4.1.1 Chính sách Nhà nước đối với thuế tiêu thụ đặc biệt 73

4.1.2 Chính sách Nhà nước đối với vấn đề hút thuốc lá 74

4.2 Giải pháp nhằm tăng thu ngân sách nhà nước 75

4.2.1 Tăng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với thuốc lá 75

4.2.2 Nên áp dụng biểu thuế tuyệt đối đối với thuốc lá 78

4.2.3 Nên áp dụng mức biểu thuế tuyệt đối đối với thuốc lào 79

4.2.4 Tăng cường các biện pháp chống buôn lậu 82

4.2.5 Lồng ghép các chương trình kiểm soát thuốc lá trong các nỗ lực giảm nghèo 83

4.3 Khuyến nghị 84

4.3.1 Đối với chính phủ 84

4.3.2 Đối với các Bộ, Ngành liên quan 86

4.3.3 Đối với tổ chức quốc tế 87

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88

PHỤ LỤC 90

Trang 3

DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ

Bảng 3.5: Kết quả chạy mô hình NSNN 61

Bảng 3.6: Các chỉ tiêu xây dựng biến IRV được giả định như sau: 63Bảng 3.7: Các chỉ tiêu xây dựng IDV được giả định như sau: 64

Bảng 3.8: Thống kê mô tả các biến độc lập 65

Bảng 3.9: Ma trận hệ số tương quan 66

Bảng 3.10: Kết quả mô hình hộ nghèo 67

Bảng 3.11: Kết quả kiểm định ý nghĩa thống kê của hệ số β2 68

Bảng 3.12: Kết quả kiểm định ý nghĩa thống kê của hệ số β3 70

Bảng 3.13: Kết quả kiểm định ý nghĩa thống kê của hệ số β2 70

Bảng 3.14: Kết quả kiểm định ý nghĩa thống kê của hệ số β3 70

Bảng 4.1 Hệ thống thuế áp dụng cho thuốc lá ở 182 nước 78

Biểu đồ 3.3: Tổng sản lượng sản xuất thuốc lá hằng năm 46

Biểu đồ 3.4: Tổng thu từ thuế TTĐB của thuốc lá qua các năm 47

Biểu đồ 3.5: tổng số ca tử vong ở Việt Nam do các bệnh liên quan đến thuốc lá gây ra 49

Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ nam giới hút thuốc lá và thuốc lào theo mức thu nhập

81

HÌNH VẼ

Hình 2.1 Đồ thị thuế đánh vào người bán 17

Hình 2.2 Đồ thị thuế đánh vào người mua 18

Hình 2.3 Sự phi hiệu quả của ngoại ứng tiêu cực 25

Hình 2.4 Chính phủ đánh thuế t đồng/sản phẩm 26

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TIẾNG VIỆT

Trang 4

CHỮ VIẾT TẮT VIẾT ĐẦY ĐỦ

NSNN Ngân sách Nhà nước

TTĐB Tiêu thụ đặc biệt

PTBVPhát triển bền vững

TIẾNG ANH

CHỮ VIẾT TẮT VIẾT ĐẦY ĐỦ TIẾNG VIỆT

GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm trong nước

CPI Consumer Price Index Chỉ số giá tiêu dùng

SPSS Statistical Package for the Social Sciences Phần mềm thống kê dành cho nghiên cứu xã hội học

PCA Principal Component Analysis Phương pháp phân tích nhân tố chính

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hút thuốc lá đã và đang gây ra những hậu quả hết sức nặng nề cho sức khoẻ và kinh tế Thuốc lá đang trở thành một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ra tử vong cho con người Số ca tử vong do các bệnh liên quan đến thuốc lá ngày càng gia tăng Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới nếu không có các biện pháp ngăn chặn thì đến năm 2020, 10% dân số Việt Nam sẽ tử vong vì các bệnh liên quan đến sử dụng các sản phẩm thuốc lá

Một mặt khác, hút thuốc lá có ảnh hưởng đáng kể đến các hộ gia đình nghèo Nguyên nhân do số tiền họ chi tiêu cho thuốc lá khá nhiều, trong khi họ có thể dùng số tiền đó để trang trải cho các chi tiêu hằng ngày (thực phẩm và phi thực phẩm) Không những vậy, việc điều trị các bệnh liên quan đến thuốc lá cũng gây nên các gánh nặng tài chính cho người thân của chính họ, gây ra các tổn thất về mặt vật chất lẫn tinh thần

Chính phủ Việt Nam đã thực thi rất nhiều biện pháp để có thể giảm thiểu

số lượng người hút thuốc lá Trong số đó, việc áp dụng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với thuốc lá là một công cụ hữu hiệu Trong vòng chỉ 15 năm thì chính phủ đã có 6 lần thay đổi thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt đối với thuốc lá Tuy nhiên, lần thay đổi gần nhất là cách đây 7 năm và điều đó

đã không còn phù hợp với thực tế hiện tại Giá thuốc lá đang ngày càng rẻhơn đối với sức mua của người tiêu dùng Chính vì vậy, để thực hiện được mục tiêu là giảm được tỷ lệ người hút thuốc ở nam giới chỉ còn 39%vào năm 2020 theo như chiến lược phòng chống tác hại thuốc lá đã đề ra, cũng như đảm bảo được nguồn thu ngân sách từ thuốc lá thì cần có thêm

Trang 5

những nghiên cứu, đề xuất về tác động của việc tăng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với nguồn thu ngân sách nhà nước cũng như các vấn đề xã hội Với tính cấp thiết của vấn đề này, tập thể tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài:Nghiên cứu tác động thuế tiêu thụ đặc biệt của thuốc lá đối với ngân sách nhà nước và vấn đề xã hội làm đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên của mình.

2 Mục đích nghiên cứu

• Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về thuế tiêu thụ đặc biệt, tác động của việc tăng thuế tiêu thụ đặc biệt đối ngân sách nhà nước cũngnhư xem xét được các kinh nghiệm quý báu cho vấn đề kiểm soát tình trạng hút thuốc lá từ các nước đã triển khai thành công trên thế giới nhằmrút ra những bài học quý báu cho Việt Nam

• Đánh giá được thực trạng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với thuốc lá trong việc thu ngân sách nhà nước cũng như tỷ lệ người hút thuốc qua cácnăm, đặc biệt là trong những lần thay đổi thuế suất Từ đó có thể đưa ra các kết quả cũng như hạn chế và nguyên nhân trong điều chỉnh thuế tiêu thụ đặc biệt của thuốc lá nhằm hai mục tiêu là tăng thu ngân sách nhà nước và hạn chế tác động tiêu cực của mặt hàng thuốc lá

• Xây dựng mô hình đo lường kiểm định tác động của việc tăng thuế tiêu thụ đặc biệt của thuốc lá đối với nguồn thu ngân sách nhà nước và vấn đề xã hội

• Khuyến nghị và giải pháp về chính sách thuế đối với thuốc lá

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung vào nghiên cứu vào tác động của thuế tiêu thụ đặc biệt của thuốc lá đối với nguồn thu ngân sách nhà nước và vấn đề xã hội thông qua các chỉ tiêu về kinh tế vĩ mô, tài chính

 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Từ chính sách thuế với thuốc lá trong 20 năm trở lại đây đồng thời vấn đề ngân sách nhà nước đặt ra đối với nguồn thu từ thuốc lá tại Việt Nam

Về thời gian: Từ năm 1995 đến năm 2014

4 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra, trong quá trình thực hiện đề tài, nhóm tác giả đã sử dụng các phương pháp sau:

• Phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và phương pháp hệ thống: Việc nghiên cứu thuế tiêu thụ đặc biệt và nguồn thu ngân sách từ thuế ở Việt Nam được thực hiện một cách đồng bộ, gắn với hoàn cảnh, điều kiện và các giai đoạn cụ thể Các nội dung về thuế tiêu thụ đặc biệt của thuốc lá được xem xét trong mối liên hệ chặt chẽ với

Trang 6

nhau cả không gian và thời gian, trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới.

• Phương pháp thống kê: Nhóm tác giả đã sử dụng các số liệu thống

kê thích hợp để phục vụ phân tích thực trạng của thuế tiêu thụ đặc biệt, từ

đó sử dụng một số chỉ số thống kê để phân tích định lượng cho tác động của thuế Tiêu thụ đặc biệt đối với nguồn thu ngân sách nhà nước và vấn

đề xã hội

• Phương pháp phân tích tổng hợp: Trên cơ sở phân tích nội dung cụ thể, nhóm tác giả đưa ra những đánh giá chung về thực trạng thuế tiêu thụđặc biệt trong điều kiện hiện nay

• Phương pháp so sánh, đối chiếu: Đánh giá thực trạng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ngân sách nhà nước và vấn đề xã hội được xem xét trên

cơ sở có sự so sánh giữa các giai đoạn, các thời kì đổi mới chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt của thuốc lá

• Phương pháp phân tích định lượng: Nhóm tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy để đánh giá tác động của thực trạng thuế tiêu thụ đặc biệt đến nguồn thu ngân sách nhà nước và vấn đề xã hội

5 Điểm mới của đề tài

Đưa ra mô hình đo lường đánh giá tác động của thuế tiêu thụ đặc biệt của thuốc lá đối với nguồn thu ngân sách nhà nước và vấn đề xã hội

So sánh kinh nghiệm của Thụy Điển, Braxin, Thái Lan là những nước đã rất thành công trong việc áp dụng thuế tiêu thụ đặc biệt của thuốc lá để nhằm tăng thu NSNN và hạn chế các vấn đề xã hội Từ đó đưa ra những bài học quý báu cho Việt Nam

Khuyến nghị về sử dụng các công cụ phi giá cả trong phòng chống thuốc

lá và giải pháp áp dụng biểu thuế tuyệt đối đối với thuốc lá và thuốc lào là

sự đột phá cần thiết hiện nay mà nước ta chưa làm được, trong khi thế giới đã có những nước áp dụng thành công như Ấn Độ, Braxin

6 Kết cấu của đề tài

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về đề tài

Chương 2: Cơ sở lý luận về tác động của thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ngân sách và vấn đề xã hội

Chương 3: Mô hình đo lường thực trạng thuế tiêu thụ đặc biệt của thuốc

lá đối với ngân sách nhà nước và vấn đề xã hội

Chương 4: Giải pháp tăng thu ngân sách nhà nước và hạn chế tác động của thuốc lá đối với vấn xã hội

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI

1.1 Tổng quan nghiên cứu trong nước

Trang 7

Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ hút thuốc cao nhất trên thế giới Sử dụng thuốc lá không chỉ tác động xấu lên sức khỏe mà còn tạo ragánh nặng lên xã hội và hệ thống chăm sóc sức khỏe do tiêu thụ các nguồn lực quý giá Chính vì những tác động này mà đã có hàng loạt các công trình nghiên cứu về tác động của thuốc lá đến sức khỏe và chi phí xãhội để khắc phục hậu quả do thuốc lá gây ra Một số công trình tiêu biểu như:

Thứ nhất, điều tra toàn cầu về thuốc lá ở người trưởng thành tại Việt Nam(GATS), 2010 do Tổ chức Y tế thế giới tại Việt Nam phối hợp với Bộ Y

tế, Trường Đại học Y Hà Nội và Tổng cục thống kê thực hiện Đây là mộtđiều tra quan trọng giúp Việt Nam đánh giá được tỷ lệ sử dụng thuốc lá, thuốc lào và các yếu tố liên quan tới việc sử dụng thuốc lá Kết quả điều tra GATS năm 2010 cho thấy mặc dù các hoạt động phòng chống thuốc lágần đây đã nhận được sự chú ý nhưng vẫn còn những vấn đề cần cải thiện:

• Tỷ lệ hút thuốc lá đã giảm so với năm 2002 (nam: 56,1% xuống 47.4%; nữ: 1,8% xuống 1,4%), nhưng vẫn còn rất cao trong nam giới

• Gía trị trung vị của số tiền bỏ ra mua một bao thuốc lá 20 điếu lá 5.500 đồng (khoảng 0,29 Đô la Mỹ) Gía trị trung vị của chi phí cho thuốc lá hàng năm của mỗi người hút thuốc là 1.096.000 đồng (khoảng 57

Đô la Mỹ) Tỷ lệ % giá trung vị của giá cho 100 bao thuốc lá điếu nhà máy trên tổng thu nhập bình quân đầu người là 2.7%

• Có 71.3% người trưởng thành ủng hộ việc tăng thuế thuốc lá

• Hầu hết những người trưởng thành (95.7%) tin rằng hút thuốc lá gây ra bệnh tật và ốm đau nghiêm trọng Tỷ lệ phần trăm những người tinrằng hút thuốc lá gây ung thư phổi, đột quỵ và đau tim lần lượt là 95.6%, 70.3% và 62.7% Có 55.5% những người trả lời rằng hút thuốc lá có thể gây ra cả ba bệnh ung thư phổi, đột quỵ và đau tim

Thứ hai, bài nghiên cứu về thuế thuốc lá ở Việt Nam, năm 2010 do tác giả Hoàng Văn Kình, đến từ Trường Đại học thương mại cùng cộng sự thực hiện, đã ước tính rằng, với giả thiết tổng độ co giãn cầu theo giá ở mức trung bình, tức là -0,50, thì khi tăng thuế tiêu thụ đặc biệt từ mức 65% lên đến 85%, tức là tăng mức thuế thuốc lá trong giá bán lẻ từ mức 42.6% lên 48.5%, ước tính sẽ làm giảm số lượng người hút thuốc đi khoảng 300.000 người, giảm được hơn 100.000 ca chết sớm cộng vào năm 2050, và tăng thu nhập thuế của chính phủ thêm 119 triệu đô la Mỹ Tuy nhiên mức tăng mức thuế thuốc lá trong giá bán lẻ đến mức 48.5%

là còn quá thấp so với tỷ lệ 65-80% do Ngân hàng thế giới ghi nhận ở cácnước có chính sách kiểm soát thuốc lá hiệu quả Cũng theo tác giả, nếu đểgần đạt đến mức khuyến cáo theo Ngân hàng thế giới, khoảng đạt mức 61.5% giá bán lẻ thì phải tăng thuế tiêu thụ đặc biệt lên đến 150%, khi đó

sẽ làm giảm số lượng người hút thuốc đi khoảng 1.500.000 người, giảm được hơn 500.000 ca chết sớm vào năm 2050, và tăng thu nhập thuế cho

Trang 8

chính phủ thêm 316 triệu đô la Mỹ Hơn nữa, tác giả cũng khuyến nghị với mục tiêu tăng trưởng đáng kể giá của các sản phẩm thuốc lá rẻ nhất

và do đó giảm cơ hội người hút thuốc chuyển sang các sàn phẩm rẻ hơn khi thuế tăng, nên áp dụng một loại thuế tính theo số lượng, có điều chỉnhhàng năm theo lạm phát hoặc có lộ trình tăng theo thời gian để theo kịp

và vượt mức lạm phát dự kiến

Thứ ba, bài nghiên cứu về tác động của Phòng chống tác hại thuốc lá đến GDP và việc làm ở Việt Nam do nhóm tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền, Nguyễn Tiến Minh, Nguyễn Bảo Ngọc, Hoàng Anh Tuấn đã chỉ ra rằng

số việc làm trong ngành thuốc lá chỉ chiếm khoảng 0.6% tổng số việc làmtại Việt Nam Nghiên cứu cũng kết luận rằng nếu thuế tăng 50% giá bán

lẻ thì tiêu dùng thuốc lá sẽ giảm khoảng 10% Nếu số tiền từ việc tiêu dùng thuốc lá được dành cho các hàng hóa và dịch vụ khác thì Tổng sản phẩm quốc nội sẽ tăng thêm 600 tỷ đồng, trong khi đó trong dài hạn số việc làm được tạo ra ở các ngành nghề khác sẽ tăng thêm 500.000 việc làm

Thứ tư, bài nghiên cứu về chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp do việc hútthuốc lá tại Việt Nam do tác giả Phan Thị Hoàng Anh đến từ Tổ chức HealthBridge Canada tại Việt Nam cùng các cộng sự thực hiện Nhóm tácgiả đã ước lượng chi phí trực tiếp và gián tiếp từ 5 bệnh thường gặp do thuốc lá gây ra, gồm có: ung thư phổi, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, bệnh tim do thiếu máu cục bộ, bệnh đột quỵ, ung thư vùng miệng Theo kết quả nghiên cứu thì tổng chi phí ước lượng năm 2011 do thuốc lá gây

ra từ 5 bệnh này đạt 24679 tỷ đồng, trong đó chi phí trực tiếp cho điều trị nội trú và ngoại trú lần lượt là 9896 và 2567 tỷ đồng Trong khi đó, chi phí gián tiếp do giảm năng suất lao động từ người bị bệnh và tử vong lần lượt đạt 2652 và 9563 tỷ đồng Chi phí gián tiếp đạt gần một nữa tổng chiphí từ việc hút thuốc lá Việc hút thuốc lá đã gây ra gánh nặng lớn cho nền kinh tế Việt Nam

1.2 Tổng quan nghiên cứu nước ngoài

Trên thế giới thì thuốc lá được biết đến là một nguyên nhân chính gây tử vong có thể ngăn ngừa được trên thế giới hiện nay, cứ mỗi sáu giây lại giết chết một người Sử dụng thuốc lá đang gây ra 5 triệu ca tử vong mỗi năm và dự đoán sẽ gây ra 8 triệu ca tử vong mỗi năm vào năm 2030 Nếu

xu thế sử dụng thuốc lá hiện tại không thay đổi, dự đoán đại đa số ca tử vong sẽ xảy ra ở các nước đang phát triển Chính vì thế mà đã có hàng loạt các công trình nghiên cứu về tác hại của thuốc lá, từ đó đề xuất các chính sách, biện pháp cho chính phủ các nước Một số công trình nhóm tác giả nghiên cứu như sau:

Thứ nhất, trong một nghiên cứu về quản lí thuốc lá do Ngân hàng thế giớitiến hành thì đã chỉ ra rằng, trung bình tăng giá 10% sẽ làm giảm nhu cầu đối với các sản phẩm từ thuốc lá đi khoảng 4% ở các nước thu nhập cao

và khoảng 8% ở các nước thu nhập thấp và trung bình Từ đó, Ngân hàng

Trang 9

thế giới cũng đề xuất với mức thuế thuốc lá chiếm từ 65-80% giá bán lẻ

sẽ đạt được sự kiểm soát thuốc lá có hiệu quả Ngân hàng thế giới cũng cho rằng tăng thuế thuốc lá sẽ gần như luôn dẫn đến tăng thu nhập cho chính phủ

Thứ hai, bài nghiên cứu về tăng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với thuốc lá, ảnh hưởng của việc tăng thuế đến sức khỏe và ngân sách quốc gia được thực hiện bởi Văn phòng Ngân sách Quốc hội của Mỹ (CBO -

Congressional Budget Office) vào tháng 06 năm 2012 Trong nghiên cứu này, CBO áp dụng mô hình phân tích một chính sách liên quan đến thuốc

lá – giả định tăng 50 cent cho mỗi bao thuốc lá bằng cách tăng thuế tiêu thụ đặc biệt (số liệu mỗi năm được điều chỉnh để theo kịp lạm phát và mức tăng trưởng thu nhập của người dân) – nhằm chứng minh được sự liên kết phức tạp giữa chính sách tăng thuế và ảnh hưởng đến ngân sách liên bang Phân tích của CBO cho thấy rằng việc giả định tăng thuế và các tác động dẫn đến hành vi và sức khỏe của người dân sẽ làm tăng doanh thu liên bang khoảng 41 tỷ USD và giảm chi tiêu ngân sách ít nhất

là 1 tỷ USD đến năm 2021 Ngoài ra, khoảng 38 tỷ USD của các khoản thu bổ sung được ước tính đến từ việc đưa ra mức thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt cao hơn Và theo ước tính của các nhân viên của Ủy Ban Liên Hợp về Thuế thì doanh thu liên bang sẽ tăng thêm 1 tỷ USD từ những cải tiến trong y tế, chủ yếu là từ những khoản bổ sung do sức khỏe tốt hơn cho phép người dân làm việc làm việc hiệu quả hơn

Thứ ba, trong một nghiên cứu khác của Ngân hàng thế giới về Phòng chống tác hại Thuốc lá đã đưa ra những tác hại đáng cảnh báo do mặt hàng thuốc lá gây ra cho chính sức khỏe của bản thân và những người xung quanh Theo nghiên cứu, có khoảng 5500 tỉ điếu thuốc đốt mỗi năm,

cứ mỗi 6 giây có 1 người chết vì nó, giết 100 triệu sinh linh trong thế kỷ

20 tức gấp đôi số thương vong trong Thế chiến thứ II, dự báo thuốc lá sẽ giết 1 tỉ người trong thế kỷ này

Ngoài ra, nghiên cứu cũng đưa ra những giải pháp đối với mặt hàng độc hại này để nhằm ngăn chặn số lượng người hút thuốc gia tăng, mà đặc biệt là giải pháp tăng thuế thuốc lá Giải pháp này chỉ ra rằng, chi phí của việc tăng thuế thuốc lá là từ 5 đến 17 USD để có được một năm sống khỏe mạnh (mà lẽ ra sẽ bị mất do hút thuốc gây ra) Mức chi phí-hiệu quảnày là rất tối ưu và có thể so sánh ngang với mức chi phí-hiệu quả khi áp dụng những can thiệp y tế ban đầu có chi phí hiệu quả tối ưu, ví dụ như tiêm chủng trẻ em

1.3 Khoảng trống nghiên cứu

Thứ nhất, tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu đa dạng trên thế giới nhưng khó lòng có thể đáp ứng với thực tiễn tại Việt Nam, bởi sự khác nhau về điều kiện kinh tế-xã hội, văn hóa, nhận thức người dân cũng như các chính sách quốc gia nhằm hạn chế tác hại của thuốc lá Trong khi, Việt Nam lại là một quốc gia có số lượng người hút thuốc lá lớn trên thế

Trang 10

giới và đây là một vấn đề được nhiều người quan tâm tại Việt Nam hiện nay.

Thứ hai, tại Việt Nam các đề tài về thuốc lá vẫn còn rất ít, và không mấy nhà nghiên cứu tiếp cận Những bài nghiên cứu đã được thực hiện thì lại cách đây khá lâu, chưa theo kịp với tình hình kinh tế xã hội ngày càng thay đổi

Thứ ba, chế tài pháp luật đối với sản xuất và tiêu thụ thuốc lá tại Việt Nam chưa thật sự tốt Những điểm chưa hoàn thiện trong các văn bản pháp luật, các quy định ban hành khiến cho tình trạng buôn lậu và tiêu thụthuốc lá ngày càng gia tăng

Thứ tư, sức ép từ tăng thu ngân sách nhà nước luôn là mục tiêu hướng đến mỗi khi nhắc đến một giải pháp nhưng ít nhất có hai tác dụng đối với thuốc lá: tác dụng tăng thu NSNN đồng thời hạn chế vấn đề xã hội gây ra

2.1 Khái quát về thuế tiêu thụ đặc biệt

2.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thuế tiêu thụ đặc biệt

Thuế tiêu thụ đặc biệt là một loại thuế gián thu, đánh vào một số hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế theo quy định của luật thuế tiêu thụ đặc biệt Thuế được cấu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ và do người tiêu dùng chịu khi mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ

Thuế tiêu thụ đặc biệt được áp dụng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới với những tên gọi khác nhau Ở Việt Nam, năm 1990, Bộ Tài Chính đã soạn thảo dự án luật thuế mới với tên gọi thuế tiêu thụ đặc biệt, và được Quốc hội thông qua vào ngày 30/06/1990 Từ đó đến nay, nước ta đã sửa đổi, thay thế nhiều điều luật để hoàn chỉnh hơn và phát huy vai trò của thuế tiêu thụ đặc biệt trong điều tiết sản xuất và tiêu dùng xã hội

Vì thuế tiêu thụ đặc biệt là một loại thuế nên nó mang các đặc điểm chung của thuế bao gồm: tính bắt buộc, tính pháp lí cao, tính không hoàn trả trực tiếp Ngoài ra, thuế tiêu thụ đặc biệt còn có các đặc điểm riêng như sau:

(1) Là một loại thuế gián thu – Nghĩa là thuế tiêu thụ đặc biệt là loại thuế mà người nộp thuế và người chịu thuế là hai đối tượng khác nhau

Cụ thể, người chịu thuế tiêu thụ đặc biệt ở đây là khách hàng còn người

Trang 11

nộp thuế lại là người bán hàng Việc phân chia các loại thuế ra thành thuếgián thu hay thuế trực thu nhằm mục đích chỉ ra ai thực sự là người sẽ nộp thuế và ai sẽ là người chịu gáng nặng về thuế Từ đó, giúp các nhà làm luật đưa ra cách thức thu thuế phù hợp cho từng loại thuế nhất định.(2) Thu một lần vào khâu sản xuất hoặc kinh doanh, dịch vụ – Nghĩa làthuế TTĐB là loại thuế một giai đoạn nên chỉ thu một lần duy nhất vào khâu “đầu vào”, không có sự trùng lặp qua các khâu của quá trình luân chuyển hàng hóa Đặc điểm này cho thấy điểm khau nhau giữa thuế TTĐB với thuế doanh thu và thuế giá trị gia tăng, vì các loại thuế này đánh trên toàn bộ doanh thu bán hàng hoặc giá trị.

(3) Thường có mức động viên cao – Nghĩa là thuế TTĐB có thể được xác định trên cơ sở giá trị hoặc trên cơ sở đơn vị đo lường khác và thườngđược thu với thuế suất cao hơn so với thuế tiêu dùng thông thường Đặc điểm này thể hiện sự điều tiết của Nhà nước thông qua thuế TTĐB Xét ở khía cạnh quản lí, việc tiêu dùng hoặc sản xuất các loại hàng hóa đặc biệt không chỉ liên quan đến vấn đề kinh tế mà còn ảnh hưởng đến vấn đề xã hội Vì vậy để định hướng sản xuất hoặc tiêu dùng các mặt hàng này, Nhànước cần thiết phải sử dụng mức thuế cao thông qua thuế TTĐB để

hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng hợp lí Xét ở khía cạnh phân phối thu nhập, đối tượng tiêu dùng phần lớn các hàng hóa, dịch vụ đặc biệt này phần lớn là những người có thu nhập cao Vì vậy, thuế TTĐB có mức động viên cao nhằm điều tiết thu nhập của những người có thu nhập cao, đảm bảo công bằng xã hội

(4) Danh mục hàng hóa, dịch vụ chịu thuế không nhiều và thay đổi theo từng thời kì tùy vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và mức sốngdân cư – Nghĩa là số lượng các hàng hóa, dịch vụ chịu thuế TTĐB không nhiều; đến năm 2010, số lượng hàng hóa, dịch vụ chịu loại thuế này chỉ bao gồm 6 nhóm hàng hóa và 4 nhóm dịch vụ Điều này khác với các loạithuế gián thu khác như thuế doanh thu, thuế giá trị gia tăng là những loại thuế có đối tượng chịu thuế rộng rãi và bao quát hầu hết các mặt hàng và dịch vụ, trong khi đó thuế TTĐB chỉ tập trung điều tiết một số mặt hàng nhất định không được Nhà nước khuyến khích tiêu dùng Tùy theo quan điểm của các nhà làm luật ở mỗi quốc gia mà danh mục hàng hóa và dịch

vụ phải chịu thuế TTĐB có thể rất khác nhau Ngoài ra, tùy vào từng thời

kì phát triển kinh tế - xã hội mà danh mục hàng hóa, dịch vụ chịu thuế sẽ được thay đổi, bổ sung sao cho phù hợp với chủ trương, chính sách của Nhà nước trong việc hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng cũng như điều tiết thunhập của các tầng lớp dân cư

2.1.2 Tác động của thuế tiêu thụ đặc biệt

Tác động của thuế tiêu thụ đặc biệt đến người bán

Giả sử Chính phủ công bố để hạn chế việc sản xuất một loại hàng hóa nào

đó, Chính phủ quyết định đánh thuế t đồng vào mỗi sản phẩm hàng hóa

đó được sản xuất ra tại xưởng Lúc này, người bán sẽ là người chịu thuế

Trang 12

theo quy định Khi đó, trong hình 2.1, đường cung S là đường thể hiện mức tối thiểu mà người sản xuất sẵn sàng bán hàng hóa của mình cho người tiêu dùng Sau khi đánh thuế, đường S sẽ dịch chuyển song song lên trên một khoảng đúng bằng mức thuế t.

Hình 2.1 Đồ thị thuế đánh vào người bán

- Mức giá mà người mua phải trả cao hơn trước (Pm > Po) nhưng giá

mà người bán nhận được lại giảm đi (Pb < Po), và mức chênh lệch đúng bằng t

- Điểm cân bằng thị trường chuyển từ B sang A, với sản lượng cân bằng được sản xuất ra cũng giảm từ Qo xuống Q1

Như vậy, điều này đã gây ra tổn thất cho xã hội (do Q1 < Qo), và mức tổnthất xã hội đúng bằng diện tích tam giác ABC, trong đó diện tích tam giácABG là tổn thất của người mua, còn diện tích tam giác GBC là tổn thất của người bán Tổng số thuế mà Chính phủ thu được bằng diện tích hình chữ nhật PmPbCA

Mặc dù, thuế đánh vào người bán nhưng người bán không chịu hết mà chuyển một phần thuế cho người tiêu dùng, bằng cách tăng giá sản phẩm lên Vậy gánh nặng thuế của người tiêu dùng là diện tích PmPoGA, còn gánh nặng thuế của người bán là diện tích PoPbCG

Tác động của thuế tiêu thụ đặc biệt đến người mua

Đối với thuế bên cầu (người mua là người chịu thuế theo quy định) thì Chính phủ để hạn chế tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ sẽ đánh thuế t đồng trên mỗi sản phẩm, dịch vụ được mua trên thị trường Tác động của thuế được phân tích tương tự như đối với thuế bên cung Kết quả, như hình 2.2, toàn bộ đường cầu D dịch chuyển song song xuống dưới, và điểm cân bằng thị trường chuyển từ E xuống F Giá người mua phải trả cao hơntrước, là Pm = Pb (giá người bán nhận được) + t Và thuế tuy đánh vào người mua nhưng gánh nặng thuế được chuyển cho cả người mua lẫn người bán Xã hội cũng chịu một mức tổn thất do Q2 < Qo

Trang 13

t

D’

Q2 Qo

Hình 2.2 Đồ thị thuế đánh vào người mua

Từ những phân tích hình 2.1 và 2.2, ta có những kết luận về ảnh hưởng của thuế TTĐB đến thị trường như sau:

- Giá người mua phải trả sau khi có thuế cao hơn giá ban đầu, còn giá người bán nhận được lại giảm đi Phần chênh lệch chính là số thuế phải nộp vào ngân sách nhà nước nhằm điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội

- Việc đánh thuế gây ra tổn thất cho xã hội Cả người mua và người bán đều phải chịu gánh nặng từ thuế gây ra

- Gánh nặng thuế của người mua và người bán không phụ thuộc thuếđánh vào đối tượng nào (người mua hay người bán), mà chỉ phụ thuộc vào độ co giãn của đường cung và đường cầu theo nguyên tắc: nếu đườngcung ít co giãn hơn so với đường cầu thì người bán chịu nhiều thuế hơn

và ngược lại, đường cầu ít co giãn hơn thì người tiêu dùng chịu nhiều thuế hơn

2.1.3 Nội dung của thuế tiêu thụ đặc biệt

2.1.3.1 Xác Định Phạm Vi Áp Dụng

(1) Về đối tượng chịu thuế: Là các loại hàng hóa, dịch vụ xa xỉ, đắt tiền; hoặc là những mặt hàng độc hại cho sức khỏe con người nhưng người dânvẫn tiêu dùng với số lượng lớn Điểm chung của những đối tượng chịu thuế TTĐB là đều không được Nhà nước khuyến khích sử dụng, một số mặt hàng có thể bị cấm tiêu dùng

Hiện nay, theo luật hiện hành ở Việt Nam thì đối tượng chịu thuế TTĐB gồm có 10 loại hàng hóa và 6 loại dịch vụ Một số loại hàng hóa chịu thuếnhư:

- Thuốc lá điếu, xì gà và chế phẩm khác từ cây thuốc lá dùng để hút, hít, nhai, ngửi, ngậm;

- Tàu bay, du thuyền (là loại sử dụng cho mục đích dân dụng)

- Xăng các loại, nap-ta (naphtha), chế phẩm tái hợp (reformade component) và các chế phẩm khác

- Điều hoà nhiệt độ công suất từ 90.000 BTU trở xuống

- Bài lá;

- Vàng mã, hàng mã

Có thể thấy, ngoài những mặt hàng độc hại thường hay chịu thuế TTĐB ởhầu hết các quốc gia trên thế giới như thuốc lá điếu, xì gà, rượu, bia thì có

Trang 14

trong đó có một số hàng hóa mang tính đặc trưng tại Việt Nam mà theo quy định của nhiều nước lại không phải là đối tượng chịu thuế TTĐB như: vàng mã, hàng mã, bài lá Hoặc một số hàng hóa phổ biến ở nhiều quốc gia nhưng lại là hàng hóa không được Chính phủ khuyến khích như

xe oto, tàu bay, du thuyền

Một số loại hình dịch vụ bị đánh thuế TTĐB hiện nay như:

- Kinh doanh vũ trường;

- Kinh doanh mát-xa (massage), karaoke

- Kinh doanh casino; trò chơi điện tử có thưởng;

- Kinh doanh golf bao gồm bán thẻ hội viên, vé chơi golf;

- Kinh doanh xổ số

(2) Về đối tượng không chịu thuế: các hàng hóa xa xỉ, đắt tiền nhưng được phục vụ cho mục đích kinh doanh, sản xuất, phục vụ cho mục đích nhân đạo, cứu trợ, các dịch vụ công

Theo điều 3 Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008 thì đối tượng không chịu thuế gồm có 5 loại hàng hóa như tàu bay, du thuyền được phục vụ cho mục đích kinh doanh, du lịch, hay như các loại xe ô tô cứu thương, xephục vụ tang lễ, xe chở phạm nhân (Xem Phụ lục 5)

(3)Về đối tượng nộp thuế: là các tổ chức, cá nhân có sản xuất, nhập khẩuhàng hóa và kinh doanh dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB Theo Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008 thì đối tượng nộp thuế bao gồm:

- Các tổ chức kinh doanh được thành lập và đăng ký kinh doanh theoLuật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp Nhà nước (nay là Luật Doanh nghiệp) và Luật Hợp tác xã

- Các tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội,

tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức sự nghiệp và các tổ chức khác

- Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp tác kinh doanh theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (nay là Luật đầu tư); các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động kinh doanh ở Việt Nam nhưng không thành lập pháp nhân tại Việt Nam

- Cá nhân, hộ gia đình, nhóm người kinh doanh độc lập và các đối tượng khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu

2.1.3.2 Căn Cứ Tính Thuế

(1) Giá tính thuế

Giá tính thuế TTĐB của hàng hóa, dịch vụ: là giá bán hàng hoá, giá cung ứng dịch vụ của cơ sở sản xuất, kinh doanh chưa có thuế TTĐB, thuế bảo

vệ môi trường (nếu có) và thuế GTGT

Giá tính thuế được tính bằng đồng Việt Nam Trường hợp người nộp thuế

có doanh thu bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do

Trang 15

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh doanh thu

để xác định giá tính thuế

 Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng sản xuất trong nước:

 Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng nhập khẩu:

(Hàng hóa nhập khẩu được miễn, giảm thuế nhập khẩu thì giá tính thuế không bao gồm số thuế nhập khẩu được miễn, giảm)

 Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hóa gia công, hàng đembiếu tặng, hàng tiêu dùng nội bộ: Giá tính thuế là giá tính thuế của mặt hàng cùng loại hoặc của mặt hàng tương đương tại cùng thời điểm giao hàng hoặc phát sinh các hoạt động này

 Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt đối với dịch vụ: Giá tính thuế TTĐB

là giá cung ứng dịch vụ chưa có thuế tiêu thụ đặc biệt

(2) Thuế suất

Thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt áp dụng có tính chất phân biệt giữa các nhóm hàng hóa, dịch vụ và giữa các hàng hóa, dịch vụ trong cùng một nhóm nhằm thực hiện chính sách điều tiết sản xuất và hướng dẫn tiêu dùng xã hội của Nhà nước và được quy định cụ thể tại biểu thuế suất thuếtiêu thụ đặc biệt (Xem Phụ lục 1)

 Khai theo từng lần phát sinh: Đối với người nộp thuế mua hàng hoáchịu thuế tiêu thụ đặc biệt để xuất khẩu nhưng không xuất khẩu mà bán trong nước

– Trong thời gian tạm ngừng kinh doanh và không phát sinh nghĩa vụ thuế thì người nộp thuế không phải nộp hồ sơ khai thuế Chậm nhất là 5 ngày trước khi tạm ngừng kinh doanh, người nộp thuế phải có thông báo bằng văn bản gửi cơ quan thuế quản lý trực tiếp Hết thời hạn tạm ngừng kinh doanh, người nộp thuế phải thực hiện kê khai theo quy định

(2) Hoàn thuế là việc Nhà nước trả lại số thuế mà đối tượng nộp thuế

đã nộp vào Ngân sách Nhà nước trong một số trường hợp nhất định Một số trường hợp phổ biến hiện nay được hoàn thuế ở hầu hết các quốc gia trên thế giới như:

Trang 16

- Hàng tạm nhập khẩu, tái xuất khẩu, đã nộp thuế TTĐB.

- Được hoàn lại số thuế tiêu thụ đặc biệt đã nộp tương ứng với số nguyên liệu nhập khẩu dùng để sản xuất hàng hoá thực tế xuất khẩu

- Cơ sở sản xuất, kinh doanh quyết toán thuế khi sáp nhập, chia, tách, giải thể, phá sản v.v có quyền đề nghị cơ quan thuế hoàn lại số thuế tiêu thụ đặc biệt nộp thừa

Ngoài ra, một số trường hợp khác cơ quan hoặc tổ chức kinh doanh vẫn

có thể hoàn thuế TTĐB (tùy vào từng quốc gia) như:

- Theo Quyết định của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật

- Theo Điều ước quốc tế mà nước đó là thành viên

- Số tiền thuế tiêu thụ đặc biệt đã nộp lớn hơn số tiền thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp theo quy định

2.2 Thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ngân sách nhà nước

2.2.1 Vai trò của thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ngân sách nhà nước

Là công cụ để Nhà nước huy động các nguồn lực tài chính

Từ khi ra đời cho đến nay, Nhà nước đã đặt ra các hình thức thu thuế khác nhau để duy trì hoạt động của Bộ máy quản lí Có thể thấy, vai trò đầu tiên và cơ bản nhất của thuế nói chung và thuế tiêu thụ đặc biệt nói riêng đó chính là tạo nguồn thu chủ yếu và lâu dài cho ngân sách nhà nước

Thuế tiêu thụ đặc biệt ở Việt Nam được coi là khoản thu quan trọng nhất đối với ngân sách nhà nước vì khoản thu này mang tính chất ổn định và khi nền kinh tế càng phát triển thì khoản thu này càng tăng, trong đó mặt hàng thuốc lá cũng nằm trong danh mục hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt với thuế suất lên đến 65%

Đối với Việt Nam, ngành công nghiệp thuốc lá là một nguồn quan trọng của thu ngân sách nhà nước Hằng năm, thuế tiêu thụ đặc biệt nói chung

và thuế tiêu thụ đặc biệt của thuốc lá nói riêng đóng góp tỉ lệ lớn trong tỉ trọng thu ngân sách Mặc dù, tỉ lệ sản lượng công nghiệp thuốc lá trong tổng sản lượng công nghiệp và sản lượng sản xuất hàng năm là không quávượt trội (ví dụ: trong năm 2000, tỉ lệ này chỉ chiếm 3% tổng sản lượng công nghiệp và 3.5% tổng sản lượng sản xuất), nhưng ngành công nghiệpthuốc lá đã đóng góp một phần đáng kể trong tổng thu ngân sách nhà nước Như đã nêu trong Bảng 2, ngành công nghiệp thuốc lá đóng góp khoảng 3% tổng thu ngân sách nhà nước trong năm 2000

2.2.2 Nguyên tắc đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với thuốc lá

Ngoại ứng tiêu cực là những chi phí áp đặt lên một đối tượng thứ ba (ngoài người mua và người bán trên thị trường) nhưng chi phí đó lại không được phản ánh trong giá cả thị trường

Hút thuốc lá là một hoạt động gây ra ngoại ứng tiêu cực Cụ thể, khi một

cá nhân hút thuốc lá, khói thuốc lá độc hại được thải ra ngoài môi trường,

nó sẽ gây tổn hại đến sức khỏe của những người xung quanh ở gần đó,

Trang 17

khiến họ dễ mắc các bệnh liên quan đến đường hô hấp Nhưng người hút thuốc lá lại không phải đền bù cho những thiệt hại do mình gây ra, vì thế khi tính toán chi phí, họ không đưa những tổn hại này vào giá thành thuốclá.

Sự phi hiệu quả của ngoại ứng tiêu cực do thuốc lá gây ra

Hình 2.3 Sự phi hiệu quả của ngoại ứng tiêu cực

- Đường MB thể hiện lợi ích biên mà người hút thuốc nhận được khihút thêm một điếu thuốc

- Đường MPC thể hiện chi phí tư nhân biên, tức mọi khoản chi phí

mà người hút thực sự phải chi ra để hút thêm một điếu thuốc

- Đường MEC thể hiện chi phí ngoại ứng biên, cho biết tổng thiệt hại

mà người xung quanh phải gánh chịu khi người hút hút thêm một điếu thuốc Mức thiệt hại được giả định tăng dần khi người hút hút thuốc càng nhiều Vì thế, đường MEC có chiều đi lên giống đường MPC

- Đường MSC thể hiện chi phí xã hội biên Vì thế MSC = MPC + MEC

Người hút muốn đạt tối đa hóa lợi ích của mình <=> MB = MC Nhưng

MC mà người hút quan tâm là MPC nên mức sản lượng mà người hút sẽ tiêu dùng là tại điểm B, tức là tại MPC = MB (Q1 là sản lượng cân bằng thị trường)

Trái lại, cũng theo nguyên tắc biên của tính hiệu quả, nhưng vì quan tâm đến chi phí của cả xã hội nên mức sản lượng tối ưu theo quan điểm xã hộiphải đạt tại A, khi MB = MSC (Qo là sản lượng hiệu quả của xã hội)Như vậy, người hút thuốc gây ngoại ứng tiêu cực đã tiêu dùng quá nhiều

so với mức tối ưu xã hội (Q1>Qo) Điều này gây ra tổn thất cho xã hội

Và mức tổn thất cho xã hội bằng đúng diện tích tam giác ABC

Giải pháp khắc phục ngoại ứng tiêu cực

Một trong những giải pháp đạt hiệu quả mà Chính phủ có thể can thiệp,

đó chính là biện pháp đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với mặt hàng thuốc

lá Thuế sẽ được đánh vào mỗi đơn vị sản phẩm thuốc lá được tiêu thụ

Trang 18

trên thị trường, sao cho nó đúng bằng chi phí ngoại ứng biên tại mức sản lượng tối ưu xã hội

2.2.3 Cơ sở đánh giá đóng góp từ thuế TTĐB cho số thu NSNN

Dựa trên tầm quan trọng của vấn đề đánh giá mức đóng góp từ thuế TTĐB cho NSNN trong việc quản lí ngân sách quốc gia, nhóm tác giả xin

đề xuất đưa ra hệ thống các chỉ tiêu đánh giá nhằm xác định mức hiệu quả của việc áp dụng thuế TTĐB và vai trò quan trọng của nguồn thu từ thuế TTĐB đến ngân sách nhà nước

• Tỷ trọng tổng thu thuế TTĐB trên tổng thu ngân sách nhà nướcNguồn thu từ thuế tiêu thụ đặc biệt đóng vai trò rất quan trọng trong tổng nguồn thu của ngân sách nhà nước Đây là một trong những nguồn thu lâu dài và chủ yếu nhằm gia tăng ngân sách qua các năm Hàng năm, thu

từ thuế TTĐB chiếm khoảng từ 15% đến 18% trong tổng số thuế gián thu

và chiếm từ 7% đến 9% tổng thu ngân sách nhà nước

Công thức:

Chỉ tiêu này phản ánh mức độ đóng góp của thuế TTĐB trong tổng nguồnthu Khi tỷ trọng này càng lớn thì mức đóng góp của thuế TTĐB càng cao, thể hiện mức độ hiệu quả của việc áp dụng thuế TTĐB hiện hành

• Tỷ trọng từng mặt hàng chịu thuế TTĐB trên tổng thu thuế TTĐBTheo Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008 thì có tới 11 loại hàng hóa và 6loại hình dịch vụ khác nhau là phải chịu thuế TTĐB Mỗi loại hàng hóa

có giá trị và biểu thuế suất khác nhau (từ 10% đến 70%), vì vậy mức độ đóng góp vào tổng nguồn thu NSNN là cũng khác nhau Do đó, để đánh giá mức đóng góp của từng mặt hàng này trong tổng nguồn thu, nhóm tác

Trang 19

giả xin đề xuất chỉ tiêu tỷ trọng từng mặt hàng chịu thuế TTĐB trên tổng thu thuế TTĐB.

Công thức:

Chỉ tiêu này phản ánh mối tương quan giữa nguồn thu của từng mặt hàng với nguồn thu từ thuế TTĐB Tỷ trọng của mặt hàng nào càng cao cho thấy mức độ đóng góp vào nguồn thu từ thuế càng lớn

• Tốc độ tăng trưởng nguồn thu thuế TTĐB qua các năm

Nguồn thu thuế TTĐB luôn có sự thay đổi qua các năm, do có sự biến động về giá cả, cũng như việc Quốc hội thường xuyên có sự sửa đổi và bổsung Luật thuế TTĐB nhằm không ngừng nâng cao tính hiệu quả của Luật thuế TTĐB

Công thức:

Đây là chỉ tiêu này nhằm đánh giá mức độ biến động nguồn thu thuế TTĐB qua các năm để từ đó có những biện pháp thay đổi kịp thời khi có dấu hiệu giảm hiệu quả nguồn thu thuế

2.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn thu từ thuế tiêu thụ đặc biệt cho ngân sách nhà nước

• Nhân tố thuộc chính phủ, Quốc hội

Chính phủ và Quốc hội đóng vai trò quan trọng trong việc xác định nguồnthu từ thuế của Ngân sách quốc gia Đây là nhân tố tác động đến nguồn thu thuế TTĐB của thuốc lá thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, các định hướng về chính sách thể chế chính trị và mô hình nhà nước.Các văn bản quy phạm pháp luật là những văn bản hướng dẫn thi hành luật thuế TTĐB, cách thức tính thuế và nộp thuế, xác định mức thuế suất phù hợp với điều kiện quốc gia Vì vậy, nếu hệ thống các luật thuế và quản lí thuế rõ ràng, minh bạch, dễ hiểu sẽ giúp cho người nộp thuế lẫn người thu thuế thực hiện tốt hơn, làm tăng nguồn thu thuế hằng năm cho Ngân sách

• Nhân tố thuộc cơ quan thuế

Việc nộp thuế được thực hiện ở các cơ quan thuế, nên cách thức hoạt động của cơ quan thuế, cơ cấu tổ chức trong cơ quan thuế có ảnh hưởng đến nguồn thu thuế hằng năm

Về bộ máy ngành thuế: Bộ máy ngành thuế thường được tổ chức thành nhiều cấp Ở mỗi cấp, bộ máy cơ quan có thể được tổ chức theo sắc thuế, theo chức năng hoặc theo đối tượng nộp thuế Mỗi cấp sẽ thực hiện thu từng mức thuế nhất định Vì vậy, nếu bộ máy ngành thuế tinh giảm, gọn nhẹ thì việc thu thuế sẽ trở nên hiệu quả hơn, tránh gây rối loạn cho ngườinộp thuế

Về đội ngũ cán bộ công chức ngành thuế: Nếu đội ngũ công chức ngành thuế có năng lực, trình độ chuyên môn tốt, có tư duy quản lí thuế mới thì

sẽ tác động tích cực tới nguồn thu thuế hằng năm

Trang 20

Về cơ chế quản lí thuế: Đây là cơ chế điều hành hoạt động của cơ quan thuế Có hai cơ chế quản lí thuế:

- Cơ chế cơ quan thuế xác định mức thu thuế và ra thông báo thuế đến với đối tượng nộp thuế Trong cơ chế này, người nộp thuế phụ thuộc nhiều vào cơ quan quản lí, mất đi tính chủ động

- Cơ chế đối tượng nộp thuế tự tính, tự kê khai, tự nộp thuế Với cơ chế này, người nộp thuế có thể chủ động và tăng tính chịu trách nhiệm khi không hoàn thành nghĩa vụ thuế

• Nhân tố thuộc về người nộp thuế

Người nộp thuế là người thực hiện nghĩa vụ nộp thuế tại các cơ quan thuế Người nộp thuế có thể là thể nhân hoặc pháp nhân Mỗi đối tượng nộp thuế có sự khác nhau nhất định về năng lực, trình độ học vấn, ý thức chấp hành luật, và số thuế phải nộp

Vì vậy, nếu người nộp thuế có năng lực, trình độ tốt, có ý thức tuân thủ pháp luật thì số thu từ thuế sẽ tăng cao

Mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước: Khi các nguồn tài trợ khác cho chi phí hoạt động của Nhà nước có khả năng tăng lên, thì việc tăng mức độ chi của Nhà nước cho các hoạt động thu NSNN sẽ tốt hơn, lượng thu NSNN sẽ nhiều hơn

2.3 Thuế tiêu thụ đặc biệt đối với vấn đề xã hội

2.3.1 Các vấn đề xã hội tồn tại liên quan đến thuế TTĐB của thuốc lá(1) Hộ nghèo ở Việt Nam: Thu nhập khả dụng tăng lên, cú sốc sức khỏe giảm đi

Hầu hết mọi người vẫn cho rằng thuốc lá chỉ là một vấn đề liên quan tới sức khỏe mà không nhận ra được ảnh hưởng có hại của nó lên nền kinh

tế, đặc biệt là vai trò của nó trong việc gia tăng đói nghèo Ngân hàng thế giới định nghĩa nghèo là không có khả năng duy trì mức sống ở tối thiểu Vào năm 2002, 29% dân số Việt Nam sống ở mức nghèo, với 5-10% dân

số khác dễ rơi xuống mức nghèo Hút thuốc có thể làm tăng mức độ nghèo đói theo cả cách trực tiếp và gián tiếp

Việc giảm tiêu thụ thuốc lá có thể giúp cải thiện các tình trạng sức khỏe liên quan trực tiếp, chẳng hạn như giảm mắc bệnh tim mạch và hô hấp, đồng thời cũng góp phần giúp giảm các tình trạng sức khỏe liên quan giántiếp thông qua đói nghèo, chẳng hạn như suy dinh dưỡng ở trẻ em Việc

Trang 21

cha mẹ sử dụng thuốc lá ở nhà làm tăng nguy cơ suy dinh dưỡng nặng, thấp bé nhẹ cân ở trẻ em dưới 5 tuổi Hơn nữa, ảnh hưởng sức khỏe công cộng của việc trẻ em hít phải khói thuốc thụ động là rất lớn, gây ra các bệnh về đường hô hấp, viêm tai giữa và suy giảm chức năng hô hấp.Chi tiêu hộ gia đình vào thuốc lá đặc biệt trở thành vấn đề ở những nước

có tình trạng kinh tế xã hội còn thấp như Việt Nam, nơi mà các hộ gia đình có người hút thuốc tiêu tốn khoảng 627.000 VNĐ mỗi năm vào thuốc lá Chi tiêu thuốc lá có thể dẫn đến đói nghèo và làm trầm trọng thêm những ảnh hưởng của đói nghèo Nếu một phần tiền do các hộ gia đình nghèo ở Việt Nam tiêu vào thuốc lá được dùng để mua thực phẩm thì sẽ có khoảng 11,2% trong số các hộ gia đình nghèo đói sẽ vượt lên được ngưỡng đói nghèo Các nhu cầu thiết yếu khác sẽ được đảm bảo hơn, hiệu quả tạo ra được sẽ rất lớn

Những cú sốc sức khỏe, chẳng hạn như những cú sốc gây ra bởi các bệnh liên quan đến hút thuốc, sẽ làm giảm tổng thu nhập gia đình cũng như gia tăng chi phí chăm sóc y tế ở những người không có bảo hiểm Việc bệnh nhân phải tự chi trả những chi phí chữa bệnh vẫn rất còn phổ biến ở Việt Nam và tạo ra một gánh nặng lớn lên tài chính của các hộ nghèo Những người càng nghèo, càng ít được học hành và có ít kĩ năng thì càng có khả năng kiếm kê sinh nhai bằng lao động chân tay Khi có một người lao động trụ cột ở trong một hộ gia đình nghèo bị ốm không làm việc được, nguồn cung cấp thực phẩm và thu nhập của gia đình thường bị chấm dứt.(2) Tăng thuế và việc làm

Vì mức giá thuốc lá cao do thuế cao có thể dẫn đến giảm sử dụng thuốc

lá, với các yếu tố khác không đổi thì mọi người thường lí luận rằng thuế thuốc lá cao thường dẫn đến mất việc làm Tuy nhiên, lý luận này đã bỏ yếu tố là tiền không tiêu dùng vào thuốc lá sẽ được tiêu dùng vào các hàng hóa khác và tạo ra việc làm mới ở các khu vực khác, với tác động ròng thường là tích cực

Việc làm trong ngành canh tác và sản xuất thuốc lá chiếm một tỷ trọng rấtnhỏ trong tổng số việc làm ở Việt Nam Sự giảm sút trong ngàng trồng vàsản xuất thuốc lá, khi có thây đổi về thuế và giá, chỉ có thể xảy ra khi lượng tiêu thị thuốc lá thực tế giảm Tuy nhiên, việc tăng dân số và tăng thu nhập ở Việt Nam nhiểu khả năng sẽ bù lại bất kỳ ảnh hưởng tiêu cực nào mà việc đánh thuế thuốc lá tạo ra nói chung Tính trung bình, dân số Việt Nam tăng 1,5% mỗi năm kể từ năm 1990, còn GDP thực tế theo đầu người tăng 5,8% mỗi năm trong thập kỷ qua Với những xu hướng này, các chính sách liên quan đến kiểm soát thuốc lá sẽ chỉ có một ảnh hưởng nhỏ liên quan đến việc làm liên quan đến thuốc lá

(3) Vấn nạn buôn lậu thuốc lá

Về bản chất, khó có thể đo lường mức độ buôn lậu ở bất kỳ một quốc gia nào Ở Việt Nam chẳng hạn, các ước tính khác nhau về hoạt động buôn lậu trong thập kỷ qua đưa ra các con số khác nhau từ chỉ 20 triệu bao cho

Trang 22

đến 400 triệu bao mỗi năm Ở một nước có ít hoặc không có thuốc lá ngoại hợp pháp, nó chiếm khoảng từ 0.5% đến 10% thị phần.

Có thể có một số cách giải thích đã được đề ra để lý giải cho hoạt động buôn lậu ở Việt Nam:

• Sự quan niệm của công chúng là chất lượng thuốc lá nhập lậu cao hơn thuốc sản xuất hợp pháp ở thị trường Việt Nam

• Thuế thấp và quản lý lỏng ở các nước láng giềng, như Lào và Campuchia

• Sự phối hợp hạn chế giữa các cơ quan như biên phòng, hải quan

• Thiếu yếu tố động viên cho các viên chức làm công tác chống buônlậu

• Mức phạt thấp một cách không hợp lý đối với người buôn lậu

• Hạn chế về việc làm hoặc các cơ hội thu nhập thay thế cho người buôn lậu

• Chiến lược định giá của công ty thuốc lá như BAT đã được điều chỉnh theo kênh phân phối

Buôn lậu thuốc lá ở Việt Nam gây ra thất thu thuế Một loại buôn lậu có liên quan đến buôn bán trái phép thuốc lá được giảm giá, thường là thông qua việc trốn thuế Vì giá là nhân tố cơ bản quyết định việc hút thuốc, việc có sẵn sàng các sản phẩm giá thấp hơn sẽ tạo ra khả năng gia tăng hút thuốc và làm mất đi các lợi ích sức khỏe có thể có được từ việc tăng giá thuốc lá trong nước Do đó, các nỗ lực như thay đổi giá ở cấp khu vực

có thể có tiềm năng rất lớn trong việc giảm hoạt động buôn lậu

Loại buôn lậu thứ hai có vẻ như không liên quan đến giá và là đến sự quan niệm rằng thuốc lá buôn lậu có chất lượng cao hơn Vào năm 1994, BAT đã được sản xuất trong nước nhãn hiệu thuốc lá 555 mà lúc đó đang phổ biến trên thị trường thuốc lá nhập lậu ở Việt Nam Mặc dù nhãn hiệu sản xuất trong nước rẻ hơn đáng kể, người hút thuốc tiếp tục ưa dùng nhãn hiệu nhập lậu vì cho rằng chất lượng cao hơn Có vẽ như BAT dã cóảnh hưởng đáng kể lên nhận thức này, các tài liệu cho thấy rằng BAT kiểm soát chiến lược định giá của cả hai sản phẩm và quảng cáo nhãn hiệu thuốc lậu là tuyệt hảo, và sự hiểu biết về các con đường buôn lậu đã cho phép họ kiểm soát cung ở Việt Nam Để khắc phục loại buôn lậu thứ hai này cần có các nỗ lực chính sách cần tập trung vào hành vi của các công ty thuốc lá đa quốc gia

Trong khi có một vài cách lý giải về nguyên nhân buôn lậu, thì cũng có một số biện pháp có khả năng làm giảm thiểu buôn lậu các sản phẩm thuốc lá Một trong các biện pháp như vậy đã được dùng ở Việt Nam là tem thuế Năm 1999, Thủ tướng yêu cầu dán tem thuế trên các sản phẩm thuốc lá sản xuất trong nước với mục địch phân biệt với thuốc lá nhập ngoại có cùng thương hiệu Chính sách này đã làm tăng thu cho chính phủ khoảng 300 – 500 tỷ VNĐ mỗi năm Một năm sau khi thực hiện thì

Trang 23

việc bày bán và buôn bán công khai thuốc lá lậu đã giảm đi đáng kể, mặc

dù hoạt động trái phép không được xóa bỏ hoàn toàn

(4) Chi phí của việc sử dụng thuốc lá

Chi phí của việc sử dụng thuốc lá thương được đo lường ở hai khía cạnh chính là: Chi phí cho chăm sóc y tế và chi phí xã hội nói chung

Khía cạnh chi phí của hệ thống chăm sóc y tế xem xét chi phí y tế liên quan đến mắc bệnh và tử vong do sử dụng thuốc lá và do hút thuốc thụ động gây ra Ví dụ như về các chi phí có thể bao gồm chi phí nằm viện, chăm sóc ngoại trú, đi lại, dịch vụ của các bác sỹ, kê toa, chăm sóc tại nhà Theo một nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Hoàng Anh cùng các cộng sự thì chi phí chăm sóc y tế cho 5 bệnh thường gặp do thuốc lá gây

ra năm 2011 tại Việt Nam là 12463 tỷ đồng, trong đó chi phí cho điều trị nội trú và ngoại trú lần lượt là 9896 và 2567 tỷ đồng Số lượng người hút thuốc lá ngày càng gia tăng dẫn đến chi phí của hệ thống y tế dành cho điều trị các bệnh về thuốc lá ngày càng gia tăng

Khía cạnh chi phí xã hội rộng hơn ở chỗ ngoài chi phí chăm sóc sức khỏe,

nó còn cân nhắc đến các chi phí gián tiếp liên quan đến sử dụng thuốc lá, đáng chú ý là sự giảm sút năng suất lao động Điều này liên quan đến việcước tính chi phí của xã hội khi bỏ lỡ một phần thu nhập vì lý do bệnh tật

và tử vong liên quan đến thuốc lá Mức lương là một nhân tố quan trọng trong việc đánh giá chi phí do giảm năng suất lao động Lương là một cơ

sở quan trọng cho việc tính thiệt hại về năng suất lao động Cũng theo nghiên cứu trên thì chi phí do giảm năng suất lao động từ người bị bệnh

và tử vong lần lượt đạt 2652 và 9563 tỷ đồng Đó là chưa tính đến các loại bệnh khác hay chấn động tâm lý do có người thân bị bệnh hoặc tử vong do thuốc lá gây ra Con số thực tế có thể còn lớn hơn nhiều

Với những vấn đề xã hội đã nêu trên, nhóm tác giả xin đề xuất đánh giá tác động của thuế TTĐB của thuốc lá đến vấn đề (1) hộ nghèo ở Việt Nam

2.3.2 Các tiêu chí đánh giá tác động của thuế TTĐB của thuốc lá đối với vấn đề xã hội

Dựa trên tầm quan trọng của vấn đề đánh giá tác động của thuế TTĐB của thuốc lá đến chi tiêu của các hộ nghèo và phạm vi nghiên cứu đã đưa

ra, nhóm tác giả xin đề xuất đưa ra hệ thống các tiêu chí nhằm đánh giá tác động của việc chi tiêu thuốc lá đến hộ gia đình ở Việt Nam

• Tỷ lệ ngân sách hộ gia đình chi cho việc sử dụng thuốc lá

Chi tiêu hộ gia đình vào thuốc lá đặc biệt trở thành vấn đề ở những nước

có tình trạng kinh tế xã hội còn thấp như Việt Nam, nơi mà các hộ gia đình có người hút thuốc tiêu tốn khoảng 627.000 VNĐ (40 USD)(1) mỗi năm vào thuốc lá Do vậy, để đánh giá mức chi tiêu cho mặt hàng này,

Trang 24

nhóm tác giả đề xuất sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ ngân sách hộ gia chi cho việc

Thực tế cho thấy, đối với các hộ gia đình Việt Nam thuộc hai nhóm

“nghèo” và “nghèo nhất” (là hai nhóm ngũ phân có thu nhập thấp nhất), chi tiêu hàng năm vào thuốc lá thường lấy đi một phần đáng kể chi tiêu hàng năm vào các hạng mục thiết yếu như thực phẩm, quần áo và giáo dục

• Tỷ lệ ngân sách hộ gia đình chi cho việc điều trị bệnh về thuốc láThuốc lá là nguyên nhân chủ yếu gây ra 25 loại bệnh khác nhau, trong đó các bệnh liên quan về phổi như ung thư phổi, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính… Các bệnh này thường có chi phí điều trị lớn, lâu dài và gây cho người bệnh mất khả năng lao động

Công thức:

Mối tương quan giữa chi phí điều trị cho thấy mức gánh nặng mà gia đình

có người bị bệnh phải chịu Khi tỷ lệ ngân sách gia đình chi cho điều trị bệnh gia tăng làm cho gánh nặng tài chính tăng lên, tỷ lệ hộ nghèo tăng.Ngày nay, số lượng mắc các bệnh liên quan đến thuốc lá ngày càng gia tăng Số ca tử vong tăng lên đáng kể do hút chủ động và hút thụ động thuốc lá gây ra Và điều này làm gia tăng gánh nặng cho hộ gia đình

• Chỉ tiêu khả năng mua các sản phẩm của thuốc lá

2.3.3 Các nguyên tắc khắc phục vấn đề xã hội gây ra từ thuốc lá

Trang 25

• Nguyên tắc phát triển bền vững

Phát triển bền vững là một khái niệm nhằm định nghĩa một sự phát triển

về mọi mặt trong xã hội hiện tại mà vẫn đảm bảo sự tiếp tục phát triển trong tương lai Đây hiện đang là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia trên thế giới

Khái niệm “Phát triển bền vững” gắn với hai khái niệm chính:

- Khái niệm “nhu cầu”: nguyên tắc này cho thấy những nhu cầu tối thiểu nhất của con người cần được đáp ứng một cách toàn vẹn

- Khái niệm của sự giới hạn mà tình trạng hiện tại của khoa học kỹ thuật và sự tổ chức xã hội áp đặt lên khả năng đáp ứng của môi trường nhằm thỏa mãn nhu cầu hiện tại và tương lai

Có thể thấy, nguyên tắc phát triển bền vững đặt ra mục tiêu cho các quốc gia cần giải quyết tình trạng nghèo đói cũng như các vấn đề xã hội khác hiện nay, đảm bảo cho các như cầu thiết yếu của người dân ở hiện tại và tương lai được đáp ứng về nhiều mặt

Mục tiêu của PTBV là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người và tự nhiên Vì vậy, muốn khắc phục tình trạng vấn đề hộ nghèo do thuốc lá gây ra cần có những biện pháp tuân theo PTBV, giúp các hộ nghèo giải quyết các gánh nặng về mặt tài chính lẫn tinh thần

• Nguyên tắc an sinh xã hội

An sinh xã hội được hiểu là các chương trình hành động của chính phủ nhằm thúc đẩy phúc lợi của người dân thông qua các biện pháp hỗ trợ đảm bảo quyền tiếp cận các nguồn lực đầy đủ về thực phẩm và nơi trú ẩn

và tăng cường sức khỏe và phúc lợi cho người dân nói chung và các phân đoạn có khả năng dễ bị tổn thương như trẻ em, người già, người bệnh và người thất nghiệp

Với vấn đề hộ nghèo do thuốc lá, nguyên tắc an sinh xã hội đưa ra cách khắc phục duy trì thu nhập dựa trên sự kết hợp của ba loại chương trình chính:

- Bảo hiểm xã hội

- Lợi ích thẩm tra thu nhập: Đây là hỗ trợ tài chính được cung cấp cho những người không có khả năng trang trải các nhu cầu cơ bản, chẳng hạn như thực phẩm, quần áo và nhà ở, do nghèo đói hoặc thiếu thu nhập

vì ốm đau, bệnh tật liên quan đến thuốc lá

- Lợi ích phổ quát hoặc lợi ích vô điều kiện, còn được gọi là tài trợ nhân khẩu Đây là những lợi ích không đóng góp trao cho toàn bộ các bộ phận dân cư mà không cần thẩm tra thu nhập hoặc thẩm tra nhu cầu, chẳng hạn như trợ cấp hộ gia đình

Có thể nói, phát triển kinh tế phải hướng tới mục đích phục vụ con người.Giải quyết các vấn đề xã hội, nhất là các vấn đề xã hội bức xúc, thực hiện

Trang 26

an sinh xã hội cũng đều nhằm phục vụ cuộc sống của người dân, từ cá nhân đến cộng đồng

2.4 Kinh nghiệm của một số nước trong việc áp dụng thuế TTĐB hạn chế các vấn đề xã hội

2.4.1 Kinh nghiệm một số nước

2.4.1.1 Thụy Điển:

Thụy Điển là nước có giá thuốc lá cao nhất thế giới nhưng có tỷ lệ buôn lậu thấp nhất thế giới (tỷ lệ buôn lậu là 9% năm 2011) Doanh thu từ thuế của chính phủ tăng vì tăng thuế năm 2007 và 2008, nhưng giảm sau khi thuế giảm vào năm 1998

Buôn lậu gia tăng ở Thụy Điển những năm 1990 do mở cửa biên giới Đông Âu sau khi sụp đổ Bức tường Beclin Sự gia tăng buôn lậu bị phóngđại và bị ngành công nghiệp thuốc lá đổ lỗi là do tăng thuế Do vận động hành lang của ngành công nghiệp thuốc lá, Thụy điển đã giảm thuế vào năm 1998 xuống 17% Kết quả năm 1998 là một trong vài năm mà Thụy điển có mức doanh thu thuế giảm đáng kể Nhưng không dừng ở giảm thuchính phủ mà ảnh hưởng tiêu cực khiến sử dụng thuốc lá (đã từng giảm từnăm 1992-1997), tăng lên 20%

Về tăng thuế mạnh vào năm 2007 và tăng ít hơn vào năm 2008, một nghiên cứu độc lập của Trường Đại học Stockholm và Tổng cục Hải quanThụy điển, đã không đưa ra khẳng định tăng thuế khiến tăng buôn lậu, như ngành công nghiệp thuốc lá viện dẫn Thêm vào đó, chính phủ tăng thu NSNN từ SEK 8.6 tỷ năm 2006 đến SEK 9.7 tỷ năm 2007 và SEK 9.9

tỷ năm 2008; 2009 và 2010, doanh thu thuế đạt trên SEK 10.5 tỷ mỗi năm

2.4.1.2 Bra xin

Tình trạng hút thuốc giảm mạnh từ năm 1989 đến năm 2005 Trong năm

2006, khoảng 20% nam giới và 13% nữ giới hút thuốc tại các thành phố lớn Tình trạng hút thuốc của người lớn tại các thủ phủ bang có tỷ lệ từ 9,5% tại Bahia đến 21,2% tại Porto Alegre và Rio Branco Hút thuốc tập trung nhiều hơn trong số các nhóm dân số học vấn thấp và có thể là nhómnghèo hơn TÌnh trạng hút thuốc cao gấp 1,5 – 2 lần trong số những ngườinghèo có điều kiện khó khăn so với những người có điều kiện hơn

Tại các vùng đại đô thị, tỷ lệ các hộ gia đình có người hút thuốc giảm từ 34% năm 1995-1996 xuống 27% năm 2002-2003 Tỷ lệ chi tiêu cho thuốc lá trên tổng chi tiêu hộ gia đình cũng giảm từ 3% năm 1995-1006 xuống 2% năm 2002-2003

Tỷ lệ ung thư phổi trong giai đoạn trẻ tuổi của nam giới đã giảm xuống từnăm 1980 đến 2004, nhưng tăng lên trong số nữ giới, điều này có thể liên quan đến tình trạng nam giới bỏ thuốc còn nữ giới hút thuốc nhiều hơn

Từ năm 1996 đến năm 2005, có trên 1 triệu trường hợp nhập viện liên quan đến thuốc lá Chi phí nhập viện liên quan đến thuốc là là 0,5 tỷ USD, hoặc 1,6% ngân sách bệnh viện giai đoạn 1996 đến 2005

Trang 27

Để đạt được những thành công trên, chương trình kiểm soát thuốc lá của Bra-xin mang tính đổi mới rất cao, thường tập trung vào các công cụ phi giá cả, bao gồm: cấm quảng cáo thuốc lá và hút thuốc tại các phương tiện giao thông công cộng; quản lý nhà nước về sản phẩm thuốc lá, như hạn chế các mức nhựa thuốc lá, ni-cô-tin, các-bon mô-nô-xít trong thuốc lá và

cả những cảnh báo nghiêm trọng và hình ảnh trên các gói thuốc và sản phẩm thuốc lá; triển khai các chiến dịch giáo dục và nâng cao nhận thức Các công cụ về giá chỉ được sử dụng môt cách gián tiếp, trong đó tăng thuế được triển khai vì các lý do tài khóa Ngay cả trong bối cảnh bán hàng lậu, thuế thuốc lá cao hơn cũng làm giảm tiêu thụ và tăng thu của chính phủ trong những năm 1990 Từ năm 1990 đến năm 2003, giá thuốc

lá trải nhiệm mức tăng thực tế gần 78%, bất kể lạm phát tăng cao Mức tăng giá thuốc lá đã góp phần đáng kể làm giảm rõ rệt mức tiêu thụ tổng thể Thu từ thuế thuốc lá tăng 23% theo giá cố định năm 2005, trong giai đoạn 1992 đến 1996, cho dù tiêu dùng hợp pháp của người lớn đã giảm 15% cùng kỳ

2.4.1.3 Thái Lan

Việt Nam và Thái Lan là hai quốc gia có nhiều nét tương đồng nhau về địa lý, kinh tế, văn hóa, xã hội Cả hai nước đều thuộc khu vực Đông Nam Á, thu nhập bình quân đầu người năm 2013 ở Thái Lan và Việt Namlần lượt là $5.674 và $1.960, cơ cấu dân số khá tương đồng

Tại Thái Lan, thuế thuốc lá đã tăng hơn 10 lần trong vòng 20 năm (từ năm 1994 đến năm 2012) Hiện nay mức thuế trên giá bán lẻ của Thái Lan là 70% Nếu tính trên giá xuất xưởng, mức thuế này tương đương 567% thuế theo giá xuất xưởng của Việt Nam Giá thuốc lá tăng từ 15 Bath/bao (năm 1994) lên 65 Bath/bao năm 2012

Thu ngân sách từ thuế thuốc lá tăng từ 20 tỷ Bath năm 1994 (tương

đương 615,3 triệu USD) lên 60 tỷ Bath năm 2012 (tương đương 1.843,17 triệu USD) Trung bình mỗi năm tăng khoảng 1,9 tỷ USD

Bảng 2.1 Thu ngân sách từ thuế thuốc lá giai đoạn 2005-2010 của Thái Lan

(đơn vị: USD)

Nguồn: Cục Hải quan Quốc gia và Bộ Tài chính Thái Lan

Tỷ lệ hút thuốc ở nam giới giảm từ 59,33% năm 1991 xuống 41,69% năm

2011 Tiêu dùng thuốc lá giảm nhẹ: sản lượng năm 1994 là 2,328 triệu bao; năm 2012 là 2,130 triệu bao (tuy tỷ lệ hút giảm nhưng do dân số tăng

và có một số lượng nhất định người hút mới nên số lượng người hút ít thay đổi).Ước tính số ca tử vong sớm tránh được từ việc tăng thuế trong giai đoạn 1991-2006 tại Thái Lan là 31,867 người

Trang 28

Thực tế cho thấy mức thuế thuốc lá cao của Thái Lan không làm gia tăngbuôn lậu thuốc lá Điều tra về sử dụng thuốc lá ở người trưởng thành của Thái Lan năm 2011 cho thấy chỉ có 4,8% người tiêu dùng mua thuốc lá lậu.

Biểu đồ 2.1 Mức tăng thuế đối với thu ngân sách từ thuế thuốc lá và tỷ lệhút thuốc giai đoạn 1991-2012 tại Thái Lan

Nguồn: tobaccotax.seatca.org

2.4.2 Bài học rút ra cho Việt Nam

Thứ nhất, việc gia tăng thuế TTĐB đối với thuốc lá không làm gia tăng tình hình buôn lậu Có thể thấy rằng gia tăng buôn lậu thuốc lá là điều mànhiều người lo ngại nhất khi gia tăng thuế TTĐB đối vớimặt hàng này Tuy nhiên, thực tế của các nước cho thấy, việc gia tăng thuế thuốc lá cao không ảnh hưởng đến tình hình buôn lậu thuốc lá

Thứ hai, tăng giá thuốc lá là biện pháp hữu hiệu nhất để giảm số lượng người hút thuốc lá Từ đó, có thể giảm chi tiêu cho thuốc lá trong các hộ gia đình, giảm số ca tử vong do các bệnh liên quan đến thuốc lá gây ra Thứ ba, nguồn thu cho NSNN từ thuế TTĐB của thuốc lá gia tăng đáng

kể khi tăng thuế TTĐB của thuốc lá Điều này giúp cho Chính phủ có được nguồn thu ổn định để phát triển các chính sách xã hội

Thứ tư, cần kết hợp giữa việc tăng thuế thuốc lá với các chương trình kiểm soát thuốc lá, giám sát và theo dõi tình hình sử dụng thuốc lá từ cấp trung ương xuống địa phương

số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt số 08/2003/QH11 về việc xác định mức thu thuế TTĐB đối với thuốc lá, cụ thể thuốc lá điếu, xì gà và các chế phẩm khác từ cây thuốc lá cùng chịu mức thuế suất là 65%

Nghị định 26/2009/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt Các quy định trong Luật thuế tiêu thụ đặc biệt được nói rõ hơn và chi tiết hơn trong nghị định này

Thông tư 05/2012/TT-BTC hướng dẫn thi hành nghị định số

26/2009/NĐ-CP và nghị định số 113/2011/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định 26/2009/NĐ-CP

Trang 29

Nghị định 67/2013/NĐ-CP ngày 26 tháng 07 năm 2013 quy định về sản xuất và kinh doanh thuốc lá, thay thế cho Nghị định số 119/2007/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2007 Theo nghị định, ngành công nghiệp thuốc lá ởViệt Nam chủ yếu vẫn do chính phủ kiểm soát, chỉ có rất ít liên doanh vớicác công ty đa quốc gia tham gia vào tất cả các công đoạn sản xuất, từ trồng và chế biến sợi thuốc (liên doanh với British American Tobacco) đến sản xuất thuốc lá (liên doanh với Philip Morris, trước đây là

Sampoerna) và sản xuất phụ liệu (liên doanh với New Toyo)

Ngày 30 tháng 12 năm 2013, Bộ Công thương đã ban hành Thông tư số 37/2013/TT-BCT quy định về nhập khẩu thuốc lá điếu, xì gà; áp dụng đốivới thương nhân nhập khẩu thuốc lá điếu, xì gà, các tổ chức và cá nhân cóliên quan đến hoạt động nhập khẩu thuốc lá điếu, xì gà Theo đó, thuốc lá điếu, xì gà nhập khẩu và lưu thông trên thị trường phải được đăng ký bảo

hộ quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa tại Việt Nam; phải được dán tem thuốc lá nhập khẩu theo quy định của Bộ Tài chính; phải tuân thủ các quyđịnh pháp luật hiện hành về mua bán sản phẩm thuốc lá

Từ đây, có thể thấy Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống văn bản pháp quy quản lý tình trạng sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ thuốc lá, tuy vẫn còn nhiều bất cập trong nội dung nhưng đã cho thấy tầm quan trọng của việc kiểm soát nạn hút thuốc lá hiện nay

3.1.2 Thực trạng thuế TTĐB của thuốc lá đối với NSNN và vấn đề xã hội

3.1.2.1 Thực trạng thuế TTĐB của thuốc lá ở Việt Nam và giá của sản phẩm thuốc lá giai đoạn 1995-2014

Thuế suất với thuốc lá ở Việt Nam được tính trên giá xuất xưởng, chưa thuế và được áp dụng từ năm 1990 Trước năm 1990, các xí nghiệp thuốc

lá chịu thuế doanh thu mức 5% Thuế này được bỏ vào năm 1990 và đượcthay thế bằng thuế tiêu thụ đặc biệt Thuế suất tiêu thụ đặc biệt thay đổi không nhất quán với các loại thuốc lá khác nhau kể từ năm 1990

Bảng 3.1 Biểu thuế suất thuế TTĐB của thuốc lá qua các thời kì

Thời gian áp dụng Thuế TTĐB (tính theo % giá xuất xưởng)

Trang 30

1/2006-12/2007 55

1/2008-hiện tại 65

Nguồn: Các văn bản quy phạm pháp luật

Từ bảng 3.1, thuế đối với thuốc lá đầu lọc chủ yếu được sản xuất bằng nguyên liệu nhập khẩu đã giảm từ 70% năm 1994 xuống còn 55% năm

2007 Thuế suất đối với thuốc lá đầu lọc sản xuất chủ yếu bằng nguyên liệu trong nước được giữ ổn định cho đến năm 2006, khi thuế suất mới cao hơn được áp dụng Thuốc lá không đầu lọc được giảm thuế đáng kể trong 10 –15 năm qua trước khi bị tăng thuế lớn vào năm 2006 (tăng hơn gấp đôi thuế suất cho loại sản phẩm này) Từ tháng 1/2008, thuế tiêu thụ đặc biệt đã tăng lên 65% đối với cả ba loại thuốc lá: 1) có đầu lọc, chủ yếu sản xuất bằng nguyên liệu nhập khẩu; 2) có đầu lọc, sản xuất chủ yếubằng nguyên liệu trong nước; và 3) không đầu lọc

Song song với việc thay đổi thuế suất thuế TTĐB của thuốc lá thì giá của sản phẩm thuốc lá cũng thay đổi theo Để đánh giá chiều hướng và độ lớnnhững thay đổi giá cả của các sản phẩm thuốc lá thì các mức giá trung bình và chỉ số giá đã được nhóm tác giả lấy từ nguồn Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO)

Biểu đồ 3.1: CPI tất cả các mặt hàng và CPI thuốc lá giai đoạn 1995-2014(giá trị danh nghĩa, 1995=100) Đơn vị: %

Nguồn: Tổng cục thống kê

Biểu đồ 3.1 chỉ chiều hướng của CPI chung (tất cả các hàng hóa) và CPI thuốc lá và minh họa tầm quan trọng của việc điều chỉnh theo mức lạm phát Dưới mức giá danh nghĩa, giá các sản phẩm thuốc lá đã tăng hơn 160% từ năm 1995 đến 2014 Tuy nhiên, trong cùng giai đoạn trên, giá cảchung đã tăng hơn 250% Điều này cho thấy mặt hàng thuốc lá đang ngàycàng trở nên rẻ hơn và dễ mua hơn so với các mặt hàng khác Đặc biệt, từnăm 2009 trở đi, giá của mặt hàng thuốc lá ngày càng rẻ hơn rất nhiều so với các mặt hàng thông thường và thiết yếu, điều lí giải cho vấn đề này là

do từ năm 2008 thuế suất thuế TTĐB của thuốc lá không thay đổi để theokịp mức lạm phát chung

Để tách riêng tác động của lạm phát và phản ánh đúng mức tăng giá thuốc

lá qua các năm khi không có ảnh hưởng từ lạm phát thì tất cả những thay đổi của giá thuốc lá được thể hiện bằng giá thực Khi tính theo giá thực, giá các sản phẩm thuốc lá ở Việt Nam không hề tăng trong giai đoạn

1995 đến 2014 Tính trung bình, giá còn bị giảm khoảng 5% trong giai đoạn này

Biểu đồ 3.2: CPI thuốc lá và GDP theo đầu người giai đoạn 1995-2014 (1995=100) Đơn vị: %Nguồn: Tổng cục thống kê và WB

Trang 31

Khi tính theo giá thực, giá các sản phẩm thuốc lá ở Việt Nam không hề tăng trong giai đoạn 1995 đến 2006, mà trái lại còn giảm đi Điều này tráingược hẳn với sự tăng trưởng thu nhập thực tế ở Việt Nam: GDP thực tế tính theo đầu người đã tăng hơn 110% từ 1995 đến 2014, do đó làm cho thuốc lá tính trung bình trở thành mặt hàng ngày càng rẻ hơn

Khoảng cách ngày càng tăng giữa thu nhập và giá thuốc lá đã làm cho thuốc lá ngày càng trở nên dễ mua được Xét đến chiều hướng thu nhập hiện nay thì giá thuốc lá chỉ có ảnh hưởng nhỏ với ngăn ngừa hút thuốc ở Việt Nam Có thể thấy, việc tăng thuế thuốc lá chưa thật sự làm thay đổi mạnh giá thuốc lá để ngăn chặn tình trạng hút thuốc ngày càng tăng hiện nay

3.1.2.2 Thực trạng sản xuất và nhập khẩu thuốc lá ở Việt Nam giai đoạn 1995 – 2014

 Về sản xuất trong nước

Ngành công nghiệp thuốc lá ở Việt Nam có khả năng sản xuất khoảng 6.200 triệu bao mỗi năm, trong đó 70% đến 80% công suất được sử dụng.Sản lượng thuốc lá của ngành đã tăng liên tục từ năm 2000, ngay cả khi tính đến tăng trưởng dân số, chủ yếu là do đầu tư vào trồng, chế biến lá thuốc và các thiết bị sản xuất thuốc lá và do việc kiểm soát chặt chẽ hơn

để chống buôn lậu

Biểu đồ 3.3: Tổng sản lượng sản xuất thuốc lá hằng năm

Đơn vị: triệu bao

Nguồn: Tổng cục thống kê

Dựa vào biểu đồ, ta có thể thấy có hai giai đoạn sản lượng thuốc lá tăng mạnh: đó là giai đoạn 2000-2005 và 2009-2014 Trong giai đoạn 2000-

2005, tổng sản lượng thuốc lá tăng khoảng 42%, và việc áp dụng tem thuế

là một trong những nguyên nhân dẫn đến mức tăng trưởng này (tức là tăng trưởng một phần do báo cáo chính xác hơn chứ không phải mức tăngsản lượng thực tế)

Trong năm 2006 và 2008, việc tăng mức thuế suất thuế TTĐB đối với thuốc lá đã làm cho sản lượng sản xuất thuốc lá cả nước giảm đi một phần Tuy nhiên, từ 2008 đến nay, mức thuế suất vẫn được giữ nguyên trong suốt 7 năm không đổi, ở mức 65% Đây được đánh giá là nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc gia tăng sản xuất thuốc lá giai đoạn 2009-

2014 và sự phát triển của ngành sản xuất thuốc lá, bởi mức thuế suất thuốc lá hiện nay là quá thấp so với mức tăng trưởng kinh tế Việt Nam

 Về nhập khẩu

Lá thuốc: Việt Nam nhập từ 12.000 đến 15.000 tấn lá thuốc mỗi năm (hay40–50% sản lượng trong nước) Hàng nhập khẩu này chủ yếu từ Trung quốc, và gần đây nhưng ở mức độ nhỏ hơn là từ Ấn độ Với mục tiêu nội địa hóa nguồn cung lá thuốc lá vào năm 2015, thì tầm quan trọng của mặthàng lá thuốc nhập ngoại dự kiến sẽ giảm dần dần trong những năm tới

Ngày đăng: 09/11/2015, 21:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
19. Đặng Vũ Trung, Vũ Xuân Phú: Chi phí cho việc hút thuốc lá ở Việt Nam, trường hợp điều trị nội trú (2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chi phí cho việc hút thuốc lá ở Việt Nam, trường hợp điều trị nội trú
Tác giả: Đặng Vũ Trung, Vũ Xuân Phú
Năm: 2006
21. Vinacosh: Bộ hỏi đáp về phòng chống tác hại thuốc lá ở Việt Nam 22. Phạm Thị Hoàng Anh, Lê Thị Thu, Nguyễn Thạc Minh: Chi phí trực tiếp và gián tiếp từ việc hút thuốc lá (2014) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ hỏi đáp về phòng chống tác hại thuốc lá ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Thị Hoàng Anh, Lê Thị Thu, Nguyễn Thạc Minh
Năm: 2014
23. Nguyễn Tuấn Lâm, Lê Thị Thu Hiền: Báo cáo thuế thuốc lá ở Việt Nam (2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thuế thuốc lá ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tuấn Lâm, Lê Thị Thu Hiền
Năm: 2010
26. Cù Chí Lợi: Những tác động của thuế thuốc lá đến doanh thu thuế tại Việt Nam (2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tác động của thuế thuốc lá đến doanh thu thuế tại Việt Nam
Tác giả: Cù Chí Lợi
Năm: 2008
27. Nguyễn Minh Hà, Lê Thành Công, Nguyễn Hữu Tịnh: Các yếu tố tác động đến tình trạng tái nghèo của hộ gia đình (2013) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố tác động đến tình trạng tái nghèo của hộ gia đình
Tác giả: Nguyễn Minh Hà, Lê Thành Công, Nguyễn Hữu Tịnh
Năm: 2013
14. Báo cáo của Chính phủ về đánh giá tác động của Dự án sửa đổi, bổ sung một số điều Luật thuế tiêu thụ đặc biệt Khác
15. Dự thảo quy định chi tiết hướng dẫn thi hành luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đăc biệt Khác
16. Báo cáo thuế thuốc lá Việt Nam tháng 06/2010 17. Chiến lược cải cách thuế giai đoạn 2011-2020Bài viết của tác giả trong nước Khác
18. Hoàng Văn Kình, Nguyễn Tuấn Lâm, Trần Thị Thu Hiền: Thuế thuốc lá ở Việt Nam (2010) Khác
20. WHO: Điều tra về tình hình hút thuốc lá ở Việt Nam, GATS (2010) Khác
25. WB: Báo cáo đánh giá nghèo năm 2012: Thành tựu ấn tượng của Việt Nam trong giảm nghèo và những thách thức mới Khác
28. WHO: Phòng chống tác hại của thuốc lá tại Việt Nam (2008) 29. PGS. Giang Thanh Long: Nghiên cứu về tác động của tăng thuế tiêu thụ đặc biệt của đối với thuốc lá tới sản lượng và việc làm. (2014)Tài liệu tiếng Anh Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1 Biểu thuế suất thuế TTĐB của thuốc lá qua các thời kì - Nghiên cứu tác động thuế TTĐB của thuốc lá đối với Ngân sách nhà nước và vấn đề xã hội
Bảng 3.1 Biểu thuế suất thuế TTĐB của thuốc lá qua các thời kì (Trang 29)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w