1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khái quát tình hình doanh nghiệp và trợ giúp phát triển DNNVV năm 2014

27 123 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 135,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

doanh đã được cải thiện, tạo niềm tin cho cộng đồng DN vào môi trường kinh doanh.Trong năm 2014, một số ngành, lĩnh vực hoạt động có sự gia tăng về DN thành lập mới, như: nghệ thuật, vui

Trang 1

Khái quát tình hình doanh nghiệp và trợ giúp phát triển DNNVV năm

2014

Báo cáo củ a Cụ c Phát triển doanh nghiệp tại cuộc họp Hội đồng khu yến khích phát triển DNNVV tháng 1 2/201 4

I TỔNG QUAN CHUNG VỀ TÌNH HÌNH DOANH NGHIỆP

Tình hình kinh tế - xã hội năm 2014 diễn ra trong bối cảnh kinh

tế thế giới hồi phục chậm và không đồng đều giữa các nền kinh tế sau suy thoái toàn cầu Ngoài ra, tình hình chính trị bất ổn tại một số quốc gia, nhất là khu vực châu Âu dẫn đến kinh doanh trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp cũng như xuất khẩu của khu vực đồng EURO bị ảnh hưởng mạnh bởi các biện pháp trừng phạt kinh tế giữa các nước trong khu vực

Ở trong nước, kinh tế vĩ mô diễn biến theo hướng tích cực Tuy nhiên, tổng cầu của nền kinh tế tăng chậm, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp còn khó khăn, tồn kho hàng hóa vẫn ở mức cao Sức hấp thụ vốn của nền kinh tế còn yếu

Trước tình hình đó, Đảng, Quốc hội và Chính phủ tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các ngành, các cấp và địa phương thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp nhằm từng bước thực hiện tốt mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của cả năm, trong đó đáng lưu ý là:

(i) Chính phủ đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt các ngành, các cấp và địa phương thực hiện đồng bộ, hiệu quả Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 02 tháng 01 năm 2014 Chính phủ đã có nhiều hành động cụ thể chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp (DN)

Trang 2

(ii) Nhằm đẩy mạnh tái cơ cấu, nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN), tại Hội nghị triển khai nhiệm

vụ tái cơ cấu DNNN 2014-2015 ngày 18/02/2014, Thủ tướng Chính phủ

đã ra Chỉ thị số 06/CT-TTg ngày 12/03/2014 về đẩy mạnh tái cơ cấu DNNN Chính phủ cũng ban hành Nghị quyết số 15/NQ-CP ngày 06/03/2014 về việc đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước Ngày 15/7/2014, tại Hà Nội, Chính phủ đã tổ chức Hội nghị triển khai Nghị quyết số 30-NQ/TW của Bộ Chính trị về việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới

và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp Ngoài ra, Chính phủ cũng tổ chức nhiều cuộc họp của Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp, tổ chức các đoàn công tác của Ban chỉ đạo cùng các bộ ngành liên quan kiểm tra, đôn đốc, xử lý kịp thời những khó khăn vướng mắc trong việc thực hiện tái cơ cấu DNNN

(iii) Để tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho cộng đồng DN, tại Hội nghị Thủ tướng Chính phủ với DN năm 2014 được tổ chức vào ngày 28/04/2014 tại Hà Nội, Thủ tướng đã ban hành Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 21/05/2014 vềgiải quyết khó khăn, vướng mắc, kiến nghị, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh của DN, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đến năm 2015

Sự quyết tâm của Chính phủ, các cấp, các ngành cùng với nỗ lực của cộng đồng DN đã góp phần giữ ổn định vĩ mô, từng bước phục hồi

và phát triển sản xuất, tạo tăng trưởng kinh tế hợp lý và bảo đảm an sinh xã hội Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2014 đạt 5,9%, cao hơn so với chỉ tiêu Quốc hội đề ra (5,8%) và cao hơn năm 2013 (5,42%) Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực Kinh tế vĩ

mô duy trì ổn định, lạm phát được kiểm soát dưới mức 5%, mặt bằng

Trang 3

lãi suất giảm, cán cân thương mại thặng dư, thị trường ngoại hối ổn định, thanh khoản của hệ thống ngân hàng duy trì tốt, niềm tin nhà đầu

tư tiếp tục bảo đảm Mặc dù có những chỉ báo tích cực về tình hình kinh tế vĩ mô nhưng nhìn chung hoạt động sản xuất của DN vẫn còn khó khăn và tiếp tục cần có các giải pháp tháo gỡ, hỗ trợ để có thể duy trì động lực phát triển

Theo thống kê của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh (Bộ Kế hoạch

và Đầu tư), trong năm 2014, cả nước có 74.842 DN đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 432.286 tỷ đồng, giảm 2,7% về số DN

và tăng 8,4% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước

Bên cạnh đó, xu hướng thanh lọc diễn ra mạnh mẽ từ năm 2013 đến nay đã sàng lọc lại những DN thực sự có chất lượng, không chỉ linh hoạt để tồn tại qua giai đoạn khó khăn nhất mà còn tìm kiếm thêm cơ hội kinh doanh mới để mở rộng quy mô hoạt động Cụ thể, trong năm

2014, có 22.758 lượt DN thay đổi tăng vốn với tổng số vốn đăng ký tăng thêm là 595.707 tỷ đồng Như vậy, tổng số vốn đăng ký mới và đăng ký bổ sung thêm vào nền kinh tế trong năm 2014 là 1.027.993 tỷ đồng

Tỷ trọng vốn đăng ký bình quân trên một DN trong năm 2014 đạt 5,8 tỷ đồng, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm 2013 Số lao động dự kiến được tạo công việc làm của các DN thành lập mới trong năm 2014 là 1.091 nghìn lao động, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước Như vậy, mặc dù vẫn chưa thực sự thoát khỏi bối cảnh khó khăn nhưng xét trên khía cạnh quy mô vốn, doanh nghiệp thành lập mới trong năm 2014 đã tăng hơn so với cùng kỳ năm ngoái Điều đó cho thấy môi trường kinh

Trang 4

doanh đã được cải thiện, tạo niềm tin cho cộng đồng DN vào môi trường kinh doanh.

Trong năm 2014, một số ngành, lĩnh vực hoạt động có sự gia tăng

về DN thành lập mới, như: nghệ thuật, vui chơi và giải trí; nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, đặc biệt là sự phục hồi trở lại của lĩnh vực kinh doanh bất động sản, phản ánh hiệu quả các biện pháp của Chính phủ trong việc tháo gỡ khó khăn của chương trình tín dụng 30.000 tỷ đồng cho vay hỗ trợ nhà ở người có thu nhập trung bình, thu nhập thấp Bên cạnh đó, vẫn còn một số ngành, lĩnh vực có số DN thành lập mới giảm so với năm 2013, gồm: khai khoáng; khoa học, công nghệ; dịch vụ tư vấn, thiết kế; quảng cáo và chuyên môn khác; xây dựng; dịch vụ việc làm; du lịch; cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác và bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy

II TÌNH HÌNH TRỢ GIÚP DNNVV NĂM 2013-2014

1 Tổng quan về chính sách trợ giúp DNNVV

Nhằm tạo khung khổ pháp lý cho hoạt động trợ giúp phát triển DNNVV, ngày 30/6/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV và tiếp đến là Nghị quyết số 22/NQ-CP ngày 05/5/2010 của Chính phủ nhằm đẩy mạnh triển khai thực hiện Nghị định số 56/2009/NĐ-CP Kế hoạ ch phá t triể n DNNVV 5 năm giai đoạ n 2011-2015 (ban hành kèm theo Quyết định số 1231/QĐ-TTg ngày 07/9/2012) đã đượ c xây dự ng, trong đó cụ thể hó a nhiề u giả i phá p trợ giú p DNNVV quy đị nh tạ i Nghị định số 56/2009/NĐ-CP

Trang 5

Trên cơ sở khung phá p lý về trợ giú p phá t triể n DNNVV, Chính phủ đã ban hà nh nhiề u chí nh sá ch trợ giúp phát triển DNNVV (hoặ c liên quan đế n trợ giú p DNNVV) trong cá c lĩ nh vự c: hỗ trợ tài chính tí n dụ ng; mặt bằng sản xuất kinh doanh; đổi mới, nâng cao năng lực công nghệ; xúc tiến mở rộng thị trường; thông tin và tư vấn; phát triển nguồn nhân lực.v.v… cho các DNNVV Điể n hì nh là mộ t số chương trì nh, hoạ t độ ng liên quan đế n trợ giú p DNNVV trong cá c lĩ nh vự c sau:

- Hỗ trợ tà i chí nh, tí n dụ ng: hỗ trợ DNNVV vay vố n tạ i cá c ngân hàng thương mại (NHTM); bả o lã nh tí n dụ ng cho cá c DNNVV vay vố n tạ i NHTM (thông qua cá c Quỹ bả o lã nh tí n dụ ng cho DNNVV tạ i cá c đị a phương và thông qua Ngân hàng Phát triển Việ t Nam); hỗ trợ DN thông qua gia hạn, miễn, giảm một số khoản thu NSNN (thuế Thu nhập DN, thuế Giá trị gia tăng, tiền thuê đất, tiền sử dụng đất…) theo cá c Nghị quyế t củ a Quố c hộ i và củ a Chí nh phủ v.v…

- Đổi mới, nâng cao năng lực công nghệ, trì nh độ kỹ thuậ t cho cá c DNNVV: Chương trì nh đổ i mớ i khoa họ c công nghệ quố c gia đế n năm 2020[1] ; Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ giai đoạn 2011-2015[2] ; Chương trình quốc gia nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của DN Việt Nam đến năm 2020[3] ; và mộ t số cơ chế và chí nh sá ch khuyế n khí ch DN đầ u tư và o khoa họ c công nghê

̣.v.v…

- Trợ giú p phá t triể n nguồ n nhân lự c cho DNNVV: Đà o tạ o, bồ i dưỡ ng nguồ n nhân lự c cho cá c DNNVV[4] ; Chương trì nh nâng cao năng lự c quả n lý (thuộ c Chương trì nh khuyế n công quố c gia); Nâng

Trang 6

cao năng lự c phá p lý cho DN (thuộ c Chương trì nh hỗ trợ phá p lý liên ngà nh).v.v…

- Hỗ trợ thông tin và tư vấ n: Nghị đị nh số 78/2002/NĐ-CP củ a Chí nh phủ quy đị nh về hoạ t độ ng cung ứ ng và sử dụ ng dị ch vụ tư vấ n; Nghị đị nh số 77/2008/NĐ-CP củ a Chí nh phủ quy đị nh về tư vấ n phá p luậ t; Hoạ t độ ng hỗ trợ phá p lý thuộ c Chương trì nh hỗ trợ phá p lý liên ngà nh; Hoạ t độ ng tư vấ n khuyế n công v.v…

- Xú c tiế n, mở rộ ng thị trườ ng: cá c hoạ t độ ng xú c tiế n thương mạ i (thông qua Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia của các Bộ, ngành, địa phương).v.v…

Trong các năm 2013 và 2014, Nhà nước đã dành nguồn lực từ NSNN và cá c nguồ n huy độ ng, tà i trợ khá c thông qua cá c chương

trì nh, hoạ t độ ng, dự á n để thực hiện trợ giúp các DNNVV ( tổng hợp

tại Phụ lục kèm theo).

2 Đánh giá một số kết quả đạt được trong trợ giúp DNNV

2.1 Cải cách hành chính trong lĩnh vực thuế, hải quan

Trong năm 2013 và 2014, với việc sửa đổi, bổ sung các Luật thuế: Thu nhập DN, Thu nhập cá nhân, Giá trị gia tăng, Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành[5] , đặc biệt với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tại Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 18/3/2014 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 21/5/2014 của Thủ tướng Chính phủ về giải quyết khó khăn, vướng mắc, kiến nghị, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh của DN, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đến năm 2015 và Chỉ thị số

Trang 7

13/CT-TTg ngày 01/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy nhanh thực hiện các giải pháp và giải quyết các thủ tục hỗ trợ, giúp đỡ các

DN bị thiệt hại tại một số địa phương, thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế đã có những cải cách mạnh mẽ, mang lại những tác động tích cực đối với cộng đồng DN

Điển hình là giảm thiểu đáng kể thủ tục hành chính thuế như rút ngắn thời gian hoàn thuế GTGT đối với trường hợp hoàn thuế trước, kiểm tra sau (giảm từ 15 ngày xuống 6 ngày); thay đổi về thuế suất thuế thu nhập DN như: thuế suất phổ thông giảm từ 25% xuống còn 22%, DN có doanh thu không quá 20 tỷ đồng/năm xuống 20% (và còn tiếp tục giảm theo lộ trình); kê khai nộp thuế GTGT theo quý (thay vì theo tháng)… Kế t quả thực hiện về kê khai thuế điện tử cũng cho thấ y, tính đến ngày 25/10/2014, cả nước đã có 416.689 DN khai thuế qua mạng (chiếm 85,5% số DN đang hoạt động) Nhiều Cục Thuế đã triển khai có số lượng DN kê khai thuế qua mạng chiếm trên 96% như Cục Thuế Tp Hồ Chí Minh (100%), Hà Nội (99,99%), Bà Rịa-Vũng Tàu (98,98%), Nghệ An, Hải Dương…

Cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế cũng đã đặt

ra với các chỉ tiêu cụ thể để đến cuối năm 2014 giảm thời gian thực hiện thủ tục khai thuế, nộp thuế xuống còn không quá 300 giờ/năm và đến năm 2015 bằng với mức trung bình của nhóm nước ASEAN-6 (171 giờ/năm); giảm số lần nộp thuế xuống tối thiểu bằng với mức trung bình của các nước trong khu vực

Bên cạnh đó, với việc ban hành Luật Hải quan năm 2014 (được Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 23/6/2014), việc kê khai hải quan được thực hiện theo phương thức điện tử và kiểm tra hồ

Trang 8

sơ hải quan được thực hiện thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan hoặc trực tiếp bởi công chức Hải quan Về hồ sơ hải quan, Luật đã đưa ra quy định chung thống nhất về hồ sơ hải quan theo hướng đơn giản hóa, chỉ có tờ khai hải quan là chứng từ bắt buộc phải có khi làm thủ tục hải quan Về thời hạn làm thủ tục hải quan, quy định rõ thời hạn kiểm tra hồ sơ hải quan chậm nhất là 02 giờ làm việc; thời gian kiểm tra thực tế hàng hóa là 8 giờ làm việc; bổ sung quy định cơ quan Hải quan thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa vào ngày lễ, ngày nghỉ và ngoài giờ làm việc để bảo đảm kịp việc xếp dỡ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, việc xuất cảnh, nhập cảnh của hàng khách, phương tiện vận tải.

Ngày 01/4/2014, Hệ thống thông quan điện tử và cơ chế một cửa quốc gia VNACCS/VCIS chính thức đi vào vận hành Việc thực hiện

Hệ thống VNACCS/VCIS có ý nghĩa rất quan trọng đối với cộng đồng

DN, sẽ tạo thuận lợi hơn nữa cho DN trong quá trình làm thủ tục hải quan, giúp rút ngắn thời gian thông quan Tính đến ngày 15/9/2014, Hệ thống VNACCS/VCIS đã triển khai tại 34/34 Cục Hải quan tỉnh, thành phố (100%) với 170 Chi cục, với số lượng tờ khai là 2,56 triệu tờ khai, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 103,3 tỷ USD (xuất khẩu: 51,72 tỷ USD, nhập khẩu: 51,58 tỷ USD), với 42.700 DN tham gia

2.2 Về hỗ trợ tài chính, tín dụng cho DNNVV

Trong năm 2013 và các tháng đầu năm 2014, trên cơ sở bám sát các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng nhà nước (NHNN) đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-NNHH ngày 15/1/2014 về tổ chức chính sách tiền tệ và đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả Theo đó, NHNN đã điều hành chính

Trang 9

sách tiền tệ thận trọng, linh hoạt, chủ động nhằm giảm lạm phát, giảm mặt bằng lãi suất, ổn định lãi suất, ổn định tỷ giá, quản lý thị trường vàng, ổn định kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện thuận lợi cho môi trường kinh doanh của DN NHNN đã triển khai nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu của DN, điển hình là:

- Điều hành các công cụ chính sách tiền tệ nhằm hỗ trợ thanh khoản cho các TCTD để đảm bảo cân đối vốn phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh;

- Điều hành chính sách lãi suất theo hướng giảm dần để hỗ trợ cho DN, đặc biệt là DNNVV Theo đó, từ tháng 5/2012, NHNN đã quy định lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với một số lĩnh vực ưu tiên, trong đó có DNNVV với mức lãi suất thấp hơn 1-2%/năm

so với các lĩnh vực kinh doanh khác, qua đó góp phần tháo gỡ khó khăn

về chi phí vay vốn cho các DNNVV

- Chỉ đạo các tổ chức tín dụng (TCTD) tập trung hỗ trợ cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên, trong đó có DNNVV; hỗ trợ DN gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh (như cơ cấu lại thời gian trả

nợ, cơ cấu lại các khoản vay phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh

và khả năng trả nợ của khách hàng; tạo điều kiện thuận lợi cho các DN

có triển vọng phát triển, có sản phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường nhưng đang gặp khó khăn về tài chính); triển khai thí điểm một số chương trình tín dụng như Chương trình cho vay thí điểm phục vụ phát triển nông nghiệp nhằm hỗ trợ, khuyến khích người dân, DN ứng dụng công nghệ cao, liên kết trong sản xuất nông nghiệp

Trang 10

- Phối hợp với các Bộ, chính quyền địa phương triển khai chương trình kết nối DN-ngân hàng trên địa bàn các tỉnh, thành phố để nắm bắt các khó khăn, vướng mắc của DN trong quan hệ tín dụng với ngân hàng

và đưa ra các giải pháp tháo gỡ, tạo điều kiện cho DN vay vốn hiệu quả Điển hình là tại Tp Hồ Chí Minh, trong năm 2013 đã tổ chức 28 đợt ký kết và có 654 DN được ký kết (chủ yếu là các DNNVV) với số vốn cam kết cho vay là 13.704 tỷ đồng và số vốn giải ngân đạt 12.300

tỷ đồng (90% tổng số vốn cam kết) với lãi suất cho vay ngắn hạn 9%/năm và trung và dài hạn là 9-12%/năm Trong 6 tháng đầu năm

2014, Chương trình kết nối ngân hàng-DN đã cam kết tài trợ cho DN là 40.625 tỷ đồng Theo chỉ đạo của NHNN, sắp tới việc tổ chức kết nối ngân hàng-DN sẽ được triển khai trên phạm vi toàn quốc

- Tăng cường huy động các nguồn lực của các tổ chức quốc tế bổ sung nguồn vốn cho vay với lãi suất thấp nhằm giảm chi phí vay vốn cho DN như Dự án tài chính DN nông thôn của ADB, Chương trình tài chính vi mô của Tây Ban Nha, Dự án hỗ trợ DNNVV do Chính phủ Nhật Bản hỗ trợ thông qua Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC).v.v…

- Về cấp tín dụng cho DNNVV: Tính đến 31/5/2014, dư nợ tín dụng đạt 885.894 tỷ đồng, tăng 1,79% so với thời điểm 31/12/2013 Ước đến cuối tháng 6/2014, dư nợ tín dụng cho DNNVV tăng 2% so với cuối năm 2013, chiếm trên 25% dư nợ cho vay nền kinh tế Bên cạnh

đó, Dự án tài trợ DNNVV giai đoạn III do JICA tài trợ (SMEDF III) được triển khai thực hiện từ năm 2010 Tổng giá trị cho vay lại của SMEDF III là 16,7 tỷ Yên Tính đến hết năm 2013, tổng số vốn đã giải ngân là 991 tỷ đồng cho 504 khoản vay Tính đến 30/6/2014, tổng số

Trang 11

vốn giải ngân là 368 tỷ đồng cho 182 khoản vay và tổng giá trị đã rút vốn từ nhà tài trợ là 15,9 tỷ Yên Về tổng thể, Dự án đã giải ngân được khoảng 95% nguồn vốn của JICA, đồng thời tiếp tục giải ngân từ tài khoản quỹ quay vòng của Dự án trong vòng 30 năm tính từ thời điểm có hiệu lực của Dự án, góp phần hỗ trợ các DNNVV ở Việt Nam.

Ngoài ra, NHNN đã triển khai một số chương tình tín dụng như: cho vay thí điểm phục vụ phát triển nông nghiệp, cho vay DN ứng dụng công nghệ cao, liên kết trong sản xuất nông nghiệp (số tiền các NHTM cho vay là 2.700 tỷ đồng); thí điểm triển khai sản phẩm tín dụng liên kết 4 nhà trong lĩnh vực vật liệu xây dựng, xây dựng cơ bản (88 dự án với tổng số tiền 77.800 tỷ đồng).v.v…

2.3 Đổi mới, nâng cao năng lực công nghệ, trì nh độ kỹ thuậ t cho cá c DNNVV:

Trong năm 2013 và 6 tháng đầu năm 2014, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tích cực phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương triển khai các chương trình, hoạt động hỗ trợ DN đổi mới, nâng cao năng lực công nghệ Điển hình là:

- Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ giai đoạn 2015: Chương trình triển khai đã có những tác động tích cực, tạo ra giá

2011-trị gia tăng và hiệu quả kinh tế-xã hội như nâng cao nhận thức và thúc đẩy hoạt động sáng tạo trong khoa học, công nghệ và sở hữu trí tuệ; huy động sự tham gia đông đảo các nhà sản xuất kinh doanh, đặc biệt là nông sản; đưa kết quả nghiên cứu sáng chế vào thực tiễn đời sống, phục

vụ lợi ích dân sinh Trong năm 2013 và 2014, Chương trình đã triển khai mạnh, rộng khắp trên cả nước: phối hợp với Chương trình ECAPIII tổ chức hướng dẫn đăng ký chỉ dẫn địa lý ở nước ngoài cho

Trang 12

các địa phương và DN đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý ở nước ngoài; phối hợp với WIPO và Thái Lan tổ chức gian hàng triển lãm sản phẩm được bảo hộ chỉ dẫn ở Băngkok cho 13 loại sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý của Việt Nam; triển khai đăng ký sáng chế cho 20 giải pháp kỹ thuật, trong đó có nhiều kết quả sáng tạo của các DNNVV.v.v Chương trình

đã góp phần đưa hoạt động sở hữu trí tuệ tới nhiều địa phương, xã hội hóa công tác đầu tư cho hoạt động bảo hộ và phát triển tài sản trí tuệ,

từ cơ sở triển khai của Chương trình 68, rất nhiều tỉnh, thành phố (Quảng Ninh, Thanh Hóa, Lạng Sơn, Hải Phòng, An Giang, Quảng Ngãi ) đã phê duyệt Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ riêng cho các DN, các sản phẩm đặc thù của địa phương mình; đã thực hiện 11 dự

án đưa các kết quả nghiên cứu, sáng chế vào thực tiễn đời sống, nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, góp phần phục vụ lợi ích dân sinh và phát triển bền vững kinh tế-xã hội

Trong năm 2013, tổng kinh phí thực hiện Chương trình là 34,054

tỷ đồng; 6 tháng 2014 thực hiện 10,053 tỷ đồng, ước thực hiện cả năm

2014 là 38 tỷ đồng

- Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến 2020[6] : Năm

2013, Bộ KH&CN đã tổ chức xét chọn và thẩm định được 04 nhiệm vụ

do DN chủ trì với tổng kinh phí hơn 57 tỷ đồng (đã cấp 6,4 tỷ đồng năm 2013) Năm 2014, Bộ KH&CN đã nhận được 119 đề xuất của Bộ, ngành, địa phương, DN và phê duyệt được 03 đề xuất do DN chủ trì có tính cấp bách, khả thi để đưa vào triển khai trong năm 2014 Đối với các hoạt động hỗ trợ DN ứng dụng công nghệ, Bộ KH&CN đã phối với với Ban chỉ đạo Chương trình để khảo sát, lựa chọn 120 đơn vị, DN sản xuất, kinh doanh hiệu quả cao trên cơ sở sử dụng nguồn nhân lực cho

Trang 13

chất lượng và có ứng dụng đổi mới công nghệ; phối hợp với Văn phòng IPP thực hiện 04 dự án hỗ trợ hoàn thiện công nghệ, đổi mới công nghệ sản xuất sản phẩm mới và ứng dụng; hoạt động trình diễn và kết nối cung cầu công nghệ năm 2014 tại Bắc Giang cho các DN trong nước và nước ngoài, viện nghiên cứu, trường đại học để tổng hợp nhu cầu và nguồn cung công nghệ trong và ngoài nước; tổ chức diễn đàn đối thoại

”DN với ứng dụng và đổi mới công nghệ” để nắm bắt thực trạng và nhu cầu đổi mới, ứng dụng chuyển giao công nghệ của DN, giới thiệu DN

xu hướng công nghệ trong nước và trên thế giới .v.v ; đẩy mạnh các hoạt động hợp tác công nghệ với các quốc gia như Vương quốc Anh, Cộng hòa Séc, Đức, Phần Lan.v.v

- Chương trình phát triển thị trường và công nghệ đến năm 2020 đã tích cực triển khai các hoạt động trong năm 2013, 6 tháng 2014 Cụ thể, Chương trình đã xác định được danh mục hơn 189 loại nhu cầu công nghệ của các DN theo các lĩnh vực công nghệ; xác định được danh mục

315 loại nguồn cung công nghệ trong và ngoài nước phù hợp theo nhu cầu DN; hỗ trợ kết nối thành công được hơn 46 loại biên bản ghi nhớ, giá trị ký kết hơn 521 tỷ đồng; lựa chọn được hơn 365 sản phẩm KH&CN mới (công nghệ, thiết bị) của hơn 196 tổ chức, cá nhân và DN trong và ngoài nước đưa vào trưng bày, giới thiệu, công bố, trình diễn tại các kỳ tổ chức sự kiện qua đó thu hút được hơn 1.600 đại biểu quan tâm tham dự; xây dựng và phát sóng các chương trình/bản tin phổ biến, đưa tin, viết bài về các hoạt động/sự kiện trên 100 phương tiện thông tin đại chúng ở Trung ương và địa phương

Về hỗ trợ và ươm tạo DN khoa học và công nghệ[7] , Bộ KH&CN

đã tổ chức phổ biến, tuyên truyền pháp luật về phát triển thị trường

Ngày đăng: 09/11/2015, 18:39

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w