1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu Luận Môn Bảo Hiểm Phân Tích Hiệu Quả Của Thị Trường Bảo Hiểm Phi Nhân Thọ Việt Nam Gian Đoạn

19 483 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 264,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù vậy, phải từ sau năm 1995, một loạt các công ty kinh doanh bảo hiểm mới ra đời: Bảo Minh, VINARE, PVI, PJICO… và các công ty liên doanh bảo hiểm như: UIC, VIA,… Năm 1999 Hiệp hội

Trang 1

TIỂU LUẬN MÔN BẢO HIỂM

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ CỦA THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ VIỆT NAM GIAN ĐOẠN

2007-2009

GVHD: Nguyễn Thị Minh Châu

NHÓM: RINGS

Lê Thị Thanh Hà

Hà Thị Minh Phương Nguyễn Minh Quốc Khánh Nguyễn Thị Kim Hoàng

TP HỒ CHÍ MINH, tháng 10/2010

Trang 2

I Cơ sở lý luận:

1 Giải thích đề tài:

Trong cuộc sống mỗi con người, gia đình và xã hội từ xưa đến nay cũng luôn phải đối mặt với yếu tố không thuận lợi, ngoài ý muốn đó là hiểm hoạ, rủi ro Rủi ro không những ảnh hưởng đến cá nhân hoặc các chủ thể riêng lẻ, mang tính chất cá biệt, mà còn có tác động sâu rộng đến toàn bộ nền kinh tế hoặc những nhóm người rộng lớn trong cộng đồng, mang tính chất thảm họa Rủi ro, hiểm hoạ xảy ra thường bất ngờ không biết trước về thời gian, địa điểm, quy mô, mức độ thiệt hại Trong xã hội hiện đại, khoa học kỹ thuật phát triển nhưng không thể loại trừ yếu tố bất lợi có tính khách quan đó Dù muốn hay không, nhiều hiểm hoạ rủi ro đã, đang và sẽ còn xuất hiện chi phối đến cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình, doanh nghiệp và toàn xã hội Đứng trước thực trạng đó, con người luôn có những hành động tích cực, chủ động bằng tất cả khả năng của mình để ngăn ngừa, hạn chế, khắc phục nhằm giảm tới mức thấp nhất những thiệt hại về người và của để sớm phục hồi lại quá trình sản xuất kinh doanh và đời sống Nhưng mỗi cá nhân hay doanh nghiệp khi đối mặt với những rủi ro họ không thể tự khắc phục lại những hậu quả mà nó mang lại Bằng nghiệp vụ bảo hiểm với nguyên tắc chia sẻ rủi ro, còn gọi là “cộng đồng hóa rủi ro” chia sẻ những thiệt hại, bất hạnh này dựa trên sự đóng góp của một

số đông, con người có thể dễ dàng khắc phục tổn thất mà rủi ro gây ra

Bảo hiểm là một lĩnh vực rất quan trọng đối với các quốc gia nói chung và với Việt Nam nói riêng Không chỉ là một biện pháp di chuyển rủi ro, bảo hiểm ngày nay đã trở thành một trong những kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh

tế Thực tế hoạt động kinh doanh bảo hiểm thời gian qua đã cho thấy sự lớn mạnh không ngừng của ngành bảo hiểm và nhiều tiềm năng phát triển trong tương lai Tuy nhiên, thị trường bảo hiểm Việt Nam đang được đa dạng hóa với tốc độ cao, sức ép mở cửa thị trường và thách thức hội nhập ngày càng lớn Ngành bảo hiểm Việt Nam sẽ phải làm gì để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

và đáp ứng yêu cầu của tiến trình hội nhập?

Ngành bảo hiểm nước ta mới thực sự bắt đầu phát triển từ cách đây khoảng

17 năm khi thế độc quyền kinh doanh bảo hiểm được xoá bỏ theo nghị định 100 CP được Chính phủ ban hành ngày 18/12/1993 Nó phá vỡ thế độc quyền đang tồn tại, tạo tiền đề cho sự ra đời của các tổ chức bảo hiểm với nhiều hình thức khác nhau thuộc mọi thành phần kinh tế Mặc dù vậy, phải từ sau năm 1995, một loạt các công

ty kinh doanh bảo hiểm mới ra đời: Bảo Minh, VINARE, PVI, PJICO… và các công ty liên doanh bảo hiểm như: UIC, VIA,… Năm 1999 Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam được thành lập với 10 thành viên sáng lập là các công ty bảo hiểm hàng đầu trên thị trường Việt Nam như: Bảo Việt, Bảo Minh, VINARE, Kể từ đó đến nay, ngành bảo hiểm đã có những bước tiến đáng kể và nếu được phát triển đúng hướng, ngành sẽ góp phần rất tích cực vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong thế kỷ mới

Trong 3 năm từ 2007 đến 2009, kinh tế Việt Nam đã trải qua một thời kì biến động với sự hội nhập kinh tế quốc tế và tác động của cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới Những biến động này có những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực, cơ hội

và thách thức đến nền kinh tế Việt Nam, mà trong đó nó cũng có những ảnh hưởng

Trang 3

không nhỏ đến thị trường bảo hiểm nước ta, đặc biệt là bảo hiểm phi nhân thọ Để thấy rõ được những điều này sau đây chúng ta hãy cùng nhau phân tích hiệu quả của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ trong giai đoạn này

2 Khái niệm:

2.1 Bảo hiểm:

Vậy Bảo hiểm là gì, thì hiện nay có rất nhiều định nghĩa về bảo hiểm xét ở các góc độ khác nhau Sau đây là một số định nghĩa tiêu biểu:

Bảo hiểm là sự chia sẻ những tổn thất ngẫu nhiên thông qua việc chuyển giao rủi ro cho người bảo hiểm – người chấp nhận bồi thường hoặc cung cấp những quyền lợi có giá trị bằng tiền dựa trên sự xuất hiện của tổn thất có liên quan đến rủi

ro ( theo The Commission on Isurance Terminology of The American Risk and Insurance Association)

 Bảo hiểm là hoạt động theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm ( Theo Điều 3 khoản 1 Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam )

Nói tóm lại Bảo hiểm( Bảo hiểm nhân thọ và Bảo hiểm phi nhân thọ) là một phần quan trọng trong các chương trình quản lý rủi ro của các tổ chức cũng như cá nhân

2.2 Bảo hiểm phi nhân thọ:

2.3 Tái bảo hiểm

II Thực trạng:

1 Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam từ 2007- 2009:

Năm 2007 tăng trưởng GDP đạt 8,5%, tốc độ cao kỷ lục đối với Việt Nam (mức cao nhất trong 10 năm qua) và đứng thứ 3 châu Á (sau Trung Quốc và Ấn Độ) Các ngành công nghiệp vận tải biển và đóng tàu, hàng không dân dụng, dệt may, giày da có những bước phát triển đột phá Thị trường tài chính tiền tệ tiếp tục phát triển theo xu thế ổn định sau một thời gian phát triển nóng như: tín dụng ngân hàng, chứng khoán, quỹ đầu tư, bảo hiểm Đây là những tiền đề cơ bản tạo điều kiện thuận lợi cho ngành bảo hiểm Việt phát triển Tăng trưởng kinh tế cao đã góp phần làm cho quy mô kinh tế lớn lên GDP tính theo giá thực tế đạt khoảng 1.143 nghìn tỉ đồng, bình quân đầu người đạt khoảng 13,42 triệu đồng, tương đương với 71,5 tỉ USD và 839 USD/người Cùng với tăng trưởng kinh tế cao là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực Theo nhóm ngành kinh tế, nông, lâm nghiệp-thủy sản vốn tăng thấp, năm nay lại gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh lớn nên tăng thấp và

tỷ trọng trong GDP của nhóm ngành này tiếp tục giảm (hiện chỉ còn dưới 20%) Công nghiệp-xây dựng tiếp tục tăng hai chữ số, cao nhất trong ba nhóm ngành, nên

tỷ trọng trong GDP tiếp tục tăng (hiện đạt gần 42%), phù hợp với giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Dịch vụ được mở cửa rộng hơn sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), thị trường xuất khẩu

mở rộng, các rào cản thương mại Việt Nam với các nước thành viên WTO được dỡ

bỏ hoặc hạn chế Nhờ đó thu hút đầu tư nước ngoài và xuất khẩu là những thành tựu nổi bật nhất, đầu tư trực tiếp nước ngoài tương đương 20,3 tỉ USD, đầu tư toàn xã

Trang 4

hội đạt 40% GDP, vốn ODA đạt 5,4 tỉ USD , là mức cao nhất từ trước đến nay, bằng cả số vốn của 5 năm trước cộng lại Kim ngạch xuất khẩu đạt xấp xỉ 48,4 tỷ USD, tăng trên 20% so với năm 2006

Tuy nhiên,những khó khăn, thách thức và những hạn chế của nền kinh tế Việt Nam, là chỉ số giá tiêu dùng tăng cao ở mức 2 con số đã tác động đến phát triển đời sống của nhân dân, nhất là các vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu

số và các vùng bị ảnh hưởng nhiều của thiên tai, bão lũ Nhập siêu lớn, chất lượng

tăng trưởng của một số ngành chưa bền vững, năng lực cạnh tranh còn thấp Mặt

khác các điểm yếu của nền kinh tế vốn tồn tại nhiều năm nay như kết cấu hạ tầng yếu kém, nhất là giao thông, thủy lợi, điện đã bộc lộ rõ nét qua thiên tai năm 2007 không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế bền vững với tốc độ cao Do vậy khả năng phòng chống thiên tai, dịch bệnh hạn chế, thiệt hại gây ra rất nặng nề, hậu quả

để lại là rất nghiêm trọng và lâu dài

Mặc dù có nhiều khó khăn về thiên tai lớn, dịch bệnh diễn biến phức tạp và

sự biến động thị trường bất lợi về giá cả tăng song nền kinh tế nước ta vẫn tăng GDP cao Vấn đề đặt ra trong năm 2008, quản lý vĩ mô nền kinh tế phải kiềm chế được tốc độ tăng giá

Kinh tế-xã hội nước ta năm 2008 diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến động phức tạp, khó lường Giá dầu thô và giá nhiều loại nguyên liệu, hàng hoá khác trên thị trường thế giới tăng mạnh trong những tháng giữa năm kéo theo sự tăng giá ở mức cao của hầu hết các mặt hàng trong nước; lạm phát xảy ra tại nhiều nước trên thế giới; khủng hoảng tài chính toàn cầu dẫn đến một

số nền kinh tế lớn suy thoái, kinh tế thế giới suy giảm Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2008 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 6,23% so với năm 2007, Xét theo các yếu tố sử dụng GDP năm 2008 thì tốc độ tăng của tích luỹ tài sản cố định, tiêu dùng cuối cùng và xuất khẩu theo giá so sánh 1994 đều giảm so với mức tăng của năm 2007 Xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ năm 2008 theo giá so sánh tăng thấp

so với năm 2007, chỉ ở mức 5,6% So với GDP, xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ bằng 69,5% và nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ bằng 84% Điều này cho thấy kinh tế Việt Nam hiện đang là nền kinh tế có độ mở lớn và tốc độ mở nhanh, do đó dễ bị ảnh hưởng từ những biến động của thị trường thế giới Giá tiêu dùng năm 2008 nhìn chung tăng khá cao và diễn biến phức tạp, khác thường so với xu hướng giá tiêu dùng các năm trước Giá tăng cao ngay từ quý I và liên tục tăng lên trong quý II, quý III, nhưng các tháng quý IV liên tục giảm (so với tháng trước, tháng 10 giảm 0,19%; tháng 11 giảm 0,76%, tháng 12 giảm 0,68%) nên giá tiêu dùng tháng 12 năm 2008 so với tháng 12 năm 2007 tăng 19,89% và chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm tăng 22,97% Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2008 theo giá thực tế ước tính đạt 637,3 nghìn tỷ đồng, bằng 43,1% GDP và tăng 22,2% so với năm 2007 Về xã hội, tổng số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế năm 2008 ước tính 45 triệu người, tăng 2% so với năm 2007 Tuy nhiên nhìn chung đời sống của cán bộ, công nhân, viên chức cũng chưa được cải thiện đáng kể Ở khu vực nông thôn, thiên tai, dịch bệnh trên gia súc, gia cầm xảy ra liên tiếp; giá cả hàng hoá tiêu dùng, xăng dầu

và vật tư nông nghiệp tăng cao đã tác động không nhỏ đến sản xuất và đời sống của nông dân Tình hình dịch bệnh năm 2008 diễn biến phức tạp, dịch sốt xuất huyết, tiêu

Trang 5

chảy cấp bùng phát mạnh tại nhiều địa phương So với năm 2007, số lượt hộ thiếu đói tăng 32,3%, số lượt nhân khẩu thiếu đói tăng 32,7%

Bước vào năm 2009, nền kinh tế nước ta tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức Khủng hoảng tài chính của một số nền kinh tế lớn trong năm 2008 đã đẩy kinh

tế thế giới vào tình trạng suy thoái, làm thu hẹp đáng kể thị trường xuất khẩu, thị trường vốn, thị trường lao động và tác động tiêu cực tới nhiều lĩnh vực kinh tế-xã hội khác của nước ta Theo đà suy giảm kinh tế những tháng cuối năm 2008, tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước quý I/2009 chỉ đạt 3,14%, là quý có tốc độ tăng thấp nhất trong nhiều năm gần đây; nhưng quý II, quý III và quý IV của năm 2009, tốc

độ tăng tổng sản phẩm trong nước đã nâng dần lên lần lượt là 4,46%; 6,04% và 6,9% Tính chung cả năm 2009, tổng sản phẩm trong nước tăng 5,32% Mặc dù nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài giảm sút, nhưng đầu tư trong nước đã được khơi thông nên tính chung vốn đầu tư phát triển cả năm đạt 704,2 nghìn tỷ đồng, tăng 15,3% so với năm 2008 và bằng 42,8% GDP Về xuất nhập khẩu, kim ngạch hàng hoá xuất khẩu năm 2009 ước tính đạt 56,6 tỷ USD, giảm 9,7% so với năm 2008, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu ước tính 68,8 tỷ USD, giảm 14,7% Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2009 tăng 6,88% so với năm 2008, thấp nhất trong 6 năm trở lại đây Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu, nền kinh tế nước ta đạt được thành công kép, vừa tăng trưởng tương đối khá so với các nước trong khu vực, vừa duy trì được mức độ lạm phát không cao, đây là kết quả rất đáng khich lệ Về

xã hội, trong năm 2009, nước ta chịu ảnh hưởng của 11 cơn bão và nhiều đợt lũ lụt gây thiệt hại nặng về người và tài sản Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong năm 2009 ước tính gần 23,2 nghìn tỷ đồng, gấp gần 2 lần năm 2008 ảnh hưởng xấu đến đời sống của đai bộ phận nhân dân lao động Tuy nhiên, đời sống của bộ phận những người làm công ăn lương cũng dần dần được cải thiện Thu nhập bình quân tháng của lao động khu vực Nhà nước năm 2009 đạt 3084,8 nghìn đồng, tăng 14,2%

so với năm 2008

Khái quát lại, năm 2009 nền kinh tế chịu tác động tiêu cực từ hai phía Cùng

với những khó khăn do kinh tế thế giới suy thoái, thu hẹp đáng kể thị trường xuất khẩu, thị trường vốn, thị trường lao động thì bão lũ xảy ra liên tiếp, dịch bệnh bùng phát ở nhiều địa phương Trong bối cảnh đó, kinh tế nước ta vẫn đạt mức tăng trưởng 5,32%, vượt mục tiêu đề ra và đứng vào hàng các nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao của khu vực và trên thế giới

2 Hiệu quả của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ :

2.1 Hiệu quả kinh doanh

Trên thực tế, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã bắt đầu mở cửa cho các công

ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài từ năm 1999 Sau nhiều năm đàm phán và thực hiện những thủ tục cần thiết, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) vào tháng 11/2006 Và cho đến năm 2007, việc gia nhập WTO đã bắt đầu cho thị trường bảo hiểm nước ta ngày càng có những bước tiến xa hơn trong cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân Theo số liệu của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, đầu năm 2007 thị trường bảo hiểm Việt Nam có

20 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ; 1 doanh nghiệp tái bảo hiểm; 8 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và 8 doanh nghiệp môi gới bảo hiểm Doanh thu bảo hiểm phi nhân thọ đạt 8.500 tỉ đồng, tăng trưởng 30%, oanh thu bảo hiểm nhân thọ

Trang 6

đạt 9.500 tỉ đồng tăng trưởng 12% Bảo hiểm cũng đã đóng góp 2% vào GDP của Việt Nam, với tốc độ tăng trưởng bình quân 29%/năm Cho tới cuối năm 2009, số doanh nghiêp bảo hiểm phi nhân thọ 27 doanh nghiệp

Doanh thu phí bảo hiểm gốc tăng đều theo hàng năm, năm 2007 đạt

8.360.000, năm 2008 là 10.879 tỷ đồng (tăng 30,1%), năm 2009 là 13.644 tỷ đồng (tăng 25,4%) Trong đó nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới chiếm tỷ trọng lớn nhất, tiếp theo là bảo hiểm tài sản và thiệt hại

BH sứ

c khỏ

e và t

ai nạ

n co

n ng

ười

BH h

àng h

óa vậ

n ch

uyển

BH xe

cơ gi ới

Bảo

ểm ch

áy n

và m

ọi rủ

i r

tài s ản

BH th

ân tà

u và

TNDS

chủ u

BH tà

i sản

và th iệt h

ại

BH kh ác 0

1,000,000

2,000,000

3,000,000

4,000,000

5,000,000

Doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ 2007-2009

2007 2008 2009

nghiệp vụ bảo hiểm

 Gia nhập WTO đã tạo ra nhiều cơ hôi cho nganh bảo hiểm nước ta, việc cho phép các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài tham gia vào thị trường bảo hiểm Việt Nam sẽ đem lại những lợi ích tổng thể cho thị trường, làm giảm chi phí dịch

vụ, công nghệ quản lý mới được chuyển giao, chất lượng dịch vụ và trình độ đội

ngũ cán bộ được nâng cao, năng lực thị trường được mở rộng Mở cửa thị trường sẽ tác động tích cực đối với cạnh tranh, thúc đẩy sự phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam nói chung và bản thân các công ty bảo hiểm trong nước, bên cạnh đó còn tạo điều kiện tăng cường trao đổi kiến thức và kỹ năng chuyên ngành, các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài với kinh nghiệm hoạt động lâu năm trên phạm vi quốc tế sẽ giúp chuyển giao công nghệ khai thác bảo hiểm và đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác bảo hiểm tại Việt Nam Ví dụ như:

- Nhiều DN bảo hiểm quy mô lớn đều có trung tâm đào tạo để cập nhật kiến thức, nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ, nhân viên; cử cán bộ đi đào tạo nghiệp vụ và quản lý tại các cơ sở trong và ngoài nước nhằm đáp ứng điều kiện, tiêu chuẩn

- Việc DN bảo hiểm tích cực tăng thêm dịch vụ gia tăng cho khách hàng

tham gia bảo hiểm bằng những hoạt động hỗ trợ như: cứu nạn, cứu hộ miễn phí; sửa chữa xe không thuộc phạm vi bảo hiểm và bảo dưỡng xe được giảm phí; thẻ ưu tiên điều trị tại các bệnh viện có uy tín… đã thể hiện tính hơn hẳn của việc mua bảo

hiểm của các DN bảo hiểm đang hoạt động tại Việt Nam so với mua bảo hiểm của

Trang 7

các DN bảo hiểm nước ngoài chưa có mặt tại Việt Nam, tạo lợi thế cạnh tranh khi thực hiện cam kết WTO

- Đặc biệt năm 2007, các doanh nghiệp bảo hiểm đã chú trọng đầu tư nguồn vốn chủ sở hữu và dự phòng nghiệp vụ đem lại lợi nhuận cao Hầu hết các doanh nghiệp bảo hiểm đều thành lập bộ phận chuyên trách đầu tư, các doanh nghiệp có quy mô lớn đã thành lập ngân hàng, công ty chứng khoán, công ty đầu tư tài chính, công ty quản lý quỹ

 Nhình chung năm 2007, thị trường bảo hiểm Việt Nam trãi qua năm đầu tiên kể từ khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO với những thành tựu đáng khích

lệ, với một số sự kiện tiêu biểu:

 IPO 680 tỉ đồng của Tập đoàn Tài chính Bảo hiểm Bảo Việt đạt con số kỷ lục với 20.368 nhà đầu tư đăng ký, 13 đại lý lớn tham gia và tổng số nhà đầu tư trung gian tới 3.741, mở đầu cho việc đấu giá cổ phần của các Tập đoàn lớn sau này

 Doanh thu bảo hiểm phi nhân thọ đạt 8.500 tỉ đồng, tăng trưởng 30%, cao nhất trong 5 năm qua, xấp xỉ chỉ tiêu chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam đến năm 2010 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đối với Bảo hiểm phi nhân thọ là 9.000 tỉ đồng

 Chế độ quản lý nhà nước được hoàn thiện thêm một bước bằng việc ban hành NĐ 45 và NĐ 46 ngày 27/3/2007 và Thông tư 155, Thông tư 156 ngày

20/12/2007 hướng dẫn thi hành luật kinh doanh bảo hiểm theo xu hướng minh bạch công khai chế độ quản lý nhà nước và thủ tục hành chính, tăng cường tính chủ động cho doanh nghiệp bảo hiểm, nâng cao chất lượng đội ngũ quản lý kinh doanh bảo hiểm, nâng cao năng lực tài chính và đảm bảo quyền lợi hợp pháp chính đáng cho người tham gia bảo hiểm phù hợp với chuẩn mực quốc tế và cam kết WTO

 Nhà nước sửa đổi và ban hành 2 sản phẩm bảo hiểm bắt buộc trong đó NĐ

130 Chính phủ, Thông tư liên tịch BTC-BCA số 41 và QĐ 28/BTC ngày 24/4/2007

về chế độ bảo hiểm cháy nổ bắt buộc, Thông tư liên tịch BTC-BCA số 16 và QĐ 23/BTC ngày 29/4/2007 về chế độ BHBB TNDS chủ xe cơ giới, tạo điều kiện pháp

lý để bảo hiểm phát triển

 Tập đoàn Tài chính Bảo hiểm Bảo Việt chọn HSBC là cổ đông chiến lược, Bảo Minh chọn AXA là cổ đông chiến lược Điều này chứng tỏ các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam đã nằm trong tầm ngắm chú ý để đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm hàng đầu quốc tế, đồng thời tận dụng được kinh nghiệm, công nghệ, sản phẩm mới và hệ thống của đối tác chiến lược để phát triển phân phối sản phẩm bảo hiểm, nâng cao uy tín thương hiệu của mình

 Các doanh nghiệp bảo hiểm đồng loạt tăng vốn phù hợp với quy định pháp luật, nâng mức vốn pháp định lên 300 tỉ đồng đối với bảo hiểm phi nhân thọ, 200 tỉ đồng đối với bảo hiểm dầu khí hoặc vệ tinh hoặc bảo hiểm liên kết đầu tư, 10 tỉ đồng đối với thành lập chi nhánh thứ 21 Ngoài ra một số DN còn đăng ký tăng vốn cao hơn vốn pháp định làm tăng tiềm lực tài chính, tăng mức giữ lại, giảm đáng kể phần phải tái bảo hiểm ra nước ngoài, tăng cường năng lực đầu tư vào nền kinh tế Tổng vốn chủ sở hữu của các DN bảo hiểm lên tới trên 15.000 tỷ đồng, trong đó

Trang 8

Bảo Việt dẫn đầu với 6.800 tỷ đồng Việc tăng vốn điều lệ cao hơn vốn pháp định giúp doanh nghiệp bảo hiểm mở rộng hoạt động kinh doanh sang các dịch vụ tài chính khác như thành lập ngân hàng (Bảo Việt), CTCK (Bảo Minh), công ty tài chính (PVI, Prudential)…nhằm nâng cao khả năng tài chính, nâng cao năng lực bảo hiểm làm giảm đi đáng kể phải tái bảo hiểm ra nước ngoài đồng thời làm tăng uy tín

và sự tin cậy của khách hàng

 Các doanh nghiệp bảo hiểm tích cực đóng góp vào công tác đề phòng hạn chế tổn thất trong đó đóng góp 5% doanh thu bảo hiểm cháy nổ bắt buộc cho kinh phí phòng cháy chữa cháy và 2% doanh thu phí bảo hiểm bắt buộc TNDS chủ xe cơ giới để tuyên truyền đảm bảo an toàn giao thông và thực hiện chế độ bảo hiểm bắt buộc TNDS chủ xe cơ giới

Tuy nhiên, việc thực hiện cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), với sự tham gia của các công ty nước ngoài vào thị trường bảo hiểm cũng

có những ảnh hưởng nhất định đối với công ty bảo hiểm trong nước, ảnh hưởng cả

về quy mô, chất lượng và cả sự ổn định trong thị trường tài chính nói chung:

- Các công ty bảo hiểm phi nhân thọ trong nước sẽ đứng trước sức ép cạnh tranh lớn trong khi năng lực về công nghệ, vốn còn yếu và nhỏ bé

- Cạnh tranh về nhân lực giữa các công ty bảo hiểm sẽ diễn ra sôi động, khi các công ty bảo hiểm nước ngoài mới tham gia thị trường sẽ tìm mọi cách lôi kéo các nhân lực có kiến thức và kinh nghiệm của các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước tạo nên sự biến động về nhân sự giữa các công ty bảo hiểm Một thực tế đã diễn ra khi sự gia tăng của số lượng doanh nghiệp bảo hiểm nhanh hơn gia tăng nguồn nhân lực trong ngành đã dẫn đến sự di chuyển nhân sự giữa các công ty bảo hiểm Do đó, nếu các công ty bảo hiểm trong nước không có những điều chỉnh liên quan đến chính sách nhân sự trong thời gian tới sẽ bị mất lợi thế quan trọng trước các công ty 100% vốn nước ngoài hoặc liên doanh

- Mức độ cạnh tranh cao có thể dẫn tới hiện tượng liên kết giữa các công ty bảo hiểm lớn, thôn tính các doanh nghiệp nhỏ, ảnh hưởng tới sự cạnh tranh lành mạnh của thị trường, gây thiệt hại cho các công ty vừa và nhỏ

- Các doanh nghiệp bảo hiểm khi thực hiện tái bảo hiểm ra nước ngoài đều phải thực hiện tái bảo hiểm bắt buộc tối thiểu 20% với Tổng công ty cổ phần tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (VINARE) Vì vậy thực hiện cam kết xoá bỏ tỷ lệ tái bảo hiểm bắt buộc này sẽ có tác động kép, trước tiên là ảnh hưởng tới hoạt động của VINARE, đồng thời ảnh hưởng đến tổng mức phí giữ lại của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ

Theo đánh giá của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, nghiệp vụ bảo hiểm kỹ thuật có tỷ lệ tổn thất năm 2007 là 98,45% Trái lại, tỷ lệ phí bảo hiểm có xu hướng ngày một giảm, không tương xứng với trách nhiệm bảo hiểm; cạnh tranh không lành mạnh (phi kỹ thuật) ngày càng gia tăng; mẫu đơn bảo hiểm bị chỉnh sửa không theo chuẩn hoặc áp dụng nhiều điều khoản không phù hợp Phổ biến là hiện tượng các doanh nghiệp khoán theo doanh thu, không tính đến hiệu quả kinh doanh; công tác quản lý rủi ro chưa được quan tâm đúng mức

Trang 9

Năm 2008 chứng kiến cơn khủng hoảng kinh tế diễn ra trên phạm vi toàn cầu, ảnh hưởng sâu sắc tới nền kinh tế nước ta, khiến thị trường chứng khoán suy thoái, hoạt động đầu tư giảm sút, thị trường bất động sản đóng băng, lãi suất biến động… GDP của Việt Nam vẫn tăng trưởng ở mức 6.23%,tuy thấp hơn so với năm

2007 nhưng vẫn tạo ra những nhân tố ảnh hưởng tích cực đối với sự tăng trưởng của thị trường bảo hiểm Có thể nói giai đoạn cuôi 2008 và đầu 2009 là giai đoạn đầy thách thức với nền kinh tế nước ta nói chung và với ngành bảo hiểm nói riêng

Tình trạng cạnh tranh gay gắt trên thị trường bảo hiểm vẫn tiếp diễn, với

những chiêu thức như: giảm giá dành dich vụ, cắt giảm mức miễn thường, mở rộng điều kiện bảo hiểm diễn ra phổ biến trong khi tình hình vĩ mô không ổn đinh Tình trạng cạnh tranh hạ phí, mở rộng điều kiện, điều khoản bảo hiểm sang cả phạm vi bảo hiểm khác Những tài sản có giá trị không cao, không phải tái bảo hiểm ra nước ngoài, không phải áp dụng mức phí quốc tế thì hạ phí bảo hiểm để giành giật dịch

vụ Điều này có nghĩa là doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận tất cả rủi ro về mình, đồng thời làm ảnh hưởng đến doanh nghiệp khác Ví dụ, có hợp đồng bảo hiểm khu resort giá trị tài sản không lớn, nhưng thiệt hại kinh doanh rất cao vì bị tác động của mưa bão, sóng gió song vẫn có doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm với mức phí hạ Điều này khiến các công ty phải đối mặt với mức độ rủi ro cao, doanh thu không bù đắp đủ chi phí

Theo thống kê, tỉ lệ bồi thường năm 2007 là 52,44% và giảm dần trong 2 năm 2008, 2009 Cụ thể là năm 2008 là 41,46%, năm 2009 là 38,64%

0 2,000,000 4,000,000 6,000,000 8,000,000 10,000,000 12,000,000 14,000,000 16,000,000

Doanh thu phí bảo hiểm và bồi thường bảo hiểm phi nhân thọ năm 2007-2009

doanh thu phí bảo hiểm gốc bồi thường bao hiểm gốc

Tuy tỉ lệ bồi thường giảm nhưng điều đáng nói là kết quả khả quan trên đạt được trong bối cảnh nền kinh tế lạm phát cao và những vụ tổn thất tăng cả về mức

độ cũng như tần suất Trong 6 tháng đầu năm 2008, bảo hiểm phi nhân thọ phải thực hiện một số vụ bồi thường lớn như: vụ thiết bị khoan Nacap (PVI thực hiện), ước tính tổn thất 785.000 USD; 3 vụ tổn thất của Xi măng Cẩm Phả (PTI/Pjico thực hiện), ước tính 1,7 triệu USD; vụ Xi măng Hạ Long (PTI thực hiện), ước tính tổn thất 1,8 triệu USD Tổn thất hàng hoá với số ước bồi thường khoảng gần 12 triệu USD

Trang 10

Tổng công ty cổ phần Tái bảo hiểm quốc gia (Vinare), doanh nghiệp duy nhất hoạt động trong lĩnh vực tái bảo hiểm tại Việt Nam nhận định, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam trong 9 tháng đầu năm 2008 tiếp tục tăng trưởng tốt, với tốc độ tăng trưởng đạt hơn 25% so với cùng kỳ năm 2007 Tuy nhiên, hiệu quả kinh doanh không được như mong muốn, do chi phí quản lý và khai thác còn quá cao, nhiều loại hình dịch vụ như bảo hiểm cháy nổ, bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm thân xe ôtô có tỷ lệ tổn thất lớn Cuối năm 2008 có đến 18 trên 26 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ bị lỗ hoặc không có lãi nghiệp vụ bảo hiểm Mức thua lỗ tổng cộng là 163 tỷ đồng

Không ít chuyên gia về bảo hiểm đã chỉ ra rằng, để góp phần phát triển lành mạnh cũng như bảo đảm an toàn trong hoạt động, các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam cần phải áp dụng những biện pháp khẩn cấp, chấm dứt ngay tình trạng khai thác chạy theo doanh thu; chấn chỉnh lại các hoạt động nghiệp vụ; thực hiện nghiêm quy định của Bộ Tài chính, các cam kết của doanh nghiệp bảo hiểm; đoàn kết trên thị trường thông qua đồng bảo hiểm, chia sẻ dịch vụ, thông tin, kinh nghiệm khai thác

Đầu năm 2009 nền kinh tế xã hội Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề của khủng hoảng suy thoái kinh tế toàn cầu nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh hoạt động giảm sút hoặc cầm chừng, công nhân thiếu việc làm giảm sút thu nhập dẫn đến không có đủ khả năng tài chính tham gia bảo hiểm Không ít khách hàng truyền thống của doanh nghiệp bảo hiểm không có tiền đóng phí bảo hiểm mặc dù nhu cầu bảo hiểm không hề giảm thậm chí tăng lên như ngành vận tải biển, vận tải hàng không, than khoáng sản…Tốc độ tăng trưởng doanh thu của ngành bảo hiểm 6 tháng đầu năm 2009 vẫn đạt mức khá, dù không bằng năm 2008 Hoạt động khai thác bảo hiểm gốc tăng 11% so với cùng kỳ năm 2008, trong đó lĩnh vực phi nhân thọ tăng 13,5%, nhân thọ tăng 8,4% Ngành bảo hiểm Việt Nam là một trong số ít ngành may mắn đang vượt qua khủng hoảng

Tốc độ tăng doanh thu phí của bảo hiểm Việt Nam ở mức khá cao so với thế giới và khu vực Một số công ty bảo hiểm tuy mới đi vào hoạt động nhưng cũng đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao như Bảo Minh, Prudential, PJICO… Vốn đầu tư cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm tăng lên và theo đó khả năng giữ lại phí bảo hiểm trong nước cũng được nâng lên tương ứng Qui định của nhà nước về tái bảo hiểm bắt buộc qua VINARE đã giúp mức phí giữ lại của toàn thị trường tăng đều qua các năm Tổng mức phí giữ lại chiếm khoảng 70% tổng phí bảo hiểm gốc, giảm được một lượng không nhỏ phí bảo hiểm chảy ra nước ngoài Theo đánh giá của HHBHVN, hiện nay doanh thu phí bảo hiểm của thị trường mới đạt mức trên 2% GDP trong khi các nước phát triển trong khu vực thường đạt mức 8-10% GDP (bình quân thế giới khoảng 8%) do đó, tiềm năng phát triển của các DN bảo hiểm vẫn còn rất lớn

Các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam đã có đủ khả năng phục vụ các ngành kinh tế, các tầng lớp nhân dân với việc tham gia vào nhiều hợp đồng có mức trách nhiệm lớn tới hàng tỷ USD như bảo hiểm trong các lĩnh vực hàng không; dầu khí; Nhà máy xi măng Chinfon, Nhà máy điện Phú Mỹ, các toà nhà, khách sạn lớn cùng với hàng nghìn nhà xưởng, văn phòng… Hoạt động đầu tư của các công ty đang tạo

ra một nguồn vốn lớn cho xã hội

Ngày đăng: 09/11/2015, 17:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w