1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế

112 336 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để giành thế chủ động trong tiến trình hộinhập kinh tế quốc tế, hệ thống ngân hàng Việt Nam cần cải tổ cơ cấu một cách mạnh mẽ để trở thành hệ thống ngân hàng đa dạng về hình thức, có kh

Trang 1

Có thể nói, việc chính thức là thành viên của WTO đem lại cho Việt Namnhững cơ hội và cũng đặt ra nhiều thách thức Muốn thành công chúng ta phải thấyđược hết thách thức, tận dụng cơ hội để đẩy lùi thách thức Suy cho cùng cơ hội vàthách thức chính là động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.

Ngân hàng là một trong những lĩnh vực được mở cửa mạnh nhất sau khi ViệtNam gia nhập WTO, thách thức lớn nhất của ngành ngân hàng là đối mặt với sự cạnhtranh ngày càng quyết liệt mạnh mẽ hơn Để giành thế chủ động trong tiến trình hộinhập kinh tế quốc tế, hệ thống ngân hàng Việt Nam cần cải tổ cơ cấu một cách mạnh

mẽ để trở thành hệ thống ngân hàng đa dạng về hình thức, có khả năng cạnh tranh cao,hoạt động an toàn và hiệu quả, huy động tốt các nguồn vốn trong xã hội và mở rộngđầu tư đáp ứng nhu cầu của phát triển đất nước.Là một người đang công tác trong lĩnhvực đào tạo về ngân hàng,với mong muốn các Ngân hàng thương mại Việt Nam pháttriển bền vững trong xu thế hội nhập tôi đã quyết định thực hiện chuyên đề nghiên cứu

với đề tài: “Năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế”.

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Hệ thống hóa lý thuyết về hội nhập quốc tế và cạnh tranh trong kinh doanhngân hàng

Trang 2

- Phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của các Ngân hàngthương mại Việt Nam, những kết quả đạt được và những tồn tại, tìm ra nguyên nhâncủa những vấn đề còn tồn tại.

- Hình thành giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của cácNgân hàng thương mại Việt Nam, đảm bảo an toàn và phát triển bền vững trong tìnhhình hội nhập kinh tế quốc tế

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu: Là những vấn đề liên quan đến hội nhập quốc tế vànăng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại Việt Nam trong điều kiện hội nhậpquốc tế

- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của cácNgân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, kết hợp với các phương phápthống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp… nhằm làm rõ vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp thu thập, xử lý số liệu: Số liệu thứ cấp được thu thập từ cácBáo cáo thường niên, Bản công bố thông tin, từ cơ quan thống kê, tạp chí… vàđược xử lý trên máy tính

- Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sẽ sử dụng (luận cứ rõ cáchtiếp cận, thiết kế nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sẽ sử dụng, so sánh vớicác phương thức giải quyết tương tự khác, nêu được tính mới, tính độc đáo, tính sángtạo của đề tài)

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: sưu tầm tài liệu thông qua các kết quả nghiêncứu đã có ở nước ngoài cũng như trong nước làm cơ sở lý luận cũng như phân tích sosánh thực tế

5 Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nói chung và của ngân hàngthương mại nói riêng là vấn đề được mọi quốc gia đặt lên hàng đầu, khi nền kinh tếngày càng bị ảnh hưởng sâu sắc bởi tiến trình hội nhập, tăng khả năng cạnh tranh là

Trang 3

con đường dẫn tới thành công của bất kỳ ngân hàng nào Chính vì vậy, đề tài “Năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế” được thực hiện là có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao.

6 KẾT CẤU CỦA CHUYÊN ĐỀ

Ngoài phần mục lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục các bảng số liệu, phụlục, danh mục tài liệu tham khảo, chuyên đề có 104 trang được trình bày như sau:

Trang 4

Chương 1HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CẠNH TRANH TRONG KINH DOANH

NGÂN HÀNG

1.1 Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng thời kỳ hậu WTO

1.1.1 Các khái niệm cơ bản về hội nhập quốc tế

Để tìm hiểu khái niệm “Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng” chúng

ta lần lượt tìm hiểu các khái niệm “Toàn cầu hóa kinh tế”, “Khu vực hóa kinh tế”,

“Hội nhập kinh tế quốc tế”, “Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ”

Toàn cầu hóa kinh tế: Là một quá trình trong quan hệ quốc tế làm tăng sự phụ

thuộc lẫn nhau về mọi mặt của đời sống xã hội (từ kinh tế, chính trị, an ninh, văn hóađến môi trường …) giữa các quốc gia

Khu vực hóa kinh tế: Là hiện tượng trong quan hệ kinh tế quốc tế, bao gồm

các hoạt động hợp tác kinh tế giữa một số nước tập hợp thành những nhóm khu vực(dưới dạng định chế/tổ chức) có mức độ liên kết kinh tế khác nhau

Toàn cầu hóa và Khu vực hóa là quá trình hình thành và phát triển các thịtrường toàn cầu và khu vực, làm tăng sự tương tác và phụ thuộc lẫn nhau, trước hết

về kinh tế, giữa các nước thông qua sự gia tăng các luồng giao lưu hàng hóa vànguồn lực qua biên giới giữa các quốc gia cùng với sự hình thành các định chế, tổ chứcquốc tế nhằm quản lý các hoạt động và giao dịch kinh tế quốc tế

Toàn cầu hóa, khu vực hóa kinh tế ngày càng được khẳng định là một quátrình tất yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất thế giới và là một xu thế lớn của quan

hệ quốc tế hiện đại Quá trình này được thúc đẩy bởi các nhân tố như sau:

+ Sự tiến bộ khoa học và công nghệ

+ Sự quốc tế hóa cá hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là vai trong ngàycàng tăng của các công ty xuyên quốc gia

+ Chính sách mở cửa, tự do hóa thương mại và đầu tư ở các nước

Hội nhập kinh tế quốc tế: là quá trình chủ động gắn kết nền kinh tế thị trường

của từng nước với kinh tế khu vực và kinh tế thế giới thông qua các nỗ lực tự do hóa

Trang 5

và mở cửa trên các cấp độ đơn phương, song phương và đa phương Như vậy hộinhập quốc tế thực chất cũng là sự chủ động tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, khuvực hóa Nói cách khác, hội nhập bao hàm các nỗ lực về mặt chính sách và thực hiệncủa các quốc gia để tham gia vào các định chế, tổ chức kinh tế toàn cầu và khu vực.

Quá trình hội nhập làm cho nền kinh tế mỗi nước ngày càng liên kết chặt chẽvới các nền kinh tế thành viên khác, từ đó làm cho nền kinh tế thế giới phát triểntheo hướng tạo ra một thị trường chung thống nhất trong đó những cản trở đối với sựgiao lưu và hợp tác quốc tế giảm và dần dần mất đi, sự cạnh tranh trở nên gay gắt Bởivậy hội nhập kinh tế quốc tế cũng có nghĩa là tham gia vào cuộc cạnh tranh kinh tế ở

cả trong và ngoài nước Ngày nay, để khỏi bị gạt ra ngoài lề của sự phát triển, cácquốc gia đều nỗ lực hội nhập vào xu thế chung, ra sức cạnh tranh kinh tế vì sự tồn tại

và phát triển của mình

Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ: là quá trình mà các nước,các khu vực thực hiện mở cửa cho sự tham gia của các yếu tố bên ngoài vào lĩnh vựctài chính - tiền tệ, bao gồm vốn đầu tư (trực tiếp và gián tiếp), công nghệ, tín dụng

và lao động có trình độ chuyên môn cao

Hội nhập quốc tế về tài chính - tiền tệ là thực hiện quá trình tự do hóa tài chínhtức là xóa bỏ các hạn chế, các định hướng hay ràng buộc trong việc phân bổ nguồnlực tín dụng Tự do hóa tài chính cũng đồng nghĩa với việc mở rộng cạnh tranh củacác định chế tài chính, cùng với việc chấm dứt phân biệt đối xử về pháp lý giữa cácloại hoạt động khác nhau.Tự do hóa tài chính bao gồm tự do hóa lãi suất, tự do hóa tỷgiá hối đoái, giảm thiểu sử dụng công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc, xóa bỏ bao cấp vốnthông qua chỉ định tín dụng, tự do hóa các hoạt động của các tổ chức tài chính trongnước và quốc tế trên nền tảng của tự do hóa các tài khoản vãng lai và tài khoản vốn

Hội nhập quốc tế là xu hướng phát triển tất yếu của kinh tế thế giới, nhất là đốivới các quốc gia đang phát triển Hội nhập quốc tế nhằm mở cửa nền kinh tế, thựchiện tự do hóa thương mại, dịch vụ để gia nhập vào cuộc canh tranh quốc tế bìnhđẳng và cùng phát triển trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực ngân hàng

Trang 6

1.1.2 Khái niệm hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng

Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng là quá trình mở cửa để đưa hệthống ngân hàng trong nước hòa nhập với hệ thống ngân hàng khu vực và thế giới,hoạt động ngân hàng không còn bó hẹp trong phạm vi một nước, một khu vực mà mởrộng trên phạm vi toàn cầu Hoạt động ngân hàng phải tuân thủ theo quy luật thịtrường và các nguyên tắc kinh doanh quốc tế, hoạt động ngân hàng được thực hiệntheo tín hiệu thị trường mà không bị ngăn chặn bởi các biện pháp quản lý hành chính.Lãi suất, tỷ giá và hoạt động tín dụng… đều do thị trường quyết định

Quá trình hội nhập của hệ thống ngân hàng có thể hiểu là quá trình cải cáchtừng bước hệ thống ngân hàng xuất phát từ yêu cầu thực tế của quá trình toàn cầu hóanền kinh tế quốc gia, vì có như vậy hệ thống ngân hàng mới có thể đảm nhiệm vàphát huy được vai trò trung gian tài chính của mình trong bối cảnh nền kinh tế mớivới nhiều biến động phức tạp của thị trường quốc tế nói chung và thị trường nội địanói riêng

Thực hiện hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng đòi hỏi chính phủ vàNHTW phải xóa bỏ những ưu đãi, tiến tới cạnh tranh bình đẳng giữa các ngân hàngtrong và ngoài nước Do đó, mức độ hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng cómối quan hệ chặt chẽ với mức độ tự do hóa tài chính - tiền tệ Việc thực hiện tự dohóa tài chính - tiền tệ càng sâu rộng có hiệu quả thì việc hội nhập ngân hàng càngthuận lợi

Cho đến nay, cả lý luận và thực tiễn phát triển của các nền kinh tế thế giới đềukhẳng định rằng: một quốc gia muốn tồn tại, phát triển ổn định và bền vững cần phảichủ động hội nhập quốc tế, đặc biệt là chủ động hội nhập thành công lĩnh vực tàichính ngân hàng – lĩnh vực nhạy cảm và trọng yếu của nền kinh tế quốc dân

1.1.3 Các nội dung về hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng

Một là, dỡ bỏ những qui định về hạn chế số lượng nhà cung cấp dịch vụ ngân

hàng dưới hình thức quota theo số lượng để độc quyền, hạn chế tổng số các hoạt độngtác nghiệp hay tổng số dịch vụ ngân hàng đầu ra tính theo số lượng đơn vị dưới hìnhthức quota theo số lượng; hạn chế tổng trị giá các giao dịch về dịch vụ ngân hàng và

Trang 7

tài sản dù dưới hình thức quota theo số lượng; hạn chế tổng số người được tuyển dụngtrong lĩnh vực cụ thể hay một nhà cung cấp dịch vụ được phép tuyển dụng vànhững người cần thiết liên quan trực tiếp tới việc cung cấp dịch vụ ngân hàng dướihình thức quota theo số lượng, dù những hạn chế đó ở quy mô vùng hay trên toàn lãnhthổ (trừ khi có quy định trong danh mục cam kết cụ thể).

Hai là, đãi ngộ bình đẳng không phân biệt giữa các nhà cung cấp dịch vụ ngân

hàng của bất kỳ thành viên nào (dựa trên những điều kiện, điều khoản và những hạn chế

đã được thỏa thuận và quy định trên danh mục cam kết cụ thể của các thành viên mới)

Ba là, không áp dụng hạn chế về thanh toán và chuyển tiền quốc tế cho các dịch

vụ vãng lai (tuân thủ các cam kết cụ thể của các nước thành viên), trừ khi gặp phải tìnhhuống phải bảo vệ cán cân thanh toán

Bốn là, cho phép người cung cấp dịch vụ ngân hàng của các nước thành viên

khác được đưa ra các dịch vụ mới trên lãnh thổ của mình

Năm là, cho phép người cung cấp dịch vụ ngân hàng của bất kỳ nước thành

viên nào khác quyền được thành lập và mở rộng hoạt động trong lãnh thổ nước mình

kể cả việc mua lại các doanh nghiệp hiện tại hay một tổ chức thương mại

Sáu là, cho phép người cung cấp dịch vụ ngân hàng tiếp cận hệ thống thanh

toán bù trừ do nhà nước điều hành và tiếp cận các thể thức cấp vốn và tái cấp vốntrong quá trình kinh doanh thông thường

Bảy là, các thành viên cam kết rằng trong những trường hợp nhất định, trợ

cấp có thể tác động bóp méo dịch vụ thương mại, các thành viên sẽ tiến hành đàmphán nhằm định ra những quy tắc đa biên cần thiết để tránh những bóp méo đó

Tám là, mỗi thành viên sẽ trả lời không chậm trễ khi có yêu cầu của bất kỳ

thành viên nào khác về những thông tin cụ thể về bất kỳ biện pháp nào được ápdụng chung hay về hiệp định quốc tế

1.1.4 Những cơ hội và thách thức về hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng đối với các nước đang phát triển

Hội nhập kinh tế cũng góp phần thúc đẩy quá trình thu hút nguồn vốn đầu tư,tạo điều kiện giúp các NHTM phát triển các mối quan hệ đại lý, thanh toán quốc tế,

Trang 8

tài trợ thương mại, hợp tác đầu tư và trao đổi công nghệ Hơn nữa, việc Việt Namgia nhập WTO cũng thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước chủ động trong việcnâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường để tồn tại và phát triển, không chỉ

ở trong nước mà còn mở rộng hoạt động ra nước ngoài.Việc thực hiện hội nhậpquốc tế nói chung và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng nói riêng đều hàmchứa trong đó cả những cơ hội và thách thức Việc nghiên cứu chúng sẽ giúp chúng

ta tận dụng những cơ hội và chuẩn bị những điều kiện tốt nhất đối đầu với thách thức

1.1.4.1 Những cơ hội

Hội nhập quốc tế mang lại nhiều cơ hội kinh tế cho mỗi quốc gia và toànthế giới Những thành tựu thời gian qua mà các nước đang phát triển đạt được có sựgóp phần không nhỏ của quá trình hội nhập này, các cơ hội thể hiện ở những mặt chủyếu sau đây:

Một là, nhờ hội nhập quốc tế mà các ngân hàng trong nước có thể bổ sung

được nguồn vốn hoạt động từ các nguồn bên ngoài, tiếp cận được các công nghệngân hàng tiên tiến, mở rộng hoạt động kinh doanh về ngoại hối, chứng khoán quốc

tế, phát triển các dịch vụ ngân hàng mới, tạo điều kiện cho các ngân hàng trong nước

đa dạng hóa hình thức kinh doanh, phân tán rủi ro

Hai là, hội nhập sẽ tăng sức ép cạnh tranh từ bên ngoài, buộc các

NHTM trong nước phải cải tiến quản lý, tuân thủ các nguyên tắc thị trường, đổi mớikiểm soát nội bộ, phòng ngừa rủi ro và giám sát an toàn hoạt động, mở rộng phạm vicung cấp dịch vụ tốt hơn, cải thiện vị thế của mỗi ngân hàng trên thị trường thế giới

Ba là, hội nhập vào cộng đồng tài chính quốc tế, cùng với dòng vốn vào là kinh

nghiệm quản lý, kỹ thuật phòng ngừa rủi ro, công nghệ và sản phẩm mới được đưavào thị trường nội địa Các yếu tố này làm tăng hiệu quả cung cấp dịch vụ của cácngân hàng và các tổ chức tài chính, tăng cường khả năng quản lý rủi ro đối với cáchoạt động tài chính trong nước và quốc tế

Bốn là, hội nhập đã thúc đẩy sự phát triển và trao đổi các dịch vụ tài chính,

ngân hàng giữa các nước Các nước đang phát triển, nơi mà các ngân hàng trongnước thường có chi phí hoạt động cao và lợi nhận thấp hơn các đối thủ cạnh tranh

Trang 9

nước ngoài thì sự xuất hiện của ngân hàng nước ngoài trên thị trường nội địa sẽ cóảnh hưởng tích cực Do sức ép cạnh tranh tăng lên đã thúc đẩy các ngân hàng nộiđịa hoạt động hiệu quả hơn, nâng cao chất lượng dịch vụ để giữ vững và phát triểnthị phần, quản lý chặt chẽ chi phí để có lợi nhuận.

Năm là, việc hình thành các tập đoàn ngân hàng lớn cùng với quá trình mở

rộng hoạt động của chúng trên thế giới sẽ tạo cho ngân hàng này có nhiều lợi thếtrong cạnh tranh cũng như khả năng đối phó với những biến động thị trường Sựtham gia của các ngân hàng nước ngoài có tên tuổi này trên thị trường nội địa sẽ

có ảnh hưởng tích cực trong việc cải thiện các quy định giám sát và phòng ngừarủi ro, tuân thủ các chuẩn mực quốc tế về kế toán, công bố công khai Mặt khác,những ngân hàng ở các nước đang phát triển muốn thâm nhập vào thị trường cácnước cần phải đảm bảo đáp ứng được các yêu cầu và tiêu chuẩn của những thịtrường này mới nhận được giấy phép hoạt động

1.1.4.2 Những thách thức

Thứ nhất, hội nhập xuất hiện sự thâm nhập của ngân hàng nước ngoài có thể gây

khó khăn cho nền kinh tế và đe dọa đến chủ quyền kinh tế quốc gia Mở cửa cho sựtham gia của NHNNg quá mức có thể gây ra hiện tượng những ngân hàng nướcngoài lớn chi phối hoạt động cả hệ thống ngân hàng quốc gia và sự lệ thuộc của nềnkinh tế vào một số ít ngân hàng nước ngoài

Thứ hai, hoạt động của NHNNg trên thị trường nội địa với những sản phẩm

mới cùng với các giao dịch trên một phạm vi rộng lớn và với tốc độ rất nhanh sẽgây khó khăn cho việc kiểm soát của các cơ quan quản lý, giám sát của từng quốcgia Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ và các sản phẩm dịch vụ ngân hànghiện đại làm cho nhiều hoạt động ngân hàng thoát khỏi sự kiểm soát của các cơ chếgiám sát đã đặt ra

Thứ ba, các NHNNg hoạt động trên thị trường nội địa tạo ra áp lực cạnh tranh

gay gắt, có thể gây ra những xung đột về lợi ích giữa các nhóm khác nhau, ảnhhưởng đến đặc quyền kinh doanh của các ngân hàng trong nước

Thứ tư, trong môi trường vốn luân chuyển tự do giữa các nước, kích thích

Trang 10

các tổ chức trong nước nhận vốn vay nước ngoài một cách thiếu thận trọng Nếunhững tổ chức kinh tế có hệ số nợ nước ngoài cao bị mất khả năng trả nợ sẽ ảnhhưởng tiêu cực đến hệ thống ngân hàng Do hiện tượng phản ứng theo kiểu “ hành

vi đám đông” có thể dẫn tới nhiều tổ chức có hệ số nợ cao đổ vỡ, nguy cơ này sẽnhanh chóng bị khuếch đại gây kho khăn cho hệ thống ngân hàng

1.2 Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại trong giai đoạn hội nhập Quốc tế

1.2.1 Cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh ngân hàng giai đoạn hội nhập Quốc tế

1.2.1.1 Lý luận chung về cạnh tranh

Khái niệm về cạnh tranh: Cạnh tranh là hiện tượng tự nhiên, là mâu thuẫn

quan hệ giữa các cá thể có chung một môi trường sống khi cùng quan tâm tới mộtđối tượng nào đó Trong hoạt động kinh tế, cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủthể kinh tế (nhà sản xuất, người tiêu dùng) nhằm giành lấy những vị thế lợi hơntrong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa để thu được nhiều lợi ích nhất chomình Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những nhà sản xuất với nhau hoặc có thể xảy ragiữa người sản xuất với người tiêu dùng khi người sản xuất muốn bán hàng hóa vớigiá cao, người tiêu dùng lại muốn mua được với giá thấp Cạnh tranh mang lạinhiều lợi ích, đặc biệt cho người tiêu dùng Người sản xuất phải tìm mọi cách đểlàm ra sản phẩm có chất lượng hơn, đẹp hơn, có chi phí sản xuất rẻ hơn, có tỷ lệ trithức khoa học, công nghệ cao hơn để đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của khách hàng.Cạnh tranh làm cho người sản xuất năng động hơn, nhạy bén hơn, nắm bắt tốt hơnnhu cầu của khách hàng, thường xuyên cải tiến kỹ thuật, áp dụng những tiến bộ,những nghiên cứu mới nhất vào sản xuất; hoàn thiện cách thức tổ chức sản xuất,quản lý sản xuất để nâng cao năng xuất, chất lượng và hiệu quả kinh tế

Thuật ngữ “cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnhvực như kinh tế, thương mại, thể thao, …; cũng như thường xuyên được nhắc tớitrong sách báo chuyên môn, diễn đàn kinh tế, các phương tiện thông tin đại chúng

và thuật ngữ này được sự quan tâm của nhiều đối tượng khác nhau, từ nhiều góc độkhác nhau, dẫn đến có rất nhiều khái niệm khác nhau về cạnh tranh

Trang 11

Tiếp cận ở góc độ đơn giản thì cạnh tranh là hành động ganh đua, đấu tranhcác cá nhân, các nhóm, loài chống lại các cá nhân hay các nhóm, các loài khác vìmục đích giành được sự tồn tại, sống còn, giành được lợi nhuận, địa vị, sự kiêuhãnh, các phần thưởng hay những thứ khác Trong kinh tế chính trị học thì cạnhtranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóanhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùnghàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình Cạnh tranh có thể xảy ragiữa những người sản xuất với người tiêu dùng; giữa người tiêu dùng với nhau đểmua được hàng rẻ hơn; giữa những người sản xuất để có những điều kiện tốt hơntrong sản xuất và tiêu thụ.

Có quan điểm cho rằng, cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữacác nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụhàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch Paul Anthony Samuelson và WilliamNordhaus lại cho rằng, cạnh tranh là sự đối đầu giữa các doanh nghiệp cạnh tranhvới nhau để giành khách hàng hoặc thị phần Michael Porter thì cho rằng, cạnhtranh là giành lấy thị phần Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoảnlợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có, kết quả quátrình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cảithiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi

Từ các quan điểm trên, có thể hiểu rằng, cạnh tranh trong kinh tế thị trường

là sự đối đầu giữa các chủ thể tham gia thị trường để giành những điều kiện thuậnlợi nhất trong sản xuất, tiêu thụ, tiêu dùng hàng hóa nhằm thu lại nhiều lợi ích nhấtcho chính họ

Cạnh tranh của một doanh nghiệp, một ngành, một quốc gia là mức độ mà ở

đó trong các điều kiện về thị trường tự do và công bằng, có thể sản xuất ra các sảnphẩm hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường, đồng thời tạo raviệc làm và nâng cao được thu nhập thực tế

Một doanh nghiệp được xem là có sức cạnh tranh khi nó có thể thường xuyênđưa ra các sản phẩm thay thế, mà các sản phẩm này có mức giá thấp hơn so với các

Trang 12

sản phẩm cùng loại, hoặc bằng cách cung cấp các sản phẩm tương tự với các đặctính về chất lượng hay dịch vụ ngang bằng hay tốt hơn.

Lợi thế cạnh tranh

Lợi thế cạnh tranh là những gì làm cho doanh nghiệp nổi bật hay khác biệt sovới các đối thủ cạnh tranh Đó là những thế mạnh mà tổ chức có hoặc khai thác tốthơn những đối thủ cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh cũng chỉ là khái niệm tương đối khi

so sánh một doanh nghiệp với đối thủ và nhận thức cách khách hàng đánh giá vềdoanh nghiệp, khi tương lai thay đổi thì thang đo giá trị về lợi thế cạnh tranh cũng

sẽ thay đổi, ít, nhiều hoặc hoàn toàn

Lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp được thể hiện ở hai khía cạnh sau:

- Chi phí: Theo đuổi mục tiêu giảm chi phí đến mức thấp nhất có thể được.Doanh nghiệp nào có chi phí thấp thì doanh nghiệp đó có nhiều lợi thế hơn trong quátrình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Chi phí thấp mang lại cho doanh nghiệp tỷ

lệ lợi nhuận cao hơn mức bình quân trong ngành bất chấp sự hiện diện của các lựclượng cạnh tranh mạnh mẽ

- Sự khác biệt hóa: Là lợi thế cạnh tranh có được từ những khác biệt xoayquanh sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp bán ra thị trường Những khácbiệt này có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức, như: sự điển hình về thiết kế hay danhtiếng sản phẩm, công nghệ sản xuất, đặc tính sản phẩm, dịch vụ khách hàng, mạnglưới bán hàng

Các yếu tố góp phần tạo nên lợi thế cạnh tranh trong doanh nghiệp

Lợi thế cạnh tranh là một trong những thế mạnh mà doanh nghiệp có hoặc

có thể huy động để có thể cạnh tranh thắng lợi Để có thể tạo được lợi thế cạnh tranh,các doanh nghiệp cần nghiên cứu các yếu tố sau:

- Nguồn gốc sự khác biệt: So với đối thủ cạnh tranh, doanh nghiệp có gì vượttrội hơn về mặt giá cả sản phẩm, chất lượng sản phẩm hàng hóa, chất lượng sảnphẩm dịch vụ, mạng lưới phân phối

- Thế mạnh của doanh nghiệp về cơ sở vật chất, nhà xưởng, trang thiết bị kỹ thật

- Khả năng phát triển sản phẩm mới, đổi mới dây chuyền công nghệ, hệ thống

Trang 13

- Khả năng tiếp thị: Nhiều doanh nghiệp thành công nhờ vào việc cố gắng cungcấp nhiều giá trị hơn cho khách hàng, phát triển sản phẩm mới, nâng cao chất lượngdịch vụ, phục vụ và phân phối sản phẩm.

1.2.1.2 Cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh ngân hàng

Khái niệm và đặc trưng về cạnh tranh của NHTM Cạnh tranh của NHTM là

khả năng tạo ra và sử dụng có hiệu quả các lợi thế so sánh, để giành phần thắng trênthị trường trong việc thu hút khách hàng,mở rộng thị phần, xây dựng uy tín, thươnghiệu nhằm khẳng định vị trí của ngân hàng vượt lên khỏi các ngân hàng khác trongcùng lĩnh vực hoạt động ấy

Môi trường hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại (NHTM)

có sự cạnh tranh ngày càng gay gắt Do xuất phát từ những đặc thù của hoạt độngkinh doanh ngân hàng và những ảnh hưởng của hoạt động ngân hàng đối với nềnkinh tế, cạnh tranh của NHTM có những đặc trưng riêng

Một là, các NHTM vừa cạnh tranh gay gắt vừa hợp tác với nhau

Cũng như bất kỳ một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào, trong hoạt độngcủa mình, các ngân hàng luôn phải cạnh tranh gay gắt với nhau để mở rộng thịtrường và thu hút khách hàng nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.Tính chất gay gắttrong cạnh tranh ngân hàng xuất phát từ đặc thù của sản phẩm, dịch vụ ngân hàng là

có tính tương đồng cao và rất dễ bị bắt chước Mặt khác, trong cạnh tranh, các ngân

Trang 14

hàng không chỉ sử dụng các công cụ mang tính truyền thống như phí, lãi suất, cácdịch vụ ngân hàng, mà còn sử dụng công nghệ hiện đại để đa dạng hoá các sảnphẩm dịch vụ, đưa ra các kênh phân phối mới và nâng cao chất lượng các sảnphẩm,dịch vụ, tinh thần, thái độ phục vụ khách hàng Bên cạnh đó, do điều kiện vềvốn, mạng lưới, công nghệ có hạn trong khi nhu cầu, đòi hỏi về sản phẩm, dịch vụngân hàng ngày càng cao nên các ngân hàng cũng phải liên kết với nhau để cùngcung cấp một hay một số sản phẩm dịch vụ nhất định cho khách hàng Vì vậy, đểtránh đổ vỡ toàn hệ thống cũng như tiết kiệm chi phí, đảm bảo an toàn trong kinhdoanh, các NHTM một mặt cạnh tranh với nhau, một mặt lại hợp tác chặt chẽ vớinhau trong cung cấp các sản phẩm dịch vụ cho khách hàng.

Hai là, cạnh tranh ngân hàng luôn phải hướng tới một thị trường lành mạnh ,

tránh khả năng xảy ra rủi ro hệ thống: Các NHTM phải cạnh tranh lành mạnh thôngqua cung cấp các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng có chất lượng, đáp ứng ngày càng tốthơn nhu cầu của khách hàng.Ngân hàng là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, đi vay đểcho vay nên nếu các ngân hàng cạnh tranh không lạnh mạnh, hoặc cạnh tranh thôngqua việc tăng lãi suất huy động tiền gửi, giảm lãi suất cho vay hay giảm phí dịch vụ,nới lỏng các điều kiện tín dụng

Ngân hàng là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, đi vay để cho vay lại nếu cácngân hàng cạnh tranh không lành mạnh, hoặc cạnh tranh thông qua việc tăng lãisuất huy động tiền gửi, giảm lãi suất cho vay, phí dịch vụ, nới lỏng các điều kiện tíndụng sẽ làm cho nguồn thu của các ngân hàng giảm sút, nguy cơ tiềm ẩn rủi ro tíndụng tăng cao dẫn đến rủi ro hệ thống Vì vậy, mặc dù cạnh tranh với nhau tronghoạt động, các NHTM vẫn liên kết với nhau, có thể thoả thuận để giữ mặt bằng giá

cả phù hợp, đảm bảo lợi ích chung Rủi ro trong hoạt động ngân hàng có tính lây lanrất lớn Nếu một ngân hàng có nguy cơ phá sản, khách hàng đồng loạt đến rút tiềm,gây tâm lý hoang mang cho khách hàng gủi tiền tại các ngân hàng thương mại khác.Điều này dễ dẫn đến khả năng đổ vỡ theo hiệu ứng domino mang tính hệ thốngtrong đó tất cả các NHTM đều bị ảnh hưởng và tác động đến toàn bộ nền kinh tếquốc dân

Trang 15

Ba là, cạnh tranh ngân hàng phụ thuộc mạnh mẽ vào các yếu tố bên ngoài

ngân hàng như môi trường kinh doanh, doanh nghiệp, dân cư, tập quán dân tộc, hạtầng cơ sở…Cũng như bất kỳ doanh nghiệp nào,ngân hàng hoạt động và cạnh tranhvới nhau trong những môi trường và điều kiện kinh tế nhất định Hoạt động kinhdoanh trong lĩnh vực ngân hàng chịu sự chi phối của luật pháp, các sản phẩm dịch

vụ ngân hàng đưa ra nhằm đáp ứng nhu cầu của những đối tượng khách hàng cụthể Khách hàng của ngân hàng là các đơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần của nềnkinh tế Do vậy, hoạt động kinh doanh ngân hàng cũng như sự cạnh tranh giữa cácngân hàng luôn chịu sự tác động của môi trường bên ngoài ngân hàng.Với mỗi môitrường kinh doanh nhất định, điều kiện kinh tế nhất định, khu vực địa lý nhất định,ngân hàng cần có những chính sách phù hợp để đưa ra các sản phẩm, dịch vụ đápứng nhu cầu của khách hàng, thu hút khách hàng, giành ưu thế trong cạnh tranh

Bốn là, cạnh tranh ngân hàng nằm trong vùng ảnh hưởng thường xuyên

của thị trường tài chính quốc tế Cùng với quá trình mở cửa, hội nhập nền kinh tế,

sự giao thoa về kinh tế giữa các quốc gia ngày càng mạnh mẽ Các ngân hàng tăngcường hợp tác với các ngân hàng nước ngoài cũng như mở rộng hoạt động kinhdoanh của mình ra thị trường các nước trên thế giới Lộ trình hội nhập đòi hỏi cácNHTM trong nước phải tuân thủ các quy định quốc tế về hoạt động ngân hàng và sựtác động của phiaí đối tác.Mỗi sự thay đổi của tỷ giá, lãi suất của các loại ngoại tệliên quan, điều kiện kinh tế trên thế giới, chính sách tiền tệ của các nước… đều ảnhhưởng và tác động đến hoạt động kinh doanh của các NHTM trong nước Dovậy,trong cạnh tranh, các ngân hàng cũng phải có những chính sách thích hợp đểđối phó với những biến động của thị trường tài chính quốc tế

Các nhân tố tác động đến mức độ cạnh tranh của các NHTM.

Các nhân tố thuộc môi trường vi mô

- Các NHTM mới tham gia thị trường: Các NHTM mới tham gia thị trường

với những lợi thế quan trọng như: mở ra những tiềm năng mới, có động cơ và ướcvọng giành được thị phần, đã tham khảo kinh nghiệm từ những NHTM đang hoạt động,

có được những thống kê đầy đủ và dự báo về thị trường…Như vậy, bất kể thực lực của

Trang 16

NHTM mới là thế nào, thì các NHTM hiện tại đã thấy một mối đe dọa về khả năngthị phần bị chia sẻ; ngoài ra, các NHTM mới có những kế sách và sức mạnh mà cácNHTM hiện tại chưa thể có thông tin và chiến lược ứng phó.

- Các NHTM hiện tại: Đây là những mối lo thường trực của các NHTM trong

kinh doanh Đối thủ cạnh tranh ảnh hưởng đến chiến lược hoạt động kinh doanhcủa NHTM trong tương lai Ngoài ra, sự có mặt của các đối thủ cạnh tranh thúcđẩy ngân hàng phải thường xuyên quan tâm đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượngcác dịch vụ cung ứng để chiến thắng trong cạnh tranh

- Sức ép từ phía khách hàng Một trong những đặc điểm quan trọng của ngành

ngân hàng là tất cả các cá nhân, tổ chức kinh doanh sản xuất hay tiêu dùng, thậm chí làcác ngân hàng khác cũng đều có thể vừa là người mua các sản phẩm dịch vụ ngânhàng, vừa là người bán sản phẩm dịch vụ cho ngân hàng Những người bán sản phẩmthông qua các hình thức gửi tiền, lập tài khoản giao dịch hay cho vay đều có mongmuốn là nhận được một lãi suất cao hơn; trong khi đó những người mua sản phẩm (vayvốn) lại muốn mình chỉ phải trả một chi phí vay vốn nhỏ hơn thực tế Như vậy, ngânhàng sẽ phải đối mặt với sự mâu thuẫn giữa hoạt động tạo lợi nhuận có hiệu quả vàgiữ chân được khách hàng cũng như có được nguồn vốn thu hút rẻ nhất có thể

- Sự xuất hiện các dịch vụ mới Sự ra đời ồ ạt của các tổ chức tài chính trung

gian đe dọa lợi thế của các NHTM khi cung cấp các dịch vụ tài chính mới cũngnhư các dịch vụ truyền thống vốn vẫn do các NHTM đảm nhiệm Các trung giannày cung cấp cho khách hàng những sản phẩm mang tính khác biệt và tạo cho ngườimua sản phẩm có cơ hội chọn lựa đa dạng hơn, thị trường ngân hàng mở rộng hơn.Điều này tất yếu sẽ tác động làm giảm đi tốc độ phát triển của các NHTM, suy giảmthị phần Ngày nay, người ta cho rằng, khi các NHTM mạnh lên nhờ sự rèn luyệntrong cạnh tranh, thì hệ thống NHTM sẽ mạnh hơn và có sức đàn hồi tốt hơn sau các

cú sốc của nền kinh tế

Các nhân tố thuộc môi trường bên trong ngân hàng

Bên cạnh các nhân tố khách quan tác động đến năng lực cạnh tranh của các

Trang 17

NHTM, trên thực tế, nhóm các nhân tố thuộc về nội tại của hệ thống NHTM cũngảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của các ngân hàng này, chúng bao gồm:

- Năng lực điều hành của ban lãnh đạo ngân hàng

- Quy mô vốn và tình hình tài chính của NHTM

- Công nghệ cung ứng dịch vụ ngân hàng

- Chất lượng nguồn nhân lực

- Cấu trúc tổ chức

- Danh tiếng và uy tín của NHTM

- Bên cạnh đó, đặc điểm sản phẩm và đặc điểm khách hàng của NHTM cũng

là nhân tố chi phối đến khả năng cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh của NHTM

Cụ thể:

Đặc điểm sản phẩm: Cạnh tranh trong kinh doanh của NHTM bị chi phối bởi

các đặc điểm hoạt động kinh doanh của nó Sản phẩm chính sử dụng trong hoạtđộng kinh doanh của NHTM là tiền, đó là loại sản phẩm có tính xã hội và có tínhnhạy cảm cao, chỉ một biến động nhỏ (thay đổi lãi suất) cũng có ảnh hưởng to lớnđến hoạt động kinh doanh của các NHTM nói riêng và hoạt động của toàn xã hội nóichung Từ đặc điểm này dẫn đến cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng trở nên quyếtliệt Có nghĩa là, chính vì sản phẩm kinh doanh có tính nhạy cảm cao đã làm tăng tínhcạnh tranh trong hoạt động kinh doanh của NHTM

Đặc điểm khách hàng: Khách hàng của NHTM không phải là khách hàng luôn

“trung thành” mà rất dễ bị lôi kéo và thay đổi quan hệ giao dịch Mức độ trungthành của khách hàng phụ thuộc vào sự đối xử của NHTM với họ, mà cao nhất là lợiích trực tiếp thu được từ quan hệ giao dịch với ngân hàng Khách hàng có thể ngay lậptức thay đổi quan hệ với ngân hàng để tìm mối lợi lớn hơn nếu họ biết rằng mức lãi mà

họ nhận được cao (nếu là sản phẩm bán) và mức lãi suất thấp (nếu là sản phẩm mua)

so với ngân hàng họ quan hệ Vì khách hàng thường có thể vừa là người mua vừa làngười bán của nhiều sản phẩm dịch vụ cùng một lúc nên khi họ thay đổi quan hệ vớingân hàng có thể dẫn đến sự mất mát lớn hơn rất nhiều so với khách hàng của mộtdoanh nghiệp thông thường Các đặc điểm nêu trên được coi là các nhân tố về phía

Trang 18

NHTM tạo nên tính cạnh tranh cao của kinh doanh ngân hàng.

Các công cụ cạnh tranh trong kinh doanh của các NHTM

Cạnh tranh bằng giá Giá cả phản ánh giá trị của sản phẩm, giá cả có vai

trò quan trọng đối với quyết định của khách hàng Đối với các NHTM, giá cảchính là lãi suất và mức phí áp dụng cho các dịch vụ cung ứng cho các khách hàngcủa mình Trong việc xác định mức lãi suất và phí, các NHTM luôn phải đối mặtvới những mâu thuẫn: Nếu như NHTM quan tâm tới khả năng cạnh tranh để mởrộng thị phần, thì cần phải đưa ra các mức lãi suất và phí ưu đãi cho các kháchhàng của mình, tuy nhiên, điều này sẽ làm giảm thu nhập của NHTM, thậm chí cóthể khiến NH bị lỗ Nhưng nếu NHTM chỉ chú trọng đến thu nhập thì phải đưa ramức lãi suất và phí sao cho đáp ứng được mục tiêu tăng thu nhập, tuy nhiên, điềunày có thể dẫn đến NH sẽ bị mất dẫn KH, giảm thị phần trong kinh doanh, bởi suycho cùng thì NH luôn quan tâm tới mục tiêu tối thượng là tối đa hoá lợi nhuận, mà

để đạt được điều đó thì cần phải tiết giảm các chi phí đầu vào Điều này có nghĩa làcạnh tranh bằng giá cả đang trở thành một biện pháp nghèo nàn nhất, vì nó làmgiảm bớt lợi nhuận của các NHTM

Xuất phát từ mâu thuẫn trên, việc định giá theo đúng ngang giá trị thị trường

sẽ cho phép các NHTM giữ được khách hàng, duy trì và phát triển thị trường Trênthực tế, việc vận dụng nhân tố giá để cạnh tranh chỉ phù hợp khi xâm nhập thịtrường mới và để vận dụng tốt công cụ này, các NHTM thường đưa ra mức lãi suấtthấp hơn mức lãi suất của các đối thủ nhằm lôi kéo khách hàng và chiếm lĩnh thịtrường Lãi suất và phí là tín hiệu phản ánh tình hình biến động của thị trường, làthông số qua đó các NHTM có thể nắm bắt được khả năng thanh toán của KH cũngnhư khả năng cạnh tranh của các đối thủ trên thương trường

Do vậy, việc xác định lãi suất trên thị trường là quan trọng, song theo dõithông tin phản hồi từ khách hàng là rất cần thiết để NHTM đưa ra mức lãi suất vàphí có tính cạnh tranh Đôi khi lãi suất và phí mà các NHTM xác định chỉ thu đượclợi nhuận nhỏ, hoà vốn thậm chí chịu thua lỗ tạm thời để đạt được mục đích chiếmlĩnh thị trường

Trang 19

Cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ Trong nền kinh tế hiện đại ngày nay, khi

mà khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, sản phẩm ra đời ngày càng phong phú

đa dạng, tạo thuận lợi cho sự lựa chọn của người tiêu dùng và đặt nhà kinh doanh trướccác áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt.Vì thế, việc nâng cao chất lượng sản phẩmhàm ý phải thỏa mãn cao nhất những yêu cầu đòi hỏi từ phía khách hàng

Theo quan niệm của khách hàng, một sản phẩm ngân hàng có chất lượng phảiđáp ứng được tốt nhất, nhiều nhất nhu cầu mong muốn của khách hàng, đem lại chokhách hàng một tập hợp tiện ích và lợi ích Do vậy, khi đánh giá một sản phẩm ngânhàng có chất lượng, khách hàng thường dựa vào các tiêu chí sau:

- Mức độ tham gia của khách hàng vào quá trình cung ứng sản phẩm dịch

1.2.2 Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại.

1.2.2.1 Quan niệm về năng lực cạnh tranh

Điểm lại lý thuyết cạnh tranh và năng lực cạnh tranh trong lịch sử có thể thấyhai trường phái tiêu biểu: Trường phái cổ điển và trường phái hiện đại Trường phái

cổ điển với các đại biểu tiêu biểu như A.Smith, John Stuart Mill, Darwin và K.Mác

đã có những đóng góp nhất định trong lý thuyết cạnh tranh sau này Trường pháihiện đại với hệ thống lý thuyết đồ sộ với 3 quan điểm tiếp cận: Tiếp cận theo tổchức ngành với đại diện là trường phái Chicago và Harvard; Tiếp cận tâm lý với đại

Trang 20

diện là Meuger, Mises, Chumpeter, Hayek thuộc trường phái Viên; Tiếp cận “cạnhtranh hoàn hảo” phát triển lý thuyết của Tân cổ điển.

Hiện nay, còn nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh trên cáccấp độ: quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm Và hiện chưa có một lý thuyết nàohoàn toàn có tính thuyết phục về vấn đề này, do đó không có lý thuyết “chuẩn” vềnăng lực cạnh tranh Tuy nhiên hai hệ thống lý thuyết với hai phương pháp đánh giáđược các quốc gia và các thiết chế kinh tế quốc tế sử dụng nhiều nhất: Phương phápthứ nhất do Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) thiết lập trong bản Báo cáo cạnh tranhtoàn cầu; Phương pháp thứ hai do Viện Quốc tế về quản lý và phát triển (IMD) đềxuất trong cuốn Niên giám cạnh tranh thế giới Cả hai phương pháp trên đều do một

số Giáo sư đại học Harvard như Michael Porter, Jeffrey Shach và một số chuyên giacủa WEF như Cornelius, Mache Levison tham gia xây dựng

Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện các cam kết quốc tế ViệtNam từng bước mở cửa dịch vụ ngân hàng, nhằm hướng đến xây dựng hệ thốngngân hàng cạnh tranh bình đẳng trên bình diện quốc tế theo khuôn khổ pháp lý phùhợp và thống nhất Hơn bao giờ hết sự cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ngàycàng trở nên gay gắt, thách thức đối với các NHTMVN càng gia tăng khi Chính phủViệt Nam tháo dỡ rào cản đối với các ngân hàng thương mại nước ngoài(NHTMNNg) và tiến đến xóa bỏ những bảo hộ của Nhà nước đối với ngân hàngtrong nước Vì vậy đánh giá chính xác năng lực và vị thế cạnh tranh của NHTMVNtrong điều kiện hiện nay là yêu cầu cần thiết

Năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng ngân hàng đó tạo ra, duy trì vàphát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần; đạt được mức lợi nhuậncao hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng, đồng thời đảm bảo hoạt động

an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợicủa môi trường kinh doanh

Trong cạnh tranh những lợi thế NHTM đang có có thể thay đổi khi các đốithủ không ngừng nỗ lực đổi mới, cải tiến để giành lợi thế cạnh tranh về phía mình

Trang 21

Do vậy năng lực cạnh tranh của NHTM là một khái niệm động, bao gồm cả việcngân hàng phải liên tục duy trì và phát triển năng lực cạnh tranh.

Nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM là nâng cao sức mạnh và lợi thếcủa ngân hàng so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏicủa khách hàng để thu lợi ngày càng cao

Nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM nhằm mục đích tạo ra các dịch vụngân hàng đa năng với giá cả cạnh tranh để thu hút khách hàng, chiếm lĩnh thịtrường nhưng vẫn đảm bảo an toàn kinh doanh và đạt tỷ suất lợi nhuận cao Đây làviệc làm thường xuyên của các NHTM để giành thế chủ động trong cạnh tranh,được coi là điều kiện sống còn của các ngân hàng trong bối cảnh cạnh tranh ngàycàng gay gắt của ngành ngân hàng hiện nay

1.2.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM

Hội nhập quốc tế là động lực thúc đẩy cải cách, buộc các ngân hàng trongnước phải hoạt động theo nguyên tắc thị trường, khắc phục những nhược điểm còntồn tại, phát huy những điểm mạnh vốn có trên cơ sở tập trung đầu tư vào tri thức

và công nghệ Trong quá trình hội nhập và mở cửa thị trường tài chính trong nước,khuôn khổ pháp lý sẽ hoàn thiện và phù hợp dần với thông lệ quốc tế, dẫn đến sựhình thành môi trường kinh doanh bình đẳng và từng bước phân chia lại thị phầngiữa các nhóm ngân hàng Vì vậy, muốn tồn tại và đững vững trong cạnh tranh thìcác NHTM cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình

Hơn nữa, trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, khi mà các cam kết quốc tế bắtbuộc phải được thực hiện, chúng ta phải chấp nhận mở cửa hơn nữa thị trường tàichính, dịch vụ ngân hàng và Nhà nước có trách nhiệm tạo một sân chơi bình đẳngkhông bảo hộ.Một điều tất yếu, lúc đó các ngân hàng nước ngoài, các tổ chức tíndụng dưới nhiều hình thức khác nhau sẽ có cơ hội xâm nhập thị trường trong nước

Và như vậy buộc các NHTM nội địa phải nâng cao năng lực cạnh tranh để tồn tại vàphát triển

Nền kinh tế của chúng ta với xuất phát điểm thấp lại trong thời gian dàiđược quản lý theo cơ chế quản lý hành chính bao cấp, điều này làm giảm khả năng

Trang 22

cạnh tranh, tính năng động của nền kinh tế Khi đất nước bước vào thời kỳ hộinhập chúng ta phải đối mặt với những đối thủ cạnh tranh mạnh hơn chúng ta vềtiềm lực tài chính, về kinh nghiệm kinh doanh và rất nhiều những lợi điểm khác.

Để không bị thua ngay trên “sân nhà” buộc chúng ta phải tìm mọi biện pháp đểnâng cao năng lực cạnh tranh của mình.Ngoài ra, khủng hoảng kinh tế đã và đangtác động tới mọi lĩnh vực ngành nghề buộc các định chế tài chính nói chung và cácNgân hàng thương mại nói riêng phải thay đổi tư duy để vận hành và cung cấp sảnphẩm, dịch vụ một cách hiệu quả hơn Trong bối cảnh đó, các ngân hàng trongnước đã phải tìm đến sự trợ giúp của công nghệ thông tin để đổi mới chính mình,tạo điều kiện cho các ngân hàng phát triển bền vững hơn nhờ việc đa dạng hóa cácdịch vụ, tối đa hóa lợi ích, xây dựng lợi thế cạnh tranh riêng biệt

Trong nền kinh tế hàng hoá hiện nay, việc có nhiều nhà cung cấp cùng cungứng một loại sản phẩm trên thị trường là điều dễ thấy Bên cạnh đó nhu cầu củakhách hàng là luôn thay đổi Do đó đòi hỏi có nhiều sản phẩm được sản xuất ra đểđáp ứng cùng một nhu cầu Làm thế nào để đánh bại được các đối thủ, thu hút vàgiữ chân khách hàng nhằm bán được hàng và kiếm được lợi nhuận Vì vậy, nângcao năng lực cạnh tranh, tạo một ưu thế nổi trội sovới các đối thủ là một nhiệm vụsống còn của các nhà cung cấp.Sự cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ tài chính đangngày càng trở lên quyết liệt khi ngân hàng và các đối thủ cạnh tranh mở rộng danhmục dịch vụ Lúc này, ngân hàng không chỉ cạnh tranh với các đối thủ trực tiếp làcác NHTM khác mà còn là các định chế tài chính đang không ngừng phát triểnkhác như: hiệp hội tín dụng, các công ty chứng khoán, các công ty tài chính, công

ty bảo hiểm…Áp lực cạnh tranh đóng vai trò như một lực đẩy tạo ra sự phát triểncủa ngân hàng

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và ứng dụng công nghệ trong việccung cấp dịch vụ ngân hàng làm cho cạnh tranh của các NHTMVN trở nên không

có giới hạn về không gian và thời gian đã buộc các NHTM phải chú trọng và củng

cố những lợi thế cạnh tranh của mình để duy trì được thị phần

Trang 23

1.2.2.3 Các tiêu thức đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM

Năng lực cạnh tranh được đánh giá dựa trên các yếu tố định tính và định lượng

Các chỉ tiêu định tính.

 Uy tín và thương hiệu của NHTM: Uy tín và thương hiệu của ngân

hàng là những dấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sảnphẩm dịch vụ nào đó được cung cấp bởi một NHTM Thương hiệu là một loại tàisản của NHTM, thường được cấu thành từ một cái tên, hay các chữ, các cụm từ,một logo, một biểu tượng, một hình ảnh hay sự kết hợp của các yếu tố trên Uytín và thương hiệu được thể hiện số năm hoạt động và chất lượng dịch vụ màmột NHTM cung cấp cho khách hàng Một ngân hàng thương mại được gọi là

có thương hiệu khi được nhiều khách hàng thừa nhận và đánh giá cao vềchất lượng dịch vụ

 Năng lực công nghệ : Công nghệ ngân hàng bao gồm những công nghệ

mang tính tác nghiệp như hệ thống thanh toán điện tử, hệ thống ngân hàng bán lẻ, máyrút tiền tự động và các hệ thống thông tin quản lý MIS, hệ thống cảnh báo rủi ro Các

hệ thống này có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàngcũng như khả năng quản lý, quản trị hoạt động của nhà quản lý ngân hàng Theo tínhtoán và kinh nghiệm của các ngân hàng nước ngoài, công nghệ thông tin có thể làmgiảm 76% chi phí hoạt động ngân hàng Do đó công nghệ là nhân tố quan trọng phảnánh năng lực cạnh tranh của NHTM, thể hiện qua các mặt sau:

Khả năng trang bị công nghệ mới: Với tốc độ phát triển nhanh của công

nghệ ngân hàng, sự bùng nổ thông tin, và mức độ thay đổi thường xuyên nhu cầudịch vụ ngân hàng trong nền kinh tế, công nghệ hiện tại không đủ khả năng cungcấp thông tin, công cụ phục vụ công tác quản lý, điều hành và phát triển dịch vụ sẽlàm mất đi cơ hội kinh doanh của ngân hàng Vì thế, năng lực công nghệ phải baogồm khả năng đổi mới các công nghệ hiện tại về mặt kỹ thuật, kinh tế và trang bịcông nghệ mới, hiện đại, thể hiện ở mức đầu tư về vốn, nhân lực cho phát triểncông nghệ, các kế hoạch chiến lược trong việc tập trung nguồn lực phát triển côngnghệ mới

Trang 24

Mức độ đáp ứng của công nghệ ngân hàng đối với nhu cầu của khách hàng và nhu cầu quản lý của ngân hàng: Thể hiện ở số và chất lượng các công

cụ, các báo cáo, các thông tin mà công nghệ thực hiện phục vụ cho công tác quảntrị, quản lý cho ngân hàng Và số, chất lượng các dịch vụ được tạo ra từ hệ thốngcông nghệ hiện tại của ngân hàng có thể đáp ứng nhu cầu về dịch vụ ngân hàng củakhách hàng Ngân hàng sở hữu một cơ sở công nghệ tốt và biết phát huy tối đachức năng của công nghệ đó khả năng cạnh tranh sẽ được tăng cường mạnh mẽ

Tính liên kết và độc đáo của công nghệ: Do đặc tính phải đổi mới, chi phí

đổi mới rất cao và ảnh hưởng của công nghệ rất lớn đến hoạt động kinh doanh nênkhông NHTM nào có thể ngay lập tức thay thế toàn bộ công nghệ cũ bằng côngnghệ mới Điều này đòi hỏi công nghệ cũ và mới phải có tính liên kết cao để giảm thiểuchi phí và rủi ro trong quá trình cải tiến, đổi mới mà vẫn phát huy được tính năng củacông nghệ mới Ngoài ra các ngân hàng cần đầu tư phát triển, trang bị những công nghệđộc đáo nhằm tạo sự khác biệt cho sản phẩm dịch vụ để thu hút khách hàng.Trong lĩnhvực ngân hàng, công nghệ đang ngày càng đóng vai trò như là một trong những nguồnlực tạo ra lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất của mỗi ngân hàng

 Nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực là nguồn lực không thể thiếu của bất

kỳ doanh nghiệp cũng như ngân hàng nào.Năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lựccủa một doanh nghiệp nói chung thể hiện ở những yếu tố nhứ: trình độ chuyên mônđào tạo, trình độ thành thạo nghiệp vụ và kỹ năng tác nghiệp, động cơ phấn đấu,mức độ cam kết gắn bó với doanh nghiệp Nhân sự của một ngân hàng là yếu tốmang tính kết nối các nguồn lực của ngân hàng, đồng thời cũng là cái gốc củamọi cải tiến hay đổi mới Trình độ hay kỹ năng của người lao động lànhững chỉ tiêu quan trọng thể hiện chất lượng của nguồn nhân lực Động cơphấn đấu và mức độ cam kết gắn bó cũng là những chỉ tiêu quan trọng phản ánhmột ngân hàng có lợi thế cạnh tranh từ nguồn nhân lực của mình hay không

Ngân hàng là một ngành đòi hỏi người lao động phải có kinh nghiệm

và trình độ cao được tích luỹ theo thời gian Rõ ràng, nếu một ngân hàng có tốc độluân chuyển nhân viên cao sẽ không phải là một ngân hàng có lợi thế về

Trang 25

nguồn nhân lực Quá trình tuyển dụng và đào tạo một chuyên viên ngân hàngthường rất tốn kém cả về thời gian và công sức Hiệu quả của các chính sáchnhân sự, đặc biệt là chính sách tuyển dụng, cơ chế thù lao là một chỉ tiêu quantrọng để đánh giá khả năng duy trì một đội ngũ nhân sự chất lượng cao của mộtngân hàng.

Năng lực quản trị, điều hành và cơ cấu tổ chức:

+ Cơ cấu tổ chức: Mô hình tổ chức phụ thuộc rất lớn vào quy mô và chứcnăng hoạt động của ngân hàng, phản ánh cơ chế phân bổ các nguồn lực phù hợp vớiquy mô, trình độ quản lý của ngân hàng, phù hợp với đặc trưng cạnh tranh và yêucầu của thị trường Sự phù hợp thể hiện ở sự phân chia phù hợp nhiệm vụ và quyềnhạn của các phòng ban chức năng, các bộ phận quản lý và tác nghiệp, các đơn vịtrực thuộc, vừa có tính liên kết, hỗ trợ và mức độ phối hợp giữa các bộ phận nàytrong việc triển khai chiến lược kinh doanh, các hoạt động nghiệp vụ hàng ngày vàkhả năng thích nghi và thay đổi của cơ cấu trước những biến động Cơ cấu tổ chức

có khả năng phát huy năng lực của đội ngũ cán bộ nhân viên cao sẽ giúp ngân hàngthực hiện hiệu quả các công việc và tiết kiệm chi phí hoạt động

+ Cơ chế vận hành: Cơ chế vận hành của ngân hàng thể hiện ở cơ chế quản

lý, quy chế tổ chức, điều hành hoạt động kinh doanh của ngân hàng, bao gồm hệthống các quy chế, quy trình nghiệp vụ của ngân hàng Cơ chế vận hành tốt sẽ pháthuy sức mạnh tổng hợp của ngân hàng Hệ thống các quy trình nghiệp vụ đầy đủ,thống nhất là cơ sở để nâng cao chất lượng các dịch vụ ngân hàng

+ Năng lực của bộ máy lãnh đạo, cán bộ và nhân viên: Bộ máy lãnh đạo, cán

bộ và nhân viên là nhân tố kết nối các nguồn lực của ngân hàng, năng lực của họ thểhiện ở các yếu tố: trình độ đào tạo, số năm kinh nghiệm, khả năng tự học tập, mứcthành thạo nghiệp vụ, động cơ phấn đấu, mức độ cam kết, tác phong làm việc

Bộ máy lãnh đạo đề ra phương hướng hoạt động, quản trị, kiểm soát và điềuhành toàn bộ hoạt động của ngân hàng do đó hiệu quả hoạt động kinh doanh vàtriển vọng phát triển của NHTM phụ thuộc chủ yếu vào năng lực của bộ máy lãnhđạo Trong điều kiện cạnh tranh, năng lực của bộ máy lãnh đạo càng được coi trọng

Trang 26

hơn do cơ hội của các NHTM là như nhau, sự phát triển của ngân hàng sẽ phụ thuộcnhiều hơn vào tầm nhìn và khả năng nắm bắt cơ hội, đề ra chiến lược phù hợp củaban lãnh đạo Ngoài chỉ tiêu về trình độ, năng lực của bộ máy lãnh đạo còn thể hiệnqua các yếu tố: mức độ chi phối và khả năng giám sát của hội đồng quản trị; chấtlượng và hiệu lực thực hiện của các chiến lược kinh doanh; khả năng ứng phó vớinhững thay đổi của thị trường; sự tăng trưởng trong kết quả hoạt động kinh doanh

Cán bộ, nhân viên ngân hàng là những người trực tiếp thực hiện các nghiệp

vụ ngân hàng, cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng, thực hiện chiếnlược, định hướng của ban lãnh đạo ngân hàng Vì vậy năng lực của đội ngũ cán bộ,nhân viên còn được phản ánh ở khả năng ứng phó xử lý các tình huống nhanh, đạođức và thái độ phục vụ, tác phong chuyên nghiệp, mức độ thành thạo nghiệp vụ

 Hệ thống kênh phân phối và mức độ đa dạng hóa các dịch vụ cung cấp: Hệ thống kênh phân phối luôn là một yếu tố quan trọng trong hoạt động của

các ngân hàng thương mại Hệ thống kênh phân phối của ngân hàng thương mạiđược thể hiện ở số lượng các chi nhánh và các đơn vị trực thuộc khác (như sở giaodịch) và sự phân bổ các chi nhánh theo địa lý lãnh thổ Việc triển khai các côngnghệ ngân hàng hiện đại đang làm rút ngắn khoảng cách về không gian và làm giảmtác động của một mạng lưới chi nhánh rộng khắp đối với năng lực cạnh tranh củamột ngân hàng Tuy nhiên, vai trò của một mạng lưới chi nhánh rộng lớn vẫn rất có

ý nghĩa, đặc biệt là trong điều kiện các dịch vụ truyền thống của ngân hàng vẫn cònphát triển Hiệu quả của mạng lưới chi nhánh rộng cũng là một chỉ tiêu quan trọng,thể hiện thông qua tính hợp lý trong phân bố chi nhánh ở các vùng, miền cũng nhưvấn đề quản lý, giám sát hoạt động của các chi nhánh Mức độ đa dạng hoá các dịch

vụ cung cấp cũng là một chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh của một ngân hàng.Một ngân hàng có nhiều loại hình dịchvụ cung cấp phù hợp với nhu cầu thị trường

và năng lực quản lý của ngân hàng sẽ là một ngân hàng có lợi thế cạnh tranh Sự đadạng hoá các dịch vụ một mặt tạo cho ngân hàng phát triển ổn định hơn, mặt kháccho phép ngân hàng phát huy lợi thế nhờ quy mô.Tất nhiên, sự đa dạng hoá các dịch

vụ cần phải được thực hiện trong tương quan so với các nguồn lực hiện có của ngân

Trang 27

hàng Nếu không,việc triển khai quá nhiều dịch vụ có thể khiến ngân hàng kinhdoanh không hiệu quả do dàn trải quá mức các nguồn lực.

Các chỉ tiêu định lượng

 Năng lực tài chính: Năng lực tài chính của một NHTM là khả năng tạo

lập nguồn vốn và sử dụng vốn phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh củangân hàng Đây là thước đo sức mạnh của NHTM tại một thời điểm nhất định, đồngthời phản ánh tiềm năng, triển vọng phát triển trong tương lai của ngân hàng, gồmcác chỉ tiêu sau:

Quy mô vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu của NHTM bao gồm vốn điều lệ,

các quỹ dự trữ bổ sung và các tài sản khác Quy mô vốn chủ sở hữu có thể thay đổi

trong quá trình hoạt động của NHTM

Hoạt động ngân hàng gặp rất nhiều rủi ro do chịu tác động lớn từ môi trườngkinh tế và đối tượng khách hàng đa dạng, vốn chủ sở hữu là nguồn tài chính quantrọng hàng đầu để chống đỡ các rủi ro Đây là nguồn vốn quan trọng dùng để đánhgiá năng lực tài chính của ngân hàng vì nó cung cấp tài chính cho các hoạt độngkinh doanh của NHTM, quyết định sức mạnh và khả năng cạnh tranh của ngânhàng trong tất cả các hoạt động

Đối với hoạt động huy động vốn: vốn tự có lớn tạo niềm tin cho khách hàng

do có chức năng bảo vệ người gửi tiền nên được khách hàng lấy làm căn cứ khi lựachọn ngân hàng để gửi tiền, chỉ tiêu này càng lớn càng thu hút khách hàng gửi tiền

Đối với hoạt động cho vay và đầu tư: Quy mô vốn cho vay và đầu tư bị giớihạn bởi các tỷ lệ về giới hạn tín dụng trong mối tương quan với vốn tự có, do đóvốn tự có càng lớn, càng tăng khả năng cho vay của ngân hàng đối với nhiều đốituợng khách hàng và nhiều khách hàng lớn, đồng thời nó là cơ sở để khách hàng tintưởng vào năng lực cho vay và giải ngân của ngân hàng Ngân hàng còn có thể đạtmức lãi suất cho vay hợp lý, cạnh tranh nhờ vào lợi thế quy mô

Đối với hoạt động cung cấp dịch vụ thanh toán và các dịch vụ ngân hàngkhác: vốn chủ sở hữu là nguồn đầu tư công nghệ, trang thiết bị máy móc để phát

Trang 28

triển dịch vụ mới và tăng năng suất, tính nhanh chóng, hiệu quả, an toàn tiện chocác dịch vụ ngân hang hiện tại tăng cường tính cạnh tranh của ngân hàng.

Mặt khác, vốn chủ sở hữu quyết định việc mở rộng quy mô, phạm vi hoạtđộng của ngân hàng Vốn tự có còn được dùng xác định quy mô huy động vốn, các

tỷ lệ giới hạn tín dụng đối với khách hàng, các tỷ lệ về an toàn hoạt động để làmcăn cứ quản lý và kiểm soát hoạt động của các NHTM Ở Việt Nam, các tỷ lệ nàyđược quy định trong luật ngân hàng sẽ được đề cập trong những phần sau Trong

xu thế hội nhập, nâng cao tính cạnh tranh của vốn tự có là yêu cầu khách quan đốivới mỗi NHTM để đáp ứng các chuẩn mực quốc tế trong hoạt động ngân hàng và

mở rộng hoạt động ra thị trường tài chính quốc tế

Mức độ an toàn vốn Theo quy định của Basel 1, một tổ chức tài chính được

gọi là đủ vốn khi hệ số đủ vốn (Capital Adequacy Ratio – CAR) đạt tối thiểu8% giữa vốn tự có so với tổng tài sản “Có” rủi ro chuyển đổi (RWA)

Theo đó, ngân hàng có mức vốn tốt là ngân hàng có CAR > 10%, có mứcvốn thích hợp khi CAR > 8%, thiếu vốn khi CAR < 8%, thiếu vốn rõ rệt khi CAR

< 6% và thiếu vốn trầm trọng khi CAR < 2%

Chất lượng tài sản có Tài sản của ngân hàng được thể hiện ở bên trái của

bảng cân đối kế toán, trong đó phần lớn tài sản tập trung ở khoản mục cho vay

và đầu tư Đây là phần tài sản mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng,đồng thời là tài sản có tính rủi ro cao nhất Vì vậy, đánh giá chất lượng tài sảnchủ yếu tập trung vào chất lượng của loại tài sản cơ bản hình thành nên tài sản cócủa ngân hàng thương mại đó chính là chất lượng hoạt động tín dụng, thể hiệnqua các chỉ tiêu sau:

Trang 29

“Nợ quá hạn” là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi

đã quá hạn.Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao chứng tỏ chất lượng tín dụng của ngânhàng đó kém

“Nợ xấu” (NPL) là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 quy định tại

Điều 6 hoặc Điều 7 Quyết định 493

Hai chỉ tiêu nợ quá hạn và nợ xấu phản ánh chất lượng của hoạt động tíndụng của một ngân hàng thương mại Điều này cho thấy một ngân hàng cóchính sách tín dụng hợp lý, quy trình cấp tín dụng và kiểm soát tín dụng củangân hàng có hiệu quả hay không

Ngoài ra, chỉ tiêu mức độ tập trung tín dụng cũng cho biết mức độ tậptrung cho vay của ngân hàng đối với một ngành kinh tế Tỷ trọng dư nợ cho vaytừng ngành tăng cao đồng nghĩa với việc khi có biến động xã hội lớn đối vớingành kinh tế này thì sẽ làm giảm chất lượng tài sản của ngân hàng đó

Năng lực hoạt động Thị phần phán ánh quy mô hoạt động của NHTM

trên thị trường và cũng là yếu tố thể hiện năng lực cạnh tranh của một NHTM.Thị phần của mỗi NHTM trên thị trường được phán ánh qua số lượng kháchhàng, khả năng huy động vốn, qui mô dư nợ,…

Khả năng huy động vốn: Hoạt động huy động vốn cung cấp nguồn vốn chủ

yếu cho các hoạt động sinh lời của ngân hàng NHTM có khả năng huy động vốntốt có nhiều cơ hội để mở rộng quy mô kinh doanh, tăng lợi nhuận…do đó phán ánhnăng lực hoạt động, uy tín và khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường

Các chỉ tiêu phán ảnh khả năng huy động vốn của NHTM:

- Quy mô, thị phần và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động;

- Triển vọng phát triển các nhóm nguồn vốn huy động trong tương lai

Trang 30

Các chỉ tiêu trên càng cao chứng tỏ năng lực cạnh tranh của ngân hàng vềviệc huy động vốn tốt và ngân hàng có tiềm năng phát triển mở rộng qui mô hoạtđộng huy động vốn.

Khả năng cho vay và đầu tư: Phán ánh năng lực sử dụng vốn của ngân hàng,

thể hiện qua các chỉ tiêu sau:

- Quy mô dư nợ tín dụng

- Tốc độ tăng trưởng hoạt động tín dụng, đầu tư:

Đây là các chỉ tiêu tuyệt đối và tương đối phán ánh mức độ mở rộng hay thuhẹp tín dụng Quy mô và thị phần lớn hơn so với các kỳ trước, tốc độ tăng trưởngtín dụng, đầu tư cao, đồng nghĩa với việc khả năng cho vay và đầu tư càng được mởrộng.Việc tìm kiếm, khai thác và lựa chọn được nhiều khách hàng, lĩnh vực tốt đểcho vay và đầu tư sẽ giúp hạn chế rủi ro, hơn nữa mang lại thu nhập lớn, tăng cườngkhả năng cạnh tranh cho ngân hàng

Hiệu quả hoạt động kinh doanh

Hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng có thể được đánh giáthông qua những chỉ tiêu cụ thể như: giá trị tuyệt đối của lợi nhuận sau thuế, tốc

độ tăng trưởng lợi nhuận, cơ cấu của lợi nhuận (cho biết lợi nhuận được hìnhthành từ nguồn nào, từ hoạt động kinh doanh thông thường hay từ các khoản thunhập bất thường), tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản có (ROA), tỷ suất lợi nhuậntrên vốn chủ sở hữu (ROE) và tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM)

Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA): Chỉ tiêu này phản ánh

tính hiệu quả của việc sử dụng tài sản của ngân hàng, cho biết bình quân một đơn vịtài sản được sử dụng vào hoạt động kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêu đơn vị lợinhuận ròng

Các ngân hàng thường sử dụng ROA để đo lường mối quan hệ sinh lời củatài sản và nguồn vốn bởi vì một bộ phận nguồn vốn được sử dụng tạo nên tài sản

Trang 31

không sinh lời và có một bộ phận tài sản sinh lời lại tham gia tạo nên thu nhập chongân hàng Do vậy, nếu ROA lớn chúng tỏ hiệu quả kinh doanh của ngân hàngthương mại tốt, cơ cấu tài sản hợp lý.Tuy nhiên, nếu ROA quá lớn sẽ làm cho cácnhà quản trị lo lắng vì rủi ro nhìn chung luôn đi song hành với lợi nhuận.

Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE): ROE là chỉ tiêu

được các ngân hàng quan tâm đến nhiều nhất, cho thấy khả năng sinh lời từ mộtđồng vốn của chủ, số lợi nhuận ròng mà một cổ đông có được

Do vậy, các ngân hàng luôn cố gắng tăng chỉ tiêu ROE để tăng tínhhấp dẫn đối với các cổ đông bằng phương pháp như: kiểm soát chi tiêu, đầu tư,quản lý rủi ro có hiệu quả… Tuy nhiên, việc tăng ROE quá cao so với ROA chứng

tỏ nguồn vốn tự có của ngân hàng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn

và do vậy ảnh hưởng đến mức độ lành mạnh trong hoạt động của ngân hàngthương mại

Tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM): là chỉ tiêu phản ánh trung bình một đơn vị

tài sản có sinh lời sẽ tạo ra bao nhiêu đơn vị lãi thuần (chênh lệch giữa thu nhập lãi

và chi phí lãi)

Đây là chỉ tiêu đo lường thu nhập lãi ròng trên một đồng tổng tài sản sinhlời, phản ánh năng lực của hội đồng quản trị, ban lãnh đạo và cán bộ, nhân viênngân hàng trong việc duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu từ lãi so với mứctăng chi phí lãi Do đó được các NHTM quan tâm theo dõi để dự báo khả năng lãithông qua việc kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và việc tìm kiếm những nguồnvốn có chi phí thấp Nếu ngân hàng không có chiến lược điều chỉnh cơ cấu thunhập thì khi mức độ canh tranh của các ngân hàng càng cao sẽ dẫn đến việc làmcho tỷ lệ thu nhập lãi thuần có xu hướng giảm

Trang 32

Các chỉ tiêu về khả năng sinh lời phán ánh năng lực cạnh tranh của NHTM vì

có năng lực cạnh tranh tốt ngân hàng mới giành được thắng lợi, tạo ra mức sinh lờicao Mặt khác NHTM có mức sinh lời cao có điều kiện tăng quy mô lợi nhuận giữlại, làm gia tăng vốn tự có để mở rộng mạng lưới giao dịch, nâng cấp công nghệ,phát triển các hoạt động để duy trì và tăng cường khả năng thu hút khách hàng gửitiền vào ngân hàng, tạo ra lợi thế cạnh tranh cho ngân hàng

Khả năng đảm bảo an toàn thanh khoản.

Khả năng thanh khoản: là khả năng của ngân hàng trong việc đáp ứng nhu

cầu thanh toán tiền của khách hàng, được tạo lập bởi tính thanh khoản của tài sản vàtính thanh khoản của nguồn vốn Khả năng thanh khoản của ngân hàng được thểhiện thông qua các chỉ tiêu như:

Khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại là việc ngân hàng cókhả năng tính toán và duy trì một lượng tiền mặt và các tài sản có tính thanh khoản

đủ để đáp ứng nhu cầu rút tiền của người gửi tiền cũng như những tài sản nợ đếnhạn phải trả khác.Việc quản lý rủi ro thanh khoản đối với ngân hàng thương mại làrất quan trọng.Sự thiếu hụt thanh khoản của một ngân hàng có thể có dẫnđến ngân hàng chỉ đang từ chỗ phải đối phó với rủi ro thanh khoản đến chỗphải đối mặt với rủi ro phá sản và có những tác động nghiêm trọng đến toàn

hệ thống ngân hàng

Tỷ lệ dự trữ sơ cấp trong tổng tài sản Dự trữ sơ cấp của ngân hàng thương

mại gồm tiền mặt, các khoản coi như tiền mặt và các khoản tiền gửi, đây là các tàisản có tính thanh khoản cao nhất, do đó tỷ lệ này càng cao khả năng thanh khoảncủa ngân hàng càng tốt

Tỷ lệ cho vay/Tiền gửi của khách hàng: Hệ số này được duy trì ổn định,

không vượt quá 1 là dấu hiệu cho thấy khả năng thanh khoản của ngân hàng luônđược duy trì Tuy nhiên, duy trì cụ thể ở mức nào còn phụ thuộc vào khả năng quản

lý, quản trị rủi ro và khả năng huy động của từng ngân hàng

Trang 33

Để duy trì an toàn thanh khoản ngân hàng cần phải duy trì các tỷ lệ về thanhkhoản ở mức phù hợp, tuy nhiên việc duy trì mức thanh khoản thế nào cần phảitính đến sự hợp lý giữa việc đáp ứng cầu thanh khoản và việc sử dụng nguồn vốnmột cách tốt nhất vì tính thanh khoản liên quan trực tiếp đến tính sinh lời củaNHTM Điều này đòi hỏi mỗi ngân hàng phải có chiến lược quản trị, quản lý thanhkhoản hợp lý trong từng thời kỳ kinh doanh.

Năng suất lao động của CBNV Năng suất lao động của CBNV phán ảnh

hiệu quả sử dụng lao động của mỗi NHTM và cũng là một yếu tố thể hiện năng lựccạnh tranh của NHTM Năng suất lao động được thể hiện qua các chỉ tiêu như:

- Tổng tài sản bình quân/người,

- Dư nợ bình quân/người

- Lợi nhuận bình quân/người

1.2.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của NHTM

Hoạt động của các ngân hàng thương mại thịu tác động của nhiều nhân tố, chínhnhững nhân tố này đã ảnh hường một cạc trực tiếp hoặc gián tiếp tới năng lực cạnh tranh củangân hàng.Có thể chia các nhân tố ảnh hưởng này thành hai nhóm lớn: Các nhân tố thuộcbản thân các NHTM và nhóm các nhân tố khách quan

Sơ đồ 1.1: Môi trường cạnh tranh của NHTM

Trang 34

 Các yếu tố thuộc bản thân các ngân hàng thương mại

Ban điều hành.Ban điều hành được hiểu ở đây là bao gồm từ Hội đồng

quản trị/sáng lập đến Ban tổng giám đốc/CEO Đây là những người có vàitrò điều hành chiến lược, có tầm nhìn và định vị các mục tiêu lâu dài.Nhiệm vụ của nhà chiến lược phải phân tích và phán đoán được năng lực củachính ngân hàng mình và các thế lực cạnh tranh trong môi trường ngành để xác địnhcác cơ hội và đe dọa đối với ngân hàng mình.Vì vậy, nếu ban điều hành khôngnhận thức được áp lực cạnhtranh trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay sẽ hếtsức nguy hiểm đến sự tồn vongcủa NHTM.Tuy nhiên, chỉ nhận thức thôi thìchưa đủ, yêu cầu đặt ra là ban điều hành phải huy động nguồn lực để tổ chức thựchiện các kế hoạch nhằm biến các nhận thức thành các hành động cụ thể Các kếhoạch hành động vừa đảm bảo phù hợpvới nguồn lực của NHTM, thu được các kếtquả tương ứng và phải phù hợp vớitốc độ thực hiện với các đối thủ khác, nếukhông sẽ bị chậm hoặc tụt hậu so vớicác đối thủ

Chất lượng nguồn nhân lực Ngân hàng là doanh nghiệp hoạt động kinh

doanh trong lĩnh vực dịch vụ,vì vậy có thể nói chất lượng nhân viên ngân hàng làmột yếu tố quan trọng để tạo nên sức mạnh cạnh tranh của các NHTM Tronghoạt động sản xuất kinh doanh dù công nghệ có hiện đại tới đâu, dù có tự độnghoá cao đến mức nào thì vẫn cần có con người điều khiển, giám sát mọi hoạt động.Đặc biệt trong lĩnh vực dịch vụ (như lĩnh vực ngân hàng) thì vai trò của con ngườicàng trở nên quan trọng vì quá trình sản xuất diễn ra đồng thời với quá trình tiêuthụ, sản phẩm dịch vụ được tạo ra ngay trong quá trình giao tiếp, trao đổi giữacán bộ, nhân viên ngân hàng với khách hàng Chất lượng sản phẩm dịch vụ

do chính các cán bộ, nhân viên đó quyết định nên, do đó những cán bộ, nhânviên ngân hàng có ảnh hưởng lớn tớinăng lực cạnh tranh của ngân hàng

Cơ sở vật chất và kỹ thuật Trong thời đại ngày nay, với tốc độ phát triển

như vũ bão của khoa học công nghệ nói chung, công nghệ trong lĩnh vực ngân hàngnói riêng thì ngân hàng nào có chính sách áp dụng công nghệ hiện đại, khả năngthích ứng công nghệ mới cao và có thể kết hợp với công nghệ của các ngân hàngtrong khu vực và trên thế giới sẽ tạo ra cho khách hàng nhiều tiện ích, phục vụ

Trang 35

khách hàng tốt hơn, chính là đã tạo ra sức hấp dẫn đối với khách hàng.Cơ sở vậtchất còn được thể hiện qua mạng lưới các vị trí, đại điểm kinh doanh, quy trình sảnphẩm… Ở những nơi đông dân cư, gần nhưng trung tâm thương mại lớn sẽ có nhiềukhả năng tiếp cận với khách hàng hơn và ngược lại Quy trình sản phẩm tốt sẽ giúpkhả năng xử lý các giao dịch nhanh

 Các nhân tố khách quan.

Bên cạnh môi trường vi mô thì môi trường vĩ mô cũng có những tác động tớinăng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại, nói đến môi trường vĩ mônghĩa là bao gồm những môi trường cơ bản như: môi trường kinh tế, môi trườngvănhoá – xã hội, môi trường tự nhiên, môi trường chính trị và pháp luật

Môi trường kinh tế.

Môi trường kinh tế có ý nghĩa đối với toàn bộ hệ thống ngân hàng Một nềnkinh tế có tốc độ phát triển cao sẽ tạo cơ hội cho đầu tư mở rộng hoạt động ngânhàng và ngược lại Còn mức lãi suất sẽ quyết định tới mức cầu cho doanh nghiệp,nên các ngân hàng thường đưa ra các mức lãi suất hấp dẫn với doanh nghiệp.Chínhsách tiền tệ và tỷ giá hối đoái ảnh hưởng mạnh đến hoạt động kinh doanh ngânhàng, có thể đem lại cho ngân hàng một vận hội kinh doanh tốt hoặc cũng có thể lànguy cơ phá sản Tỷ lệ lạm phát cũng ảnh hưởng tới hoạt động của ngân hàng thôngqua việc ảnh hưởng tới sự nhiệt tình của các nhà đầu tư đối với các dự án Nghiêncứu các chỉ tiêu của môi trường kinh tế cũng như chiều hướng phát triển của toàn

bộ nền kinh tế là cơ sở quan trọng để các nhà chiến lược đầu tư, đổi mới mình

Môi trường văn hoá - xã hội

Một số yếu tố về văn hóa - xã hội có thể ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranhcủa ngân hàng thương mại, cụ thể là tác động đên nhu cầu và nguồn nhânlực.Những đặc điểm xã hội ảnh hưởng tới nhu cầu đối với các dịch vụ ngânhàng đólà: lòng tin của dân chúng đối với các ngân hàng, thói quen tiêu tiền và tiết kiệm củangười dân, trình độ dân trí và khả năng hiểu biết về các dịch vụ của ngân hàng, mứcthu nhập của người dân…Có thể nói ngân hàng là ngành kinh doanh dựa trên “lòngtin” Ngân hàng là người giữ tiền cho người dân cũng như các doanh nghiệp, ngânhàng chính là người giữ hầu bao của nền kinh tế Nếu ngân hàng không tạo được

Trang 36

niềm tin trong dân chúng thì chắc chắn hoạt động ngân hàng sẽ không thể tồn tại.Thói quen tiêu dùng của người dân ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của các ngânhàng, đặc biệt là tập quán sử dụng tiền tệ Nếu người dân có thói quen sử dụng tiềnmặt nhiều thì rõ ràng ngân hàng sẽ bị hạn chế trong kinh doanh Mức tiết kiệm củangười dân càng cao càng ảnh hưởng đến nguồn cung ứng tín dụng cho các ngânhàng Trình độ dân trí cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới nhu cầu sử dụngdịch vụ ngân hàng Dịch vụ ngân hàng là một loại dịch vụ cao cấp, không phải aicũng tự tin để giao dịch với ngân hàng Trình độ dân trí càng cao thì khả năng phổbiến các dịch vụ ngân hàng hiện đại càng thuận lợi, dễ dàng và có cơ hội để đổi mớicủa ngân hàng cũng sẽ cao hơn Mức thu nhập của người dân sẽ là yếu tố quyết địnhtới nhu cầu đối với các dịch vụ ngân hàng, thu nhập có cao thì người dân mới cókhả năng tiếp cận cũng như là có nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngân hàng và ngượclại Bên cạnh đó, một số đặc điểm văn hoá – xã hội ảnh hưởng tới nguồn nhân lựctrong lĩnh vực ngân hàng như: quan điểm về doanh nhân và kinh doanh, quan điểm

về sự giàu có, quan điểm về thăng tiến, quan điểm về đạo đức nghề nghiệp,quanđiểm về học tập và tự đào tạo, quan điểm về sự gắn bó với nghề nghiệp,quan điểm

về rủi ro và thất bại… Ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp Một đất nước phảicoi trọng doanh nghiệp và doanh nhân thì các doanh nghiệp nước đó mới có điềukiện thuận lợi để phát triển Bên cạnh đó, ngân hàng còn là một ngành dịch vụ đòihỏi nguồn nhân lực phải có trình độ nhất định, sự thành công của ngân hàng đòihỏi phải có những cá nhân xuất sắc, có tham vọng kinh doanh, làm giàu và thăngtiến Nếu một đất nước mà người dân coi trọng những giá trị trên thì những người

có những phẩm chất đó sẽ có điều kiện phát triển và ngân hàng có nhiều cơ hội đểtuyển chọn được nguồn nhân lực có nhiều phẩm chất đối với sự phát triển của mình.Ngân hàng đồng thời cũng là ngành chịu nhiều rủi ro nhất, vì thế những nhân viênngân hàng phải là những người có khả năng phát hiện và đánh giá được rủi ro, dámchấp nhận rủi ro, đồng thời là người có sự thận trọng cần thiết,tôn trọng các yêu cầu

về đạo đức nghề nghiệp Coi trọng đạo đức cũng là một phẩm chất quan trọng đốivới các nhân viên ngân hàng Việc coi trọng đạo đức là cơ sở để ngân hàng giữ chữ

Trang 37

tín đối với khách hàng, là chỗ dựa cho niềm tin củacông chúng đối với ngân hàng.Một xã hội coi trọng đạo đức cũng là một điều kiện thuận lợi đối với việc nâng caolợi thế cạnh tranh của ngân hàng Do sự đòi hỏi về mức độ tích lũy kiến thức, kỹnăng, kinh nghiệm nên tập quán về sự gắn bó với nghề nghiệp cũng có ý nghĩa rấtquan trọng Nếu người dân ở một nước có thói quen ít thay đổi chỗ làm việc vàthường gắn bó với một doanh nghiệp nào đó trong một thời gian dài thì các ngânhàng nước đó sẽ có lợi thế trong việc duy trì và liên tục nâng cao trình độ độingũ nhân viên của mình, trên cơ sở đó để nâng cao lợi thế cạnh tranh Rất nhiềumảng hoạt động của ngân hàng đòi hỏi người lao động phải có trình độ cao và kinhnghiệm tích luỹ liên tục Ngân hàng cũng là một ngành có tốc độ đổi mới và cải tiếnrất cao, vì vậy khả năng tự học, tự đào tạo của các nhân viên sẽ có ý nghĩa quyếtđịnh đối với việc duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh của mỗi ngân hàng.Một xãhội coi trọng việc học tập, rèn luyện cũng là một lợi thế đối với ngành ngân hàngcủa nước đó.

Môi trường tự nhiên

Môi trường tự nhiên bao gồm nhiều yếu tố ảnh hưởng tới ngân hàng như:môi trường khí hậu, sinh thái, tổng dân số, tỷ lệ phát triển dân số, xu thế thay đổivềnhân khẩu học hay vị trí địa lý mà ngân hàng có trụ sở hay chi nhánh…Môi trườngkhí hậu ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và đờisống của các cá nhân, tổ chức – khách hàng của ngân hàng,từ đó ảnh hưởng tớichính hoạt động của ngân hàng.Môi trường dân số cũng là một yếu tố rất đáng quantâm, các thông tin về tổng số dân, tỷ lệ tăng dân số, cấu trúc dân số… sẽ giúp ngânhàng có thể dự đoán về thị trường hiện tại cũng như tương lai của ngân hàng Căn

cứ vào những thông tin trên, ngân hàng xác định được đoạn thị trường mục tiêu củamình để có những chiến lược, chính sách cụ thể cho phù hợp nhằm nâng cao lợi thếcạnh tranh của ngân hàng đó.Vị trí của các ngân hàng cũng rất quan trọng, vì mộttrong những đặc tính của ngành dịch vụ là sản phẩm dịch vụ không nhìn thấy, chấtlượng sản phẩm dịch vụ đó như thế nào tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố Cái mà kháchhàng nhìn thấy đầu tiên đó là cơ sở hạ tầng của ngân hàng, và vị trí địa lý của nó làmột yếu tố mà nhiều khách hàng quan tâm Một ngân hàng đóng tại vị trí trung tâm

Trang 38

rõ ràng sẽ được nhiều khách hàng biết đến và chiếm được cảm tình ban đầu của họ.Đâychính là một lợi thế mà các ngân hàng phải khai thác.

Môi trường pháp luật và chính trị

Sự hoạt động an toàn và lành mạnh của hệ thống Ngân hàng thương mại làđiều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế ở một quốc gia Do mối liên kết rất chặtchẽ của toàn bộ hệ thống ngân hàng thương mại, sự đổ vỡ của một ngân hàngthường gây ra những hậu quả rất nặng nề và có khả năng gây ra hiệu ứng lan truyềnlên toàn bộ hệ thống Hơn nữa, ngành ngân hàng có mối quan hệ mật thiết với tất cảcác ngành khác trong nền kinh tế, sự đổ vỡ của hệ thống ngân hàng sẽ gây khó khăncho tất cả ngành đó Vì thế, hoạt động của các NHTM phải chịu sự quản lý và giámsát hết sức chặt chẽ của các cơ quan nhà nước nói chung và các ngân hàng trungương nói riêng Vì vậy, môi trường pháp luật và chính trị sẽ ảnh hưởng tới hệ thốngluật, và sự nhất quán, đồng bộ của hệ thống luật pháp và các văn bản qui phạm phápluật qui định hoạt động ngân hàng.Hệ thống chính trị ổn định, pháp luật dẩy đủ,đồng bộ sẽ tạo hành lang pháp lý cho các ngân hàng thương mại cạnh tranh lànhmạnh,an toàn và đúng pháp luật

1.3 Cạnh tranh trong kinh doanh ngân hàng tại Trung Quốc sau khi gia nhập WTO và các bài học kinh nghiệm

1.3.1 Khái quát về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng tại Trung Quốc khi gia nhập WTO

Trung Quốc đã chính thức gia nhập WTO vào ngày 11/12/2001 Để làm đượcnhư vậy Chính phủ Trung Quốc phải cam kết mở cửa lĩnh vực ngân hàng, bảohiểm và chứng khoán

1.3.1.1 Các cam kết về ngân hàng của Trung Quốc trong WTO.

- Dỡ bỏ các hạn chế theo địa lý đối với kinh doanh bằng ngoại tệ từ ngàygia nhập WTO Các hạn chế về kinh doanh bằng đồng nội tệ được giảm dần trongvòng 5 năm, sẽ không có hạn chế về số lượng giấy phép được cấp cho các ngân hàngnước ngoài

- Xóa bỏ hạn chế về khu vực và khách hàng đối với nghiệp vụ chuyển ngoại

tệ vào ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài, cho phép các ngân hàng có vốn đầu tưnước ngoài mở nghiệp vụ ngoại hối đối với các doanh nghiệp của Trung Quốc

Trang 39

- Xóa bỏ từng bước hạn chế về khu vực việc kinh doanh đồng Nhân dân tệ củangân hàng có vốn đầu tư nước ngoài.

- Xóa bỏ dần hạn chế đối tượng khách hàng của nghiệp vụ kinh doanh đồngNhân dân tệ

- Khi gia nhập WTO, cho phép ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài đã đượcphép kinh doanh đồng Nhân dân tệ, sau khi thẩm duyệt có thể mở nghiệp vụ kinhdoanh Nhân dân tệ đến những khách hàng ở các vùng khác đã mở cửa nghiệp vụ đồngNhân dân tệ

- Cho phép thành lập tổ chức tài chính phi ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài, cóthể được hưởng đãi ngộ bình đẳng với các tổ chức tài chính cùng loại của Trung Quốc

1.3.1.2 Cạnh tranh trong kinh doanh ngân hàng tại Trung Quốc sau khi gia nhập WTO

Từ những thỏa thuận trên, điều nổi bật nhất là: gia nhập WTO, cácNHTM Trung Quốc bị mất độc quyền, không còn “nhất thống thiên hạ” nữa mà, màphải “chia sẽ giang sơn” cho các ngân hàng nước ngoài tham gia cạnh tranh rộng rãi.Tuy nhiên, trong cuộc cạnh tranh với yêu cầu là phải bình đẳng, cùng theo đúng luậtchơi, thì một hệ thống ngân hàng chưa thật ổn định, nhiều yếu kém của Trung Quốc

sẽ ở vào thế yếu, đòi hỏi họ phải quyết tâm và cố gắng phát huy thế mạnh, khắc phụcđiểm yếu để vượt lên

Sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, các ngân hàng nước ngoài, trước hết làcác ngân hàng Mỹ dựa vào Luật Hiện đại hóa dịch vụ tài chính tiền tệ mà Quốc hội

Mỹ đã thông qua ngày 4/1/1999, cho phép các NHTM, ngân hàng đầu tư và công tybảo hiểm được kinh doanh liên ngành, để có thể hình thành kết cấu đan xen, mởrộng thị trường, không cho ai có thể hưởng lợi nhuận độc quyền, trở thành những

“siêu tài chính nhỏ” có chức năng dịch vụ sáng tạo rất mạnh Sự cạnh tranh và hợp tác

đó tất sẽ dẫn đến tình hình các tập đoàn tài chính tiền tệ mới cung cấp dịch vụ toàndiện cho người tiêu dùng với hiệu quả cao, giá thành hạ Cạnh tranh để giành giậtkhách hàng đã trở nên khốc liệt Theo thống kê, khoảng 60% lợi nhuận của ngànhngân hàng Trung Quốc là thu hút được từ 10% khách hàng trọng điểm, có tiềm lực,

có triển vọng Các ngân hàng nước ngoài sau khi cạnh tranh bình đẳng sẽ nhằm vào

Trang 40

các khách hàng này, và các khách hàng chắc chắc sẽ lựa chọn các ngân hàng nướcngoài có thực lực lớn, phương thức phục vụ linh hoạt, hiệu quả cao Qua một ví dụđiển hình sau thấy rất rõ:

Tháng 3/2002, Công ty điện thoại di dộng Panda ở Nam Kinh đã trả nợ trướchạn số tiền 1,99 tỷ Nhân dân tệ cho Ngân hàng công thương, Ngân hàng giao thông…

và chuyển sang vay cùng số tiền đó với ngân hàng Hoa kỳ chỉ trong một đêm

Gia nhập WTO đặt các NHTM Trung Quốc trước những áp lực rất lớn trongviệc cạnh tranh nhân tài Những ngân hàng nước ngoài muốn phát triển nghiệp vụ tạiTrung Quốc, trước hết cần có nhiều nhân viên ngân hàng hội đủ các điều kiện như:thành thạo nghiệp vụ ngân hàng, có nhiều quan hệ với khách hàng, các ngân hàngnước ngoài sẽ có những điều kiện như: lương cao, có cơ hội ra nước ngoài học tập, cómôi trường làm việc tốt… để thu hút một lượng lớn nhân tài từ các ngân hàng trongnước Khoảng chênh lệch về thu nhập giữa các NHTM Trung Quốc với các ngânhàng nước ngoài là rất lớn, do đó tình trạng chảy máu chất xám đã làm xấu đi vịtrí cạnh tranh của các NHTM Trung Quốc

1.3.2 Kinh nghiệm cải cách hệ thống NHTM Trung Quốc khi hội nhập quốc tế

Do nhận thức được các yếu kém của các ngân hàng về năng lực tài chính,khả năng cạnh tranh, nợ quá hạn của các ngân hàng, nhất là của 4 NHTM quốcdoanh quá cao, thị trường tiền tệ, tài chính kém phát triển, khả năng thanh tra giámsát của ngân hàng yếu, năng lực quản trị kinh doanh của các ngân hàng kém cho nênTrung Quốc đã thực hiện một số cải cách thận trọng khi gia nhập WTO và mở cửadịch vụ ngân hàng, cụ thể là:

1.3.2.1 Cải cách ngân hàng trước khi gia nhập WTO

- Từ 1079 - 1986: Xóa bỏ hệ thống ngân hàng 1cấp

- Từ 1987-1991: Cho phép cạnh tranh trong nước ở mức độ hạn chế Pháttriển nhanh các trung gian tài chính phi ngân hàng và hợp tác xã tín dụng, cho phépcác ngân hàng cạnh tranh theo cơ chế thị trường có kiểm soát.Cho phép NHNNg

mở văn phòng đại diện, sau một thời gian được thành lập các chi nhánh tại các đặc khukinh tế và 7 thành phố ven biển; Đa dạng hóa khu vực tài chính, thành lập 2 cơ sởchứng khoán và thị trường liên ngân hàng Cấp giấy phép về bảo hiểm nhân thọ và

Ngày đăng: 09/11/2015, 17:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. “Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia”, NXB Giao thông vận tải, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải
12. Tạp chí Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam 2004 - 2007 Khác
13. Quản trị Ngân hàng Thương mại, PGS. TS Trần Huy Hoàng (chủ biên), NXB Lao động 2007 Khác
14. Ủy ban Quốc gia về hợp tác Kinh tế Quốc tế, Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới- Thời cơ và thách thức, NXB Lao động Khác
15. Chiến lược phát triển Ngân hàng công thương Khác
17. Báo cáo thường niên của Ngân hàng nhà nước 2005-2010 18. Báo cáo thường niên của các ngân hàng thương mại 2005-2010 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Môi trường cạnh tranh của NHTM - Năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Sơ đồ 1.1 Môi trường cạnh tranh của NHTM (Trang 33)
Bảng 1: Quy mô vốn điều lệ của một số NHTM của các quốc gia trong khu vực - Năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Bảng 1 Quy mô vốn điều lệ của một số NHTM của các quốc gia trong khu vực (Trang 61)
Bảng 3: Số liệu về khả năng sinh lời của các NHTM năm 2010 - Năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Bảng 3 Số liệu về khả năng sinh lời của các NHTM năm 2010 (Trang 67)
Bảng 4: So sánh lĩnh vực Ngân hàng Việt Nam với các nước trong khu vực - Năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Bảng 4 So sánh lĩnh vực Ngân hàng Việt Nam với các nước trong khu vực (Trang 69)
Bảng 5: Tỷ lệ dư nợ/tiền gửi khách hàng (thời điểm 31/12/2007, 2008, 2009, 2010). - Năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Bảng 5 Tỷ lệ dư nợ/tiền gửi khách hàng (thời điểm 31/12/2007, 2008, 2009, 2010) (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w