1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng một số phương tiện trực quan trong dạy học môn nhạc lý phổ thông tại trường cao đẳng sư phạm nam định (2)

78 390 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 2,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phỏng vấn một số giáo viên dạy học phân môn Nhạc lý phổ thông, đượcbiết rằng, họ nhận thức được lợi ích của việc sử dụng phương tiện trực quandạy học.. Đối tượng nghiên cứu Biện pháp sử

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Âm nhạc là bộ môn nghệ thuật có sức mạnh vô cùng to lớn và phong phútrong việc thể hiện một cách tinh tế thế giới nội tâm của con người và đờisống xã hội Âm nhạc tác động tới con người ngay từ khi mới sinh ra trongtiếng hát ru của mẹ, âm nhạc có sức mạnh làm cho con người nhận thức cuộcsống và thêm yêu cuộc sống đặc biệt là với thế hệ trẻ, thế hệ tương lai thì âmnhạc là môt phương tiện giáo dục và hình thành nhân cách hết sức hiệu quả

Âm nhạc giúp trẻ tận hưởng một cách đúng đắn cái hay, cái đẹp chứa đựngtrong những âm thanh nhịp điệu…, hình thành nên cơ sở ban đầu của nhữngcảm xúc thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc lành mạnh Bồi dưỡng cho trẻ một tâmhồn trong sáng yêu thương vị tha, biết rung động trước cái đẹp, ngoài ra cáchoạt động âm nhạc như ca hát sẽ giúp trẻ tư tin giao tiếp với bạn bè xungquanh Chính vì thế, âm nhạc đã trở thành một môn học trong các nhà trường

từ Mẫu giáo, Tiểu học đến Trung học cơ sở

Trong trường Tiểu học mục tiêu giáo dục của Âm nhạc nhằm tổ chức cáchoạt động âm nhạc như ca hát, nghe nhạc giúp học sinh tham gia vào các hoạtđộng văn nghệ trong trường trong lớp, với cộng đồng để có thể phát triểnnhân cách toàn diện cho các em

Trong chương trình học sinh các lớp1, lớp 2, lớp 3 được học hát và pháttriển khả năng nghe nhạc Học sinh các lớp 4, lớp 5 được học hát, phát triểnkhả năng nghe nhạc và làm quen với tập đọc nhạc Để thực hiện tốt nhữngnội dung trên thì người giáo viên Tiểu học trong giảng dạy môn âm nhạc phải

có kiến thức vững vàng về âm nhạc, biết vận dụng và tổ chức các hoạt động

âm nhạc sao cho phù hợp Điều đó cho thấy, việc đào tạo một đội ngũ giáoviên tiểu học có khả năng dạy học môn âm nhạc là hết sức quan trọng

Trang 2

Nhiều năm qua trường CĐSP Nam Định là nơi đào tạo giáo viên tiểu họctrình độ cao đẳng để cung cấp cho gần 30 trường tiểu học trong phạm vi toàntỉnh Sinh viên CĐSP Tiểu học học môn âm nhạc với 3 phân môn Nhạc lýphổ thông, Đọc – ghi nhạc, Hát.Trong đó, Nhạc lý phổ thông là phân môn có

vị trí rất quan trọng, chiếm 30 tiết trong tổng số 90 tiết của môn âm nhạc Đó

là lý thuyết cơ bản đầu tiên, cung cấp những kiến thức sơ giản về âm nhạc, là

cơ sở để sinh viên sư phạm Tiểu học tiếp thu các nội dung âm nhạc khác nhưĐọc – ghi nhạc, Hát

Phân môn Nhạc lý phổ thông đòi hỏi người học phải tư duy lôgic và trừutượng cao Nếu chỉ được tiếp cận phân môn Nhạc lý phổ thông bằng lý thuyếtđơn thuần thì người học sẽ gặp khó khăn trong việc ứng dụng những nội dung

đó vào thực hành các hoạt động âm nhạc khác

Sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học khiến cho những kháiniệm trừu tượng trở nên rõ ràng, cụ thể, người học dễ tiếp nhận nhiều hơn nếugiáo viên chỉ dùng lời nói để giảng dạy Những hình ảnh, âm thanh sinh động

sẽ làm cho giờ học trở nên hấp dẫn và giúp người học lĩnh hội tri thức mộtcách tốt nhất

Thực tế những năm gần đây, nhiều giáo viên một số bộ môn đã nhận ravai trò tích cực của phương pháp trực quan trong dạy học Một số giáo viên

đã biết vận dụng khá hệu quả các phương tiện dạy học như máy chiếu, bảngbiểu, tranh ảnh… vào quá trình dạy học

Tuy nhiên, trong thực tiễn dạy học phân môn Nhạc lý phổ thông ở hệCĐSP Tiểu học tại Nam Định vẫn còn nhiều điều đáng suy nghĩ, băn khoăn

Dự giờ một số tiết học phân môn Nhạc lý phổ thông cho thấy giáo viênchuẩn bị bài khá kỹ, trình bày các nội dung lý thuyết khá mạch lạc nhưngkhông khí lớp học tương đối trầm lắng, sinh viên ít được thực hành, chủ yếu

Trang 3

là nghe ghi và chép, giáo viên chủ yếu là nói, diễn giải, rất ít sử dụng các đồdùng dạy học để minh họa

Tổng hợp phiếu điều tra của 2 khóa sinh viên cao đẳng Tiểu học năm thứ

2 và năm thứ 3, khóa 33 và khóa 34 với khoảng 80 sinh viên, cho thấy tronggiờ dạy học phân môn Nhạc lý phổ thông, giáo viên chỉ dùng bảng, phấn làchính và sinh viên không thích học tiết học Nhạc lý phổ thông

Phỏng vấn một số giáo viên dạy học phân môn Nhạc lý phổ thông, đượcbiết rằng, họ nhận thức được lợi ích của việc sử dụng phương tiện trực quandạy học Tuy nhiên, họ ngại sử dụng vì mất nhiều thời gian chuẩn bị và mangPTTQ lên lớp, xuống lớp… Có lẽ, đây là một trong những nguyên nhânchính dẫn đến kết quả học tập phân môn Nhạc lý phổ thông của sinh viênCĐSP Tiểu học còn chưa cao

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu

của giáo trình “Lý thuyết âm nhạc cơ bản” dành cho hệ Trung học Âm nhạc

chuyên nghiệp, Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, năm 2005

Giáo trình gốm 12 chương, cung cấp một số kiến thức về Lý thuyết âmnhạc gồm: Khái quát về âm thanh, tiết tấu, nhịp, quãng, điệu thức, hợp âm,giai điệu, các ký hiệu cách diễn tấu, một số phương pháp xác định giọng, dịchgiọng, chuyển giọng và giới thiệu sơ lược về âm nhạc truyền thống Việt Nam

Trang 4

Phạm Tú Hương, tác giả cuốn“Lý thuyết âm nhạc cơ bản”, Bộ Giáo dục

và Đào tạo, dự án đào tạo giáo viên THCS hệ CĐSP Âm nhạc, Nxb ĐHSP,năm 2010

Giáo trình này cung cấp hệ thống lý thuyết âm nhạc gồm: khái quát về

âm thanh, cách ghi âm, nhịp, quãng, một số phương pháp xác định giọng vàchuyển giọng…

Trịnh Hoài Thu chủ biên của giáo trình “Lý thuyết âm nhạc cơ bản”,

Trường ĐHSP Nghệ thuật TW, năm 2014

Giáo trình có 10 chương gồm những kiến thức về âm thanh, lối ghinhạc, nhịp, giọng, thang âm, điệu thức dân gian, hợp âm, giai điệu, lý thuyết

Âm nhạc đương đại và một số ký hiệu âm nhạc thường dùng

Phạm Văn Quang, khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Âm nhạc chính

quy khóa III, 2007, trường ĐHSP Nghệ thuật TW, “Xây dựng phương pháp

trực quan trong dạy học âm nhạc ở trường trung học cơ sở Nam Dương – Nam Định”.

Đề tài nghiên cứu thực tế sử dụng phương pháp trực quan trong dạy học

âm nhạc và xây dựng phương pháp trực quan trong dạy học âm nhạc ở trườngtrung học cơ sở Nam Dương – Nam Định

Hoàng Quốc Khánh, Luận văn tốt nghiệp Cao học Sư phạm Âm nhạc,

2013, Học viện Âm nhạc Huế, “Nâng cao chất lượng giảng dạy môn lý

thuyết âm nhạc cơ bản cho CĐSP Âm nhạc trường CĐVHNT Đăk lăk”,

Đề tài nghiên cứu thực trạng và đưa ra những cải tiến nâng cao chấtlượng giảng dạy môn Lý thuyết âm nhạc cơ bản cho sinh viên hệ CĐSP Âmnhạc ở trường CĐVHNT Đắk lắk

Nguyễn Thế Phương, Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ LL&PPDHAN Khóa

1 trường ĐHSP Nhạc họa TW, năm 2014 “Giải pháp nâng cao chất lượng

học môn nhạc lý cho CĐSP Giáo dục Tiểu học, Trường CĐSP Hà Nam”.

Trang 5

Đề tài đề ra những giải pháp nâng cao nhằm tiến tới hoàn thiện và chínhqui hóa môn Nhạc lý trong chuyên ngành Giáo dục Tiểu học của TrườngCĐSP Hà Nam.

Qua các công trình nghiên cứu, luận văn nêu trên, chúng tôi thấy phầnlớn các đề tài đều đi vào vấn đề nâng cao chất lượng giảng dạy môn Nhạc lý

cơ bản Tuy nhiên chưa có một đề tài nào nghiên cứu việc sử dụng phươngtiện trực quan trong dạy học phân môn Nhạc lý phổ thông cho sinh viênCĐSP tiểu học tại Nam Định

Chúng tôi coi, các nghiên cứu đó là những tư liệu rất bổ ích, cần thiết đểtham khảo và tiếp thu trong quá trình nghiên cứu của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu chương trình phân môn Nhạc lý phổ thông trong đào tạomôn âm nhạc cho sinh viên ở hệ CĐSP tiểu học

Làm rõ thực trạng sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học phânmôn Nhạc lý phổ thông ở trường CĐSP Nam Định

Lựa chọn, phân loại một số nhóm phương tiện trực quan cho dạy họcphân môn Nhạc lý phổ thông

Nghiên cứu đưa ra biện pháp hướng dẫn sử dụng phương tiện trực quantrong dạy học phân môn Nhạc lý phổ thông

Trang 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học phân môn Nhạc

lý phổ thông cho sinh viên hệ CĐ SP Tiểu học

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Biện pháp sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học phân môn Nhạc

lý phổ thông cho hệ CĐSP tiểu học tại Nam Định

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong thực hiện đề tài, c húng tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:

- Phương pháp quan sát, dự giờ các tiết dạy học phân môn Nhạc lý phổthông để nghiên cứu thực trạng, làm rõ nguyên nhân dẫn đến chất lượng dạyhọc còn hạn chế ở phân môn này

- Phương pháp phỏng vấn giáo viên và điều tra bằng phiếu với sinh viên

để tìm hiểu nhận thức của họ về PTTQ và tình hình sử dụng PTTQ trong dậyhọc phân môn Nhạc lý phổ thông

- Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết để phân tích, tổng hợp, phânloại, hệ thống hóa những nội dung có liên quan đến đề tài

- Phương pháp thống kê để đánh giá kết quả học tập Nhạc lý phổ thôngtrước và sau thực nghiệm

- Tổ chức thực nghiệm diện hẹp để kiểm chứng bước đầu kết quả nghiêncứu của đề tài

6 Những đóng góp của luận văn

Đề tài luận văn đã nghiên cứu, đưa ra biện pháp sử dụng phương tiệntrực quan trong dạy học phân môn Nhạc lý phổ thông cho sinh viên hệ CĐSP

TH tại Nam Định

Góp phần nâng cao chất lượng dạy học Âm nhạc cho sinh viên, hướngtới hiệu quả giáo dục âm nhạc cho học sinh tiểu học Nam Định

Trang 7

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văngồm có hai chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn sử dụng phương tiện trực quan

trong dạy học phân môn Nhạc lý phổ thông Chương 2: Biện pháp sử dụng một số phương tiện trực quan trong dạy

học phân môn Nhạc lý phổ thông ở hệ CĐSP Tiểu học tại Nam Định.

Trang 8

Âm thanh trong âm nhạc là mối quan hệ tổng hòa các phương tiện diễn

tả như giai điệu, tiết tấu, hòa thanh, cường độ, âm sắc

Âm nhạc có hệ thống lý luận bao gồm: Lý thuyết âm nhạc, hòa âm, phântích tác phẩm, lịch sử âm nhạc…

Lý thuyết âm nhạc gồm những kiến thức về âm thanh, nốt nhạc, trường

độ, tiết tấu, quãng, điệu thức, giọng, hợp âm…

Lý thuyết âm nhạc là môn học cơ bản trong chương trình đào tạo ngườihoạt động âm nhạc, giúp cho người học có kiến thức cơ sở để học, tìm hểu vềhòa âm, phân tích tác phẩm, lịch sử âm nhạc…

Sự hình thành lý thuyết âm nhạc có từ rất sớm trong lịch sử phát triểnnghệ thuật âm nhạc

Trang 9

Tên môn học Lý thuyết âm nhạc, tiếng Việt Nam, xuất phát từ việc dịchnghĩa từ tiếng nước ngoài Nó có khá nhiều tên gọi như: Lý thuyết âm nhạc cơbản, Nhạc lý cơ bản, Nhạc lý, Lý thuyết âm nhạc, Nhạc lý sơ giản, Nhạc lýphổ thông… Tên gọi và nội dung của nó tùy mức độ sử dụng ở các chươngtrình đào tạo khác nhau.

1.1.2 Nhạc lý phổ thông trong đào tạo giáo viên hệ CĐSP Tiểu học

Tại những cơ sở đào tạo người hoạt động âm nhạc chuyên nghiệp - biểudiễn âm nhạc, lý luận, phê bình, sáng tác âm nhạc như: Học viện âm nhạcquốc gia Việt Nam, Nhạc viện thành phố Hồ Chí Minh, Đại học nghệ thuậtHuế, Trường ĐH Văn hóa nghệ thuật Quân đội, Nhạc, thì môn học này được

gọi là Lý thuyết âm nhạc.

Ở các hệ đào tạo giáo viên âm nhạc trình độ cao đẳng sư phạm âm nhạc,

trình độ đại học sư phạm âm nhạc thì môn học này có tên gọi là Lý thuyết âm

nhạc cơ bản hoặc Nhạc lý cơ bản.

Trong chương trình đào tạo giáo viên Mầm non và giáo viên Tiểu học hệcao đẳng, hệ đại học của nhiều trường, sinh viên các ngành SP Tiểu học và SPMầm non được học nhiều môn, trong đó có môn âm nhạc Một phần của môn

học Âm nhạc, là phân môn Nhạc lý sơ giản hoặc Nhạc lý phổ thông.

Ở hệ CĐSP Tiểu học tại Nam định thì đây là phân môn Nhạc lý phổ

thông, một phần của bộ môn Âm nhạc, trong toàn bộ chương trình đào tạo

giáo viên tiểu học trình độ cao đẳng

Phân môn Nhạc lý phổ thông trong đào tạo giáo viên CĐSP Tiểu học

gồm những kiến thức âm nhạc khá đơn giản, cần thiết như về âm thanh, độcao, độ dài, tiết tấu, quãng, hợp âm, điệu thức… để sinh viên có cơ sở tiếp thucác môn học khác như: hát, tập đọc nhạc, sử dụng nhạc cụ, phương pháp dạyhọc âm nhạc…

Trang 10

Tuy phân môn Nhạc lý phổ thông là đơn giản so với những chương trình

đào tạo khác, nhưng nội dung của nó vẫn là những kiến thức trừu tượng mangtính lý thuyết Vì vậy, vấn đề làm thế nào cho sinh viên hiểu, nắm chắc vàvận dụng được kiến thức nhạc lý phổ thông, vẫn là một thách thức đối vớigiảng viên dạy học phân môn này

Điều đó đòi hỏi trước hết phải tìm hiểu, nắm vững quá trình dạy họcphân môn Nhạc lý phổ thông, những khái niệm cơ bản xung quanh vấn đề

này, để tìm được biện pháp phù hợp, cải thiện tình hình dạy học

1.2 Quá trình dạy học nhạc lý phổ thông

1.2.1 Quá trình dạy học

Sự truyền thụ kiến thức từ người dạy sang người học, để người học có thểnắm vững được kiến thức cũng cần có một quá trình Đó là quá trình mà cảngười dạy và người học đều phải nỗ lực hết sức nếu muốn đạt được kết quả cao

* Khái niệm Qúa trình dạy học

Quá trình dạy học là một quá trình phức tạp và rộng lớn bao gồm nhiềuthành tố liên quan chặt chẽ với nhau Có rất nhiều định nghĩa khác nhau vềQTDH tùy theo quan điểm tiếp cận về hoạt động dạy và học

Qua quá trình được đào tạo ở hệ ĐHSP Âm nhạc, tiếp thu kiến thức ở hệcao học lý luận và phương pháp dạy học âm nhạc, đúc rút những kinh nghiệmdạy học của bản thân chúng tôi hiểu rằng:

Quá trình dạy học là hệ thống những hành động liên tiếp và thâm nhậpvào nhau của thầy và trò dưới sự hướng dẫn của thầy, nhằm đạt được mụcđích dạy học và qua đó phát triển nhân cách của trò

* Các thành tố cơ bản của quá trình dạy học

Trang 11

Quá trình dạy học bao gồm các thành tố cơ bản: Giáo viên với hoạt độngdạy, học sinh với hoạt động học, nội dung dạy học, hình thức dạy học,phương pháp dạy học, phương tiện dạy học

Trong QTDH, các thành tố nói trên có quan hệ chặt chẽ và tác động qualại lẫn nhau

- Giáo viên và học sinh là hai đối tượng quan trọng nhất trong quá trìnhdạy học Giáo viên với hoạt động dạy có chức năng tổ chức, điều khiển, lãnhđạo hoạt động học tập của học sinh, đảm bảo cho học sinh thực hiện đầy đủ

và có chất lượng những yêu cầu cần đạt mà mục đích và nhiệm vụ dạy học đãđặt ra

- Nội dung dạy học là hệ thống những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cụ thể

mà người học cần phải nắm vững trong quá trình dạy học Nội dung dạy họccòn gồm cả việc giáo dục thái độ cho học sinh

- Hình thức dạy học là không gian, địa điểm và những điều kiện cần thiết

để thực hiện hoạt động dạy học của giáo viên và học sinh

- Phương pháp và là hệ thống những cách thức hoạt động phối hợp củangười dạy và người học nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học

- Phương tiện dạy học là những đồ dùng, thiết bị mà giáo viên và họcsinh sử dụng trong quá trình dạy học nhằm đạt mục tiêu, nhiệm vụ và yêu cầuđặt ra

1.2.2 Dạy học nhạc lý phổ thông ở hệ CĐSP Tiểu học

Quá trình dạy học phân môn Nhạc lý phổ thông diễn ra với các thành tố

cơ bản:

- Người dạy là giảng viên chuyên ngành sư pham âm nhạc, sử dụng cácphương pháp và phương tiện dạy học âm nhạc phù hợp để giúp cho người học

Trang 12

chủ động tích cực nắm bắt được nội dung kiến thức phân môn Nhạc lý phổthông.

- Người học là sinh viên CĐSP Tiểu học chủ động và tích cực trong học tập để nắm được những kiến thức nhạc lý phổ thông quy định trong chương trình phân môn

- Nội dung phân môn Nhạc lý phổ thông bao gồm những tri thức về: Âmthanh, cao độ, trường độ, quãng, gam, điệu thức , giọng, hợp âm…

- Hình thức dạy học phân môn Nhạc lý phổ thông là lớp học lớn, khoảng

40 sinh viên một lớp

- Phương pháp dạy học phân môn Nhạc lý phổ thông được sử dụng làcác phương pháp dùng lời, phương pháp sử dụng phương tiện trực quan,phương pháp thực hành luyện tập, phương pháp trình bày tác phẩm …

- Phương tiện trực quan trong dạy học phân môn Nhạc lý phổ thông là nhạc cụ, bảng biểu, sơ đồ máy vi tính, máy chiếu …., những đồ dùng giúp chosinh viên nhận thức nội dung phân môn Nhạc lý phổ thông một cách cụ thể và

dễ dàng hơn

1.3 Phương tiện trực quan

Để tìm hiểu được rõ tầm quan trọng của phương tiện trực quan trong quátrình dạy học nhạc lý phổ thông, chúng tôi xác định là phải làm rõ được các khái niệm: Phương tiện, Trực quan, Phương tiện trực quan

1.3.1 Phương tiện

Theo từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2003 thì: phương tiện là cáidùng để làm một việc gì, để đạt một mục đích nào đó

Trang 13

Như vậy có thể hiểu rằng, trong dạy học cái mà giáo viên sử dụng để đạtmục đích giúp cho sinh viên nắm được nội dung cụ thể của bài học đều đượcgọi là phương tiện.

1.3.2 Trực quan

Qúa trình dạy học là quá trình trong đó người học nhận thức nội dungkiến thức kỹ năng của môn học

V.L Lênin cho rằng quá trình nhận thức là đi từ trực quan sinh động đến

tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biệnchứng của sự nhận thức chân lí, của sự nhận thức hiện thực khách quan Trựcquan được nhận biết dưới các hình thức cảm giác, tri giác, biểu tượng, nó cho

ta một hình ảnh cảm tính về sự vật, hiện tượng Trên cơ sở đó, nhận thức conngười đi vào các giai đoạn cao hơn của tư duy trừu tượng

Như vậy có thể thấy con đường người dạy truyền đạt kiến thức bằngcách để người học tiếp xúc trực tiếp với những sự vật, hiện tượng, hay hìnhtượng của chúng, đó là tiền đề quan trọng để hình thành các khái niệm

1.3.3 Phương tiện trực quan

Khi nói về Phương tiện trực quan, có nhiều cách hiểu khác nhau về kháiniệm này Theo chúng tôi, có thể hiểu PTTQ là một tập hợp tất cả các đồdùng và thiết bị dạy học mà người GV và SV sử dụng trong quá trình dạy họcnhằm đạt được mục đích dạy học Đó là những công cụ giúp người GV tổchức, điều khiển quá trình dạy học và giúp người học lĩnh hội tri thức cũngnhư tổ chức hoạt động nhận thức của mình có hiệu quả

1.3.4 Vai trò của phương tiện trực quan trong dạy học phân môn nhạc

lý phổ thông

Trang 14

Đối với những phân môn lý thuyết đòi hỏi tư duy trừu tượng và logicnhư phân môn Nhạc lý phổ thông thì phương tiện trực quan là thành tố đóngvai trò rất quan trọng.

Phương tiện trực quan trong dạy học phân môn Nhạc lý phổ thông giúp

GV dễ dàng thiết kế các bài giảng có hình nốt nhạc, tạo các slide với nội dung

cô đọng, dễ nhớ bằng việc chèn hình ảnh về quãng, hợp âm, điệu thức đểminh họa Các giai điệu, hợp âm vang lên từ đàn, các bảng biểu, sơ đồ vềquãng, điệu thức sẽ giúp GV truyền đạt nội dung bài học một cách khoa học,làm cho tiết học Nhạc lý phổ thông sôi nổi và đạt hiệu quả hơn

Phương tiện trực quan trong dạy học nhạc lý phổ thông giúp SV huyđộng sự tham gia của nhiều giác quan kết hợp với lời nói, tạo điều kiện dễhiểu, dễ nhớ và nhớ lâu hơn, làm phát triển năng lực chú ý, năng lực quan sát,

óc tò mò khoa học sáng tạo của sinh viên

Sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học nhạc lý phổ thông khiếncho những khái niệm trừu tượng như gam, điệu thức, giọng, hợp âm… trở nên

rõ ràng, cụ thể, SV dễ tiếp nhận Cho SV nghe âm nhạc vang lên trực tiếp từnhững nhạc cụ phổ thông hay băng đĩa từ đài cát sét… , kết hợp với xem bảngbiểu, sơ đồ, hình ảnh… chắc chắn tác động mạnh mẽ tới họ hơn là chỉ dùnglời nói Vì thế, trong dạy học Nhạc lý phổ thông, GV không những cần giỏi về

về lý luận, mà còn phải biết sử dụng đàn, và các thiết bị khác…

Phương tiện trực quan và các phương pháp dạy học dùng trong quá trìnhdạy học phân môn Nhạc lý phổ thông có mối quan hệ mật thiết với nhau Sửdụng phương pháp thuyết trình về các khái niệm quãng, hợp âm, giáo viên sửdụng PTTQ phù hợp sẽ làm cho các khái niệm bớt trừu tượng Khi dùng PPthực hành luyện tập thì các PTTQ sẽ cụ thể hóa những nội dung luyện tập

Trang 15

bằng các miếng ghép, bảng biểu…,giúp SV dễ dàng thực hành để nắm cáckhái niệm.

1.4 Thực trạng dạy học nhạc lý phổ thông ở trường CĐSP Nam Định

1.4.1 Vài nét trường CĐSP Nam Định

Trường CĐSP Nam Đinh là nơi đào tạo, bồi dưỡng hàng ngàn lượt giáoviên, cán bộ quản lý cho ngành giáo dục của tỉnh Nam Định nói riêng và cảnước nói chung Đây là một trong những cơ sở đào tạo uy tín, lâu năm đượcnhà nước, xã hội công nhận Năm 1965 tỉnh Nam Hà được thành lập trên cơ

sở hợp nhất hai tỉnh Nam Định và Hà Nam đến năm 1997 tỉnh Hà Nam đượctách ra, trường đổi tên là trường Cao đẳng Sư phạm Nam Định

Trường có các phòng chức năng và bốn khoa: Khoa xã hội, khoa Tiểuhọc mầm non, khoa Tự nhiên, khoa Ngoại ngữ

Trong trường có các hệ đào tạo chính quy và không chính quy Trung cấp

sư pham, cao đẳng sư phạm nhiều ngành như: Toán lý, Toán hóa, Toán tin,Tin kỹ thuật công nghiệp, Hóa sinh, Sinh kỹ thuật nông nghiệp, Văn sử, Vănđịa, Văn công tác đội, Văn giáo dục công dân, Giáo dục công dân sử, Sử địa,Tiếng Anh, Âm nhạc , Giáo dục thể chất, Mỹ thuật, Mầm non, Tiểu học.Chuyên ngành CĐSP Tiểu học và Mầm non luôn có đông đảo sinh viêntheo học

* Một số nét về khoa Sư phạm Tiểu học – Mầm non

Khoa SP Tiểu học- Mầm non có các chức năng và nhiệm vụ sau:

- Đào tạo giáo viên Mầm non trình độ Trung cấp, Cao đẳng

- Đào tạo giáo viên Tiểu học trình độ Trung cấp, Cao đẳng

- Đào tạo Trung cấp, Cao đẳng ngoài sư phạm theo nhu cầu của địaphương

Trang 16

Hiện nay ở Khoa có 17 Giảng viên, trong đó có 8 Thạc sĩ, và 4 học viênđang đi học cao học, số lượng giáo viên âm nhạc là 5 người Định hướng củaKhoa và Nhà trường trong những năm tới sẽ không ngừng bồi dưỡng, nângcao chất lượng đội ngũ giảng viên.

1.4.2 Chương trình học phần nhạc lý phổ thông hệ CĐSP Tiểu học

1.4.2.1 Khung chương trình phân môn Nhạc lý phổ thông

Chương trình đào tạo hệ CĐSP Tiểu học được triển khai trong 3 nămđào tạo theo tín chỉ, đúng với quy định của Bộ giáo dục - Đào tạo

Toàn khóa CĐSP Tiểu học bao gồm 107 tín chỉ Trong đó, thời lượngdành cho Môn âm nhạc là 6 tín chỉ Môn Âm nhạc có ba phân môn là:

Chương 1: Âm thanh – Cao độ của âm thanh

Chương 2: Độ dài âm thanh – Tiết tấu

Trang 17

- Phạm Tú Hương: Giáo trình “Lý thuyết Âm nhạc cơ bản” – Bộ Giáo

dục và Đào tạo, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm năm 2010

- Hoàng Long – Hoàng Lân: Giáo trình “Âm nhạc và phương pháp dạy

học Âm nhạc”, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2012.

- Một số sinh viên sống ở thành phố Nam Định, hoặc ở các thành phốkhác có được tiếp xúc với âm nhạc từ trước Trong số này có những em cógiọng hát rất tốt Có một vài em đã từng tham gia một số cuộc thi giọng háthay ở tỉnh nhà Những sinh viên này tiếp cận với môn học âm nhạc khá dễdàng Các em có khả năng nghe nhạc, đọc nhạc khá nhanh Trong học hát, các

em thể hiện bài hát khá diễn cảm Có một số sinh viên có giọng hát khá hayvới âm sắc giọng đẹp, âm vực giọng khá rộng, có thể thể hiện được một số bàihát có phong cách nhạc trẻ, nhạc thính phòng, dân ca… Khả năng ghi nhớ âmnhạc của những sinh viên này là tương đối tốt Các em dễ dàng tham gianhững hoạt động âm nhạc của khoa, của nhà trường tổ chức và là những hạtnhân âm nhạc của phong trào văn nghệ ở nhà trường

Trang 18

- Phần lớn SV thuộc hệ CĐSP Tiểu học xuất thân từ những vùng nôngthôn, ở các huyện lân cận hoặc xa thành phố, nhiều em đến từ các huyện vùngbiển Nam định Một số ít sinh viên đã từng tham gia văn nghệ, ca hát trongxóm, trongg xã Trong những sinh viên này, những em có năng khiếu âmnhạc là không nhiều Khi tiếp cận với âm nhạc, phần lớn SV ở nông thôn cònrất lúng túng và hạn chế về một số mặt Về giọng hát, các em hát bằng giọnghát tự nhiên, bản năng, âm vực giọng hát hẹp Khi hát, một số em còn hát sai

về cao độ, hoặc hát chậm hơn nhịp độ quy dịnh Khả năng nghe nhạc củanhững sinh viên đến từ nông thôn còn yếu Quá trình dạy học tập đọc nhạccho thấy các em gặp nhiều khó khăn để thực hành được đúng yêu cầu củagiảng viên Khả năng nắm bắt nhịp phách, tiết tấu, cũng như thực hành đọccác quãng có cao độ phức tạp của họ cũng còn chậm, phải luyện tập nhiều lần.Qua quan sát một số giờ học hát của Sv CĐSP Tiểu học thấy được việcghi nhớ cao độ, giai điệu các bài hát của sinh viên còn chưa tốt Khi vừa họcxong một bài hát hay một nội dung âm nhạc mà giáo viên yêu cầu các sinhviên thực hành lại ngay trong giờ học thì SV chưa làm được

Nhìn chung, sinh viên CĐSP Tiểu học còn hạn chế về năng khiếu âmnhạc và chênh lệch nhiều về khả năng tiếp thu kiến thức, kỹ năng âm nhạc.Nhưng hầu hết SV CĐSP Tiểu học đều có khả năng tiếp thu các kiến thứcmới Họ rất chăm và tích cực, nghiêm túc trong học tập tất cả các môn họctrong chương trình Họ xác định rất rõ mục tiêu ngành nghề mà sau này ratrường họ sẽ sử dụng là dạy học cho học sinh tiểu học

1.4.3.2 Tình hình dạy học phân môn nhạc lý phổ thông

Qua tìm hiểu thực tế, dự giờ dạy học phân môn Nhạc lý phổ thông tạitrường cho thấy trong mỗi tiết học giảng viên thường thuyết trình, giải thíchcác khái niệm là chính Hầu hết các tiết học phân môn này không thấy sử

Trang 19

dụng tới bảng biểu hay máy móc hỗ trợ Chỉ có một đôi tiết học là thấy códùng đàn organ

Một vài GV còn lược bỏ một số nội dung bài giảng để theo kịp tiến độgiảng dạy Do vậy, những kiến thức nhạc lý phổ thông bị lược bỏ đã trở thànhnhững bài học thuộc lòng

Trao đổi trực tiếp với giảng viên dạy học NLPT tại trường, được biết, họrất ngại sử dụng các phương tiện trực quan trong quá trình dạy học Vì muốndùng PTTQ thì họ cần phải có sự chuẩn bị Khi muốn dùng bảng biểu chosinh viên xem, GV phải mang ra ngoài để in từ giáo trình Cũng như khichuẩn bị cho sinh viên nghe một đoạn nhạc, GV phải tập trước ở nhà với đànorgan, hay đàn ghita GV còn ngại mang PTTQ lên lớp, xuống lớp

Quan sát sinh viên trong giờ học phân môn Nhạc lý phổ thông cho thấy,

họ phải tiếp thu kiến thức âm nhạc một cách khó khăn

Tiết học Nhạc lý phổ thông diễn ra khá nặng nề và trầm lặng Sinh viênchủ yếu là nghe và ghi rất ít được thực hành Các khái niệm âm nhạc đượcsinh viên tiếp thu chủ yếu bằng ngôn ngữ, mô tả bằng lời của giảng viên Vì

cố hình dung khái niệm âm nhạc như quãng, hợp âm, gam, giọng, điệuthức qua phần nhiều mô tả của giảng viên nên nhiều sinh viên tỏ ra mệt mỏi,

uể oải và chậm phản ứng theo yêu cầu của giảng viên

Trao đổi với một số sinh viên, được biết, những khái niệm âm nhạc màcác em tiếp cận trong lớp học rất trừu tượng, khó hình dung và khó nhớ.Nhiều em cho rằng từ những kiến thức âm nhạc này đến việc có thể thực hànhđược cũng còn một khoảng cách

Từ những gì thấy được qua dự giờ quan sát và trao đổi đối với giảngviên âm nhạc, với sinh viên CĐSP Tiểu học, chúng tôi đã tiến hành tổng hợpkết quả điểm thi kết thúc phân môn Nhạc lý phổ thông của sinh viên hai khóa

33 và 34, để làm rõ chất lượng dạy học phân môn này những năm trước đây

Trang 20

Kết quả học tập nhạc lý phổ thông của sinh viên

Bảng 1: Tổng hợp kết quả chất lượng dạy học phân môn NLPT

Kết quả

Khóa 33 (Năm học 2012 – 2013)

Khóa 34 (Năm học 2013 – 2014)

lý phổ thông còn chưa cao

Để làm rõ vấn đề sinh viên có quan tâm, hứng thú với phân môn nhạc lýphổ thông hay không, sinh viên có mong muốn gì để học tập Nhạc lý phổthông tốt hơn, chúng tôi đã sử dụng hai câu hỏi trong phiểu điều tra 80 sinhviên CĐSP Tiểu học khóa 33, khóa 34 Họ là những sinh viên đã được họcphân môn này từ những học kỳ trước Kết quả điều tra được tổng hợp trênbảng 2 và bảng 3

Trang 21

Câu 1: Bạn có thích học Nhạc lý phổ thông không?

Bảng 2: Tổng hợp kết quả điều tra hứng thú của sinh viên với NLPT

Câu 2: Bạn muốn cải thiện điều gì trong giờ học nhạc lý phổ thông:

Bảng 3: Tổng hợp kết quả điều tra yếu tố cần cải thiện trong dạy học

NLPT

2 Bổ sung các phương tiện trực

Từ những nghiên cứu về tình hình dạy học Nhạc lý phổ thông của nhữngnăm trước đây ở hệ CĐSP Tiểu học có thể thấy rằng, chất lượng dạy học phânmôn này còn thấp

Kết quả điều tra, quan sát, dự giờ, phóng vấn, trao đổi với giảng viên vàsinh viên đã phản ánh việc sử dụng PTTQ trong quá trình dạy học phân mônNhạc lý phổ thông còn chưa được giảng viên quan tâm đến, còn ít được sửdụng Đó cũng có thể chính là nguyên nhân khách quan dẫn đến những biểuhiện không tích cực trong các giờ dạy hoc phân môn này Chúng tôi cho rằngkết quả dạy học phân môn Nhạc lý phổ thông như vậy sẽ có ảnh hưởng không

ít đến việc tiếp thu các nội dung khác trong môn Âm nhạc của sinh viênCĐSP Tiểu học

Tiểu kết chương 1

Trang 22

Dạy học và giáo dục âm nhạc ở trường tiểu học đòi hỏi phải có một độingũ giáo viên tiểu học có khả năng tổ chức cho học sinh ca hát, phát triển khảnăng nghe nhạc, làm quen với tập đọc nhạc, thông qua đó tiếp cận với cáckiến thức sơ giản về âm nhạc.

Trường CĐSP Nam Định là nơi đào tạo các hệ giáo viên tiểu học trình

độ CĐSP Trong chương trình đào tạo toàn khóa, sinh viên được học âm nhạcvới những kiến thức đầu tiên ở phân môn Nhạc lý phổ thông

Nội dung phân môn Nhạc lý phổ thông mang tính lý thuyết, trừu tượng,đòi hỏi người giảng viên âm nhạc phải biết cụ thể hóa, làm rõ các khái niệm

để sinh viên dễ dàng tiếp thu và thực hành những kiến thức âm nhạc, đáp ứngđược yêu cầu mục tiêu dạy học phân môn này

Trong chương 1, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu phântích, tổng hợp, khái quát hóa để làm rõ những khái niệm cần thiết về quá trìnhdạy học phân môn Nhạc lý phổ thông, về vai trò của phương tiện trực quanđối với việc dạy học của giáo viên và sinh viên CĐSP Tiểu học

Chúng tôi đã sử dụng phương pháp điều tra, quan sát, dự giờ, phỏng vấn,trao đổi để tìm hiểu thực trạng dạy học phân môn Nhạc lý phổ thông một sốkhóa sinh viên trước đây, để thấy được chất lượng dạy học phân môn này cònthấp, mà nguyên nhân khách quan dẫn đến thực trạng này là vấn đề dùngphương tiện trực quan còn chưa được quan tâm sử dụng

Để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Âm nhạc nói chung và phânmôn Nhạc lý phổ thông nói riêng trong đào tạo ở hệ CĐSP Tiểu học tại NamĐịnh, chúng tôi cho rằng cần mạnh dạn nghiên cứu đưa ra các biện pháp sửdụng phương tiện trực quan để giúp cho giảng viên và sinh viên thực hiện quátrình dạy học phân môn này một cách thuân lợi và dễ dàng hơn

Chương 2

Trang 23

BIỆN PHÁP SỬ DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG TIỆN TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN NHẠC LÝ PHỔ THÔNG Ở HỆ CAO

ĐẲNG SƯ PHẠM TIỂU HỌC TẠI NAM ĐỊNH

2.1 Những nội dung nhạc lý phổ thông cần sử dụng phương tiện trực quan

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn sử dụng PTTQ trong dạy họcphân môn Nhạc lý phổ thông, chúng tôi đã khái quát nội dung phân mônNhạc lý phổ thông trong từng chương và dự kiến sử dụng PTTQ vào từngchương như sau:

Chương 1: Âm thanh – Cao độ Đàn organ, máy chiếu, kèn

HarmonicaChương 2: Độ dài âm thanh, tiết tấu Sơ đồ , đàn organ, song loan,

thanh phách, trốngChương 3: Đảo phách, nghịch phách Máy chiếu, thanh phách

Chương 4: Các loại dấu hóa - Hóa biểu Sơ đồ, máy chiếu

Chương 5: Quãng: Bảng biểu, máy chiếu, đàn Chương 6 : Hợp âm Đàn, máy chiếu, máy tính Chương 7: Điệu thức – Gam - Giọng Bảng biểu, đàn, máy tính, máy

2.2 Một số nhóm phương tiện trực quan trong dạy học phân môn nhạc lý phổ thông

Trang 24

Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu, đúc kết kinh nghiệm sử dụngPTTQ lâu năm của các giáó viên đi trước chúng tôi tạm chia các phương tiệntrực quan trong dạy học phân môn Nhạc lý phổ thổng thành 4 nhóm:

Một số loại nhạc cụ phổ thông có thể kể đến như: Đàn Organ, Guitare,kèn harmonica, trống, thanh phách, lục lạc…

- Đàn organ: có hình dạng giống như đàn piano với một bảng điều khiển ở

trên như: STYLE (tiết tấu), VOICE (âm sắc), TEMPO (tốc độ), TRANSPOSE(dịch cao độ tự động), kết nối với các thiết bị bên ngoài thu âm, soạn giai điệu

Đa số các loại đàn organ hiện nay sử dụng công nghệ DSP và chia làm hai loạiorgan thông thường có 61 phím và piano điện tử 88 phím

Đàn organ hoạt động dựa trên băng thu Người ta thu âm thanh của cácnhạc cụ khác rồi cài vào trong đàn theo hệ thống phím, một đàn organ thôngdụng sẽ nhại được âm sắc khoảng gần 200 tới 600 âm sắc nhạc cụ tùy thuộcvào bộ nhớ trong đàn Ngoài ra hầu hết các đàn organ đều trang bị chức nănghòa đệm tự động với các giai điệu đa dạng và sáng tạo được thu sẵn trong đànnhư: Rumba, chachacha,pop, rock

Trang 25

Đàn organ được xem là nhạc cụ rất linh hoạt, ứng dụng cao, dễ học vàkhả năng trình diễn đa dạng tuy nhiên đàn organ sử dụng phát ra âm lượng to

và khá ồn

Đàn Organ có thể được sử dụng trong tất cả các tiết học phân môn nhạc

lí phổ thông Nhưng theo chúng tôi để phù hợp nhất với việc giảng dạy âmnhạc nói chung và giảng dạy phân môn nhạc lí phổ thông nói riêng cho hệCĐSP Tiểu học Trường CĐSP Nam Định nên chọn những loại đàn Organ cónhiều ứng dụng hơn trong việc phối âm, có nhiều âm sắc, điệu nhạc nền.Ngoài ra, cũng nên chọn những loại đàn có ứng dụng bộ chỉnh âm, ghi lại bảnnhạc vừa đánh, tạo hiệu ứng âm thanh

- Đàn Guitar: Nó là loại nhạc cụ có phím và dây, đàn ghi-ta ngày nay có

6 dây, tuy nhiên vẫn tồn tại những loại đàn ghi-ta có 4, 7, 8, 10 và 12 dây Đàn ghi - ta được cấu tạo bởi các bộ phận sau:

Thùng đàn: Là bộ phận quan trọng nhất của đàn gita nó có tác dụng cộnghưởng và khuếch đại âm thanh

Đầu đàn và bộ khóa trên đàn: Đầu đàn là bộ phận để gắn bộ khóa đàn, bộkhóa đàn có công dụng giữ dây và điều chỉnh cao độ của từng dây đàn

Lược đàn: Thường được làm từ xương hoặc nhựa giữ vai trò quan trọng

là chia dây, giúp cho dây đàn có một khoảng cách nhất định so với phím đàn,

để các dây khi rung ko chạm vào phím gây rè tiếng

Cần đàn mặt phím và phím đàn: Cần đàn là bộ phận liên kết đầu vàthùng đàn, mặt phím là một miếng gỗ dài được gắn với cần đàn, là nơi các

Trang 26

ngón tay trái thao tác trên đó, phím đàn là các thanh kim loại để chia mặtphím thành các ngăn phím, mỗi một ngăn phím là một nốt nhạc.

Các chấm đánh dấu: Các chấm đánh dấu trên cần đàn các ngăn phímquan trọng ở các vị trí 3,5,7,9,12 đây là dấu mốc quan trọng để học 5 thế bấmtrên cây đàn Guitar

Lỗ thoát âm và miếng bảo vệ mặt đàn: Lỗ thoát âm là nơi mà khi cácsóng âm hình thành bởi việc các dây đàn giao động sẽ được khuếch đại bêntrong thùng đàn và thoát ra ngoài không gian, miếng bảo vệ đàn là một bộphận nhỏ được dán ngay bên dưới lỗ thoát âm

Ngựa xương đàn: là một miếng gỗ mỏng được đặt ngay trên mặt đàn cócông dụng để “neo” dây đàn vào thùng

Đàn ghi - ta có ứng dụng rộng rãi trong các loại nhạc, có thể đệm chohát, hòa tấu hoặc chơi độc tấu

Đàn Ghi-ta có ưu điểm là nhẹ nhàng, dễ di chuyển, không gây tiếng ồn lớntrong không gian cần yên tĩnh, như khi tiết học Nhạc lý phổ thông diễn ra cùngdạy với các môn học khác và khi không có điện thì đàn ghi-ta rất hữu ích

Đàn ghi-ta cũng có nhược điểm là âm thanh nhỏ, chỉ có một âm sắc…Giáo viên có thể sử dụng đàn ghi – ta vào nội dung chương 1 của học phầnNhạc lý phổ thông hoặc chương 5, chương 6 của học phần

Đàn ghi – ta 6 dây

- Kèn harmonica: Kèn Harmonica gồm 24 lỗ chia làm hai hàng, mỗi

hàng 12 lỗ, kèn chia làm ba quãng tám

Trang 27

- Trống: Trống là nhạc cụ quan trọng trong bộ gõ, làm cho âm nhạc sinh

động hơn, giữ nhịp cho nhạc, trống được chia làm ba phần: Mặt trống, thântrống và đế trống

Kèn Harmonica Trống

Hai loại nhạc cụ có ưu điểm là nhỏ gọn và dễ sử dụng tuy nhiên hai nhạc

cụ trên có độ âm vang lớn, gây ồn ào, khó bảo quản

Giáo viên có thể sử dụng các loại nhạc cụ này để giới thiệu về sự khácbiệt của các âm thanh trong âm nhạc giúp sinh viên cảm nhận được rõ rànghơn sự khác biệt về mầu âm của mỗi loại nhạc cụ trong nội dung chương 1của Nhạc lý phổ thông Hoặc trong chương 2: Độ dài âm thanh, tiết tấu

- Song loan: Là loại nhạc cụ gõ, tạo sự vui nhộn và hứng khởi cho sinh

viên trong tiết học Song loan là một loại mõ nhỏ gỗ cứng, hình tròn dẹt, được

xẻ miệng sâu vào thân 1/3 để thoát âm, có một cần gõ bằng sừng trâu uốnmỏng hoặc lá thép có độ đàn hồi cao, trên đầu cần có gắn một miếng gỗ nhỏ

để gõ xuống thân của nó, tạo ra âm thanh đều đặn “Cốp cốp”

- Thanh phách: Gồm hai thanh gỗ cứng hoặc bằng hai thanh tre cát dài

khoảng 18 cm, nhiệm vụ của phách là giữ nhịp

Thanh phách và Song loan là hai loại nhạc cụ có ưu điểm: dễ chế tạo và

sử dụng Giáo viên nên tận dụng các chất liệu sẵn có của địa phương như: gỗ,tre, nứa, sừng trâu… để tạo thành các loại nhạc cụ trên Đồng thời, giáo viênnên khuyến khích và hướng dẫn sinh viên làm theo tổ hoặc làm theo nhómnhằm phát huy năng lực sáng tạo và tinh thần đoàn kết

Trang 28

Hai loại nhạc cụ này được giáo viên sử dụng trong các hoạt động ôn tập vàkiểm tra để sinh viên gõ tiết tấu, làm quen với nhịp, phách Giáo viên sử dụngnhạc cụ này trong giảng dạy Chương 1, chương 2 phân môn nhạc lí phổ thông.

Thanh phách Song loan

Một điểm lưu ý khi sử dụng các nhạc cụ phổ thông làm PTTQ là giáo viêncần nhắc nhở sinh viên không được sử dụng các loại nhạc cụ này một cách tự dogây ồn ào, làm ảnh hưởng đến quá trình dạy học Nhạc lý phổ thông

2.2.2 Giáo cụ trực quan

Giáo cụ trực quan là đồ dùng dạy học để làm cho người học thấy mộtcách cụ thể điều muốn giảng Giáo cụ trực quan trong dạy học phân mônNhạc lý phổ thông bao gồm: Bảng biểu, sơ đồ, các tấm ghép… Khi sử dụnggiáo cụ trực quan, giáo viên thường kết hợp với phương pháp dùng lời nhằmphân tích nội dung bài học

- Sơ đồ, bảng biểu: Là những hình ảnh minh họa nội dung dạy học có

sẵn trong giáo trình hoặc giáo viên tự sáng tạo ra sơ đồ, bảng biểu sao chophù hợp với nội dung dạy học để thu hút sự tập trung quan sát của sinh viên Bảng biểu, sơ đồ có thể dùng trong giảng dạy nội dung chương 2,chương 5, chương 6, chương 7 học phần Nhạc lý phổ thông

- Sử dụng các tấm ghép: là những miếng ghép nhỏ bằng giấy, bìa cứng

hoặc nhựa mà giáo viên tự sáng tạo ra từng bộ ghép theo từng nội dung củamôn học Các bộ ghép thường được sử dụng trên lớp trong những giờ ôn tập,kiểm tra

Trang 29

Các tấm ghép có thể sử dụng vào nội dung chương 1, chương 5 tronggiảng dạy phân môn Nhạc lý phổ thông.

2.2.3 Trang thiết bị điện tử

Các thiết bị điện tử là PTTQ được sử dụng nhiều hơn trong các giờ dạynhạc lí phổ thông Các trang thiết bị điện tử phổ biến hiện nay được dùng làmphương tiện trực quan như: Máy vi tính, máy chiếu, loa đài…

Máy chiếu (Projector): Bao gồm có máy chiếu và màn chiếu, có bộ phận

phát ra ánh sáng và có công suất lớn, cho đi qua một số hệ thống xử lý trunggian (để từ một số nguồn tín hiệu đầu vào) để tạo ra hình ảnh trên màn chiếuchúng ta có thể quan sát được bằng mắt Đây là phương tiện trực quan tiệnlợi, có thể tích hợp được nhiều PTTQ khác nếu cần thiết Giáo viên có thểthông qua đó để trình chiếu nội dung bài giảng, hình ảnh, trình chiếu video…Tuy nhiên khi sử dụng, giáo viên cần đảm bảo các sự ổn định của các phươngtiện kết nối liên quan như máy tính, loa đài, dây kết nối…

Máy chiếu có thể sử dụng cho tất cả các nội dung trong chương trình dạyhọc học phần Nhạc lý phổ thông

H5 Máy chiếu

Máy vi tính: Bao gồm có bốn thành phần: Bộ xử lý: dùng để điều khiển

và sử lý dữ liệu, bộ nhớ: chứa chương trình và dữ liệu, hệ thống ra vào: traođổi thông tin giữa máy tính với bên ngoài, liên kết giữa các hệ thống: liên kếtgiữa các thành phần của máy tính lại với nhau Trong giảng dạy các thành

Trang 30

phần trong máy vi tính có thể được dùng để cài đặt, thiết kế các bài giảng điện

tử hoặc chỉnh sửa các đoạn nhạc theo ý muốn, kết nối đến máy chiếu

H4 Máy vi tínhMáy vi tính có thể sử dụng cho tất cả các nội dung từ chương 1 đếnchương 8 trong chương trình dạy học học phần Nhạc lý phổ thông

- Loa: gồm có hai bộ phận chính là màng loa và thùng loa Có rất nhiều

các loại loa với công suất khác nhau tuy nhiên chúng ta nên dùng loại loa vitính vì ó có ưu điểm gọn nhẹ, dễ kết nối với các phương tiện trực quan khácnhư: máy tính, đài

- Đài: được ứng dụng nhiều trong công nghệ thu - phát âm thanh và đạt

được mức phổ biến cao vì tiện lợi, nhỏ gọn Trong giờ dạy học nhạc phốthông, phương tiện trực quan này có thể được sử dụng thay thế cho các loạinhạc cụ khi có thể phát các đoạn nhạc, tiết tấu, âm thanh phục vụ cho bài học.Tuy nhiên, nhược điểm của PTTQ này so với đàn Organ là sự rập khuôn,thiếu đi sự linh hoạt khi sử dụng

Loa đài có thể sử dụng trong nội dung chương 8 của học phần Nhạc lýphổ thông

Trong xu thế đổi mới giáo dục hiện nay, giáo viên cần tiếp cận đối vớicông nghệ cao như: vi tính, máy chiếu…trong giờ dạy học nói chung và dạyhọc Nhạc lý phổ thông nói riêng Nếu giáo viên ứng dụng tốt các trang thiết bị

Trang 31

này phù hợp với mục tiêu, nội dung dạy học, đặc điểm khả năng âm nhạc củasinh viên thì chắc chắn sẽ gây hiệu quả âm nhạc tốt cho sinh viên.

2.2.4 Phần mềm tin học hỗ trợ dạy học phân môn nhạc lý phổ thông.

Có rất nhiều các phần mềm tin học hỗ trợ cho việc dạy học âm nhạc nóichung và nhạc lí phổ thông nói riêng Nhưng trong khuôn khổ bài viết này,chúng tôi xin giới thiệu 3 phần mềm tin học: Phần mềm Encore, phần mềmAdobe, phần mềm Power point

Theo nghiên cứu của chúng tôi, ba phần mềm tin học trên sẽ sử dụng nhiềunhất và khả năng ứng dụng cao nhất trong giờ dạy học nhạc lí phổ thông

- Phần mềm Encore: Encore là một phần mềm âm nhạc ra đời từ rất sớm

áp dụng công nghệ thông tin vào âm nhạc, một phần mềm soạn nhạc tiêuchuẩn với những ký hiệu âm nhạc chuyên nghiệp, nó sử dụng những kỹ năng

cơ bản của một bản nhạc để giúp bạn nghe lại và hoàn thành bản nhạc theođúng nhịp điệu, tiết tấu

Trong dạy học nhạc lí phổ thông, giáo viên sau khi soạn được 1 bản nhạchoàn chỉnh, hay một chuỗi các âm thanh với tiết tấu, cao độ phù hợp với nộidung bài học rồi, có thể in ra hay có thể lưu lại dưới dạng file midi để tiện sửdụng trong các trình nghe nhạc

Ưu điểm của phần mềm này trong dạy học nhạc lí phổ thông là giáo viên

có thể dễ dàng tạo ra được những bản nhạc phù hợp với các nội dung nhưquãng, cao độ, tiết tấu một cách linh hoạt và sang tạo nhất

Nhược điểm: Phần mềm chủ yếu hỗ trợ viết nốt nhạc và giai điệu cơ bảncủa bài hát nên nó sẽ không hỗ trợ được những chức năng như lồng nhạc, tăngchỉnh tần số, mix, phối, trộn nhạc

Phần mềm này có thể được dùng khi giảng dạy nội dung chương 2 hoặcchương 3 chương 5 phân môn Nhạc lý phổ thông

Trang 32

H1 Hình ảnh phần mềm Encore

- Phần mềm Adobe: Phần mềm Adobe Audition là một công cụ tiện ích,

hiệu quả để chỉnh sửa, mix, khôi phục, tạo hiệu ứng cho file audio Phần mềmAdobe có thể tăng tốc độ hoàn thành file audio: Chỉnh sửa, thiết kế âm thanh,

xử lý, mix, tối ưu hóa phim, video, radio… nhanh hơn Trong dạy học nhạc líphổ thông, phần mềm này giúp cho giáo viên có thể chỉnh sửa các file âmthanh sắp xếp clip, điều chỉnh tốc độ, sửa lỗi audio, thiết kế âm thanh mộtcách chuẩn xác, phù hợp với nội dung các bài học

Hai phần mềm Encore và Adobe Audition có thể thay thế tạm thời choviệc sử dụng một số loại nhạc cụ phổ thông như Organ, Guitar Tuy nhiên, để

sử dụng được hai phần mềm nay, yêu cầu giáo viên phải có sự đầu tư về thờigian, khả năng sử dụng máy vi tính và tai nghe tốt

H2 Hình ảnh phần mềm Adobe Audition

Trang 33

Phần mềm này có thể sử dụng vào giảng dạy nội dung chương 8 học phần Nhạc lý phổ thông

- Phần mềm Power point: Microsoft PowerPoint cung cấp mọi công cụ

chỉnh sửa cần thiết như mọi phần mềm Office khác Đồng thời, phần mềmnày cũng mang đến một bộ tính năng chuyên dùng cho thuyết trình ví dụ nhưhiệu ứng di chuyển (transition) và hiệu ứng ảnh động (animation) Bên cạnh

đó, cũng có thể thêm và chỉnh sửa nhiều yếu tố khác như ảnh, video, audio,hypertext và biểu đồ Ngoài ra, chương trình Office này còn hỗ trợ nhiều tínhnăng khác, điều này giúp việc thêm thông tin và tăng yếu tố thú vị vào bàithuyết trình trở nên dễ dàng Trong dạy học phân môn nhạc lí phổ thông, đây

là phần mềm vô cùng quan trọng, giúp ích rất nhiều cho người giáo viên trongviệc thiết kế bài giảng điện tử Phần mềm này, cũng tích hợp được các PTTQnhư tranh ảnh, âm thanh

H3 Hình ảnh phần mềm Power pointPhần mềm này có thể sử dụng được trong tất cả nội dung giảng dạy củacác chương trong học phần Nhạc lý phổ thông

Trang 34

2.3 Nguyên tắc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học phân môn Nhạc lý phổ thông.

Việc sử dụng PTTQ trong day học phân môn Nhạc lý phổ thông đòi hỏiphải xây dựng một số nguyên tắc để đạt hiệu quả Trong phạm vi đề tài nàychúng tôi đưa ra một số nguyên tắc sử dụng PTTQ như sau:

2.3.1 Nguyên tắc dùng PTTQ phù hợp với nội dung bài học

Sử dụng PTTQ trong dạy học phân môn Nhạc lý phổ thông sẽ rất hữudụng nếu như được chuẩn bị tốt và sáng tạo Tuy vậy, nó cũng có thể gây thấtvọng nếu chuẩn bị không tốt và sử dụng tùy tiện, không thích hợp với nộidụng bài học Trong nội dung giới thiệu về quãng GV nên sử dụng đàn organhoặc đàn ghi – ta, không thể sử dụng thanh phách làm PTTQ

Giới thiệu về hợp âm GV nên sử dụng các phần mềm tin học trình chiếucác slide, đàn organ, không thể sử dụng PTTQ là trống

Mỗi PTTQ đều có những điểm mạnh, điểm hạn chế nhất định Cùng mộtnội dung kiến thức, GV có thể sử dụng được những PTTQ khác nhau,vì thếchúng ta cần lựa chọn PTTQ phù hợp nhất với nội dung bài học

Để phát huy tính hiệu quả của PTTQ và đem lại hiệu quả trong QTDHNhạc lý phổ thông Do đó khi chuẩn bị lên lớp một nội dung nào đó trongNhạc lý phổ thông, cụ thể là chương 1: Âm thanh – Cao độ Giáo viên cầnchuẩn bị cho mình một số câu hỏi sau:

1 Chương 1: Âm thanh – cao độ, có cần phương tiện trực quan không? Trả lời: có

2 Nội dung Âm thanh – cao độ cần phương tiện trực quan nào?

Trả lời: Đàn organ, máy chiếu

3 Sử dụng đàn organ, máy chiếu như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất?

Trả lời: Cách sử dụng như sau:

Trang 35

- Giới thiệu khái niệm về âm thanh, cao độ dùng máy chiếu các slide vàthuyết trình.

- Dùng đàn organ cho sinh viên nghe các cao độ khác nhau

4 Sử dụng đàn organ, máy chiếu trong bao lâu?

Trả lời:

- Chỉ dùng đàn organ để giới thiệu vài cao độ khác nhau

- Dùng máy chiếu trình chiếu tất cả các slide về vị trí 7 nốt nhạc trênkhuông

Trả lời những câu hỏi này sẽ giúp cho giáo viên quyết định được việc sửdụng phương tiện trực quan nào phù hợp với nội dung bài học

2.3.2 Nguyên tắc kết hợp linh hoạt phương tiện trực quan với các phương pháp dạy học âm nhạc

Trong dạy phân môn Nhạc lý phổ thông PTTQ cần kết hợp linh hoạt vớicác phương pháp dạy học âm nhạc như: Phương pháp dùng lời, phương pháptrình bày tác phẩm, phương pháp thực hành luyện tập

Trong quá trình kết hợp PTTQ với các phương pháp dạy học âm nhạc, GVcần lựa chọn PTTQ sao cho phù hợp với phương pháp mà mình sẽ sử dụng

Ví dụ, GV sử dụng phương pháp thuyết trình để mô tả nội dung bài học

về quãng hòa thanh và quãng giai điệu kết hợp với việc sử dụng đàn organ

GV đánh các quãng hòa thanh và giai điêu cho sinh viên nghe, để sinh viênphân biệt được hai quãng trên

Khi sử dụng phương pháp thực hành luyện tập để sinh viên nhận biết vịtrí các nốt nhạc, khóa nhạc trên khuông nhạc, GV sử dụng các tấm ghép đểsinh viên được thực hành trực tiếp

Sự kết hợp khéo léo đó sẽ làm cho nội dung bài học dễ hiểu, tiết họcthêm phong phú, tạo sự hứng khởi cho sinh viên tiếp thu nội dung bài giảngtốt hơn

Trang 36

Như vậy, trong mỗi giờ học, nếu giáo viên biết kết hợp vận dụng linhhoạt các phương pháp dạy học với việc sử dụng các PTTQ sinh viên đượcthực hành ứng dụng thì tiết học đó chắc chắn sẽ có hiệu quả tốt.

2.3.3 Nguyên tắc sử dụng phương tiện trực quan thành thạo

Việc sử dụng PTTQ trong dạy học phân môn Nhạc lý phổ thông chỉ cóhiệu quả và tác động tích cực khi giảng viên có kiến thức chuyên môn vữngvàng và được trang bị những kỹ năng cần thiết về khả năng, hiểu biết và sửdụng thành thạo các PTTQ

Sử dụng thành thạo các nhạc cụ phổ thông thì Gv phải nắm được cácchức năng cũng như cơ chế hoạt động của từng nhạc cụ Đối với ghi – ta vàorgan Gv cần tập luyện sẵn các bản nhạc trên đàn trước hay các hợp âm cácnốt nhạc cần đánh cho sinh viên nghe

Khi sử dụng loa đài cần lựa chọn băng video, cát-sét cho đúng chủ đề,nội dung chương trình, vị trí và nhiệm vụ mà bài học cần giải quyết Giáoviên cần tóm tắt nội dung của đoạn băng trước để sinh viên tri giác tích cực vàlĩnh hội được đầy đủ nội dung của đoạn băng, hình đó

Sử dụng tranh ảnh giáo viên cần treo, đặt, để tranh ảnh một cách khoahọc sao cho bằng phẳng, không bị bong, lóa để sinh viên quan sát và tư duy

về nội dung của tranh ảnh đó một cách tốt nhất bảng biểu Gv có thể tự sángtạo ra hoặc sử dụng các bảng biểu có sẵn trong SGK in ra trên khổ giấy A0 Các miếng ghép Gv có thể lấy bìa cứng cắt ra từng miếng nhỏ rồi viết nộidung lên trên

Máy chiếu và máy tính luôn đi kèm với nhau Sử dụng máy chiếu vàmáy tính cần làm theo một số bước sau:

- Kết nôi dây tín hiệu: Dùng dây cáp VGA cắm vào cổng có ký hiệuVGA trên cả máy tính lẫn máy chiếu

Trang 37

- Kết nối nguồn điện: Phích cắm dây nguồn của máy và ổ phải vừa vặn,không để quá lỏng, máy chiểu có khả năng hoạt động tốt và ổn đinh ở điện áp

2.3.4 Nguyên tắc sử dụng vừa đủ phương tiện trực quan

Trong dạy học phân môn Nhạc lý phổ thông nếu lạm dụng PTTQ sẽ dẫntới phản tác dụng

Trong một tiết dạy phân môn Nhạc lý phổ thông mà nội dung nào Gvcũng dùng đàn cho sinh viên nghe quá nhiều thì sinh viên chỉ tập trung nghe,

sẽ không chú ý nhiều đến nội dung bài học

Giáo viên chỉ nên sử dụng từng bảng biểu hoặc sơ đồ để giới thiệu từngnội dung để sinh viên khái lược được từng khái niệm Sử dụng một lúc nhiềubảng biểu hoặc nhiều sơ đồ sẽ làm sinh viên mất tập trung, không nắm đượcnội dung chính

Việc đưa giáo án điện tử và công nghệ thông tin vào giảng dạy nhạc líphổ thông đã góp phần “làm mới” tiết học lên nhiều Nhưng thực tế, có nhữngtiết dạy nhạc lí phổ thông, giáo viên trình chiếu cho sinh viên quá nhiều thôngtin, hình ảnh, số liệu khiến cho sinh viên bị quá tải với những gì nghe và nhìnthấy Thời gian lẽ ra phải dành để sinh viên suy nghĩ, tư duy, thảo luận nhómthì chủ yếu chỉ để sử dụng cho việc nghe và quan sát Kết quả là, chuyển từhình thức đọc - chép trước đây sang nhìn - chép, chiếu - chép, hiệu quả củatiết dạy nhạc lí phổ thông vì thế không được cải thiện nhiều

Trang 38

Để đạt hiệu quả cao trong ứng dụng PTTQ vào giảng dạy phân môn nhạc

lí phổ thông, GV vận dụng PTTQ vào nội dung bài học một cách vừa đủ vàphù hợp

Sử dụng phương tiện trực quan nhằm hỗ trợ giáo viên đứng lớp chuyểntải tới sính viên những lượng thông tin mà phấn trắng, bảng đen và cácphương tiện dạy học truyền thống khác không làm được Nhưng không thể vàkhông nên lạm dụng PTTQ, mà phải kết hợp linh hoạt PTTQ với các phươngpháp dạy học âm nhạc, bám sát nội dung, chuẩn bị để sử dụng phương tiệntrực quan thật thành thạo để đem lại kết quả tốt nhất trong giờ học phân mônNhạc lý phổ thông

Vì vậy, giáo viên cần phải nắm vững cách sử dụng từng phương tiện trựcquan, cách kết hợp một số phương tiện trực quan trong dạy học phân mônNhạc lý phổ thông ở hệ cao đẳng sư phạm Tiểu học

2.4 Hướng dẫn sử dụng phương tiện trực quan vào một số bài học môn nhạc lý phổ thông.

Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi giới thiệu đến một số nhóm PTTQnhư: Nhạc cụ phổ thông, giáo cụ trực quan, các trang thiết bị điện tử, các phầnmềm… Bên cạnh đó, chúng tôi cũng muốn đề cập đến vấn đề sử dụng, kếthợp một số các nhóm PTTQ trong dạy học Nhạc lý phổ thông Hi vọng rằngthông qua đó sẽ giúp bài học thêm thú vị khiến SV phấn chấn hơn, tích cựcchủ động hơn khi SV được tiếp xúc với những âm thanh, hình ảnh cụ thể ngaytại lớp học

2.4.1 Cách sử dụng từng PTTQ trong dạy học phân môn Nhạc lý phổ thông.

2.4.1.1 Các nhạc cụ phổ thông

- Sử dụng Đàn organ: Trong nội dung giảng dạy về Các thuộc cơ bản

của âm nhạc Để giúp sinh viên nhận biết được 4 thuộc tính của âm nhạc thì

ngoài phương pháp thuyết trình Gv sử dụng đàn organ đàn cho Sv nghe giai

Trang 39

điệu bài hát “Con chim non” để Sv nhận biết và phân biệt được các thuộctính một cách tốt hơn Khi đệm một giai điệu trên đàn Gv phải làm các bướcsau:

Chọn Style ( tiết tấu đệm ): rồi bấm số trên bảng số hoặc dùng vòngquay, dùng các dấu +, dấu – để chọn nhóm tiết tấu latinh sau đó chọn tiết tấuBossaNova

Chọn Voice ( Âm sắc ) rồi bấm số trên bảng số hoặc dùng vòng quay,dùng các dấu +, dấu – để chọn âm sắc GrandPiano

Chọn tốc độ nhanh chậm ( tempo ) sau đó bấm dâu + là tăng, dấu – làgiảm trên bảng số hoặc quay vòng để chọn tempo 140

Chọn chế độ đệm cho tay trái: Ta khởi động chế độ đệm bằng cách ấnnút ACMP

- Sử dụng đàn Ghi – ta: Khi nói đến nội dung Âm sắc: Mỗi nhạc cụ phát

ra những âm có sắc thái khác nhau… Gv có thể đàn cho Sv nghe tiếng đànghi – ta, hay dùng kèn amonica để thổi Hoặc giáo viên có thể chọn Voice( Âm sắc ) trên bảng điều khiển sau đó chọn một số âm sắc khác nhau của cácloại nhạc cụ như trống kèn, ghi ta… cho sinh viên nghe

- Sử dụng Thanh phách: có thể sử dụng trong giảng dạy nội dung

chương 2: Phách, nhịp Khi thuyết trình về nhịp 2/4 là nhịp có hai phách trongmột ô nhịp trong đó phách đầu là phách mạnh phách sau là phách nhẹ, Gvhướng dẫn Sv sử dụng thanh phách: Thanh phách tay phải gõ vào thanh pháchtay trái Gõ lần đầu dùng lực mạnh ( Thể hiện phách mạnh ), gõ lần hai dùnglực nhẹ ( Thể hiện phách nhẹ )

- Sử dụng Song loan: Sử dụng trong nội dung ôn tập trường độ các nốt

nhạc Khi đọc tên nốt nhạc và trường độ một đoạn nhạc, Gv hướng dẫn Svdùng tay đập vào dùi gõ, dùi gõ đập vào song loan tạo ra âm thanh đều đặn

Ngày đăng: 09/11/2015, 16:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Nguyễn Thanh Bình (2008), “Giáo dục Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”Nxb Đại học Sư pham, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo dục Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: Nxb Đại học Sư pham
Năm: 2008
5. Đinh Thành Công, “Tăng cường hiệu quả giảng dạy môn lý thuyết âm nhạc cơ bản cho sinh viên hệ CĐSPAN trường CĐSP Nam Định”, ĐHSPANCQ K2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường hiệu quả giảng dạy môn lý thuyết âmnhạc cơ bản cho sinh viên hệ CĐSPAN trường CĐSP Nam Định”,Đ
6. Thái Thị Duyên (2007), Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới, Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới
Tác giả: Thái Thị Duyên
Năm: 2007
7. Nguyễn Kế Hào (chủ biên) – Nguyễn Quang Uẩn. “Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm” (2004), Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tâm lý học lứa tuổivà tâm lý học sư phạm”
Tác giả: Nguyễn Kế Hào (chủ biên) – Nguyễn Quang Uẩn. “Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm”
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2004
8. Trần Bá Hoành (2010), “Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa”, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đổi mới phương pháp dạy học, chương trìnhvà sách giáo khoa”
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2010
9. Lê Văn Hồng – Học Lan – Nguyễn Văn Thắng – Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi vàtâm lý học sư phạm
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
10. Phạm Tú Hương (1999), Lý thuyết âm nhạc cơ bản, ( giáo trình CĐSP) Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết âm nhạc cơ bản
Tác giả: Phạm Tú Hương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
11. Phạm Tú Hương, Đỗ Xuân Tùng, Nguyễn Trọng Ánh (2005), “Giáo trình Lý thuyết Âm nhạc cơ bản dành cho hệ Trung học Âm nhạc chuyên nghiệp”, Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáotrình Lý thuyết Âm nhạc cơ bản dành cho hệ Trung học Âm nhạc chuyênnghiệp”
Tác giả: Phạm Tú Hương, Đỗ Xuân Tùng, Nguyễn Trọng Ánh
Năm: 2005
12. Nguyến Sinh Huy ( 1997), Giáo dục học đại cương, Nxb Giáo dục, 13. Đỗ Hải Lễ - Lý thuyết cơ bản về âm nhạc (2001), Nhà in khoa học vàcông nghệ 70B Hoàng Hoa Thám Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học đại cương", Nxb Giáo dục, 13. Đỗ Hải Lễ - "Lý thuyết cơ bản về âm nhạc
Tác giả: Nguyến Sinh Huy ( 1997), Giáo dục học đại cương, Nxb Giáo dục, 13. Đỗ Hải Lễ - Lý thuyết cơ bản về âm nhạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
14. Hoàng Long – Hoàng Lân (2005), “Phương pháp dạy học âm nhạc”, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phương pháp dạy học âm nhạc”
Tác giả: Hoàng Long – Hoàng Lân
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2005
15. Đỗ Mười (1998), “Hội thảo khoa học nghiên cứu phát triển tự học, tự đào tạo”. Thư gởi hội thảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hội thảo khoa học nghiên cứu phát triển tự học, tựđào tạo”
Tác giả: Đỗ Mười
Năm: 1998
17. Lê Đức Ngọc (2009), “Đo lường và đánh giá thành quả học tập ”, tài liệu tham khảo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đo lường và đánh giá thành quả học tập
Tác giả: Lê Đức Ngọc
Năm: 2009
18. Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt (1987), Giáo dục học, tập 1, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học, tập 1
Tác giả: Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1987
19. Nguyễn Thế Phương, “Giải pháp góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn Nhạc lý cho sinh viên CĐSP giáo dục Tiểu học trường CĐSP Hà Nam”, Luận văn thạc sĩ LL và PPDH âm nhạc, năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giải pháp góp phần nâng cao chất lượng giảngdạy môn Nhạc lý cho sinh viên CĐSP giáo dục Tiểu học trường CĐSPHà Nam”
22. Phạm Văn Quang (2007), Xây dựng phương pháp trực quan trong dạy học âm nhạc ở trường THCS Nam Dương – Nam Định. KLTN ĐHSP âm nhạc chính quy khóa III, trường ĐHSP Nghệ thuật TW Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng phương pháp trực quan trong dạyhọc âm nhạc ở trường THCS Nam Dương – Nam Định
Tác giả: Phạm Văn Quang
Năm: 2007
24. Thái Duy Tiên (1998), “Những vấn đề cơ bản của Giáo dục hiện đại”, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những vấn đề cơ bản của Giáo dục hiện đại”
Tác giả: Thái Duy Tiên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
28. Thái Duy Tuyên (1999), Những vấn đề cơ bản của giáo dục học hiện đại, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản của giáo dục học hiệnđại
Tác giả: Thái Duy Tuyên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
29. V.A. Vakhrameep – Dịch giả Vũ Tự Lân (1993), Lý thuyết âm nhạc cơ bản, Nxb Âm nhạc, Hà Nội. Ngô Thị Nam (2004), Giáo trình hát, NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết âm nhạc cơbản", Nxb Âm nhạc, Hà Nội. Ngô Thị Nam (2004), "Giáo trình hát
Tác giả: V.A. Vakhrameep – Dịch giả Vũ Tự Lân (1993), Lý thuyết âm nhạc cơ bản, Nxb Âm nhạc, Hà Nội. Ngô Thị Nam
Nhà XB: Nxb Âm nhạc
Năm: 2004
30. Lương Bằng Vinh (2003), Nhạc lý căn bản và nâng cao, Nxb Âm nhạc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhạc lý căn bản và nâng cao
Tác giả: Lương Bằng Vinh
Nhà XB: Nxb Âm nhạc
Năm: 2003
2. Trọng Ánh, Lý thuyết âm nhạc cơ bản. (Tài liệu ghi chép) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Tổng hợp kết quả điều tra hứng thú của sinh viên với NLPT - Sử dụng một số phương tiện trực quan trong dạy học môn nhạc lý phổ thông tại trường cao đẳng sư phạm nam định (2)
Bảng 2 Tổng hợp kết quả điều tra hứng thú của sinh viên với NLPT (Trang 21)
H1. Hình ảnh phần mềm Encore - Phần mềm Adobe: Phần mềm Adobe Audition là một công cụ tiện ích, hiệu quả để chỉnh sửa, mix, khôi phục, tạo hiệu ứng cho file audio - Sử dụng một số phương tiện trực quan trong dạy học môn nhạc lý phổ thông tại trường cao đẳng sư phạm nam định (2)
1. Hình ảnh phần mềm Encore - Phần mềm Adobe: Phần mềm Adobe Audition là một công cụ tiện ích, hiệu quả để chỉnh sửa, mix, khôi phục, tạo hiệu ứng cho file audio (Trang 32)
H3. Hình ảnh phần mềm Power point Phần mềm này có thể sử dụng được trong tất cả nội dung giảng dạy của các chương trong học phần Nhạc lý phổ thông. - Sử dụng một số phương tiện trực quan trong dạy học môn nhạc lý phổ thông tại trường cao đẳng sư phạm nam định (2)
3. Hình ảnh phần mềm Power point Phần mềm này có thể sử dụng được trong tất cả nội dung giảng dạy của các chương trong học phần Nhạc lý phổ thông (Trang 33)
Sơ đồ biểu thị sự tương quan giữa các trường độ - Sử dụng một số phương tiện trực quan trong dạy học môn nhạc lý phổ thông tại trường cao đẳng sư phạm nam định (2)
Sơ đồ bi ểu thị sự tương quan giữa các trường độ (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w