1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những xu hướng chủ yếu trong tài chính thế giới hiện nay

27 244 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 531 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là sự di chuyển các luồng tiền vốn giữa các quốc gia gắn liền với các quan hệ quốc tế vềkinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quân sự, ngoại giao,… giữa các chủ thể của cácquốc gia và

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Nhóm tác giả xin bla bla

Trang 3

NỘI DUNG

1 Cơ sở lý luận về Tài chính quốc tế1

1.1 Cơ sở lý luận 1

1.1.1 Khái niệm Tài chính quốc tế 1

1.1.2 Vai trò của Tài chính quốc tế 1

1.2 Cơ sở thực tiễn 2

1.2.1 Kế hoạch giải cứu khu vực tài chính lớn nhất trong lịch sử 2

1.2.2 Chuyển hướng các dòng đầu tư sang các nền kinh tế mới nổi 3

1.2.3 Sự bất ổn nền kinh tế vĩ mô5

2 Những xu hướng chủ yếu trong tài chính thế giới hiện nay 10

2.1 Mức độ cạnh tranh trên thị trường tài chính ngày càng gay gắt 10

2.2 Vai trò tăng lên của các ngân hàng và các công ty đầu tư 12

2.3 Xuất hiện các hệ thống thương mại mới 14

3 Một số vấn đề tài chính chủ yếu của Việt Nam trong bối cảnh hiện nay và triển vọng16

3.1 Một số vấn đề tài chính chủ yếu của Việt Nam trong bối cảnh hiện nay 163.1.1 Đồng VND mất giá 16

3.1.2 Áp lực lạm phát tăng cao 17

3.1.3 Thâm hụt ngân sách 18

3.2 Dự báo kinh tế Việt Nam đến năm 2025 19

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 6

NHỮNG XU HƯỚNG CHỦ YẾU TRONG TÀI CHÍNH THẾ GIỚI HIỆN NAY

1 Cơ sở lý luận về Tài chính quốc tế

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái niệm Tài chính quốc tế

Tài chính quốc tế là hoạt động tài chính diễn ra trên bình diện quốc tế Đó là sự

di chuyển các luồng tiền vốn giữa các quốc gia gắn liền với các quan hệ quốc tế vềkinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quân sự, ngoại giao,… giữa các chủ thể của cácquốc gia và các tổ chức quốc tế thông qua việc tạo lập, sử dụng các quỹ tiền tệ ởmỗi chủ thể nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể đó trong ác quan

hệ quốc tế

1.1.2 Vai trò của Tài chính quốc tế

Một là: Là công cụ quan trọng khai thác các nguồn lực quốc tế phục vụ cho sự

phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia Thông qua các hoạt động TCQT, cácnguồn tài chính, công nghệ, kỹ thuật, lao động… được phân phối lại trên phạm vi thếgiới Bằng việc mở rộng các quan hệ TCQT thong qua các hình thức: vay quốc tế,tham gia vào các thị trường vốn quốc tế… các quốc gia có thể tận dụng tốt các nguồnlực tài chính nước ngoài và các tổ chức quốc tế; cùng với nó là quản lý công nghệ, kỹthuật hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến

Hai là: Thúc đẩy các nền kinh tế quốc gia nhanh chóng hội nhập vào nền kinh tế

thế giới Việc mở rộng các hình thức tín dụng quốc tế, đầu tư quốc tế, tham gia các thịtrường vốn, thị trường tiền tệ, thị trường hối đoái quốc tế, mở rộng thương mại vàdịch vụ quốc tế… vừa góp phần phát triển kinh tế trong nước vừa thúc đẩy hoàn thiệnchính sách và thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế theo các yêu cầu của các tổ chứcquốc tế và khu vực Tài chính quốc tế vừa là yếu tố tiền đề vừa là yếu tố các tác độngthúc đẩy các quốc gia nhanh chóng hội nhập nền kinh tế thế giới

Ba là: Tạo cơ hội nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính nội tại từng

quốc gia Sự mở rộng và phát triển của TCQT cho phép các nguồn lực tài chính cókhả năng lưu chuyển dễ dàng, thuận lợi và mạnh mẽ giữa các quốc gia đã tạo điềukiện cho các chủ thể ở mỗi quốc gia có cơ hội giải quyết những khó khăn tạm thời vềnguồn tài chính và nâng cao hiệu quả của các nguồn lực tài chính được đưa vào sửdụng cả trên vị trí nhà đầu tư hay người cần vốn

Trang 7

1.2 Cơ sở thực tiễn

Hệ thống tài chính tiền tệ toàn cầu đã trải qua một thời kỳ đầy biến động vớinhiều sự kiện nổi bật kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 Ban đầu,người ta cho rằng cuộc khủng hoảng lần này sẽ tồi tệ như cuộc Đại khủng hoảng1929-1933, gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho hệ thống tài chính, kéo lùi sựtăng trưởng của kinh tế thế giới, đẩy các quốc gia vào tình trạng suy thoái lâu dài.Thế nhưng, đến những ngày cuối năm 2009, chúng ta đã có thể khẳng định thờiđiểm tồi tệ nhất đã qua đi và thế giới đang từng bước thoát khỏi khủng hoảng

1.2.1 Kế hoạch giải cứu khu vực tài chính lớn nhất trong lịch sử

Những bài học kinh nghiệm quý báu từ cuộc Đại suy thoái trong quá khứ đã trởthành những biện pháp hữu hiệu đối phó với cuộc khủng hoảng hiện tại Trong cuộcĐại khủng hoảng 1929 – 1933 các quốc gia được xem là đã phạm những sai lầm

khi: i) không đánh giá đúng mức vai trò của hệ thống tài chính tiền tệ của nền kinh

tế dẫn đến; ii) phản ứng chậm chạp trong việc ngăn chặn tác hại từ sự suy sụp của khu vực tài chính đối với khu vực kinh tế thực; đồng thời, iii) chưa đánh giá được hết hiệu quả của chính sách tài khóa mở rộng kích thích tăng trưởng giúp phục hồi

nền kinh tế (do học thuyết của Keynes về gia tăng tổng cầu trong giai đoạn này cònchưa được thừa nhận) Kết quả là, thế giới đã lâm vào tình trạng suy thoái nặng nềtrong vòng 4 năm từ 1929 đến 1933

Tuy nhiên, các sai lầm này đã không bị lặp lại và thế giới đã phản ứng rất kịpthời trong việc đối phó với khủng hoảng Tại thời điểm đầu năm 2009, khi cuộckhủng hoảng còn đang trong giai đoạn cao trào với hang loạt các vụ phá sản vàthông tin xấu từ khu vực tài chính, các quốc gia đã bắt tay vào một kế hoạch giải

cứu kinh tế khổng lồ trong lịch sử, bao gồm việc thực thi: i) hệ thống các chính sách tiền tệ khắc phục những sai lầm của khu vực tài chính và ii) hệ thống các chính sách tài khóa giúp phục hồi hoạt động của nền kinh tế thực.

Theo số liệu của IMF, trong năm 2009, nhằm ngăn chặn tác hại của cuộc khủnghoảng, thế giới đã tiêu tốn khoảng 10,8 nghìn tỷ USD cho việc giải quyết các hậuquả của khu vực ngân hàng tài chính, trong đó các nền kinh tế phát triển đã bỏ ra 9,2

nghìn tỷ USD, còn các nước đang phát triển cũng mất đến 1,6 nghìn tỷ USD (Steve Schifferes, 2009) Số tiền này được sử dụng cho 4 công việc chính bao gồm: i) tăng

vốn khẩn cấp cho các định chế tài chính; ii) Mua lại các tài sản xấu; iii) Bảo lãnhthanh toán; iv) tăng cung thanh khoản cho hệ thống tài chính

Trang 8

Đồng thời với việc xử lý những vấn đề của khu vực tài chính, một kế hoạch kịchthích kinh tế toàn diện cũng được thực thi ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới Giátrị kích thích kinh tế của các quốc gia năm 2009 đạt khoảng 2000 tỷ USD, bằng

3,16% tổng GDP của toàn thế giới (Dani Rodrik, 2009).

Ngoài ra, vào tháng 4/2009, cuộc họp thượng đỉnh của nhóm G20 tại London đã

đi đến cam kết gia tăng năng lực của IMF thêm 750 tỷ USD, nguồn vốn này giúpcho IMF hoạt động hiệu quả hơn, nhằm mục tiêu trợ giúp các nước, đặc biệt là các

nước nghèo thoát khỏi khủng hoảng và suy thoái kinh tế (AFP, 2009).

Có thể nói, các biện pháp đối phó với khủng hoảng của thế giới đã giúp rút ngắngiai đoạn suy thoái xuống chỉ còn 6 tháng, so với 4 năm của cuộc Đại suy thoái1929-1933

1.2.2 Chuyển hướng các dòng đầu tư sang các nền kinh tế mới nổi

Những biến động lớn chưa từng có trong nền kinh tế buộc ngân hàng trungương các nước trên thế giới đi đến những điều chỉnh đột ngột liên tục trong chínhsách tiền tệ Giai đoạn từ tháng 9/2008 đến 3/2009, các nền kinh tế lớn nhất thế giớiliên tục cắt giảm lãi suất và được giữ nguyên cho đến cuối năm 2009 Tuy nhiên,đến năm 2010, sự phục hồi ì ạch của nền kinh tế buộc ngân hàng trung ương các nềnkinh tế lớn phải sử dụng những biện pháp nới lỏng tiền tệ mạnh nhất nhằm thúc đẩytăng trưởng kinh tế Có thể thấy, năm 2010, ngoại trừ Canada và Úc có điều chỉnhtăng lãi suất chút ít, tất cả các nền kinh tế lớn nhất thế giới đều duy trì mức lãi suất ở

mức thấp kỷ lục (Hình 1).

Hình 1: Lãi suất ở các nền kinh tế chủ chốt thế giới

Đơn vị: %

Các nền kinh tế phát triển Các nước BRICS

Nguồn: Trading Economics Indicator

Trang 9

Bảng 1: Lãi suất ở các nền kinh tế chủ chốt thế giới

Đơn vị: %

Quốc gia

6 tháng đầu năm 2011

Nguồn: Trading Economics Indicator

Trong khi đó, các nền kinh tế mới nổi vẫn tăng trưởng tốt, mức lãi suất thịtrường tài chính của các quốc gia này được giữ ở mức cao hơn hẳn Hệ quả củanhững động thái này là việc dòng vốn quốc tế rời bỏ các thị trường tài chính pháttriển để hướng về những thị trường tài chính mới nổi hấp dẫn hơn nhiều

Điểm tích cực của sự di chuyển dòng vốn này là giúp các nền kinh tế mới nổi

có điều kiện sử dụng nguồn lực để duy trì đà tăng trưởng hiện tại, song vấn đề là khicác nền kinh tế phát triển phục hồi trở lại thì các dòng vốn này sẽ có xu hướng đảongược trở lại, gây nguy hiểm cho các thị trường tài chính mới nổi chưa có sự pháttriển toàn diện Hơn nữa, đây cũng có thể coi là một rủi ro mới đối với các nền kinh

tế này, bởi những khoản đầu tư ồ ạt có thể dẫn đến một thời kỳ “bong bóng” giá tàisản, gây ra lạm phát và bóp méo nền kinh tế

Trang 10

Nguồn: Capital Flows to Emerging Market Economies, IIF, June 2011

1.2.3 Sự bất ổn nền kinh tế vĩ mô

1.2.3.1 Khủng hoảng nợ công Châu Âu vẫn có nguy cơ lan rộng

Trong năm 2009, các gói kích thích kinh tế nhằm giúp các quốc gia đối phó vớisuy thoái kinh tế, đã vô tình khiến cho khủng hoảng nợ xuất hiện do nguồn gốc củacác gói kịch thích kinh tế này là từ ngân sách chính phủ Cuối tháng 11/2009, cuộckhủng hoảng nợ chính thức xuất hiện và lan rộng ngay sau đó với sự kiện Tiểuvương quốc Dubai thuộc tiểu bang Arab thống nhất tuyên bố xin khất nợ cho Tậpđoàn quốc doanh Dubai World

Đến năm 2010, cuộc khủng hoảng nợ công tiếp tục là chủ đề nóng bỏng củakhu vực các nước sử dụng đồng EUR Cũng trong năm này, tỷ lệ nợ công/GDPtrung bình của toàn khối EUR đã lên tới 84%, đa số các quốc gia trong khối, ngay

cả Đức đã vi phạm Hiệp ước Maastricht với tỷ lệ nợ tối đa cho phép là 60% GDP

và thâm hụt ngân sách ở mức 3% GDP

Trang 11

Hình 2: Tỷ lệ nợ/GDP của các nước châu Âu năm 2010

Đơn vị: %

Nguồn: Europe Commission

Đến năm 2011, trong báo cáo Triển vọng Kinh tế Khu vực châu Âu công bốngày 14/5/2011, IMF dự đoán tăng trưởng của khu vực sẽ đạt khoảng 2,6% trongnăm 2012, sau khi ổn định ở mức 2,4% năm nay Riêng nhóm các nước phát triểnvẫn giữ mức 1,7% trong năm nay và tăng lên 1,9% vào năm 2012

Kể từ cuộc khủng hoảng năm 2008-2009, năm 2011 sẽ là lần đầu tiên tất cả cácnền kinh tế mới nổi ở châu Âu trở lại mức tăng trưởng GDP dương IMF cho rằnggiá cả các loại hàng hóa tăng cao và phục hồi kinh tế mạnh mẽ sẽ đẩy lạm phát lênmức 3,8 % trong năm 2011, sau đó sẽ giảm xuống 3% vào năm 2012 Tuy nhiên,IMF cảnh báo châu Âu vẫn cần phải cảnh giác với khủng hoảng nợ có nguy cơ lanrộng Dù đã có các gói cứu trợ dành cho Hy Lạp, Ireland và Bồ Đào Nha, cuộckhủng hoảng nợ châu Âu vẫn có thể lan sang các nước chủ chốt trong khu vực sửdụng đồng tiền chung châu Âu và các nước mới nổi ở Đông Âu

Nguy cơ chính với triển vọng châu Âu xuất phát từ những căng thẳng ở khu vựcngoại vi các nước sử dụng đồng euro Không chỉ là những mối đe dọa về các vấn

đề toàn cầu mà còn là những mối lo về tình trạng tăng trưởng quá nóng tại các nềnkinh tế đang nổi lên tại các khu vực khác

Trang 12

1.2.3.2 Thị trường chứng khoán thế giới phục hồi

Diễn biến các thị trường chứng khoán luôn là chỉ báo đáng tin cậy về thực trạngsức khỏe của nền kinh tế Năm 2009, cùng với sự phục hồi của kinh tế thế giới, thịtrường chứng khoán toàn cầu cũng tăng trưởng mạnh mẽ, diễn biến theo 2 giai

đoạn rõ rệt: i) giai đoạn từ đầu năm 2009 đến tháng 3/2009: thị trường giảm điểm mạnh do tác động của cuộc khủng hoảng; và ii) giai đoạn tháng 3/2009 đến hết tháng 12/2009: sau khi đã xuống đến mức đáy, thị trường đã phục hồi trở lại Mặc

dù có những dao động nhất định nhưng xu hướng chung của thị trường là tăngđiểm đều đặn cho đến hết năm 2009

Trong năm 2010, chỉ số tổng hợp MSCI ACWI (Morgan Stanley CapitalInternational – All Country World Index) của các thị trường chứng khoán toàn cầu

có xu hướng tăng trưởng chút ít trong Quý I, giảm xuống mức điểm thấp nhất trongnăm cuối vào cuối Quý II và phục hồi dần dần cho tới cuối năm

Các chỉ số chứng khoán của thị trường Mỹ có mức tăng trưởng tích cực, chỉ sốDow Jones tăng 15.4% trong năm 2009 và 11% trong năm 2010, trong khi S&P

500 tăng 19.7% trong năm 2009 và 13% trong năm 2010 Trong khi đó, tại khu vực

EU, đa số các thị trường chứng khoán không có mức lợi nhuận khả quan như thịtrường Mỹ do chịu ảnh hưởng nặng nề từ mối lo ngại một cuộc khủng hoảng nợ lanrộng Tuy nhiên, chỉ số chứng khoán của một số thị trường chủ chốt vẫn có mứcphục hồi đáng kể, chỉ số DAX của các cổ phiếu blue-chip tăng 19.8% trong năm

2009 và 18% trong năm 2010 Tại thị trường chứng khoán London, chỉ số FTSE

100 tăng 18.7% trong năm 2009 và 11% trong năm 2010 (Garry White, 2010)

Các thị trường chứng khoán mới nổi vẫn là khu vực có tốc độ tăng trưởng caonhất thế giới, mặc dù tốc độ tăng trong năm 2010 giảm sút nhiều so với năm 2009.Đứng đầu về tốc độ tăng là chỉ số Micex blue-chip của thị trường chứng khoán Ngavới mức tăng 22% trong năm 2010, chỉ số này năm 2009 là 118% Các thị trườngkhác trong nhóm BRIC có mức tăng kém ấn tượng hơn

1.2.3.3 Thị trường ngoại hối: Đồng USD mất giá

Kể từ sau thời điểm tháng 3/2009 cho đến cuối năm, khi sự hoảng loạn gây rabởi cuộc khủng hoảng đã kết thúc, thì tỷ giá các đồng tiền đã trở lại phản ánh tươngquan giữa các nền kinh tế một cách rõ rệt, lúc này, đồng USD giảm giá so với cácđồng tiền khác

Trang 13

Hình 3: Tỷ giá hối đoái danh nghĩa giữa một số đồng tiền chủ chốt và đồng USD

Hình 4: Tỷ giá hối đoái danh nghĩa giữa một số đồng tiền chủ chốt và đồng USD năm

2010

Trang 14

KRW/USD CNY/USD

Trong 6 tháng đầu năm 2011, đồng đô la Mỹ liên tục giảm giá so với hầu hếtcác đồng tiền chủ chốt trên thế giới ngoại trừ đợt phục hồi nhẹ trong tháng 5-2011.Theo số liệu do Reuters thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2011, đồng đô la Mỹgiảm giá nhiều nhất so với đồng euro (-7,77%), đô la Úc (-4,8%), bảng Anh (-2,79%) và các đồng tiền khu vực châu Á như đô la Singapore (-4,27%), đồng wonHàn Quốc (-4,84%)…so với cuối năm 2010 Nguyên nhân chủ yếu khiến đồng đô

la Mỹ giảm giá là: (1) Nền kinh tế Mỹ phục hồi chậm chạp và tiếp tục đối mặt vớinhững vấn đề kinh niên như tình trạng thất nghiệp cao, thâm hụt ngân sách lớn, nợcông đã vượt quá mức trần được Quốc hội Mỹ cho phép; (2) Những cam kết về góicứu trợ thứ 2 dành cho Hy Lạp trị giá khoảng 100 tỉ euro và việc thành lập quỹ cứutrợ thường trực mới trị giá khoảng 500 tỉ euro được thông qua tại Hội nghị Thượngđỉnh EU đã giúp khôi phục niềm tin của các nhà đầu tư đối với sự ổn định của khuvực châu Âu trong tháng 6/2011, giúp cho các đồng tiền khu vực này lấy lại xuhướng tăng giá so với đô la Mỹ trong 6 tháng đầu năm 2011

Hình 5: Tỷ giá hối đoái danh nghĩa giữa một số đồng tiền chủ chốt và đồng USD, 6

tháng đầu năm 2011

Trang 15

EUR/USD JPY/USD

1.2.3.4 Thị trường vàng thế giới: Giá vàng thế giới tăng cao

Thị trường vàng thế giới thời gian qua, chứng kiến sự tăng lên liên tiếp của giávàng, với hàng loạt lần lập và phá kỷ lục về mức giá Ngày 31/12/2009, giá vànggiao ngay trên thị trường London đóng cửa ở mức 1.096,20 USD/ounce, so với thờiđiểm đầu năm, giá vàng đã tăng 218 USD Đến ngày, 6/12/2010, giá vàng đã lênmức kỷ lục 1.427 USD/ounce, tăng 331 USD/ounce Tuy nhiên, đến ngày29/4/2011, kỷ lục mới lại được thiết lập khi giá vàng chạm đến ngưỡng 1.563,6USD/ounce và liên tục duy trì ở mức 1.500 USD/ounce trong tháng 5 và tháng 6.Giá vàng càng lên cao thì càng thể hiện cho sự bất ổn của nền kinh tế thế giới.Vàng bấy lâu nay đã không còn được tính là tiền giao dịch mà đã trở thành một loạihàng hóa có giá trị cất giữ Do đó, việc giá vàng liên tục phá vỡ những mức kỷ lụccho thấy giới đầu tư đã mất niềm tin vào những loại tài sản tài chính trên giấy tờ vàquay lại với hình thức đầu tư cơ bản nhất của thị trường là mua vàng

2 Những xu hướng chủ yếu trong tài chính thế giới hiện nay

2.1 Mức độ cạnh tranh trên thị trường tài chính ngày càng gay gắt

Ngày đăng: 09/11/2015, 14:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Lãi suất ở các nền kinh tế chủ chốt thế giới - Những xu hướng chủ yếu trong tài chính thế giới hiện nay
Hình 1 Lãi suất ở các nền kinh tế chủ chốt thế giới (Trang 8)
Bảng 1: Lãi suất ở các nền kinh tế chủ chốt thế giới - Những xu hướng chủ yếu trong tài chính thế giới hiện nay
Bảng 1 Lãi suất ở các nền kinh tế chủ chốt thế giới (Trang 9)
Hình 2: Tỷ lệ nợ/GDP của các nước châu Âu năm 2010 - Những xu hướng chủ yếu trong tài chính thế giới hiện nay
Hình 2 Tỷ lệ nợ/GDP của các nước châu Âu năm 2010 (Trang 11)
Hình 3: Tỷ giá hối đoái danh nghĩa giữa một số đồng tiền chủ chốt và đồng USD - Những xu hướng chủ yếu trong tài chính thế giới hiện nay
Hình 3 Tỷ giá hối đoái danh nghĩa giữa một số đồng tiền chủ chốt và đồng USD (Trang 13)
Hình 4: Tỷ giá hối đoái danh nghĩa giữa một số đồng tiền chủ chốt và đồng USD năm - Những xu hướng chủ yếu trong tài chính thế giới hiện nay
Hình 4 Tỷ giá hối đoái danh nghĩa giữa một số đồng tiền chủ chốt và đồng USD năm (Trang 13)
Hình 5: Tỷ giá hối đoái danh nghĩa giữa một số đồng tiền chủ chốt và đồng USD, 6 - Những xu hướng chủ yếu trong tài chính thế giới hiện nay
Hình 5 Tỷ giá hối đoái danh nghĩa giữa một số đồng tiền chủ chốt và đồng USD, 6 (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w