TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ===***=== NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN TỔ CHỨC VÀ KHAI THÁC NGUỒN TÀI NGUYÊN SỐ TẠI THƯ VIỆN TỈNH VĨNH PHÚC KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI H
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
===***===
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
TỔ CHỨC VÀ KHAI THÁC NGUỒN TÀI NGUYÊN SỐ TẠI THƯ VIỆN TỈNH VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Thư viện Thông tin
Người hướng dẫn khoa học
TS CHU NGỌC LÂM
HÀ NỘI - 2013
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn và biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo hướng dẫn: Tiến sĩ Chu Ngọc Lâm - người đã hướng dẫn, tạo điều kiện để em nghiên cứu hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong khoa Công nghệ thông tin - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, cùng các thầy cô trong bộ môn Thư viện - Thông tin đã tạo điều kiện cho em học tập, tận tình chỉ bảo, truyền đạt tri thức, kĩ năng, kinh nghiệm quý báu cho em trong suốt thời gian em học tập tại trường
Em xin trân trọng cảm ơn tập thể cán bộ trong Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong trong quá trình thực hiện đề tài này tại Thư viện
Do điều kiện thời gian nghiên cứu và vốn kiến thức còn nhiều hạn chế nên đề tài của em không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, em mong nhận được sự thông cảm, góp ý và tận tình chỉ bảo của quý thầy cô và các bạn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Thị Thanh Huyền
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Nguyễn Thị Thanh Huyền
Sinh viên lớp: K35 Thư viện - Thông tin
Khoa: Công nghệ thông tin
Tôi xin cam đoan:
Đề tài “Tổ chức và khai thác nguồn tài nguyên số tại Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo T.S Chu Ngọc Lâm
Khóa luận chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Thị Thanh Huyền
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4
6 Ý nghĩa của khóa luận 4
7 Bố cục của khóa luận 5
Chương 1 THƯ VIỆN TỈNH VĨNH PHÚC VỚI VIỆC TỔ CHỨC VÀ KHAI THÁC NGUỒN TÀI NGUYÊN SỐ 6
1.1 Khái quát về Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc 6
1.1.1 Sơ lược lịch sử 6
1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Thư viện 9
1.1.3 Cơ cấu tổ chức 12
1.1.4 Nguồn lực thông tin (vốn tài liệu) của Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc 13
1.1.5 Một số khái niệm 16
1.1.6 Đặc trưng của tài nguyên số 18
1.1.7 Vai trò của tài nguyên số trong việc phục vụ người dùng tin tại Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc 20
1.2 Người dùng tin và nhu cầu tin tại Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc 22
1.2.1 Đặc điểm người dùng tin 22
1.2.2 Đặc điểm nhu cầu tin 23
1.2.3 Tầm quan trọng của việc tổ chức và khai thác tài nguyên số tại Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc 25
Chương 2 HIỆN TRẠNG VIỆC TỔ CHỨC VÀ KHAI THÁC NGUỒN TÀI NGUYÊN SỐ TẠI THƯ VIỆN TỈNH VĨNH PHÚC 28
2.1 Thực trạng nguồn tài nguyên số tại Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc 28
Trang 62.1.1 Số lượng tài nguyên số tại Thư viện 28
2.1.2 Cơ cấu nguồn tài nguyên số 30
2.1.3 Khả năng phát triển nguồn tài nguyên số 31
2.2 Thực trạng tổ chức, khai thác và bảo quản nguồn tài nguyên số 31
2.2.1 Tổ chức, khai thác nguồn tài nguyên số 31
2.2.2 Bảo quản nguồn tài nguyên số 33
2.2.3 Phương thức khai thác 34
2.3 Nhận xét và đánh giá về tổ chức và khai thác tài nguyên số tại Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc 36
2.3.1 Đánh giá hiệu quả công tác tổ chức và khai thác tài nguyên số tại Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc 36
2.3.2 Nhận xét, đánh giá chung về công tác tổ chức và khai thác tài nguyên số tại Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc 42
2.3.3 Nguyên nhân của hiện trạng trên 43
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ TỔ CHỨC VÀ KHAI THÁC NGUỒN TÀI NGUYÊN SỐ TẠI THƯ VIỆN TỈNH VĨNH PHÚC 45
3.1 Xây dựng chiến lược phát triển tài nguyên số tại Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc 45
3.2 Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thông tin – thư viện 46
3.3 Tăng cường sản phẩm và dịch vụ thông tin hiện đại 48
3.4 Nâng cao trình độ cán bộ thư viện và đào tạo, hướng dẫn người dùng tin trong Thư viện 48
3.5 Tăng kinh phí phát triển tài nguyên số 51
3.6 Hiện đại hoá cơ sở vật chất và trang thiết bị 52
KẾT LUẬN 54
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Thống kê vốn tài liệu theo kho và loại hình năm 2012
Bảng 1.2: Thống kê ngôn ngữ tài liệu
Bảng 1.3: Nội dung vốn tài liệu của Thư viện
Bảng 2.1: Đánh giá về mức độ cần thiết của nguồn tài nguyên số
Bảng 2.2: Đánh giá về mức độ đáp ứng về số lượng tài nguyên số
Bảng 2.3: Đánh giá về mức độ đáp ứng về chất lượng tài nguyên số
Bảng 2.4: Số lượng và chất lượng máy tính đáp ứng việc truy cập tài liệu số Bảng 2.5: Nguyên nhân cản trở việc truy cập và khai thác tài nguyên số
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên của thông tin và kinh tế tri thức Kỷ nguyên ra đời và đang phát triển nhờ sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ Trong thế kỷ này, khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội Khoa học thúc đẩy nền kinh tế tri thức phát triển làm cho nền sản xuất được hiện đại hóa Trong đó, công nghệ điện tử và viễn thông là ngành khoa học mũi nhọn có ảnh hưởng đến sự tiến bộ xã hội nói chung và hoạt động thông tin - thư viện (TT - TV) nói riêng Như vậy, thông tin đã trở thành tài sản và sức mạnh của mỗi quốc gia,
là yếu tố quyết định sự tiến bộ xã hội
Năm 1970 - Tổ chức giáo dục khoa học, văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) đưa ra định nghĩa: “Thư viện, không phụ thuộc vào tên gọi của
nó, là bất cứ bộ sưu tập có tổ chức nào của sách, ấn phẩm định kỳ hoặc các tài liệu nào khác, kể cả đồ họa, nghe nhìn và nhân viên phục vụ có trách nhiệm tổ chức cho bạn đọc sử dụng các tài liệu đó nhằm mục đích thông tin, nghiên cứu khoa học, giáo dục và giải trí”
Tại Việt Nam, hoạt động TT - TV đã từng bước đạt được những thành tựu về số hóa và phát triển tài nguyên số (TNS) Việc tổ chức và khai thác TNS sẽ giúp việc lưu trữ, truy xuất, chia sẻ, tìm kiếm thông tin một cách nhanh chóng và dễ dàng nhât
Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập theo quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tháng 1 năm 1997 với tên gọi Thư viện Khoa học tổng hợp tỉnh Ngày 3/ 2/ 2005 trụ sở Thư viện tỉnh được cắt băng khánh thành và đưa vào hoạt động, Thư viện được đổi tên thành Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc Thư viện hiện nay đã có vị trí, vai trò khẳng định là một Thư viện có vốn tài liệu (VTL) tổng hợp thuộc các ngành, các lĩnh vực khoa học khác
Trang 9nhau: Phục vụ rộng rãi cho mọi đối tượng bạn đọc, mở ra sự tiếp cận tới tri thức ở địa phương cho mỗi đối tượng nghiên cứu, sáng tạo và hưởng thụ những giá trị văn hóa Do đó, bên cạnh tài liệu truyền thống, việc tổ chức và khai thác TNS là vấn đề đặt ra nhằm nâng cao hiệu quả cho hoạt động của Thư viện Tổ chức và khai thác TNS tại Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc có ý nghĩa thiết thực cho định hướng phát triển của Thư viện, giúp người dùng tin có thể tìm kiếm được nguồn thông tin luôn được cập nhật, bổ sung thường xuyên, những thông tin chính xác được chọn lọc trong khối lượng thông tin lớn Trong những năm qua, Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc đã tạo lập, tổ chức và đưa ra khai thác nguồn TNS của Thư viện
Với mong muốn nghiên cứu sâu về lý luận và thực tiễn của việc tổ chức
và khai thác TNS trong Thư viện tỉnh, từ đó đưa ra những đề xuất nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động này trong thời gian tới, tôi đã chọn vấn đề “Tổ chức và khai thác nguồn tài nguyên số tại Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề tổ chức và khai thác nguồn TNS từ lâu đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Trong những năm qua, nhờ nhận thức đúng đắn về vai trò quan trọng của nguồn TNS trong hoạt động TT - TV, đã có một
số công trình nghiên cứu về việc tổ chức, khai thác và phát triển TNS hay tài liệu điện tử, các hội thảo khoa học, các tạp chí chuyên ngành Thư viện, các diễn đàn và các trang web Thư viện được tổ chức và trao đổi về vấn đề này: Luận văn: “Nghiên cứu việc tạo lập, khai thác và bảo quản tài liệu số tại Thư viện Quốc gia Việt Nam” của tác giả Vũ Nguyệt Mai, bảo vệ năm 2009 Luận văn: “Nghiên cứu phát triển Thư viện điện tử trong các trường đại học trên địa bàn Hà Nội hiện nay” của tác giả Phạm Thị Mai, bảo vệ năm 2008
Trang 10Khóa luận: “Tổ chức và khai thác tài liệu số tại Thư viện Tạ Quang Bửu
- Trường Đại học Bách khoa Hà Nội” của tác giả Trần Thị Thanh Thủy, bảo
Số 1 (2007)…
Tuy nhiên các công trình trên chỉ dừng lại ở mức khái quát hoặc nghiên cứu từng khía cạnh của vấn đề Do vậy, có thể nói rằng chủ để: “Tổ chức và khai thác nguồn tài nguyên số tại Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc” là đề tài hoàn toàn mới, không trùng lặp với các đề tài trước đây
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khảo sát, phân tích, đánh giá hiện trạng về TNS của Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc, từ đó đề ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả việc tổ chức, khai thác nguồn tài nguyên số tại Thư viện, đáp ứng nhu cầu tin ngày càng cao của đông đảo người dùng tin
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu khái quát về Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc
Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về nguồn TNS và đặc điểm nguồn TNS trong Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 11Nghiên cứu đặc điểm, nhu cầu người dùng tin của Thư viện Tỉnh Vĩnh Phúc
Khảo sát thực trạng việc tổ chức và khai thác TNS tại Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc
Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả việc tổ chức và khai thác TNS tại Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nguồn tài nguyên số tại Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Công tác tổ chức và khai thác nguồn TNS tại Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2005 đến nay
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở phương pháp luận
Khóa luận được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng, dựa trên quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển văn hóa, TT - TV ở nước ta
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Phương pháp phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với cán bộ và người dùng tin Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu
6 Ý nghĩa của khóa luận
Làm phong phú thêm lý luận chung về nguồn TNS tại Thư viện cấp tỉnh Đưa ra những giải pháp cụ thể có khả năng thực thi giúp công tác tổ chức và khai thác TNS tại Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc tốt hơn, đáp ứng hơn nữa
Trang 12nhu cầu tin của người dùng tin, góp phần quan trọng trong xây dựng và phát triển Thư viện số tại Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc
7 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1 Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc với việc tổ chức và khai thác nguồn tài nguyên số
Chương 2 Hiện trạng việc tổ chức và khai thác nguồn tài nguyên số tại Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc
Chương 3 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức và khai thác nguồn tài nguyên số tại Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 13Chương 1 THƯ VIỆN TỈNH VĨNH PHÚC VỚI VIỆC TỔ CHỨC VÀ KHAI THÁC
NGUỒN TÀI NGUYÊN SỐ
1.1 Khái quát về Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc
1.1.1 Sơ lược lịch sử
Thư viện Khoa học tổng hợp tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập tháng 3 năm
1956 Qua hơn 50 năm xây dựng và phát triển, Thư viện luôn là một trung tâm văn hóa giáo dục, tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho địa phương, đất nước Nhìn lại những ngày đầu mới thành lập, Thư viện chỉ có vài nghìn bản sách và một số loại báo tạp chí với cơ sở hạ tầng còn nghèo nàn, nhưng với lòng nhiệt tình, yêu nghề, cán bộ thư viện đã khắc phục được mọi khó khăn, thiếu thốn đưa Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc đi lên
Thời kỳ thành lập và phát triển của Thư viện được chia thành bốn giai đoạn:
Giai đoạn 1956 - 1968
Đây là thời kỳ hình thành nền móng đầu tiên và cũng là điểm xuất phát khó khăn nhất của Thư viện, trụ sở ban đầu mới chỉ là 5 gian nhà lá cùng 1.980 bản sách và 2 cán bộ chính trị Từ năm 1956 đến tháng 7 năm 1960 Thư viện đóng trụ sở tại thị xã Phúc Yên, tăng thêm 3 cán bộ, bổ sung tới 100.424 bản sách
Năm 1962 Thư viện cấp 550 thẻ bạn đọc, hàng tháng phục vụ gần 4.000 lượt độc giả với hơn 10.000 bản sách luân chuyển Ngoài ra, hàng năm Thư viện còn tổ chức nhiều khâu công tác tuyên truyền như tuyên truyền giới thiệu sách báo qua Đài truyền thanh, trưng bày sách, báo, triển lãm tranh ảnh, biên
Trang 14soạn thư mục… Bên cạnh việc hoạt động tại chỗ, Thư viện tỉnh còn cử cán bộ kết hợp với cán bộ phòng Văn hóa quần chúng xuống vận động và tổ chức phong trào đọc sách cơ sở
Ngày 22/ 4/ 1966, do sự đánh phá ác liệt của chiến tranh, Thư viện tỉnh
đã sơ tán toàn bộ kho sách về thôn Tiên - xã Minh Tân - huyện Yên Lạc, ở đây Thư viện được bố trí với 2 hầm cất sách Trong năm này, Thư viện đã cấp được 691 thẻ bạn đọc, phục vụ hơn 30.856 lượt độc giả với 54.927 lượt sách Hàng tháng Thư viện tỉnh có tổ chức đi kiểm tra các Thư viện huyện, tủ sách hợp tác xã nắm tình hình, hướng dẫn nghiệp vụ, giúp đỡ chỉ đạo phong trào
“Đọc và làm theo sách báo” đạt được kết quả bước đầu khá tốt Nhằm đáp ứng phong trào, Thư viện tỉnh đã kết hợp với các huyện tổ chức 9 lớp huấn luyện nghiệp vụ cho 731 anh chị em quản lý tủ sách cơ sở, trưởng nhóm đọc sách báo ở đội sản xuất…
Nhìn chung, trong 12 năm đầu xây dựng, Thư viện đã khắc phục được nhiều khó khăn trở ngại, từng bước xây dựng và phát triển vững chắc, duy trì
và đẩy mạnh mọi hoạt động, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị, sản xuất, đời sống và chiến đấu Năm 1967, Thư viện tỉnh đã được Bộ Văn hóa thông tin tặng bằng khen về thành tích “Chuyển biến kịp thời các hoạt động theo thời chiến, triển khai phục vụ tốt các đơn vị bộ đội và hợp tác xã”
Giai đoạn 1968 - 1996
Đây là thời kì hợp nhất với Thư viện Phú Thọ thành Thư viện Vĩnh Phú Trong 28 năm hợp nhất, sự nghiệp xây dựng và phát triển hệ thống Thư viện công cộng Vĩnh Phú gặp vô vàn khó khăn do chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ, chiến tranh biên giới, do tình hình kinh tế, xã hội sa sút sau chiến tranh gây ra Toàn ngành đã dựa vào các chủ trương, chính sách, các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước, sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, sự chỉ đạo sâu sát của Ty (Sở) chủ quản, tranh thủ sự ủng hộ, cộng tác của các cơ
Trang 15quan, ban, ngành và phát huy nội lực nên đã xây dựng và phát triển từng bước Thư viện, phục vụ tốt các nhiệm vụ chính trị, sản xuất, chiến đấu của tỉnh, góp phần đắc lực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trong 28 năm tồn tại, vẫn tiếp tục những khó khăn, Thư viện đã ba lần xây dựng trụ sở và di chuyển kho tàng Trụ sở đầu tiên hoàn thành vào năm
1972, gồm 2 ngôi nhà lá 5 gian và 1 ngôi nhà gạch ở khu đồi Ba Búa - phường Gia Cẩm - thành phố Việt Trì với diện tích hơn 500m2 Ngày 3/ 2 /
1996, Thư viện được chuyển ra trụ sở chính do nhà nước đầu tư gần 1 tỉ đồng, với một diện mạo mới khang trang, hiện đại, diện tích sử dụng 1.800m2 trong khuôn viên rộng hơn 5.000m2 giữa thành phố Việt Trì Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ nhân viên cũng từng bước được bổ sung và nâng cao về số lượng, chất lượng, bao gồm 16 cán bộ nhân viên, trong đó 70% cán bộ có trình độ đại học, 30% cán bộ có trình độ trung cấp và nhân viên hợp đồng Tuy rằng số lượng còn ít nhưng đại đa số còn trẻ, với lòng say mê nghề nghiệp, mặc dù vật chất còn nhiều khó khăn song mọi người vẫn luôn giữ vững phẩm chất cách mạng và hoàn thành tốt mọi công việc Điều đó được thể hiện qua các công tác hoạt động của Thư viện như Công tác xây dựng kho sách và phục vụ độc giả, công tác tuyên truyền giới thiệu sách báo, công tác địa chí, công tác chỉ đạo phong trào cơ sở tại 13 Thư viện huyện, thị xã trực thuộc tỉnh
Những cố gắng liên tục cùng nhiều thành tích về nhiều mặt công tác đã giúp cho Thư viện Khoa học tổng hợp tỉnh Vĩnh Phúc nhận được bằng khen của Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng, nhiều bằng khen, cờ thi đua xuất sắc của Bộ Văn hóa Thể thao và du lịch, Thư viện Quốc gia Việt Nam, Ủy ban nhân dân tỉnh
Giai đoạn 1997 - 2001
Thời kỳ tái lập Thư viện Khoa học tổng hợp tỉnh Vĩnh Phúc Bắt đầu từ ngày 1/ 1/ 1997, Thư viện chính thức đi vào hoạt động theo đơn vị hành chính, những ngày sau đó Thư viện tiếp hơn 30.000 bản sách, báo, tạp chí,
Trang 16trang thiết bị từ Thư viện Vĩnh Phú và tập trung về rạp ngoài trời thị xã Vĩnh Yên Ngày 24/ 1/ 1997, Ủy ban nhân dân tỉnh ra quyết định số 90/ QĐ - UB thành lập Thư viện Khoa học tổng hợp tỉnh Vĩnh Phúc, quy định rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ và cấp kinh phí để kịp thời hoạt động
Ngày 19/ 5/ 1998, chào mừng kỷ niệm lần thứ 107 ngày sinh Chủ tịch
Hồ Chí Minh vĩ đại, Thư viện Khoa học tổng hợp Vĩnh Phúc được khai trương và chính thức đi vào hoạt động đáp ứng yêu cầu của các tầng lớp nhân dân Chỉ trong 6 tháng cuối năm, Thư viện đã cấp được 1.300 thẻ bạn đọc, phục vụ 51.200 lượt người đọc với 183.640 lượt sách
Tháng 2/ 1998, Thư viện chuyển vào ở chung nhà Bảo tàng tỉnh - đây là một công trình kiến trúc khang trang, có cảnh quan đẹp, môi trường yên tĩnh, rất thuận lợi cho mọi hoạt động của Thư viện Cùng với sự tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, lực lượng cán bộ Thư viện cũng được bổ sung dần, từ năm
1999 đến năm 2001 tổng số cán bộ nhân viên tăng lên 13 lần
Cùng với nỗ lực của bản thân ngành, Thư viện tỉnh còn luôn được Tỉnh
ủy, Ủy ban nhân dân quan tâm nhiều mặt, Sở văn hóa thông tin chỉ đạo sâu sát, sự ủng hộ của các cơ quan ban ngành, hỗ trợ của Vụ thư viện thì Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc đã nhanh chóng có những bước chuyển mạnh và đạt được nhiều thành tựu đáng kể trên tất cả các mặt công tác
Giai đoạn từ năm 2001 đến nay
Là giai đoạn có những thay đổi to lớn về cơ cấu tổ chức cũng như mọi hoạt động của Thư viện Thư viện đã đạt được những thành tựu đáng kể và ngày càng phát triển, đáp ứng hơn nữa nhu cầu người dùng tin
1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Thư viện
Chức năng của Thư viện
Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, có chức năng thu thập, bảo quản, tổ chức khai thác và sử
Trang 17dụng chung các tài liệu được xuất bản tại địa phương và nói về địa phương, các tài liệu trong nước và nước ngoài, phù hợp với đặc điểm, yêu cầu xây dựng và phát triển địa phương về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Thư viện tỉnh chịu sự hướng dẫn, chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ của
Tổ chức phục vụ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người đọc được sử dụng VTL Thư viện thông qua các hình thức đọc tại chỗ, mượn về nhà hoặc phục vụ ngoài Thư viện phù hợp với nội quy của Thư viện
Phục vụ miễn phí tài liệu Thư viện tại nhà cho người đọc cao tuổi, tàn tật bằng hình thức gửi qua bưu điện hoặc Thư viện lưu động theo quy định của Pháp lệnh Thư viện
Xây dựng và phát triển VTL phù hợp với đặc điểm tự nhiên - kinh tế - văn hóa của địa phương và đối tượng phục vụ của Thư viện
Thu thập, tàng trữ bảo quản lâu dài các tài liệu xuất bản tại tỉnh và viết
về tỉnh
Nhận các xuất bản phẩm lưu chiểu tỉnh do Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch chuyển giao, các bản sao khóa luận, luận văn tốt nghiệp của sinh viên các trường đại học được mở tại tỉnh
Trang 18Xây dựng bộ phận tài liệu dành cho trẻ em, người khiếm thị, xây dựng bộ phận tài liệu bằng tiếng dân tộc phù hợp với đặc điểm dân cư trên địa bàn tỉnh Tăng cường nguồn lực thông tin thông qua việc mở rộng sự liên thông giữa Thư viện với các Thư viện trong nước và ngoài nước bằng hình thức cho mượn, trao đổi tài liệu và kết nối mạng máy tính
Tổ chức và thực hiện công tác tuyên truyền giới thiệu kịp thời, rộng rãi VTL Thư viện đến mọi người, đặc biệt là các tài liệu phục vụ công cuộc phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của tỉnh; xây dựng phong trào đọc sách, báo trong nhân dân trên địa bàn tỉnh
Biên soạn và xuất bản các ấn phẩm thông tin - thư mục, thông tin có chọn lọc phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và đối tượng phục vụ của Thư viện Thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào hoạt động Thư viện ở địa phương, tham gia xây dựng và phát triển mạng TT - TV của hệ thống Thư viện công cộng
Hướng dẫn tư vấn tổ chức Thư viện; tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho người làm công tác Thư viện; tổ chức luân chuyển sách, báo; chủ trì phối hợp hoạt động về chuyên môn, nghiệp vụ với các Thư viện khác của tỉnh
Tổ chức các hoạt động, dịch vụ có thu phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao và phù hợp với quy định của pháp luật
Thực hiện báo cáo định kỳ tháng, quý, 6 tháng, năm và báo cáo đột xuất
về tình hình hoạt động của Thư viện với Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao và
Du lịch và Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch
Quản lý tổ chức, cán bộ, viên chức, tài chính, tài sản theo phân cấp và quy định của Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch
Trang 191.1.3 Cơ cấu tổ chức
Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc là Thư viện cấp 3; cơ cấu tổ chức của Thư viện bao gồm: Ban Giám đốc và các phòng giúp việc hoạt động của Thư viện như: hành chính và nghiệp vụ
SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA THƯ VIỆN TỈNH VĨNH PHÚC
Qua sơ đồ trên chúng ta thấy bộ máy cơ cấu tổ chức và hoạt động của Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc khá hoàn thiện Ngoài Ban Giám đốc, Thư viện có 5 phòng trực thuộc phụ trách từng lĩnh vực hoạt động như công tác hành chính (kế toán, văn thư, lái xe, bảo vệ…); công tác nghiệp vụ (bổ sung, xử lý kỹ thuật, phục vụ bạn đọc, tuyên truyền, thông tin - thư mục) Sự phân chia này tạo nên một cơ cấu tổ chức hành chính, nghiệp vụ khép kín đảm bảo cho việc vận hành mọi hoạt động của Thư viện trong thời kỳ mới, đáp ứng tốt các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng của địa
LÝ KỸ THUẬT
PHÒNG PHỤC
VỤ BẠN ĐỌC
PHÒNG TUYÊN TRUYỀN
PHÒNG THÔNG TIN, THƯ MỤC
PHÒNG
ĐỌC
PHÒNG MƯỢN
PHÒNG THIẾU NHI
PHÒNG BÁO – TẠP CHÍ
PHÒNG ĐỌC ĐA PHƯƠNG TIỆN
Trang 20phương; đồng thời làm thỏa mãn nhu cầu đọc và dùng thông tin của mọi tầng lớp nhân dân trên địa bàn tỉnh
Thư viện có đội ngũ gồm 23 cán bộ: 01 thạc sĩ, 12 cử nhân TT – TV, 02
kỹ sư tin học, 04 Đại học ngành khác, 01 trung cấp Thư viện, 03 lao động phổ thông
1.1.4 Nguồn lực thông tin (vốn tài liệu) của Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc
Đặc điểm về số lượng
Theo số liệu thống kê năm 2012, VTL (nguồn lực thông tin) của Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc gồm 172.770 bản sách, 1.500 đĩa CD, 60 loại báo – tạp chí VTL được phân chia thành các kho theo chức năng phục vụ và loại hình tài liệu:
Bảng 1.1: Thống kê vốn tài liệu theo kho và loại hình năm 2012
Phòng đa phương tiện 30 máy tính, 2 máy chủ, 1.200 đĩa,
300 CD dành cho người khiếm thị
Trang 21 Về ngôn ngữ tài liệu:
Vốn tài liệu của Thư viện được xây dựng tương đối đa dạng về ngôn ngữ: Tiếng Việt, Tiếng Anh, Tiếng Pháp, Tiếng Nga, Hán Nôm Tài liệu bằng Tiếng Việt được phân bố ở tất cả các phòng, riêng tài liệu ngoại văn tập trung chủ yếu ở phòng Địa chí và tra cứu thông tin
Bảng 1.2: Thống kê ngôn ngữ tài liệu Ngôn ngữ tài liệu Số bản tài liệu Tỷ lệ phần trăm
- Để phục vụ cho nhiệm vụ bảo vệ, xây dựng và phát triển kinh tế, văn
hóa – xã hội của địa phương, Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc đã xây dựng cho mình một nguồn lực thông tin (VTL) phong phú, đa dạng VTL này rất đa dạng về hình thức và phong phú về nội dung
Trang 22+ CSDL báo – tạp chí: 38.977 biểu ghi
+ Biểu ghi thư mục địa chí: hơn 9.000 biểu ghi
+ Tài liệu Hán Nôm, tài liệu về chủ tịch Hồ Chí Minh…: 1200 đĩa
+ Tài liệu dành cho người khiếm thị: 300 CD
………
Về nội dung:
Để đáp ứng nhu cầu tin của người dùng tin, nội dung vốn tài liệu của Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc đã phản ánh các loại hình khoa học cơ bản Trong đó tài liệu về văn hóa chiếm tỉ lệ cao nhất: 24,6% Tiếp theo là tài liệu về khoa học tự nhiên: 20,6%, về khoa học kỹ thuật: 19,6%, khoa học xã hội: 18,6%, tài liệu dành cho thiếu nhi: 16,6%
Cơ cấu nội dung VTL của Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc như vậy là khá toàn diện, hợp lý, phản ánh được tính chất kho tài liệu của một Thư viện cấp tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng, khá phù hợp với nhu cầu tin của người dùng tin Tuy nhiên, với xu thế phát triển của các tỉnh theo hướng cơ cấu công – nông nghiệp hợp lý, với chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa, phong trào xây dựng nông thôn mới, Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc cần tăng cường VTL về khoa học kỹ thuật, khoa học tự nhiên cho phù hợp
Bảng 1.3: Nội dung vốn tài liệu của Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 23Tài nguyên số trong việc nâng cao chất lượng phục vụ của Thư viện tỉnh
Vĩnh Phúc
1.1.5 Một số khái niệm
Sự phát triển mạnh mẽ của CNTT đã tạo ra những thay đổi sâu sắc trong đời sống xã hội không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà trên phạm vi toàn cầu Cùng với sự phát triển đó, xã hội loài người đã phát triển lên một bước cao hơn, tiếp cận với loại hình kinh tế mới - kinh tế tri thức Trong bối cảnh kinh tế tri thức, tri thức nổi lên như nguồn lực quan trọng nhất lấn át các nguồn lực truyền thống (lao động, tài nguyên thiên nhiên, vốn…) Các nguồn lực truyền thống quan trọng theo nghĩa nếu không có chúng thì không có sản phẩm được tạo ra hoặc nếu có thì số lượng giới hạn Tri thức quan trọng theo nghĩa nhờ có chúng người ta có thể tạo ra số lượng hoặc chất lượng sản phẩm rất cao chỉ với nguồn lực (truyền thống) hạn chế
Cùng với tầm quan trọng của nguồn lực tri thức ngày càng được nâng cao, vai trò của ngành quản lý thông tin và tri thức càng trở nên quan trọng
16,6%
Trang 24Khi thông tin tri thức ngày càng trở nên phong phú, đa dạng và phát triển mạnh mẽ theo thời gian, khi nhu cầu của xã hội về thông tin ngày càng trở nên cao cấp hơn, việc lưu trữ, khai thác, phân phối và tổ chức thông tin theo kiểu truyền thống trở nên không còn phù hợp mà đòi hỏi một cách thức mới Cùng lúc đó, cách mạng CNTT làm cho khả năng đáp ứng nhu cầu đang tăng lên chưa từng có về lưu trữ, khai thác, phân phối thông tin trở nên hiện thực TNS ra đời trong bối cảnh trên, thực sự bắt đầu cho một cuộc cách mạng trong lĩnh vực Thư viện, đã và đang thay đổi hẳn cách nhìn về nghề Thư viện trong tương lai
Tài nguyên số:
Hiện tại vẫn chưa có khái niệm rõ ràng về TNS Tuy nhiên, TNS được hiểu là toàn bộ thông tin do con người tạo ra dưới hình thức số hoá nhằm mục đích phục vụ cho những lợi ích của con người Nguồn TNS có thể tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau: dạng văn bản, dạng hình ảnh, dạng âm thanh hoặc kết hợp hai hay ba dạng trên Nguồn TNS cũng có thể tồn tại dưới dạng thư mục hay dạng toàn văn
Tài nguyên thông tin số:
Tài nguyên thông tin số có thể được định nghĩa khái quát là tập hợp có tổ chức những bộ sưu tập thông tin, kiến thức của các đối tượng số (digitized objects) hoặc đã được số hóa, được lưu trữ theo các công nghệ đặc biệt mà có thể truy cập, chia sẻ, khai thác theo các giao thức và thủ tục tiêu chuẩn xác định trong môi trường điện tử
Tài liệu số:
Tài liệu số (Digital document) là những tài liệu được lưu giữ bằng máy tính Tài liệu số có thể được tạo lập bởi máy tính như việc xử lý các file văn bản, các bảng biểu hoặc chúng có thể được chuyển đổi sang dạng số từ những tài liệu dạng khác (scan, ghi âm…)
Trang 25Có thể hiểu tài liệu số là tất cả những tài liệu được trình bày dưới dạng
số mà máy tính có thể đọc được Tài liệu số cũng được đề cập đến như là tài liệu điện tử
Tài liệu điện tử:
Tài liệu điện tử (Electronic document) bao gồm các dạng tài liệu như sách, báo, tạp chí, các bộ phim, bản nhạc, các file multimedia, các trang web, các cơ sở dữ liệu (CSDL)… được bao gói hay được lưu trữ trên các vật mang tin điện tử, có nghĩa là tất cả những gì có thể đọc được, truy cập được thông qua máy tính hay mạng máy tính điện tử
Thông tin số:
Thông tin số là tất cả các thông tin được biểu diễn bằng kỹ thuật số và được truy cập trên máy tính hoặc mạng máy tính Nói cách khác, thông tin số
là những thông tin đã được mã hóa dưới dạng mã nhị phân (tức là chỉ gồm hai
số 0 và 1) Thông tin số được trình bày và lưu trữ trên các vật mang tin điện
tử đó là các băng từ, đĩa từ, đĩa quang Chúng tạo thành nguồn tài liệu số hay tài liệu điện tử
1.1.6 Đặc trưng của tài nguyên số
Để tổ chức và khai thác nguồn tài nguyên số đảm bảo chất lượng và có hiệu quả trong mỗi cơ quan TT - TV thì việc nắm bắt và tìm hiểu những đặc trưng của tài nguyên số có ý nghĩa rất lớn
TNS có thể tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau: văn bản, hình ảnh, âm thanh… và có nội dung rất phong phú
Với sự phát triển của CNTT, đặc biệt là công nghệ nén và lưu trữ thông tin dữ liệu trên các vật mang tin từ tính và quang học, mật độ thông tin rất cao, do vậy dung lượng lưu trữ trên chúng cũng rất lớn Điều này có ý nghĩa
to lớn đối với cơ quan TT - TV trong việc lưu trữ thông tin
Trang 26Khi các nguồn tin được số hoá sẽ giúp người dùng có thể tìm kiếm thông tin đồng thời theo nhiều dấu hiệu, theo nhiều điểm truy cập khác nhau và truy cập linh hoạt, nhanh chóng Điều này cho phép người dùng tin có thể mở rộng hay thu hẹp phạm vi tìm kiếm, tạo điều kiện cho cơ quan thông tin trong việc tạo ra nhiều sản phẩm thông tin có giá trị gia tăng cao
Nguồn TNS có thể giúp người đọc dễ dàng theo dõi quá trình phát triển của vấn đề và liên hệ với tác giả qua các kênh thông tin phản hồi
TNS cho phép lưu giữ thông tin từ nhiều dạng nguồn tin khác nhau như văn bản, âm thanh, hình ảnh trong cùng một dạng lưu trữ, giúp cho thông tin trở nên hấp dẫn hơn, dễ hiểu và dễ truyền đạt ý tưởng của tác giả hơn
Khả năng cập nhật dữ liệu nhanh chóng và thường xuyên:
Với những thông tin có khả năng được cập nhật tự động như thông tin trên mạng internet thì thời gian để cập nhật tin tức mới chỉ còn được tính bằng phút, bằng giây Nội dung các nguồn TNS không chỉ được cập nhật mà còn được thay đổi rất nhanh chóng
Tính linh hoạt và khả năng đáp ứng của TNS cao, cho phép nhiều người
có thể sử dụng cùng một lúc, không phải phụ thuộc vào thời gian và vị trí địa
lý của người dùng Tạo ra môi trường và cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người, không có khoảng cách tri thức giữa người giàu và người nghèo, giữa thành thị và nông thôn, giữa các quốc gia với nhau Tạo điều kiện mở rộng đối tượng, phạm vi phục vụ của Thư viện
Khả năng kiểm soát nguồn tài nguyên lớn vì các thông tin được số hoá,
có thể được quản lý trên hệ thống máy tính, do đó người dùng có thể truy nhập và truy xuất dễ dàng, có cơ chế sao lưu và chế độ bảo mật an toàn lâu dài Thông tin được số hoá sẽ được bảo tồn lâu dài, nhất là các thông tin quý hiếm, ngăn chặn những rủi ro huỷ hoại do thời gian, thiên tai, khí hậu và tần xuất sử dụng
Trang 27Tổ chức và khai thác nguồn TNS sẽ giúp tiết kiệm được thời gian tìm kiếm thông tin của người dùng tin
Tuy nhiên, TNS cũng có những nhược điểm như khả năng lưu trữ thông tin thường không đồng nhất, có những thông tin ổn định, tồn tại lâu dài như các thông tin chứa trong các đĩa CD - ROM, DVD - ROM… nhưng lại có những thông tin có tính lỗi thời nhanh; tính an toàn thông tin không cao do việc sao chép các nguồn thông tin, TNS rất dễ dàng
1.1.7 Vai trò của tài nguyên số trong việc phục vụ người dùng tin tại Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc
Sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là CNTT đã chi phối hầu hết mọi phương tiện của cuộc sống hiện đại và nó đã ảnh hưởng lớn tới ngành xuất bản và Thư viện Do đó đã tạo cơ hội cho Thư viện trong việc ứng dụng những tiến bộ, những giải pháp CNTT trong quá trình hiện đại hoá Thư viện
về các phương diện: quản lí, chuyên môn và phục vụ bạn đọc
Trong xã hội thông tin, số lượng những người làm công tác nghiên cứu khoa học đang tăng lên theo cấp số nhân, sản phẩm của họ tạo ra ngày càng trở nên phong phú hơn về nội dung, đa dạng hơn về hình thức Tất cả đã tạo nên một khối lượng thông tin khổng lồ và không ngừng phát triển, dẫn đến hiện trạng “bùng nổ thông tin” Vậy câu hỏi đặt ra đối với người dùng tin là: Làm thế nào để có được nguồn tin phù hợp trong số vô vàn các nguồn tin khác nhau? Làm thế nào để tìm kiếm được nguồn tin đáp ứng nhu cầu của người dùng tin nhanh chóng, chính xác, phù hợp và cập nhật nhất
Nhu cầu của người dùng tin về sản phẩm và dịch vụ thông tin ngày một tăng theo chiều hướng phát triển của nguồn lực thông tin Vì thế, bên cạnh sản phẩm thông tin truyền thống như: Hệ thống mục lục, các bản thư mục… Thư viện phải có kế hoạch xây dựng các sản phẩm thông tin mới như: CSDL, ấn phẩm tóm tắt, dịch vụ tra cứu thông tin qua mạng… Các sản phẩm và dịch vụ
Trang 28này sẽ giúp người dùng tin tìm và chọn lọc thông tin phù hợp với nhu cầu của mình một cách dễ dàng, thuận tiện và nhanh chóng
TNS ra đời đã đáp ứng được những đòi hỏi trên
Tổ chức và khai thác TNS là một trong những nhiệm vụ quan trọng của hoạt động TT - TV hiện đại, một trong những hoạt động phát triển tài TNS là cần số hóa tài liệu Số hóa là quá trình chuyển đổi thông tin từ những đối tượng thực (văn bản, hình ảnh, bản đồ, băng ghi âm, ghi hình…) sang dạng điện tử hay còn gọi là dạng số để lưu giữ Việc số hóa tài liệu mang lại rất nhiều lợi ích như cung cấp dịch vụ thông tin không giới hạn về thời gian và không gian; cải thiện chất lượng dịch vụ tin cho những người dùng tin; giảm việc tiếp xúc trực tiếp đến những nguồn tài nguyên quý hiếm Số hóa tài liệu thư viện không chỉ giúp cho việc tiếp cận thông tin dễ dàng hơn, phong phú hơn mà còn góp phần bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của dân tộc
Hiện nay, Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc đã ứng dụng CNTT vào trong hoạt động của mình và cho phép tra cứu bằng máy tính, đặc biệt là tra cứu thông tin qua internet Do đó,TNS được coi là một phương tiện quan trọng hàng đầu giúp người dùng tin có thể tiếp cận đến nguồn tài liệu truyền thống Việc tổ chức và khai thác TNS mang lại rất nhiều tiện ích cho người dùng tin Với những thao tác đơn giản trên máy tính, người dùng tin có thể tra cứu thông tin
và tạo một bộ sưu tập cá nhân cho riêng mình Hơn nữa, với nguồn TNS người dùng tin có thể tìm kiếm lại những tài liệu mà họ đã tìm trước đó một cách dễ dàng, nhanh chóng vì những tìm kiếm và truy cập trước đó đã được ghi lại tự động
Đối với người dùng tin tại Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc, TNS có ý nghĩa rất quan trọng Với những người dùng tin là người lãnh đạo, quản lý, họ vừa làm công tác quản lý vừa là những nhà nghiên cứu khoa học, vì vậy, họ không có nhiều thời gian để tìm kiếm cũng như tham khảo tài liệu trực tiếp tại Thư viện
Trang 29và những thông tin họ cần là những thông tin nhanh, cập nhật, đa dạng và phong phú nên những thông tin mới sẽ khó có thể khai thác nếu không có nguồn TNS
Đối với nhóm cán bộ nghiên cứu, giảng dạy, cán bộ trong các đơn vị hành chính sự nghiệp - họ thường xuyên phải đi công tác xa và với tính chất đặc thù của công việc, họ không có thời gian đến Thư viện để đọc tài liệu Do đó, nguồn TNS là nguồn thông tin rất hữu ích, quý giá mà họ có thể tiếp cận được Đối với người dùng tin là học sinh, sinh viên thì TNS sẽ giúp họ khai thác, cập nhật thông tin nhanh chóng phục vụ cho việc học tập, tìm kiếm thông tin, nâng cao trình độ tri thức
Đối với người dùng tin là cán bộ hưu trí, nhân dân lao động… TNS sẽ giúp họ nắm bắt được các thông tin nhanh hơn, phục vụ cho nhu cầu giải trí, tìm hiểu khoa học, đặc biệt là những thông tin mới, thông tin cập nhật liên quan đến kinh nghiệm sống hàng ngày
Như vậy, nguồn TNS có thể giúp Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiếp cận khai thác thông tin của người dùng tin
1.2 Người dùng tin và nhu cầu tin tại Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc
1.2.1 Đặc điểm người dùng tin
Người dùng tin là đối tượng phục vụ của bất kỳ một cơ quan TT - TV nào Người dùng tin là người sử dụng thông tin đồng thời là người sáng tạo và làm giàu nguồn tin Thoả mãn nhu cầu tin cho người dùng tin cũng đồng nghĩa với việc phát triển nguồn tin của Thư viện, sử thoả nhu cầu tin cho người dùng tin chính là cơ sở để đánh giá chất lượng hoạt động thông tin trong Thư viện
Hiện nay, người dùng tin của Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc phát triển nhanh
cả về số lượng và thành phần, trình độ của người dùng tin có nhiều cấp độ khác nhau Đối tượng người dùng tin mà Thư viện hướng tới là các nhà quản
Trang 30lý, lãnh đạo các cấp, các ngành; công nhân viên; giáo viên; học sinh, sinh viên
ở các trường trung học cơ sở, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
Qua khảo sát thực tế có thể chia đối tượng người dùng tin của Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc thành 4 nhóm chính sau:
Nhóm 1: Cán bộ quản lý, lãnh đạo
Nhóm 2: Cán bộ nghiên cứu, giảng dạy, cán bộ trong các đơn vị hành chính, sự nghiệp và sản xuất kinh doanh
Nhóm 3: Nhóm đối tượng là học sinh, sinh viên
Nhóm 4: Quần chúng nhân dân
1.2.2 Đặc điểm nhu cầu tin
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang diễn ra một cách mạnh mẽ trên toàn thế giới Nhiều thành tựu khoa học mới ra đời đã tạo nên một hiện tượng “bùng nổ thông tin”, lượng thông tin trong xã hội vô cùng đa dạng và phong phú Cũng từ đây thông tin ngày càng đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển của xã hội, nhu cầu thông tin của con người ngày càng lớn và trở nên cần thiết hơn bao giờ hết Nhu cầu tin chính là đòi hỏi khách quan của con người đối với việc tiếp nhận và xử lý thông tin để duy trì và phát triển sự sống Nhu cầu tin xuất phát từ nhu cầu nhận thức của con người tăng lên cùng với sự gia tăng các mối quan hệ trong xã hội và mang tính chất chu kỳ Nếu nhu cầu tin được thoả mãn kịp thời, chính xác thì nhu cầu tin ngày càng được phát triển Ngược lại nếu nhu cầu tin không được thoả mãn ở mức độ cao bao nhiêu thì chu kỳ càng được rút ngắn bấy nhiêu
Dưới đây là nhu cầu tin của các nhóm người dùng tin tại Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc
Nhu cầu tin của cán bộ lãnh đạo quản lý
Đây là nhóm người dùng tin chiếm số lượng ít (7%) trong số người dùng tin của Thư viện nhưng lại là nhóm người dùng tin rất quan trọng của Thư
Trang 31viện Đáp ứng nhu cầu tin của họ là việc mà Thư viện hết sức quan tâm bởi lẽ
họ là những người đưa ra quyết định mang tính chiến lược và sách lược ở tầm
vĩ mô hay vi mô có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của xã hội Họ có thể là những người xây dựng, phác thảo đường lối, chính sách của cán bộ, các ngành, các đơn vị sản xuất kinh doanh Ngoài công tác quản lý, một số cán bộ còn trực tiếp tham gia nghiên cứu khoa học Do đặc thù công việc nên nhóm đối tượng này có nhu cầu rất cao về các loại tài liệu như: tài liệu chính trị - xã hội, kinh tế - pháp luật, khoa học kỹ thuật, CNTT… Các thông tin này đòi hỏi tính kịp thời, đầy đủ và chính xác cao, thông tin phải vừa rộng đồng thời phải mang tính chuyên sâu và hệ thống
Nhu cầu tin của cán bộ nghiên cứu giảng dạy, cán bộ các đơn vị hành chính, sự nghiệp và sản xuất kinh doanh
Nhóm người dùng tin này chiếm tỉ lệ tương đối cao (31%) trong tổng số người dùng tin của Thư viện Họ có nhu cầu tài liệu khá cao Thông tin họ cần vừa mang tính tổng hợp lại vừa mang tính chuyên sâu Nhóm người dùng tin này có khả năng sử dụng mọi loại hình tài liệu cả truyền thống lẫn hiện đại, tài liệu họ cần thường là tài liệu quý hiếm, tài liệu xám, các tài liệu chuyên sâu về một ngành, một lĩnh vực cụ thể mà họ quan tâm
Nhu cầu tin của học sinh, sinh viên
Có thể thấy, học sinh, sinh viên là đối tượng người dùng tin chủ yếu của Thư viện (40%) Nhu cầu tin của nhóm đối tượng này rất cao và đa dạng Họ mong muốn tham khảo tài liệu để mở rộng kiến thức và hỗ trợ cho việc học tập Do vậy nhóm đối tượng này có nhu cầu đọc và dùng tin chính xác từ các tài liệu như: sách học tập, nâng cao, khảo sát, giáo trình… Ngoài việc sử dụng thường xuyên sách báo ra họ còn có nhu cầu sử dụng và khai thác các thông tin trên mạng internet nhằm thoả mãn nhu cầu về các thông tin phục vụ cho việc học tập, tham khảo
Trang 32Như vậy từ những đặc điểm và nhu cầu tin của các nhóm người dùng tin
kể trên, để đáp ứng tốt nhu cầu tin ngày càng phong phú và đa dạng của bạn đọc đòi hỏi Thư viện phải nắm bắt được nhu cầu, từ đó xây dựng kế hoạch phát triển nguồn lực thông tin, tạo lập và phát triển các sản phẩm dịch vụ thông tin hiện đại nhằm tạo điều kiện thuận lợi để người dùng tin tiếp cận với thông tin - tri thức
Nhu cầu tin của quần chúng nhân dân
Thành phần của nhóm này là quần chúng nhân dân đang sinh sống ở địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, họ có thể là các cán bộ hưu trí, nhân dân lao động… Họ đến Thư viện với nhiều mục đích khác nhau song mục đích cuối cùng là giải trí, tìm hiểu khoa học và nâng cao trình độ, kiến thức cho mình
Tài liệu họ cần có thể là sách báo liên quan đến kinh nghiệm sống hàng ngày, các sách liên quan đến lịch sử tỉnh, sách phục vụ cho sản xuất,sách văn học nghệ thuật, sách khoa học… Nhóm người dùng tin này chiếm khoảng 21% tổng số người dùng tin của Thư viện
1.2.3 Tầm quan trọng của việc tổ chức và khai thác tài nguyên số tại Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc
Tổ chức và khai thác TNS có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động của Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc:
- Góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng Thư viện tỉnh theo hướng hiện đại, Thư viện điện tử
- Làm phong phú, đa dạng nguồn tài nguyên thông tin của Thư viện tỉnh, giúp cho Thư viện có đủ năng lực thỏa mãn cao nhu cầu tin của người đọc, người dùng tin
- Cho phép Thư viện với tới nguồn lực thông tin của toàn cầu thông qua mạng internet
Trang 33- Tạo điều kiện thuận lợi cho Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc cung cấp kịp thời những thông tin kinh tế, chính trị - xã hội, khoa học công nghệ phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa của địa phương và đất nước
- Tạo ra được những sản phẩm, dịch vụ TT – TV mới, hiện đại, chất lượng cao phục vụ người dùng tin, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương
- Góp phần nâng cao vị trí, vai trò của Thư viện tỉnh trong xã hội
- Đáp ứng nhu cầu tiếp cận và khai thác thông tin của người dùng tin: Nhu cầu được tiếp cận và khai thác các nguồn thông tin có giá trị, cập nhật là nhu cầu cơ bản của mọi đối tượng người dùng tin Vì vậy, TNS rất cần thiết đáp ứng tốt hơn nhu cầu tin của người dùng tin, đặc biệt trong giai đoạn bùng nổ thông tin và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ Trước kia, với nguồn lực thông tin truyền thống, người dùng tin phải đến Thư viện tra cứu tài liệu một cách thủ công trong những tủ phiếu mục lục, đọc tài liệu văn bản và ghi chép hay chờ đợi để đăng kí sao chụp tài liệu hoặc đưa
ra yêu cầu thu thập, cập nhật thông tin và phải tiếp tục quay lại để lấy tài liệu sao chụp Hiện nay chỉ với những thao tác đơn giản trên máy tính và mạng máy tính, người dùng tin có thể nhanh chóng tìm thấy những thông tin họ cần Việc tiếp cận với những phương tiện kĩ thuật hiện đại giúp nâng cao kĩ năng khai thác nguồn TNS của người dùng tin Các yêu cầu tin mới luôn biến đổi buộc người dùng tin phải từng bước nâng cao năng lực tìm kiếm thông tin và
họ sẽ ngày càng thành thạo hơn trong tìm kiếm, cũng như thích nghi nhanh hơn và đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của nhà cung cấp thông tin
Hỗ trợ tạo lập và phát triển các loại hình sản phẩm và dịch vụ thông tin mới: Việc ứng dụng CNTT vào trong hoạt động Thư viện thúc đẩy Thư viện tạo ra nhiều sản phẩm thông tin mới nhằm phục vụ tối đa nhu cầu tin của người dùng tin, đồng thời thu hút được nhiều người dùng tin đến sử dụng Thư
Trang 34viện Những thông tin được tổ chức dưới dạng TNS đều có mật độ thông tin cao, có khả năng truy cập từ xa, tính cơ động cao, dễ sao chép và chuyển vào các vật mang tin như mong muốn
Dựa vào các CSDL thư mục, thông qua các lệnh tìm (theo từ khóa hoặc tên tác giả) sẽ cho ra một danh mục các tài liệu theo yêu cầu của người dùng tin Hơn nữa, đối với nguồn TNS, chỉ cần thay đổi các tiêu chí tìm kiếm, người dùng tin sẽ có ngay các bộ sưu tập tài liệu mới theo yêu cầu và có nhiều hình thức để lưu trữ: in thành cuốn, lưu vào đĩa CD - ROM, gửi qua internet…
Để nâng cao chất lượng hoạt động của Thư viện, cũng giống như nhiều Thư viện khác trong cả nước, Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc bên cạnh việc hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ thì trong những năm gần đây Thư viện còn chú trọng đến việc ứng dụng CNTT vào trong hoạt động của mình, tiến hành tổ chức và khai thác các nguồn TNS Nhận thấy tầm quan trọng của nguồn TNS trong Thư viện, Thư viện đã không ngừng đổi mới trên mọi phương diện hoạt động tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng CNTT, tổ chức, khai thác TNS vào trong các hoạt động của Thư viện đạt kết quả cao, nhằm làm cho Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc thực sự là nơi cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời thông tin về mọi lĩnh vực Từ đó đáp ứng nhu cầu tin ngày càng phong phú và đa dạng của bạn đọc, góp phần vào
sự nghiệp đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho địa phương, cho đất nước đồng thời nâng cao trình độ dân trí cho nhân dân trong tỉnh