1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích và đánh giá nguồn lực tài chính doanh nghiệp nhà nước ta hiện nay (2005 2010) những biện pháp để phát huy thế mạnh và hạn chế yếu kém của nguồn lực tài chính doanh nghiệp nhà nước

48 403 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 370 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để hoạt động sản xuất kinh doanh chiếm lĩnh thị trường, giành ưu thế trong cạnh trạnh, pháp luật cho phép DNNN được quyền sử dụng tài sản, thếchấp tài sản những thiết bị, nhà xưởng, quan

Trang 1

DANH SÁCH NHÓM

LỜI CẢM ƠN

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG 2

1 Cơ sở lý luận 2

1.1 Khái niệm về doanh nghiệp nhà nước 2

1.1.1 Doanh nghiệp nhà nước là gì? 2

1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước 2

1.1.3 Phân loại doanh nghiệp nhà nước 5

1.1.4 Vai trò của doanh nghiệp nhà nước 6

1.1.5 Sự khác nhau giữa DNNN của nước ta so với DNNN trên thế giới 7

1.2 Khái quát về nguồn lực tài chính của doanh nghiệp 10

1.2.1 Khái niệm nguồn lực tài chính doanh nghiệp 10

1.2.2 Phân loại nguồn lực tài chính của doanh nghiệp 10

1.2.3 Phát triển nguồn lực tài chính doanh nghiệp 12

2 Thực trạng về nguồn lực tài chính DNNN Việt Nam hiện nay 13

2.1 Sự ra đời của doanh nghiệp nhà nước và hoạt động của nó trong cơ chế cũ 13 2.2 Vai trò của DNNN trong nền kinh tế thị trường nước ta hiện nay 14

2.3 Đánh giá chung về tình hình hoạt động và kinh doanh của DNNN hiện nay… 15

2.3.1 Tỳ trọng DNNN trong nền kinh tế 15

2.3.2 Về tình hình tài chính 16

2.3.3 Về kết quả sản xuất kinh doanh 17

2.3.4 Nộp ngân sách 19

Trang 2

2.3.6 Về sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp 23

2.3.7 Về thí điểm kiểm kê, đánh giá lại tài sản và vốn của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước ………23

2.4 Thành tựu đạt được và hạn chế của các DNNN 24

2.4.1 Thành tựu 24

2.4.2 Những bất cập, khó khăn 25

2.5 Nguyên nhân của những bất cập của DNNN 26

3 Giải pháp để phát huy thế mạnh và hạn chế yếu kém của DNNN 29

3.1 Bài học về đổi mới DNNN của nước ta từ kinh nghiệm quốc tế 29

3.2 Định hướng của Nhà nước đối với DNNN 30

3.2.1 Định hướng phát triển chung của Doanh nghiệp nhà nước 30

3.2.2 Định hướng phát triển nguồn lực tài chính của DNNN 37

3.3 Giải pháp để phát huy thế mạnh và hạn chế yếu kém của DNNN 39

3.3.1 Cải cách nền tài chính quốc gia 39

3.3.2 Đổi mới cơ chế tài chính, đa dạng hóa nguồn lực dịch vụ công 41

3.3.3 Hoàn thiện cơ chế, chính sách TCDN, tái cấu trúc DNNN 42

3.3.4 Đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế về tài chính 43

3.3.5 Nâng cao năng lực và hiệu quả thanh tra giám giát tài chính quốc gia 44 3.3.6 Cổ phần hóa DNNN 45 KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Trong thời kỳ đổi mới vừa qua, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước tiến rõrệt trong quá trình chuyển đổi cơ cấu Từ nền kinh tế tập trung kế hoạch hoá sang nềnkinh tế thị trường - nền kinh tế mở, với nhiều loại hình doanh nghiệp mới ra đời và tồntại song song với nhau Tuy nhiên Nhà nước khẳng định rằng Doanh nghiệp Nhà nước(DNNN) vẫn luôn là loại hình chủ chốt có ý nghĩa quyết định đối với nền kinh tế -chính trị của Việt Nam Tại văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI Việt Nam khẳng địnhvẫn phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa tức là Doanhnghiệp Nhà nước là thành phần chỉ đạo của nền kinh tế mở Đảng và Nhà nước ta đãban hành nhiều nghị quyết, cơ chế, chính sách, biện pháp đổi mới nhằm nâng cao hiệuquả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước và bảo đảm vai trò chủ đạo của kinh tế nhànước Đặc biệt là trong thời gian gần đây, Quốc hội và Chính phủ đã chỉ đạo soạn thảo

và ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng tạo cơ sở pháp lý nhằm đẩy mạnh quátrình sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của Doanh nghiệp Nhà nước Quátrình đổi mới Doanh nghiệp Nhà nước ở nước ta trong thời gian qua đã thu đượcnhững kết quả to lớn nhưng cũng có nhiều vấn đề, thách thức đặt ra đòi hỏi phải cónhững giải pháp phù hợp

Hiện nay vấn đề nguồn lưc của tài chính doanh nghiệp nhà nước là một trongnhững lĩnh vực trọng tâm, nổi bật và cần được xem xét một cách cẩn trọng Vì thế để

hiểu rõ hơn về vấn đề này nhóm chúng em chọn đề tài “Phân tích và đánh giá nguồn

lực tài chính doanh nghiệp nhà nước ta hiện nay Những biện pháp để phát huy thế mạnh và hạn chế yếu kém của nguồn lực tài chính doanh nghiệp nhà nước”

để tiến hành nghiên cứu

Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, bài tiểu luận đượckết cấu thành ba chương:

Chương I: Cơ sở lý luận

Chương II: Thực trạng về nguồn lực tài chính doanh nghiệp nhà nước Việt Nam hiện nay

Chương III: Giải pháp phát huy thế mạnh và hạn chế yếu kém của nguồn lực tài chính doanh nghiệp nhà nước

Trang 4

PHẦN NỘI DUNG

1 Cơ sở lý luận

1.1 Khái niệm về doanh nghiệp nhà nước

1.1.1 Doanh nghiệp nhà nước là gì?

Theo Sắc lệnh số 104/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh kí ban hành ngày 1/1/1948,doanh nghiệp nhà nước được gọi là doanh nghiệp quốc gia Điều 2 Sắc lệnh này ghinhận: "Doanh nghiệp quốc gia là một doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của quốc gia

và do quốc gia điều khiển" Sau đó, những đơn vị kinh tế của Nhà nước được gọi là xínghiệp quốc doanh, lâm trường quốc doanh (trong nông nghiệp), cửa hàng quốc doanh(trong thương nghiệp)…

Thuật ngữ doanh nghiệp nhà nước được sử dụng chính thức trong Nghị định338/HĐBT ngày 20/11/1991 ban hành Quy chế về thành lập và giải thể doanh nghiệpnhà nước Điều 1 Nghị định này đã định nghĩa: Doanh nghiệp nhà nước là tổ chứckinh doanh do Nhà nước thành lập, đầu tư vốn và quản lí với tư cách chủ sở hữu

Doanh nghiệp nhà nước là pháp nhân kinh tế hoạt động theo pháp luật và bìnhđẳng trước pháp luật

Hiện nay, khái niệm doanh nghiệp nhà nước được định nghĩa trong Điều 1 Luậtdoanh nghiệp nhà nước như sau: "Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhànước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lí, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt độngcông ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội do Nhà nước giao"

1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước

DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư và thành lập

Trước hết, DNNN là một tổ chức kinh tế nên phải lấy các hoạt động sản xuấtkinh doanh làm chủ yếu Hoạt động này có tính chất liên tục trong suốt quá trình tồntại của doanh nghiệp theo đúng lĩnh vực, ngành nghề đã đăng ký tổ chức kinh tế chịutrách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình với tư cách là một tổ chức kinh tế, DNNN làmột thực thể độc lập với cơ quan công quyền, tổ chức xã hội

DNNN trước hết phải được Nhà nước đầu tư vốn, nhưng vấn đề ở đây là Nhànước đầu tư vốn như thế nào? xét trên khía cạnh hình thành thì doanh nghiệp hay mộtcông ty mới thành lập, vấn đề sở hữu ban đầu quyết định loại hình của doanh nghiệphay của công ty đó, nếu vốn ban đầu của một công ty là vốn cổ phần thì rõ ràng làcông ty cổ phần Nếu vốn ban đầu là của nhóm người không phải phát hành cổ phiếuthì doanh nghiệp đó là công ty trách nhiệm hữu hạn

Vì Nhà nước là người đầu tư toàn bộ vốn điều lệ và không chia sẻ với bất cứ aiquyền đầu tư vốn ban đầu để thành lập doanh nghiệp, cho nên Nhà nước đương nhiên

là sáng lập viên duy nhất và giữ quyền quyết định, thành lập DNNN khác với doanh

Trang 5

nghiệp và tổ chức kinh tế khác là Nhà nước cho phép thành lập theo sáng kiến của cánhân, tổ chức tuân theo thủ tục do pháp luật quy định.

DNNN do Nhà nước tổ chức quản lý và hoạt động theo các mục tiêu kinh

tế - xã hội do Nhà nước giao

Doanh nghiệp nhà nước không chỉ là đối tượng quản lý của Nhà nước như cácloại hình doanh nghiệp khác, mà nó còn là công cụ để Nhà nước thực hiện điều tiếtkinh tế theo định hướng vạch ra Do đó, một mặt, Nhà nước trao cho doanh nghiệpquyền tự chủ sản xuất kinh doanh để doanh nghiệp đủ sức để có thể tồn tại và pháttriển được trong cơ chế thị trường trong môi trường cạnh tranh bình đẳng với doanhnghiệp thuộc các thành phần khác Mặt khác, Nhà nước phải thiết lập được mối quan

hệ chắc chắnm bền vững với các DNNN về mặt tổ chức quản lý doanh nghiệp Quyềncủa Nhà nước trong việc thực hiện tổ chức quản lý đối với DNNN bao gồm những nộidung chủ yếu sau:

 Nhà nước quy định mô hình cơ cấu tổ chức quản lý cho từng loại DNNN phùhợp với qui mô của nó

 Nhà nước quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ cấu, tổ chứctrong doanh nghiệp như Hội đồng quản trị, Chủ tịch HĐQT, Giám đốc, Ban kiểmsoát, Đại hội công nhân viên chức, các tổ chức Đảng và đoàn thể xã hội và mối quan

hệ giữa các cơ cấu tổ chức này trong nội bộ với Nhà nước

 Xác định thẩm quyền, trình tự thủ tục, của việc Nhà nước bổ nhiệm, miễmnhiệm các chức vụ quan trọng của doanh nghiệp như Chủ tịch HĐQT, Giám đốc,Tổng giám đốc, các thành viên HĐQT, Kế toán trưởng, các thành viên ban kiểm soát

 Hoạt động của DNNN chịu sự chi phối của Nhà nước về các mục tiêu kinh tế

-xã hội do Nhà nước giao So với qui định tại Nghị định 388/HĐBT "Doanh nghiệpNhà nước hoạt động theo định hướng của Nhà nước thì quản lý hoạt động của DNNNtheo mục tiêu đặt ra, rõ ràng là thoáng hơn phù hợp tính đa dạng của loại hình DNNNtrong cơ chế thị trường Quản lý theo mục tiêu cho phép doanh nghiệp có thể chủđộng nghiên cứu chuyển đổi hướng kinh doanh, tất nhiên phải đăng ký theo quy địnhchung DNNN không phải thực hiện mục tiêu do Nhà nước đề ra theo thiết kế banđầu Nhưng cũng không thể quy định chỉ có các doanh nghiệp công ích hoạt động trênlĩnh vực công cộng, đảm bảo an ninh, quốc phòng, mới bắt buộc phải theo thiết kế banđầu của Nhà nước còn các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có thể tự thay đổihướng kinh doanh miễn là kinh doanh có lãi có đóng góp cho ngân sách, tạo làm việc,thu nhập cho công nhân theo chúng tôi DNNN có thể thay đổi mục tiêu nhưng khôngthể tự ý thay đổi mà không có sự cho phép của Nhà nước Nhà nước là chủ sở hứuđược DNNN, do đó quyền đặt ra mục tiêu và thay đổi mục tiêu là quá trình hoạt độngcủa doanh nghiệp là quyền của Nhà nước

DNNN có tư cách pháp nhân, có quyền quản lý vốn, tài sản do Nhà nước giao

Trang 6

DNNN có tư cách pháp nhân tức là nó có tư cách để trở thành một chủ thể đầy

đủ của các quan hệ pháp luật dân sự, có khả năng hưởng quyền dân sự và năng lựcdân sự, có quyền dân sự và chịu trách nhiệm dân sự

Nói đến tài sản của pháp nhân là tổ chức kinh tế trước hết là nói đến vốn của

nó, vốn của pháp nhân phải phù hợp với quy định của pháp luật Pháp nhân phải có đủ

số vốn cần thiết để có đủ tư cách độc lập tham gia vào các quan hệ dân sự ở đây, tàisản của doanh nghiệp phải hội tụ hai điều kiện:

 Tài sản của pháp nhân phải độc lập với người đầu tư và do pháp nhân độc lậpchi phối

 Tài sản của pháp nhân phải đạt tới mức tối thiểu do pháp luật qui định (khôngthấp hơn mức vốn pháp định)

DNNN cũng phải thoả mãn hai điều kiện trên đây, nhưng điều kiện 1 đối vớiDNNN là rất đặc thù là vấn đề mấu chố liên quan đến hàng loạt vấn đề về tổ chức vàhoạt động của DNNN

Một nguyên tắc luôn được đề cao đó là tài sản trong DNNN là tài sản thuộc sởhữu Nhà nước, doanh nghiệp chỉ có quyền quản lý và sử dụng Nhưng vấn đề là ở chỗlàm thế nào để một mặt vẫn đảm bảo về nguyên tắc tài sản của Nhà nước đầu tư vàodoanh nghiệp vẫn thuộc sở hữu của Nhà nước Mặt khác, tách bạch được giữa tài sảncủa Nhà nước do Nhà nước quản lý với khối tài sản còn lại thuộc sở hữu Nhà nước tạotiền đề vật chất bảo đảm quyền tự chủ thực sự cho doanh nghiệp trong sản xuất kinhdoanh thích ứng nhanh nhạy với những biến động ngày cangf tăng của thị trường mởcửa hoà nhập với thị trường quốc tế

Trong nền kinh tế thị trường "Các xí nghiệp chỉ tồn tại nhờ sự phân chia quyềntài sản thành quyền vật dụng và quyền cam kết " Quyền vật dụng hay quyền đối vớitài sản thuộc về công ty còn quyền cam kết thuộc về cổ đông Người góp vốn chỉ cóquyền cam kết những gì liên quan đến công ty Do đó để dnnn có thể tồn tại và tráchnhiệm bảo toàn vốn cho DNNN Bằng việc làm đó Nhà nước đã tạo ra sự tách bạchgiữa tài sản đầu tư với khối tài sản còn lại của Nhà nước Tuy nhiên mức độ tách bạchnày chưa thể sánh với tự tách bạch ở các công ty cổ phần Như vậy tư cách pháp nhâncủa doanh nghiệp Nhà nước gắn liền với nó là trách nhiệm hữu hạn của doanh nghiệp,ngay cả đối với doanh nghiệp 100% với Nhà nước

Nếu doanh nghiệp không có tài sản riêng cần thiết thì không đủ điều kiện để trởthành pháp nhân Doanh nghiệp không có quyền độc lập, chi phối đối với tài sản của

nó thì không có khả năng gạnh chịu pháp luật dân sự và do đó không thể trở thành chủthể của quan hệ pháp luật dân sự khác Các quyền tài sản này do pháp luật quy định

Thực chất quyền tài sản DNNN với tư cách là một pháp nhân là các quyền vànghĩa vụ của doanh nghiệp đối với tài sản của nó, khác với các quyền và nghĩa vụ củacác chủ thể dân sự khác đối với tài sản của họ Đó là các quyền lợi về tài sản theo

Trang 7

nghĩa rộng gồm có quyển sử dụng đối với vốn và tài sản được Nhà nước giao quyềncủa chủ nợ, quyền sở hữu trí tuệ, quyền hưởng dụng, quyền thu lãi do đầu tư nướcngoài doanh nghiệp.

Ngoài tư cách là chủ thể độc lập của các quan hệ pháp luật dân sự DNNN còn

là một chủ thể cạnh tranh trên thị trường có quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh, tự chịutrách nhiệm đối với kết quả kinh doanh, tự phát triển tự ràng buộc, DNNN có quyền

tự sản xuất kinh doanh và cốt lõi vật chất của quyền này quyền tự chủ về vốn, củaDNNN được mở rộng Để hoạt động sản xuất kinh doanh chiếm lĩnh thị trường, giành

ưu thế trong cạnh trạnh, pháp luật cho phép DNNN được quyền sử dụng tài sản, thếchấp tài sản (những thiết bị, nhà xưởng, quan trọng phải được cơ quan có thẩm quyềncho phép) trên cơ sở bảo toàn và phát triển vốn, có quyền dùng tài sản của doanhnghiệp để đầu tư, liên doanh góp vốn cổ phần theo quy định của pháp luật, được giữlại với khấu hao cơ bản để tích luỹ, sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư

1.1.3 Phân loại doanh nghiệp nhà nước

Nhóm 1 gồm các doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ hoạt

động trong các ngành, lĩnh vực như quốc phòng, an ninh, hệ thống cơ sở hạ tầng thenchốt, các ngành độc quyền mà Nhà nước cần kiểm soát Nhóm này sẽ được tái cấutrúc về chiến lược, mô hình tổ chức, quản trị nội bộ, tái cấu trúc tài chính, nhân sự đểnâng cao hiệu quả

Nhóm 2 gồm các doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối tuyệt

đối, có quyền quyết định các vấn đề quan trọng (trên 75% vốn điều lệ), hoạt độngtrong các ngành, lĩnh vực sản xuất, cung cấp các sản phẩm dịch vụ công ích, bảo đảmnhu cầu thiết yếu cho phát triển sản xuất và nâng cao đời sống của đồng bào dân tộc ởmiền núi, hải đảo

Nhóm 3 gồm các doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối (trên

65% vốn điều lệ) gồm những công ty quy mô lớn, có đóng góp lớn cho ngân sách, điđầu trong việc ứng dụng công nghệ mũi nhọn, công nghệ cao và có vai trò đảm bảocác cân đối lớn cho nền kinh tế, bình ổn thị trường Nhóm 2 và nhóm 3 sẽ được tái cấutrúc trước cổ phần hóa, cổ phần hóa, tái cấu trúc sau CPH.………

Nhóm 4 gồm các doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần chi

phối hoặc không nắm giữ cổ phần hoạt động kinh doanh thuần túy Các doanh nghiệpthuộc nhóm 4 sẽ được đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước

1.1.4 Vai trò của doanh nghiệp nhà nước

Sự cần thiết khách quan phải có Doanh nghiệp nhà nước

Sở dĩ tất cả các quốc gia đều có DNNN, tuy tỷ lệ có khác nhau giữa các nước,

là vì:

Trang 8

 Nhà nước cần có thực lực về kinh tế để thực hiện các tác động quản lý đối vớinền kinh tế nói riêng, xã hội nói chung.

 Nhà nước cần tích tụ, tập trung tư bản xã hội để tạo nên những bàn đạp ban đầucho sự khởi phát kinh tế

 Trong thời kỳ tích luỹ ban đầu, lượng tích luỹ của nhân dân còn quá phân tán

và nhỏ bé, không đáp ứng được yêu cầu về quy mô vốn đầu tư tối ưu cho công nghiệphoá, hiện đại hoá cơ sở vật chất, kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân Phải có sự tậptrung của Nhà nước để mọi nguồn vốn nhỏ bé, rải rác của nhân dân được dồn tích lại,

đủ để xây dựng nền móng chung cho toàn xã hội

 Có một số hàng hoá và dịch vụ mà doanh nghiệp không của Nhà nước khôngđược làm, không làm được và không muốn làm, còn Nhà nước thì không thể để xã hộithiếu sản phẩm hoặc dịch vụ

 Nhà nước không thể để cho xã hội thiếu sản phẩm và dịch vụ là vì: việc thiếu hàng hoá, dịch vụ có thể gây nên các bất ổn về chính trị- xã hội

Vai trò của Doanh nghiệp nhà nước

DNNN là một công cụ kinh tế đặc biệt trong hệ thống các công cụ kinh tế đểNhà nước thực hiện sự quản lý nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân nói riêng, toàn

xã hội nói chung một cách hiệu lực

Vai trò này thể hiện trên hai mặt:

 Là công cụ kinh tế để Nhà nước gây áp lực kinh tế đối với các đối tượng màNhà nước muốn dùng áp lực kinh tế để điều chỉnh

 Là công cụ kinh tế để Nhà nước bày tỏ thiện chí, thiện cảm, tính nhân văn,nhân đạo của giai cấp cầm quyền, mà Nhà nước là đại biểu, đối với toàn thể cộngđồng, để từ đó dành lấy thiện cảm của toàn thể cộng đồng xã hội đối với giai cấp cầmquyền, mà Nhà nước là đại diện Cả hai mục đích trên của Nhà nước đều có thể đạtđược bằng nhiều cách khác

 DNNN là con đường tích tụ và tập trung vốn ban đầu cho quá trình côngnghiệp hoá , hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân ở các nước mới phát triển

 Nhà nước bằng các hoạt động tập hợp vốn của mình trong nhân dân, nhữnglượng vốn nhỏ bé, rải rác, chưa đủ để lập nên các cơ sở công nhiệp nhà nước ban đầu

Từ những điểm tựa này, công dân từng bước trưởng thành tích luỹ thêm vốn và kinhnghiệm, đến một giai đoạn nào đó sẽ tự thân lập nghiệp, hình thành các cơ sở sản xuấtcủa riêng mình, hoặc tiếp quản sự chuyển giao các DNNN của Nhà nước theo trình tựtừng phần hoặc toàn bộ Sứ mạng này của DNNN đã từng có ở nhiều quốc gia vào cácnăm sau đại chiến thế giới lần thứ hai Lúc đó các nước này phải qua Nhà nước mà tậptrung vốn để gây dựng nền tảng ban đầu cho nền công nghiệp của đất nước, mà nếukhông làm như vậy thì không ai có đủ vốn tối thiểu cần thiết cho sự nghiệp côngnghiệp hoá đất nước

DNNN có vai trò hỗ trợ công dân lập nghiệp

Trang 9

 Thông qua DNNN, Nhà nước dựng nên những trung tâm công nghiệp, có khảnăng thu hút quanh mình các vệ tinh, thuộc các thành phần kinh tế khác, với nhữngquy mô và kỹ thuật khác nhau, thực hiện một số công đoạn hoặc cung ứng dịch vụcông nghiệp cho trung tâm, theo sự đặt hàng của trung tâm, hoặc được trung tâm cungcấp các phế liệu, phế thải để dùng làm nguyên liệu cho các doanh nghiệp vệ tinh này.Bằng cách này, nhà nước tạo ra việc làm cho dân.

 Thông qua DNNN, Nhà nước thực hiện các ý đồ phân bố công nghiệp theohướng đem lại ánh sáng văn minh cho mọi vùng lãnh thổ, xoá bỏ sự cách biệt quámức giữa thành thị và nông thôn, đồng bằng và vùng núi

 DNNN giữ vai trò bổ sung thị trường khi cần thiết: Chức năng này được cácDNNN thực hiện thông qua việc chúng cung cấp cho thị trường những hàng hoá vàdịch vụ theo chủ trương, kế hoạch nhà nước nhằm vào các khoảng trống của cung

1.1.5 Sự khác nhau giữa DNNN của nước ta so với DNNN trên thế giới

STT TIÊU CHÍ

SO SÁNH

DOANH NGHIỆP NHÀ

1 Khái niệm - Do nhà nước sở hữu 100%/

vốn điều lệ;

- CTCP mà nhà nước nắm cổphần đa số hoặc chi phối chưahẳn được xem là DNNN màđược xem như đã cổ phần hóa

- Rất rất ít doanh nghiệp mànhà nước sở hữu 100% vốnđiều lệ;

- Doanh nghiệp mà nhà nướcnắm giữ cổ phần chi phốiđược coi là DNNN:

+ Rất ít loại hình doanhnghiệp mà nhà nước nắm giữ

cổ phần đa số ( trên 75%);+ Nhà nước nắm cổ phần chiphối trên 30%/VĐL được xem

là DNNN;

- Việc bán bớt hoặc bán toàn

bộ cổ phần nhà nước được coi

là tư nhân hóa DNNN;

- Doanh nghiệp công ích;

- Số lượng DNNN không cổphần hóa khoảng trên 1000doanh nghiệp

- Các nước phát triển nhưnhóm G7 chẳng hạn còn rất ítDNNN;

- Không có khái niệm doanhnghiệp công ích của nhà nước;

- Các nước đang phát triểnnhư các nước trong khu vựcchẳng hạn thì DNNN còn tồn

Trang 10

tại ở những lĩnh vực cực kỳquan trọng như Dầu khí, xăngdầu, vận tải công cộng…

3 Hình thức

huy động

vốn

- Vay vốn từ các tổ chức tíndụng;

- Vốn nhà nước cấp;

- DNNN không thể huy độngđược vốn cổ phần, không thểniêm yết, do vậy qui mô củakhối DNNN ngày càng nhỏ bé

so với các DNNN đã cổ phầnhóa hoặc doanh nghiệp cổ phần

tư nhân trừ 1 vài DNNN giữ vịthế độc quyền trong nhữngngành quan trọng như dầu khí,bưu chính viễn thông, điện lực,tài nguyên khoáng sản;

- Vay vốn từ các tổ chức tíndụng;

- Phát hành cổ phiếu để huyđộng vốn từ cổ đông nhà nước

và tư nhân;

- Hầu hết DNNN đều lànhững DN lớn và phải thựchiện niêm yết;

4 Chế độ công

khai minh

bạch

- Chưa có cơ chế để DNNNphải công bố báo cáo tài chínhlên Website và các phương tiệnthông tin đại chúng, trừ lĩnhvực tài chính ngân hàng;

- Ít có DNNN tự nguyện công

bố báo cáo tài chính lên trangWeb;

- Rất khó nắm bắt được tìnhhình tài chính và tình hình hoạtđộng của các Tập đoàn , Tổngcông ty, DNNN 1 cách chi tiết

- Công khai thông tin về tìnhhình tài chính và tình hìnhhoạt động 1 cách đầy đủ vàthường xuyên như 1 doanhnghiệp niêm yết;

- Chịu sự giám sát, chất vấn từcác cổ đông thông qua nhiềuhình thức, chẳng hạn như từĐại hội cổ đông, từ việc khởikiện Ban lãnh đạo Doanhnghiệp…

5 Cơ quan đại

- Bộ chuyên ngành kết hợpvới Bộ Tài chính;

- Thành lập 1 Bộ chuyênngành để quản lý tất cảDNNN:

Trang 11

Xóa dần Chỉ xuất hiện ở 1 sốquốc gia đang trong quá trìnhchuyển đổi sang nền kinh tếthị trường, chẳng hạn nhưHungary, Bộ này có nhiệm vụquản lý để tư nhân hóa tất cảDNNN, sau khi tiến trình tưnhân hóa kết thúc, Bộ nàyđược giải thể để thành lậpUBCKNN;

- Thu nhập tại DNNN là thấpnếu so với những doanh nghiệp

tư nhân, DNNN đã cổ phần hóakinh doanh hiệu quả; Thu nhậpcủa Ban quản lý lại càng thấphơn;

- Chính sách thu hút người tài:

+ Ít có DNNN trải thảm đỏ mờingười tài, người có tâm huyết

về làm việc;

+ Người tài cũng không muốnlàm việc tại khu vực DNNN do

cơ chế thu nhập và cách thứcđãi ngộ

- Theo cơ chế thị trường;

- Một số lĩnh vực đặc quyềnđặc lợi thì chính sách tiềnlương, tiền thưởng do cơ quanđại diện nhà nước phê duyệtnhưng cũng phải căn cứ vàomặt bằng xã hội;

- Người lao động và Ban quản

lý DN còn được hưởng nhữnghình thức lương phi vật chấtnhư được mua cổ phần ưu đãi,quyền mua cổ phần…

- Chính sách thu hút người tài:+ Cởi mở hơn so với loại hìnhDNNN đóng;

+ Những nhà quản trị tài bacũng không thích làm việc tạiDNNN vì bị nhiều hạn chế

- Tiến trình thông qua quyếtđịnh mất nhiều thời gian

- Nhà nước nắm giữ cổ phầnchi phối nhưng hoạt động như

1 cổ đông lớn;

- Cổ đông nhỏ lẻ có thể phủquyết những quyết định không

có lợi cho doanh nghiệp hoặccho họ;

1.2 Khái quát về nguồn lực tài chính của doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm nguồn lực tài chính doanh nghiệp

Trang 12

Theo cách hiểu thông thường, nguồn lực tài chính doanh nghiệp là toàn bộ quátrình huy động và sử dụng vốn được thể hiện dưới hình thức giá trị Bất kỳ một doanhnghiệp nào tồn tại trên thị trường đều phải có một nguồn lực tài chính nhất định đểthực hiện mục tiêu kinh doanh của mình, có như vậy mới giúp doanh nghiệp tồn tại vàphát triển được Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng đồng thời làquá trình phân phối, sử dụng các nguồn lực tài chính để hình thành và biến đổi cácloại tài sản của doanh nghiệp nhằm tạo ra giá trị gia tăng và thu được lợi nhuận.

1.2.2 Phân loại nguồn lực tài chính của doanh nghiệp

Có nhiều cách phân loại nguồn lực tài chính doanh nghiệp, mỗi cách phân loạiđều có ý nghĩa nhất định trong quá trình huy động và sử dụng nguồn lực tài chính củadoanh nghiệp Tùy vào góc độ tiếp cận mà người nghiên cứu lựa chọn và sử dụngcách phân loại hợp lý nhất

Phân loại nguồn lực tài chính theo tiêu chuẩn giá trị và thời gian sử dụng

Theo cách phân loại này thì nguồn lực tài chính của doanh nghiệp bao gồm vốn

cố định và vốn lưu động

Vốn cố định: Là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản cố định của doanh

nghiệp

Tài sản cố định: là cơ sở vật chất kỹ thuật chủ yếu của doanh nghiệp, phản ánh

năng lực sản xuất hiện có, trình độ tiến bộ khoa học kỹ thuật của doanh nghiệp Tàisản cố định là những tư liệu lao động phải đáp ứng hai tiêu chuẩn sau:

 Thời gian sử dụng từ một năm trở lên

 Tiêu chuẩn về giá trị: Phải có giá trị tối thiểu ở một mức nhất định doNhà nước quy định phù hợp với tình hình kinh tế của từng thời kỳ (theo chế độ kếtoán ban hành theo quyết định 15/2006/BTC thì TSCĐ có giá từ 10.000.000 trở lên)

Phân loại tài sản cố định: Phân theo hình thức biểu hiện thì tài sản cố định

bao gồm: Tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình

Tài sản cố định hữu hình: Là những tài sản có hình thái vật chất, được

Tài sản cố định vô hình: Là những tài sản không có hình thái vật chất,

thể hiện những lượng giá trị lớn mà doanh nghiệp đã đầu tư, liên quan đến nhiều chu

kỳ kinh doanh, bao gồm các loại sau:

 Quyền sử dụng đất

Trang 13

 Chi phí thành lập doanh nghiệp

 Chi phí về bằng phát minh sáng chế

 Chi phí nghiên cứu phát triển

 Chi phí về lợi thế thương mại

 Quyền đặc nhượng

 Nhãn hiệu thương mại…

Vốn lưu động

Khái niệm: Là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản lưu động của doanh

nghiệp Vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay một lần, tuần hoàn, liên tục vàhình thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất kinh doanh

Phân loại vốn lưu động theo hình thái biểu hiện: Theo tiêu thức này, vốn lưu

 Vốn về chi phí trả trước: Là những khoản chi phí lớn hơn thực tế đã phátsinh có liên quan nhiều chu kỳ kinh doanh như: chi phí sửa chữa lớn TSCĐ, chi phíthuê tài sản, chi phí nghiên cứu thí nghiệm, cải tiến kỹ thuật, chi phí xây dựng, lắp đặtcác công trình tạm thời, chi phí về ván khuôn, giàn giáo, phải lắp dùng trong xây dựng

cơ bản

1.2.3 Phát triển nguồn lực tài chính doanh nghiệp

Phát triển nguồn lực tài chính của doanh nghiệp phải là quá trình tăng trưởng

cả về quy mô tổng lượng nguồn lực tài chính, đảm bảo tính liên tục của nguồn lực tàichính và tiến bộ về cơ cấu nguồn lực tài chính đáp ứng yêu cầu phát triển của doanhnghiệp

Tăng trưởng về quy mô tổng lượng tài chính của doanh nghiệp

Quy mô tổng lượng tài chính của doanh nghiệp tăng lên chủ yếu từ các nguồnsau: Lợi nhuận để lại hàng năm tăng, tăng các khoản vay ngắn hạn và dài hạn, cáckhoản nợ phải trả tăng và tăng thêm huy động vốn bằng phát hành cổ phần, phát hànhthêm trái phiếu công ty Tuy nhiên phát triển nguồn lực tài chính của doanh nghiệpkhông chỉ là việc tăng lên về quy mô tổng lượng mà là quá trình đảm bảo tính liên tụccủa nguồn lực tài chính và tạo một cơ cấu nguồn lực tài chính một cách hợp lý

Đảm bảo tính liên tục của nguồn lực tài chính

Trang 14

Từ xa xưa dân gian đã có quan niệm “ Buôn tài không bằng dài vốn”, điều nàyluôn nhắc nhở các nhà quản lý điều hành doanh nghiệp phải tìm cách đảm bảo chonguồn lực tài chính không những không xói mòn mà còn phải có tính liên tục, ngàycàng gia tăng không bị ngắt quãng trong quá trình kinh doanh của mình, tức là đảmbảo “trường vốn” về nguồn lực tài chính Trong cơ chế thị trường cạnh tranh ngàynay, cơ hội này hay phòng ngừa các rủi ro này thì bản thân các doanh nghiệp phảiluôn sẵn sàng và chủ động trong nguồn lực tài chính của mình Việc tạo lập và quản lý

sử dụng có hiệu quả quỹ dự phòng tài chính và phân bổ các nguồn lực tài chính tạo ramột cơ cấu nguồn lực tài chính hợp lý là những giải pháp quan trọng đảm bảo tính liêntục của nguồn lực tài chính

Xây dựng cơ cấu hợp lý

Cơ cấu nguồn lực tài chính là tổng thể các nguồn lực tài chính của doanhnghiệp với vị trí, tỷ trọng tương ứng và mối liên hệ hữu cơ tương đối hợp thành Cơcấu nguồn lực tài chính của doanh nghiệp thường biến động trong các chu kỳ kinhdoanh và có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến sự tồn tại và phát triển củadoanh nghiệp Vì vậy việc xem xét lựa chọn điều chỉnh cơ cấu nguồn lực một cáchhợp lý là một trong những quyết định quan trọng của doanh nghiệp

Đối với các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong ngành bán lẻ thì cơ cấunguồn lực tài chính có sự khác biệt khá rõ Trong ngành này mặt hàng kinh doanh đadạng và tốc độ quay vòng vốn nhanh nên nhu cầu về vốn lưu động là rất lớn, mặtkhác khi đã có mặt bằng kinh doanh, cơ sở vật chất rồi thì nguồn vốn cố định phátsinh trong ngành bán lẻ đòi hỏi không nhiều Do vậy, tùy vào chiến lược kinh doanhhàng năm của doanh nghiệp mà bố trí cơ cấu nguồn lực tài chính hợp lý, sử dụng vàkhai thác tối đa nguồn lực tài chính nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanhnghiệp

2 Thực trạng về nguồn lực tài chính doanh nghiệp nhà nước Việt Nam hiện nay 2.1 Sự ra đời của doanh nghiệp nhà nước ở nước ta

Hệ thống doanh nghiệp nhà nước ta đã có hơn 40 năm xây dựng và phát triển.Trong thời kỳ cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, các xí nghiệp quốcdoanh (doanh nghiệp nhà nước) là lực lượng chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.Chúng được hình thành từ 3 nguồn sau:

Thứ nhất, xây dựng bằng nguồn vốn của ngân sách nhà nước, nguồn viện trợ

hoặc đi vay (của Liên xô cũ, Trung Quốc và các nước XHCN khác trong thời kỳ đó)

Thứ hai, quốc hữu hóa xí nghiệp của các nhà tư sản mại bản, tư sản dân tộc đã

bỏ ra nước ngoài hoặc xí nghiệp nhà nước của chế độ cũ Hình thức này được áp dụngrộng rãi trong những năm 70 và đỉnh cao vào năm 1975, 1976

Thứ ba, biến các xí nghiệp tư nhân của các nhà tư sản dân tọc thành các xí

nghiệp công tư hợp doanh và sau đó thành các xí nghiệp quốc doanh

Trang 15

Cũng giống các nước theo nền kinh tế xã hội chủ nghĩa khác Việt Nam đã vậndụng học thuyết Mác – Lênin để thực hiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, coichế độ công hữu là nền tảng kinh tế để xóa bỏ sự phân hóa giàu nghèo, bất công xãhội do nền kinh tế thị trường và chế độ tư hữu gây ra, để xây dựng một chế độ cônghữu do nhân dân lao động làm chủ Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội nước

ta đã nhấn mạnh vào nhiệm vụ và vai trò của kinh tế nhà nước, coi đó là hiện thân củachế độ công hữu có sức mạnh toàn năng trong việc tổ chức mọi hoạt động kinh tế của

xã hội đồng thời phủ nhận vai trò của thị trường, của kinh tế tư nhân

Vì vậy nền kinh tế quốc dân ở nước ta không phải là một nền sản xuất hàng hóa

mà là một nền kinh tế hiện vật và xã hội hóa đươc quản lý theo cơ chế kế hoạch hóatập trung quan liêu, bao cấp: Nhà nước XHCN vừa tập trung quyền lực chính trị vừa

là chủ sở hữu duy nhất và thống nhất đối với tuyệt đại đa số các tư liệu sản xuất của xãhội và nhà nước vừa là người chỉ huy, vừa là người tổ chức thực hiện SXKD

Ở nước ta, trong thời gian dài trước đại hội Đảng lần thứ VI (12-1986) doanhnghiệp nhà nước đã hình thành và phát triển với một cơ cấu tương đối hoàn chỉnh, ởtất cả các lĩnh vực, các ngành kinh tế quốc dân như hang không, hàng hải, bưu điện,đường sắt, nông nghiệp, lâm nghiệp, đánh cá đến các dịch vụ đơn giản Doanh nghiệpnhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân và nắm 100% các ngành thenchốt như điện, khai khoáng, luyện kim, chế tạo máy công cụ, hóa chất, nhiên liệu,ximăng, bưu điện viễn thông, giao thông đường sắt, đường thủy, ngoại thương, ngânhàng, quốc phòng và an ninh Trong công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng nội địa vàxuất khẩu, lực lượng doanh nghiệp nhà nước cũng chiếm tỉ trọng tuyệt đối lớn hoặcphần lớn đối với các sản phẩm chủ yếu như: 100% hàng dệt kim, thuốc chữa bệnh,bia, 90% quạt điện, 85% giấy viết, vải mặc, 70% xe đạp hoàn chỉnh

Các doanh nghiệp nhà nước chiếm khoảng 85% vốn cố định của nền kinh tế,90% lao động có kỹ thuật, cán bộ khoa học và quản lý được đào tạo của cả nước Nhànước cũng ưu tiên nhiều nguồn lực để phát triển các doanh nghiệp nhà nước Chỉ tínhriêng trong khoảng 10 năm, từ 1976 đến 1985, nhà nước đã phân bố từ 60-70% vốnđầu tư của toàn bộ nền kinh tế và trên 90% vốn tính dụng với lãi suất ưu đãi cho cácdoanh nghiệp nhà nước

2.2 Vai trò của DNNN trong nền kinh tế thị trường nước ta hiện nay

Trong một thời kỳ dài chúng ta đã mắc sai lầm quá sùng bái kinh tế quốcdoanh, đã thành lập tràn lan các doanh nghiệp nhà nước Trong cơ chế cũ các doanhnghiệp nhà nước đã bộc lộ yếu kém như đã trình bày ở trên

Chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có

sự quản lý của nhà nước, hệ thống kinh tế quốc doanh vẫn được xác định vai trò chủđạo trong nền kinh tế quốc dân cần phải củng cố và phát triển nhất là trong ngành và

Trang 16

lĩnh vực then chốt, quan trọng, có tác dụng mở đường và tạo điều kiện cho các thànhphần kinh tế khác phát triển.

Doanh nghiệp nhà nước có vai trò chủ đạo theo nghĩa là công cụ điều tiết vĩ mônền kinh tế Vai trò chủ đạo của nó gắn liền với vai trò quản lý của Nhà nước đối vớinền kinh tế thị trường Đây là yêu cầu có tính quy luật chung của sự phát triển kinh tế

xã hội, vì bản thân nền kinh tế thị trường chứa đựng những khuyết tật mà muốn khắcphục nhất thiết phải có sự quản lý của nhà nước

Các doanh nghiệp nhà nước bao gồm các doanh nghiệp hoạt động các hoạtđộng kinh doanh và doanh nghiệp hoạt động công ích được củng cố và phát triểntrong ngành và lĩnh vực then chốt, tạo cơ sở hạ tầng và tiền đề tốt cho sự phát triểncủa toàn bộ nền kinh tế quốc dân Thông qua doanh nghiệp nhà nước, nhà nước tạo ranguồn dự trữ đủ mạnh để có thể can thiệp vào thị trường, thực hiện điều chỉnh các cânđối cơ bản của nền kinh tế Doanh nghiệp thực hiện việc đầu tư có định hướng để khắcphục bản chất “vô chính phủ” của nền kinh tế thị trường, duy trì môi trường cạnhtranh lành mạnh, chống xu hướng độc quyền của tập đoàn tư nhân, đi đầu trong đổimới công nghệ thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo xu hướng năng suất – chất lượng –hiệu quả

Như vậy, vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước xuất phát từ yêu cầukhách quan của nền kinh tế thị trường nước ta và được ghi thành chủ trương, chínhsách và pháp luật của nhà nước Vai trò luật định này là yếu tốc quan trọng chi phối sựđiều chỉnh pháp lý đối với tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước Để thựchiện được vai trò đó trước hết phải kiên quyết đổi mới hệ thống doanh nghiệp này.Việc đổi mới phải được đặt trong sự phát triển tổng thể nền kinh tế quốc dân và phảixuất phát từ thực trạng doanh nghiệp nhà nước ở nước ta

2.3 Đánh giá chung về tình hình hoạt động và tài chính của các doanh

nghiệp nhà nước hiện nay

2.3.1 Tỷ trọng của DNNN trong nền kinh tế

Ở nước ta cũng như các nước khác trên thế giới, sự ra đời và tồn tại của kinh tếquốc doanh đều có những nguyên nhân khách quan chi phối Trong suốt thời kỳ dài,chúng ta thực hiện mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung, lấy việc mở rộng, pháttriển khu vực kinh tế Nhà nước bao trùm toàn bộ nền kinh tế quốc dân làm mục tiêucho việc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội Chính vì vậy mà khu vực kinh tế quốcdoanh đã phát triển rộng khắp trên mọi lĩnh vực và chiểm tỷ trọng tuyệt đối trong nềnkinh tế quốc dân

Đơn vị tính: %

Chỉ tiêu

Kinh tế xã hội chủ nghĩa Kinh tế tư

nhân cá thể Tổng

số

Quốc doanh và công ty hợp danh Tập thể

Tổng số

Tư bản

tư nhân

Trang 17

1 Cơ cấu tổng sản phẩm xã hội 70,9 35,7 35,2 9,1

Năm 1987, cùng với việc thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần Đảng và Nhànước ta đã chủ trương đổi mới cơ chế quản lý nền kinh tế, xoá bỏ cơ chế tập trungquan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa Đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp, chuyển sang cơchế hạch toán kinh doanh mở rộng quyền tự chủ về tài chính cho doanh nghiệp Bằngmột loạt hệ thống văn bản pháp qui, từ quyết định 217/HĐBT ngày 14 tháng 11 năm

1987 của Hội đồng Bộ trưởng xác lập quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của DNNN,tiếp đó là Nghị định số 500/HĐBT ngày 23 tháng 3 năm 1998 của Hội đồng Bộtrưởng ban hành điều lệ xí nghiệp quốc doanh Nghị định số 98/HĐBT ngày 20 tháng

6 năm 1988 ban hành quy định về quyền làm chủ tập thể lao động tại xí nghiệp quốcdoanh

Do áp dụng các biện pháp sát nhập, giải thể những doanh nghiệp nhỏ làm ănthua lỗ, đến nay còn khoảng 5.280 DNNN, giảm được hơn 7.000 doanh nghiệp.DNNN vẫn giữ được vai trò chủ đạo trong nhiều ngành kinh tế khác nhau đặc biệt lànhững ngành quan trọng, sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ quan trọng của nềnkinh tế như điện, nước, than, xi măng, vận tải, hàng không, bưu chính viễn thông,công nghệ thông tin DNNN chiếm tỷ trọng lớn trong GDP: 2005 là 38,4%, năm

2007 là 35,93%, năm 2008 là 35,54%, năm 2009 là 35,14%, năm 2010 là 33,74%.Trong 6 năm từ 2005 - 2010 tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của doanh nghiệp

là 5,01% gần bằng tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế và kinh tế ngoài quốc doanh.Trong giai đoạn 2005 đến 2010 tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế cũng như củaDNNN giảm do nhiều nguyên nhân Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu bình quân hàngnăm gần 20% DNNN là đầu mối xuất khẩu hầu hết các mặt hàng quan trọng như dầuthô, than, gạo, hàng may mặc Trong lúc các thành phần kinh tế khác chưa vươn lênđược thì DNNN là đối tác chính trong liên doanh, liên kết với bên ngoài (chiếm 98%

dự án) góp phần tạo ra nguồn thu đáng kể từ khu vực này

Trong thời gian qua, phần lớn doanh nghiệp Nhà nước đã gần thích ứng với cơchế thị trường, đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần đáng kể vào việc ổnđịnh nền kinh tế - xã hội, đưa nền kinh tế ra khỏi khủng hoảng Đứng vững trướcnhững tác động tiêu cực của cuộc củng khủng hoảng tài chính tiền tệ ở khu vực và thếgiới Do đó lại càng chứng tỏ vai trò sức mạnh vật chất của DNNN trong việc giúpNhà nước điều tiết và hướng dẫn nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủnghĩa, cũng như hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cũng phát triển

Khu vực kinh tế quốc doanh trong nền kinh tế quốc dân

Trang 18

4 Kim ngạch xuất khẩu (triệu USD) 32,33 48,4 62,9 56,6 71,6Trong đó khu vực kinh tế quốc dân 13,72 20,6 28 26,7 32,8

2.3.2 Về tình hình tài chính

Mặc dù trong những năm qua tình hình kinh tế thế giới cũng như trong nướcgặp nhiều khó khăn, nhưng các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đã có nhiều cố gắng,sản xuất kinh doanh có hiệu quả, thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước, có lãi (tuy khôngcao), bảo đảm việc làm, cung ứng các sản phẩm, hàng hóa và các dịch vụ thiết yếu cho

xã hội, góp phần cùng với Nhà nước bình ổn giá cả, kiềm chế lạm phát, ổn định kinh

tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, cụ thể:

Năm 2006 khi mới hình thành một số tập đoàn kinh tế, quy mô vốn chủ sở hữucủa các tập đoàn, tổng công ty là 317.647 tỷ đồng, đến hết năm 2010 vốn chủ sở hữucủa các tập đoàn, tổng công ty là 653.166 tỷ đồng, bằng 204% so với năm 2006

Vốn chủ sở hữu của các tập đoàn, tổng công ty hàng năm tăng chủ yếu từnguồn lợi nhuận sau thuế; đánh giá lại tài sản, thặng dư vốn thu được trong quá trình

cổ phần hóa các DN thành viên, đơn vị phụ thuộc của tập đoàn, tổng công ty

Theo quy định hiện hành, các tập đoàn, tổng công ty được quyền chủ động huyđộng vốn phục vụ sản xuất kinh doanh trong phạm vi hệ số nợ phải trả trên vốn điều lệkhông vượt quá 3 lần Tuy nhiên, để đánh giá đúng tình hình huy động vốn trên khảnăng tài chính, nợ phải trả cần được tính trên vốn chủ sở hữu của các tập đoàn, tổngcông ty

Trang 19

Năm 2006, tổng số nợ phải trả của các tập đoàn, tổng công ty là 419.991 tỷđồng, bình quân bằng 1,32 lần vốn chủ sở hữu, đến hết năm 2010, tổng số nợ phải trảcủa các tập đoàn, tổng công ty là 1.088.290 tỷ đồng, bình quân bằng 1,67 lần vốn chủ

sở hữu

Xét từng tập đoàn, tổng công ty thì có 30 tập đoàn, tổng công ty tỷ lệ nợ phảitrả/vốn chủ sở hữu lớn hơn 3 lần Trong đó: Có 7 tổng công ty trên 10 lần; Có 9 tổngcông ty trên 5 - 10 lần; Có 14 tổng công ty từ 3 - 5 lần

2.3.3 Về kết quả sản xuất kinh doanh

 Năm 2007, doanh thu của các tập đoàn, tổng công ty là 642.004 tỷ đồng, tăng

29 % so với thực hiện năm 2006

 Năm 2008, doanh thu của các tập đoàn, tổng công ty là 842.758 tỷ đồng, tăng

31 % so với thực hiện năm 2007

 Năm 2009, doanh thu của các tập đoàn, tổng công ty là 1.098.553 tỷ đồng, tăng

30 % so với thực hiện năm 2008

 Năm 2010, doanh thu của các tập đoàn, tổng công ty là 1.488.273 tỷ đồng, tăng

35 % so với thực hiện năm 2009

 Năm 2007, lợi nhuận của các tập đoàn, tổng công ty là 71.491 tỷ đồng, tăng 6

% so với thực hiện năm 2006

 Năm 2008, lợi nhuận của các tập đoàn, tổng công ty là 88.478 tỷ đồng, tăng 24

% so với thực hiện năm 2007

 Năm 2009, lợi nhuận của các tập đoàn, tổng công ty là 97.537 tỷ đồng, tăng 10

% so với thực hiện năm 2008

 Năm 2010, lợi nhuận của các tập đoàn, tổng công ty là 162.910 tỷ đồng, tăng

66 % so với thực hiện năm 2009

Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của hầu hết các tập đoàn, tổng công tytrong giai đoạn vừa qua đều có lãi như: Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam; Tậpđoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam; Tập đoàn Viễn thông Quân đội; Tập đoàn Côngnghiệp Than – khoáng sản Việt Nam; Tập đoàn Cao su Việt Nam; Tổng công tyLương thực miền Bắc; Tổng công ty Lương thực miền Nam; Tổng công ty Hoá chấtViệt Nam (nay là Tập đoàn); Tổng công ty Sông Đà (nay là Tập đoàn); Tổng công tyĐầu tư phát triển nhà và đô thị (nay là Tập đoàn); Tổng công ty Du lịch Sài Gòn;Tổng công ty Thương mại Sài Gòn; Tổng công ty Bến Thành; Tổng công ty Côngnghiệp Sài Gòn;…

Tuy nhiên, trong những năm vừa qua do công tác quản trị, giá bán một số mặthàng chưa được thực hiện hoàn toàn theo giá thị trường, khủng hoảng về tài chính

Trang 20

toàn cầu… là những yếu tố ảnh hưởng đến một số tập đoàn, tổng công ty vài năm trởlại đây kinh doanh thua lỗ như:

 Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN): Yếu tố kết cấu sản lượng điện sản xuất vàmua ngoài của EVN ảnh hưởng lớn đến tình hình sản xuất kinh doanh của EVN; nếuthời tiết thuận lợi, mưa nhiều đầu nguồn thì sản lượng thuỷ điện nhiều; trong khi đógiá bán điện của các nhà máy thuỷ điện thấp hơn so với nhiệt điện, đồng thời phải tăngthêm cả phát điện từ dầu, vì vậy kết cấu sản lượng điện từ thuỷ điện là một yếu tố gầnnhư quyết định kết quả kinh doanh của EVN (năm 2010, theo đề án, sản lượng phátđiện từ dầu là 822 triệu KWh, thực tế là 2.488,5 triệu KWh)

 Chênh lệch tỷ giá cũng là một yếu tố ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh doanhcủa Tập đoàn như chi phí mua điện bằng ngoại tệ tăng; nhiều khoản vay đầu tư củaEVN bằng ngoại tệ nên khi tỷ giá tăng thì chi phí lãi vay cũng tăng; đồng thời khoảnchênh lệch tỷ giá do cuối năm đánh giá lại các khoản vay có gốc ngoại tệ sẽ tăng rấtlớn Nếu tính đúng theo quy định thì từ năm 2008 đến nay kết quả kinh doanh củaEVN năm nào cũng lỗ, nguyên nhân chính do chênh lệch tỷ giá Tính đến 31/12/2010EVN chưa phân bổ được vào chi phí sản xuất kinh doanh khoản lỗ chênh lệch tỷ giáluỹ kế là 15.463 tỷ đồng

 Đối với giá bán điện cho các hộ dùng điện vẫn thực hiện theo giá cũ là 1.077 đ/KWh Từ 01/3/2011, giá bán điện mới được tăng lên là 1.242 đ/KWh, mức tăng nàyvẫn chưa thể bù đắp chi phí (theo tính toán của EVN, giá thành điện bình quân 6 thángđầu năm 2011 là 1.303,40 đ/kWh, ước cả năm 2011 là 1.350,20 đ/kWh)

 Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Công thương chủ trì, phối hợp với Bộ Tàichính và các cơ quan liên quan xây dựng phương án điều chỉnh giá địên theo lộ trìnhthích hợp để báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định

 Tổng công ty Hàng hải Việt Nam: Hàng hoá và giá cước vận chuyển giảmmạnh do suy giảm kinh tế và khủng hoảng tài chính, trong khi chi phí đầu vào tăngcao, đặc biệt chi phí nguyên liệu, lãi vay chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí đầu tư độitàu; mặt khác, khi tiếp nhận các doanh nghiệp, dự án từ Vinashin theo Quyết định củaThủ tướng Chính phủ, thì nợ phải trả của Tổng công ty tăng làm chi phí lãi vay tăngthêm nên đã ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của Tổng công ty

 Ngoài ra, một số công ty con thuộc tập đoàn, tổng công ty có lỗ phát sinh như:Tập đoàn Dệt may Việt Nam; Tập đoàn Phát triển nhà và đô thị; Tổng công tyXDCTGT 1; Tổng công ty Chè Việt Nam; Tổng công ty Đầu tư phát triển đô thị vàKCN; Tổng công ty Xăng dầu Quân đội; Tổng công ty 15 - Bộ Quốc phòng; Tổngcông ty Công nghiệp Sài Gòn

 Đối với một số tổng công ty lỗ từ thời gian trước để lại như Tổng công ty Dâutằm tơ Việt Nam, Tổng công ty Xây dựng đường thuỷ,… Chính phủ đã có chỉ đạo các

Bộ chuyên ngành xem xét xử lý theo thẩm quyền Trường hợp không xử lý được thìthực hiện giải thể, phá sản theo quy định của pháp luật

Trang 21

Tính đến 31/12/2010, lỗ phát sinh trong năm 2010 là 1.116 tỷ đồng; lỗ luỹ kế là26.123 tỷ đồng.

2.3.4 Nộp ngân sách

 Năm 2007, nộp ngân sách nhà nước của các tập đoàn, tổng công ty là 133.108

tỷ đồng, giảm 8 % so với thực hiện năm 2006

 Năm 2008, nộp ngân sách nhà nước của các tập đoàn, tổng công ty là 223.260

tỷ đồng, tăng 67% so với thực hiện năm 2007 (do giá dầu trên thế giới tăng đột biến,nên tăng nguồn thu từ dầu thô) Nếu loại trừ yếu tố tăng đột biến từ nguồn thu dầu thô(khoảng 32.100 tỷ đồng), thì nộp ngân sách năm 2008 chỉ tăng 40% so với thực hiệnnăm 2007

 Năm 2009, nộp ngân sách nhà nước của các tập đoàn, tổng công ty là 189.991

tỷ đồng, giảm 15 % so với thực hiện năm 2008 (do biến động của giá dầu trên thếgiới, nên nguồn thu từ dầu giảm)

 Năm 2010, nộp ngân sách nhà nước của các tập đoàn, tổng công ty là 231.526

tỷ đồng, tăng 21 % so với thực hiện năm 2009

Hoạt động của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước được nâng cao dần qua cácnăm, tạo sự tăng trưởng về doanh thu, lợi nhuận, làm tăng nguồn thu cho ngân sáchnhà nước, góp phần cân đối nguồn thu để thực hiện đầu tư cơ sở hạ tầng, đảm bảo ansinh xã hội Trong đó, nhiều tập đoàn, tổng công ty liên tục có lãi nên số nộp ngânsách nhà nước lớn như: Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam; Tập đoàn Bưu chínhviễn thông Việt Nam; Tập đoàn Viễn thông Quân đội; Tập đoàn Công nghiệp Than –khoáng sản Việt Nam; Tập đoàn Cao su Việt Nam; Tổng công ty Lương thực miềnBắc; Tổng công ty Lương thực miền Nam; Tập đoàn Hoá chất Việt Nam; Tập đoànCông nghiệp xây dựng Việt Nam; Tổng công ty Thương mại Sài Gòn; Tổng công tyCông nghiệp Sài Gòn; Tổng công ty Khánh Việt…

Tuy vậy, hiệu quả đầu tư và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà nướcnói chung và các tập đoàn, tổng công ty nhà nước nói riêng còn chưa tương xứng với

vị trí, vai trò, tiềm năng của doanh nghiệp

2.3.5 Về đầu tư vào một số lĩnh vực ngoài ngành kinh doanh chính

Giá trị các khoản đầu tư vào chứng khoán, bảo hiểm, bất động sản, quỹ đầu tư,ngân hàng là: Năm 2006 (6.114 tỷ đồng); Năm 2007 (14.441 tỷ đồng); Năm 2008(19.840 tỷ đồng); Năm 2009 (14.991 tỷ đồng); Năm 2010 (21.814 tỷ đồng) Trong đó:

Đến cuối năm 2010, các tập đoàn, tổng công ty đầu tư 3.576 tỷ đồng vào lĩnhvực chứng khoán; năm 2009 là 986 tỷ đồng; năm 2008 là 1.697 tỷ đồng; năm 2007 là1.328 tỷ đồng và năm 2006 là 707 tỷ đồng

Tỷ lệ đầu tư vào lĩnh vực chứng khoán so với: Vốn Chủ sở hữu và Tổng tài sản

Trang 22

Đầu tư vào lĩnh vực bảo hiểm

Đến cuối năm 2010, các tập đoàn, tổng công ty đầu tư 2.236 tỷ đồng vào lĩnhvực bảo hiểm; năm 2009 là 1.578 tỷ đồng; năm 2008 là 3.007 tỷ đồng; năm 2007 là2.655 tỷ đồng và năm 2006 là 758 tỷ đồng

Tỷ lệ đầu tư vào lĩnh vực bảo hiểm so với: Vốn Chủ sở hữu và Tổng tài sản như sau:

Đầu tư vào bất động sản

Đến cuối năm 2010, các tập đoàn, tổng công ty đầu tư 5.379 tỷ đồng vào lĩnhvực bất động sản; năm 2009 là 2.999 tỷ đồng; năm 2008 là 2.285 tỷ đồng; năm 2007

Đầu tư vào Quỹ đầu tư

Đến cuối năm 2010, các tập đoàn, tổng công ty đầu tư 495 tỷ đồng vào Quỹđầu tư; năm 2009 là 694 tỷ đồng; năm 2008 là 1.424 tỷ đồng; năm 2007 là 1.050 tỷđồng và năm 2006 là 600 tỷ đồng

Tỷ lệ đầu tư vào các Quỹ đầu tư so với: Vốn Chủ sở hữu và Tổng tài sản như sau:

Trang 23

Đến cuối năm 2010, các tập đoàn, tổng công ty đầu tư 10.128 tỷ đồng vào lĩnhvực ngân hàng; năm 2009 là 8.734 tỷ đồng; năm 2008 là 11.427 tỷ đồng; năm 2007 là7.977 tỷ đồng và năm 2006 là 3.838 tỷ đồng.

Tỷ lệ đầu tư vào lĩnh vực ngân hàng so với: Vốn Chủ sở hữu và Tổng tài sản như sau:

có nhu cầu đầu tư vượt quy định phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyếtđịnh

Trong năm 2009 và 2010 phần vốn đầu tư của một số tập đoàn, tổng công tyvào các lĩnh vực nêu trên tăng so với năm trước là do tình hình kinh tế thế giới vàtrong nước suy giảm, lạm phát cao; các công ty cổ phần (thuộc các lĩnh vực nêu trên)

do áp lực về vốn đã thực hiện tăng vốn điều lệ Tuy nhiên, do các nhà đầu tư khó khăn

về tài chính, mặt khác công ty cổ phần cũng khó khăn về vốn để duy trì hoạt động vàđẩy mạnh sản xuất kinh doanh, nên nhiều doanh nghiệp đã tăng vốn điều lệ theo hìnhthức: chia cổ tức bằng cổ phiếu, thưởng cổ phiếu và cho các cổ đông hiện hữu quyềnmua cổ phần phát hành thêm, nên cơ bản giá trị đầu tư của các tập đoàn, tổng công tytăng nhưng tỷ lệ vốn góp không thay đổi hoặc không vượt mức quy định của Chínhphủ Đối với việc thực hiện quyền mua cổ phần phát hành thêm cho cổ đông hiện hữu,các tập đoàn, tổng công ty đã báo cáo và được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận như:Tập đoàn Viettel; Tổng công ty Tân cảng Sài Gòn; Tập đoàn Hoá chất Việt Nam; Tậpđoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam , nhưng cũng có những tập đoàn, tổng công ty dokhả năng tài chính hoặc nếu tiếp tục đầu tư vào các lĩnh vực nêu trên sẽ vượt mức quyđịnh, nên Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo không cho phép tiếp tục đầu tư mua thêm

cổ phần ở những lĩnh vực này như: Tổng công ty Thành An; Tập đoàn Bưu chính viễnthông Việt Nam

Một số tập đoàn, tổng công ty khi thực hiện quyền mua cổ phần phát hànhthêm hoặc tiếp tục góp vốn vào các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chứng khoán nhưngkhông báo cáo Thủ tướng Chính phủ như: Tập đoàn Công nghiệp Than - khoáng sản

Trang 24

Việt Nam; Tổng công ty Giấy Việt Nam; Tập đoàn Cao su Việt Nam; Tổng công tyLương thực miền Nam.

Tỷ lệ đầu tư vốn vào các lĩnh vực ngoài ngành kinh doanh chính nói trên củacác tập đoàn, tổng công ty đều trong các giới hạn quy định Tuy nhiên cũng đã làmphân tán nguồn lực, nhất là vào các lĩnh vực tài chính, bảo hiểm, bất động sản, chứngkhoán vẫn chứa đựng nhiều rủi ro Đồng thời phần nào làm méo mó nền kinh tế, phátsinh các tiêu cực, gian lận như Công ty cho thuê tài chính II

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, nhiều tập đoàn, tổngcông ty đã cơ cấu lại để giảm dần tỷ lệ vốn góp vào các lĩnh vực nêu trên Tuy nhiên,

do kinh tế thế giới cũng như trong nước suy giảm nên việc thoái vốn ở những lĩnh vựcnày chưa hoàn thành được mục tiêu đề ra

2.3.6 Về sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp

Giai đoạn 2006-2010, cả nước sắp xếp 1.547 doanh nghiệp, trong đó chuyểnthành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 577 doanh nghiệp, cổ phần hóa 697doanh nghiệp, còn lại là các hình thức giao, bán, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản

Qua sắp xếp, DNNN đã được cơ cấu lại một cách cơ bản, số lượng DNNN giảmmạnh (tính đến 30/9/2011, doanh nghiệp do Nhà nước làm chủ sở hữu còn khoảng1.225 doanh nghiệp), tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt Các doanh nghiệp

do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước cần nắmgiữ 100% vốn điều lệ được chuyển thành công ty TNHH một thành viên Các nông, lâmtrường quốc doanh cũng được chuyển sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp dướihình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

Các tổng công ty nhà nước đã được sắp xếp lại, kiện toàn về mô hình tổ chứcquản lý, đầu tư phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động Hầu hết các tổng công tynhà nước đã được chuyển đổi sang hoạt động hình thức công ty mẹ - công ty con Đã

cổ phần hóa 16 tổng công ty nhà nước (trong đó có 3 ngân hàng thương mại quốcdoanh) Một số tổng công ty nhà nước mạnh, hoạt động trong lĩnh vực có điều kiện, cóthế mạnh và khả năng phát triển để cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả

đã được tổ chức lại để hình thành các tập đoàn kinh tế nhà nước

2.3.7 Về thí điểm kiểm kê, đánh giá lại tài sản và vốn của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước

Ngày 10/03/2011 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 352/QĐ-TTg

về việc thí điểm kiểm kê và đánh giá lại tài sản và vốn của một số doanh nghiệp donhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ tại thời điểm 0 giờ ngày 01 tháng 7 năm 2011.Trong đó, đối tượng thí điểm kiểm kê ngày 01/7/2011 là doanh nghiệp thuộc các tậpđoàn, tổng công ty do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ và được các Bộ quản lý

Ngày đăng: 09/11/2015, 13:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w