KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦUVÀ CÁC VẤN ĐỀ TÀI KHÓA ĐỐI VỚI VIỆT NAM Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu xảy ra ở Mỹ vào cuối năm 2007 và nhanh chóng lan tỏa ra các nước khác..
Trang 1KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU
VÀ CÁC VẤN ĐỀ TÀI KHÓA ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu xảy ra ở Mỹ vào cuối năm 2007 và nhanh chóng lan tỏa ra các nước khác Mặc dù hàng loạt các giải pháp đối phó được áp dụng, nền kinh tế thế giới tiếp tục chìm sâu vào khủng hoảng, với mức độ trầm trọng hơn nhiều so với các dự báo trước đây IMF liên tục phải điều chỉnh giảm mạnh dự báo tốc độ tăng trưởng của thế giới, các khu vực và các nước lớn Thực tế tăng trưởng kinh tế toàn cầu đã tụt dốc từ trên 5% trong các năm 2006, 2007 xuống 3,4% năm 2008 và ước 0,5% năm 2009
Là một nền kinh tế nhỏ, với độ mở tương đối lớn (vào năm 2007, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lên tới trên 150% GDP, đầu tư nước ngoài chiếm khoảng ¼ tổng đầu tư
xã hội), khủng hoảng tài chính toàn cầu đã có tác động đáng kể tới nền kinh tế Việt nam Trước tiên, cùng với các chính sách hạ nhiệt của Chính phủ đầu năm 2008, nền kinh tế đã đảo ngược trạng thái, từ phát triển kinh tế nóng sang suy giảm vào các tháng cuối năm
2008 Chỉ số giá tiêu dùng trong nước đang từ 3,9% tháng 5; 2,1% tháng 6 hạ xuống 1,13% tháng 7, 1,56% tháng 8, 0,18% tháng 9, sau đó giảm vào các tháng cuối năm 2008 (tháng 10 -0,19%, tháng 11: -0,76%, tháng 12: -0,68%) Tăng trưởng kinh tế năm 2008 tụt gần 2 điểm %, xuống 6,18%, so với mức trên 8% của các năm trước đó
Bảng 1: Chỉ số giá các tháng năm 2008
tháng
1 tháng2 tháng3 tháng4 tháng5 tháng6 tháng7 tháng8 tháng9 tháng10 tháng11 tháng12
2.4 3.6 3 2.2 3.9 2.1 1.1 1.6 0.2 -0.2 -0.8 -0.7 Nguồn TCTK (online)
Bảng 2: Tổng kim ngạch XNK và tỷ trọng đầu tư nước ngoài trước khi chịu tác động của
khủng hoảng
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Sơ bộ
2008 Tổng kim ngạch
XNK (% GDP) 112.5 111.5 118.8 126.9 139 142.9 151.8 169.7 173
Tỷ trọng đầu tư
nước ngoài trong
tổng đầu tư xã hội 18 17.6 17.4 16 14.2 14.9 16.2 24.3 31.4 Nguồn TCTK (online)
Vào cuối năm 2008, Chính phủ đã phải đảo ngược hướng điều hành kinh tế - xã hội Nghị quyết 30/2008/NQ-CP ngày 11.12.2008 của Chính phủ đã chuyển mục tiêu
Trang 2quản lý từ kiềm chế lạm phát sang ngăn chặn suy giảm kinh tế, thúc đẩy sản xuất - kinh doanh, đẩy mạnh xuất khẩu, kích cầu đầu tư và tiêu dùng, bảo đảm an sinh xã hội
Diễn biến trên đây có tác động đa chiều tới NSNN Ngoài các tác động khách quan do khủng hoảng thu hẹp các hoạt động của nền kinh tế, NSNN còn chịu tác động bới các gói kích cầu của chính phủ Các tác động này phụ thuộc vào đặc thù của nền kinh
tế, đặc thù của hoạt động ngân sách nhà nước và đặc thù của gói kích cầu Vậy những đặc thù kinh tế - xã hội, đặc thù NSNN, và gói kích cầu có ảnh hưởng tới phạm vi, mức độ tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu tới NSNN là gì? Với các đặc thù này, NSNN đã chịu tác động như thế nào? Các vấn đề ngân sách hiện nay của Việt nam là gì?
Để trả lời các câu hỏi này, bài viết sẽ tập trung vào
- Các đặc thù của nền kinh tế và các hoạt động ngân sách nhà nước
- Phản ứng chính sách của Chính phủ và tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu tới NSNN
- Các vấn đề ngân sách đặt ra
1 Đặc thù của nền kinh tế và hoạt động NSNN
1.1 Đặc thù nền kinh tế
Nền kinh tế vẫn ở giai đoạn đầu phát triển, thu nhập bình quân đầu người thấp, vào khoảng 700-800 USD các năm 2006, 2007, tương ứng khoảng 1/3 mức thu
nhập bình quân đầu người của Trung quốc, thấp hơn ¼ mức thu nhập bình quân đầu người của Thái Lan Nếu só vơi Nhật bản thì thu nhập bình quân đầu người của Việt nam giao động trong khoảng 1/50 đến 1/40
Cơ cấu kinh tế, mặc dù đã có những chuyển biến tích cực, nhưng vào cuối năm 2008, ngành nông, lâm, ngư nghịêp vẫn chiếm trên 22% tổng sản phẩm quốc nội.
Trang 3Bảng 3: Cơ cấu kinh tế giai đoạn trước khi chịu tác động mạnh của khủng hoảng
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Sơ bộ 2008
Nông, lâm, thủy
sản 24.53 23.24 23.03 22.54 21.81 20.97 20.4 20.34 22.1 Công nghiệp và
xây dựng 36.73 38.13 38.49 39.47 40.21 41.02 41.54 41.48 39.73 Dịch vụ 38.74 38.63 38.48 37.99 37.98 38.01 38.06 38.18 38.17
Nguồn TCTK (online)
Hình 1: cơ cấu kinh tế giai đoạn trước khi chịu tác động mạnh của khủng hoảng
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
80%
90%
100%
2000 2002 2004 2006 S ơ
b ộ 2008
D ịch vụ Công nghi ệp v xây d à xây d ựng Nông, lâm, th ủy sản
Nếu tính theo tiêu chí lao động, thì tỷ trong lao động trong ngành nông, lâm, ngư nghịêp vẫn chiếm trên 50% và trong nền kinh tế vẫn có tới trên 70% dân số sống bằng ngành nông, lâm, ngư nghiệp
Bảng 4: Cơ cấu lao động trước khi chịu tác động mạnh của khủng hoảng (%)
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Sơ bộ 2008
Nông nghiệp và lâm
nghiệp 62.46 60.65 58.66 56.98 55.37 53.61 51.78 50.20 48.87
Trang 4Thuỷ sản 2.63 2.81 3.25 3.27 3.38 3.49 3.59 3.70 3.75
Nguồn TCTK (online)
Hình 2: Cơ cấu lao động trước khi chịu tác động mạnh của khủng hoảng
0%
20%
40%
60%
80%
100%
Dịch vụ
công nghi ệp v xây d à xây d ựng
Thuỷ sản
Nông nghiệp v lâm à xây d nghi ệp
Do ở trình độ phát triển thấp và mong muốn đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, thu hẹp dần khoảng cách với các nước trong khu vực và trên thé giới, Việt Nam theo đuổi
mô hình phát triển kinh tế theo chiều rộng, tăng tốc đầu tư xã hội, nhưng tập trung chủ yếu vào các ngành sản xuất vật chất
Tổng vốn đầu tư xã hội liên tục tăng ở mức rất cao, luôn trên 10% kể từ sau khủng hoảng tài chính Châu á năm 1997 cho tới nay, đặc biệt năm 2007 đã lên tới trên 27% (tính theo giá so sánh năm 1994) Nếu tính theo tỷ trọng GDP, thì mức tăng tổng vốn đầu tư xã hội là rất ấn tượng, từ dưới 20% vào những năm 1995, 1996 lên tới trên 45% vào năm 2007, đưa Việt nam trở thành một trong các quốc gia có mức đầu tư cao nhất trên thế giới
Hình 3 : Qui mô, tốc độ tăng trưởng tổng vốn đầu tư xã hội giai đoạn 1996-2008 (giá
1994)
0.00
5.00
10.00
15.00
20.00
25.00
30.00
0 5 10 15 20 25 30 35 40 45 50
Tốc độ tăng hàng năm (giá 1994)
tỷ trọng VDT/GDP
Nguồn: Tính toán từ số liệu của tổng cục thống kê
Trang 5Đầu tư xã hội tập trung vào các ngành sản xuất công nghiệp và xây dựng; nông, lâm, ngư nghiệp và các dịch vụ phát triển các ngành sản xuất vật chất Tổng đầu tư vào các ngành này luôn chiếm tới 2/3 tổng đầu tư xã hội, trong đó riêng đầu tư vào ngành công nghịêp và xây dựng là trên 40% tổng đầu tư xã hội
Bảng 5: Cơ cấu đầu tư theo ngành nghề trước khi chịu tác động mạnh của khủng hoảng
(%)
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 Nông, lâm , ngư nghiệp 13.85 9.47 8.76 8.45 7.89 7.50 7.43 6.38 6.38
Công nghiệp và xây
dựng 39.23 42.38 42.34 41.29 42.75 42.58 42.24 41.81 40.64
Vận tải; kho bãi và
thông tin liên lạc 13.17 15.84 16.19 15.98 13.54 14.06 14.43 15.50 14.75 QLNN và ANQP; đảm
bảo xã hội bắt buộc 2.59 2.26 1.53 1.86 2.84 2.83 2.94 2.49 2.11 Giáo dục và đào tạo 4.02 3.65 2.94 2.98 2.96 2.94 3.27 2.73 2.70
Y tế và hoạt động cứu
trợ xã hội 1.54 1.62 1.60 1.83 1.95 1.68 1.52 1.41 1.46
Khác 25.60 24.78 26.64 27.61 28.07 28.39 28.16 29.68 31.95
Nguồn TCTK (online)
Hình 4: Cơ cấu đầu tư theo ngành nghề giai đoạn trước khi chịu tác động mạnh của
khủng hoảng
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
80%
90%
100%
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
Khác
Y tế và hoạt động cứu trợ xã hội
Giáo dục và đào tạo QLNN và ANQP; đảm bảo xã hội bắt buộc
Hạ tầng kinh tế
Bùng nổ đầu tư xã hội vào các ngành sản xuất vật chất giúp Việt nam đạt được các thành quả đáng ghi nhận về tăng trưởng kinh tế Theo tính toán của tổng cục thống
Trang 6kê, đóng góp của đầu tư vốn vào tổng sản phẩm quốc nội hiện đang ở mức trên 52,7%, lao động là 19,1%
Tuy nhiên, mở rộng đầu tư trong một thời gian ngắn, với các điều kiện của một nền kinh tế chuyển đổi, ở đó cơ chế, chính sách chưa hoàn thiện, khó có thể tránh khỏi những bất cập nhất định về chất lượng tăng trưởng Chi phí sản xuất gia tăng; thiếu lao động có kỹ năng, tay nghề; trình độ quản lý, quản trị hạn chế; sức cạnh tranh thấp; các hoạt động thương mại quốc tế chủ yếu dừng ở mức độ gia công, xuất khẩu hàng hoá thô, giá trị gia tăng thấp; các vấn đề môi trường nảy sinh
Mở rộng đầu tư xã hội trong điều kiện khu vực tài chính của đất nước chưa phát triển, các thành phần kinh tế phi nhà nước còn non trẻ, nên đầu tư nhà nước chiếm tỷ trọng lớn
Bảng 6: Qui mô, tốc độ tăng và Cơ cấu vốn đầu tư xã hội theo thành phần kinh tế
Cơ cấu (%)
Nguồn TCTK (online)
Trang 7Hình 5: Cơ cấu vốn đầu tư xã hội theo thành phần kinh tế
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
80%
90%
100%
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 S ơ
b ộ 2008
Khu v ực có vốn đầu tư nước ngo i à xây d Kinh t ế ngo i à xây d
nh n à xây d ước Kinh t ế
Nh n à xây d ước
Mặc dù tiết kiệm nội bộ nền kinh tế ở mức tương đối cao, song do nhu cầu đầu tư lớn, nên nguồn vốn đầu tư nước ngoài cũng đã tăng nhanh chóng và chiếm tới 31,4% tổng đầu tư xã hội vào năm 2008
Theo đuối định hướng tăng trưởng dựa vào xuất khẩu và việc hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực, hội nhập kinh tế thế giới tạo cơ hội và có đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế thời gian qua, song cũng có nghĩa rằng độ mở và sự phụ thuộc của nền kinh tế vào thị trường thế giới cũng tăng mạnh Tuy nhiên, là một nước đi sau và trình độ phát triển còn nhiều hạn chế, nên thương mại quốc tế hiện nay của Việt nam chủ yếu là gia công và xuất khẩu hàng hóa, nguyên liệu thô
Bảng 7: Tăng trưởng kim ngạch XNK trước khi khủng hoảng có tác động sâu rộng
tổng số (%)
Xuất khẩu (%)
nhập khẩu (%)
Qui mô thâm hụt (% GDP)
Trang 8Sơ bộ 2008 128.8 129.1 128.6 16.54
Nguồn TCTK (online)
Qui mô thâm hụt: tính toán từ số liệu TCTK
1.2 Đặc thù NSNN
1.2.1 Nguồn thu
Nhờ tăng trưởng kinh tế ở mức cao với sự chuyển dịch tích cực trong cơ cấu kinh
tế và sự bùng nổ thương mại quốc tế, cùng giá dầu leo thang, nguồn thu NSNN của Việt nam đã tăng mạnh trong thời gian qua Tốc độ tăng trưởng nguồn thu luôn trên 20%, trừ năm 2007, 2005 và thường cao hơn đáng kể tốc độ tăng trưởng kinh tế cộng chỉ số giá bình quân năm, trừ năm 2007, 2008
Do tốc độ tăng trưởng nguồn thu tăng nhanh hơn tăng trưởng kinh tế và chỉ số giá bình quân, nên qui mô thu tính theo % GDP cũng tăng mạnh, từ khoảng 23% năm 2002 lên 28,7% và hạ chút ít vào các năm 2007, 2008, ở các mức tương ứng là 27,6% và 27% GDP
Bảng 8: Qui mô thu và Tốc độ tăng trưởng nguồn thu
2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 Qui mô thu (%GDP) 23.12 24.82 26.69 27.20 28.69 27.62 27.00
Tăng trưởng nguồn thu 22.94 25.38 19.57 22.42 13.04 26.30 Tăng trưởng kinh tế 7.08 7.34 7.79 8.44 8.23 8.46 6.18 Chỉ số giá bình quân năm 3.9 3.2 7.7 8.3 7.5 8.3 23.0
Nguồn TCTK (online)
Cũng như các nền kinh tế khác ở giai đoạn đầu phát triển, thu NSNN của Việt nam phụ thuộc nhiều vào thu hải quan, thu từ các cơ sở sản xuát kinh doanh Bên cạnh
đó, là nước xuất khẩu dầu thô, nên thu từ dầu thô cũng chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng thu của chính phủ Thu từ tài sản, từ thuế thu nhập cá nhân, các khoản phí tương đối hạn chế Cho tới năm 2008, tỷ trọng thu dầu thô và thu hải quan trong tổng thu NSNN vẫn chiếm tới 48%, trong đó thu từ dầu thô chiếm 25% và thu hải quan chiếm 23%, cho thấy thu NSNN phụ thuộc đáng kể vào thị trường thế giới
Trang 9Bảng 9: Cơ cấu thu theo khu vực (%)
Thu nội địa 0.51 0.52 0.55 0.52 0.52 0.55 0.51 Thu dầu thô 0.21 0.24 0.25 0.29 0.30 0.24 0.25
thu hải quan 0.25 0.22 0.18 0.17 0.15 0.19 0.23 Thu viện trợ 0.02 0.02 0.02 0.02 0.03 0.01 0.01
Nguồn TCTK (online)
Năm 2008: báo cáo của Bộ Tài chính
Tỷ trọng thu từ các cơ sở kinh tế trong nước năm 2008 chiếm 39% tổng thu NSNN, trong khi đó thu thuế thu nhập cá nhân chỉ chiếm 3%, các khoản phí, lệ phí và thu
từ nhà đất chiếm khoảng 10% tổng thu, do vậy nguồn thu trong nước cũng rất nhạy cảm với các biến động kinh tế
1.2.2 Đặc thù chi NSNN và cân đối NSNN
Cũng do nền kinh tế trong giai đoạn đầu phát triển, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội còn nhiều bất cập, thể chế tài chính chưa hoàn thiện và do tốc độ tăng giá trong nền kinh
tế tương đối cao, nên áp lực tăng chi NSNN là rất lớn
Với các điều kiện tương đối thuận tiện về nguồn thu NSNN, chi NSNN thực tế cũng tăng nhanh, với tốc độ cũng cao hơn tăng trưởng kinh tế cộng chỉ số giá bình quân trong năm, trừ năm 2008 Hệ quả là qui mô chi tính theo % GDP từ 24,7% năm 2000 đã lên tới 32% năm 2008
Chi đầu tư phát triển, 90% là chi XDCB là đối tượng ưu tiên của chi NSNN Tuy nhiên, do các vấn đề xã hội nảy sinh cùng với những biến động về giá cả và tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu tới các vấn đề xã hội, nên đã có những điều chỉnh đáng
kể trong thời gian trước khủng hoảng Tuy nhiên, vào năm 2008, chi đầu tư vẫn chiếm tới
¼ tổng chi NSNN
Bảng 10: Qui mô, tốc độ tăng trưởng và cơ cấu chi NSNN trước khi khủng hoảng tác
động mạnh
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 Qui mô (%GDP) 24.67 26.96 27.66 29.54 29.94 31.30 31.62 34.92 32.10
Tăng trưởng tổng
chi (%) 19.10 14.21 22.25 18.21 22.65 17.27 29.65 18.7, Chi đầu tư (% tăng) 35.82 12.38 31.87 10.88 19.79 11.54 26.96 5.03
Chi thường xuyên 15.75 9.05 22.51 12.94 22.55 22.31 30.95 21.97
Trang 10(% tăng)
Chi đầu tư (% tổng
chi) 27.19 31 30.51 32.91 30.87 30.15 28.68 28.08 24.84
xuyên(% tổng chi) 56.74 55.14 52.66 52.77 50.42 50.37 52.54 53.06 54.5 Nguồn TCTK (online)
2008: báo cáo của Bộ Tài chính
Chi thường xuyên chủ yếu mới tâp trung vào việc cung ứng các dịch vụ xã hội cơ bản, trong đó chi giao dục là khoản chi chính, chiêm tới ¼ chi thường xuyên vào năm
2008 Tiếp đó là chi lương hưu, bảo đảm xã hội; chi quản lý hành chính; chi y tế Chi an sinh xã hội chủ yếu là chi lương hưu Chi cho các đối tượng xã hội do biến động kinh tế
xã hội còn hạn chế và phụ thuộc vào những điều chỉnh cơ chế, chính sách, chế độ chi hơn
là những thay đổi có tính chất tự động
Mặc dù nguồn thu tăng mạnh, nhưng do nhu cầu chi lớn, nên áp lực cân đối NSNN là vấn đề thường trực Cộng với qui trình ngân sách nhà nước truyền thống, theo năm và giới hạn bội chi NSNN là 5% GDP, nên mức bội chi thực tế luôn tiệm cận ở giới hạn cho phép Nói cách khác, khả năng điều chỉnh ngân sách theo các biến động kinh tế
xã hội trong và ngoài nước rất hạn chế Chi NSNN nói chung tăng khi điều kiện kinh tế
xã hội thuận lợi và khó tăng để hỗ trợ nền kinh tế trong các giai đoạn kinh tế khó khăn
2 Tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu tới NSNN
2.1 Các tác động đối với nền kinh tế
Tác động của khủng hoàng tài chính toàn cầu tới nền kinh tế Việt nam có độ trễ đáng kể Trong khi khủng hoảng đã diến ra ở nhiều nền kinh tế công nghiệp phát triển trên thế giới, thì ở Việt nam, tăng trưởng nóng với chỉ số giá các tháng đầu năm luôn ở mức cao buộc Chính phủ phải áp dụng hàng loạt các biện pháp nhằm kiềm chế lạm phát,
hạ nhiệt nền kinh tế
Tuy nhiên, sự đảo chiều đã diễn ra vào giữa năm, khi tốc độ tăng chỉ số giá các tháng bắt đầu giảm (từ tháng 7) và chuyển sang giảm vào những tháng cuối năm Những bất thường đã diễn ra trong khu vực hoạt động thương mại, khi kim ngạch xuất khẩu giảm vào các tháng cuối năm (trừ tháng 12, nhưng kim ngạch xuất khẩu tháng 12/2008 lại giảm so với cùng kỳ năm trước) trong khi đây thường là thời điểm tăng trong năm Tăng trưởng kinh tế các quí 2,3,4 năm 2008 cũng đã giảm hẳn so với mức tăng trưởng 7,49% trong quí 1 của năm, đưa tăng trưởng cả năm 2008 xuống 6,18%, thấp hơn nhiều
so với mức tăng trưởng 8,44% năm 2005; 8,23% năm 2006 và 8,46% năm 2007
Trước thực trạng đó, chính phủ đã ban hành hàng loạt các chính sách hỗ trợ nền kinh tế Đối với chính sách tài khóa, đã có điều chỉnh ở cả chính sách thu và chi theo hướng giảm bớt gánh nặng đóng góp cho các chủ thể kinh tế, giảm bớt chi phí sản xuất, kinh doanh; đồng thời tăng chi đầu tư, chi an sinh xã hội (chi tiết xem phụ lục 1)