1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng hoạt động đầu tư tài chính của công ty bảo hiểm PJICO

81 403 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 436 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Đặc điểm và các yêu cầu đối với hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểmHoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm có những đặc điểm khác biệt so với hoạt động đầu tư của các nhà đầu

Trang 1

Lời nói đầu

Với đặc thù của hoạt động kinh doanh bảo hiểm là “ sự đảo ngược chu kỳ

sản xuất kinh doanh ”, tức là phí bảo hiểm được thu trước còn cam kết bồi thường lại chỉ được thực hiện sau một khoảng thời gian nhất định nào đó Từ phí bảo hiểm, các công ty bảo hiểm thường xuyên nắm trong tay một quỹ tài chính rất lớn, nhưng trách nhiệm bồi thường của các công ty bảo hiểm lại không phát sinh ngay mà thường kéo dài, có thể lên tới mấy chục năm như trong các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ Để đáp ứng kịp thời các yêu cầu chi trả tiền bồi thường cho người tham gia bảo hiểm, đồng thời, đem lại lợi nhuận hợp lý để trang trải các chi phí hoạt động và mở rộng phạm vi kinh doanh của mỡnh, cỏc công ty bảo hiểm đã sử dụng lượng “ tiền nhàn rỗi ” này để đầu tư vào nền kinh tế Như vậy, đầu tư tài chính là một lĩnh vực hoạt động có tầm quan trọng sống còn đối với việc duy trì và phát triển của một công ty bảo hiểm Việc tham gia hoạt động trên thị trường tài chính không những giỳp cỏc công ty bảo hiểm có được khoản lợi nhuận thường xuyên trong khi vẫn đảm bảo khả năng thanh toán các hợp đồng bảo hiểm, mà cũn giỳp quảng bá rộng rãi hình ảnh của công ty trên thị trường bảo hiểm Ngoài ra, đây cũng trở thành một nguồn cung cấp vốn quan trọng cho thị trường tài chính nói riờng

và cho nền kinh tế nói chung nhằm đáp ứng một phần nguồn vốn cho đầu tư phát triển

Trong đề tài này em tập trung đi sâu phân tích hoạt động đầu tư tài chính của công ty bảo hiểm PJICO trong giai đoạn hiện nay Đề tài của em gồm 3 phần chính :

Chương I : Tổng quan về hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp bảo

Trang 2

Chương 1 tổng quan về hoạt động đầu tư tài chính của doanh

nghiệp bảo hiểm

1.1 Doanh nghiệp bảo hiểm với hoạt động đầu tư

1.1.1 Đặc điểm của hoạt động đầu tư trong DNBH

- Khái niệm doanh nghiệp bảo hiểm

Khái niệm bảo hiểm trong các văn bản pháp luật cũng được quy định một cách tương tự, theo điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam ban hành năm

2000 kinh doanh bảo hiểm được hiểu là "hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lời theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm" Cũng theo điều 3 khoản 5, doanh nghiệp bảo hiểm là "doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm"

- Nguồn hình thành vốn đầu tư

Do đặc thù của hoạt động bảo hiểm là có một khoảng cách thời gian từ thời điểm nhận phí bảo hiểm đến thời điểm chi trả bảo hiểm, phí bảo hiểm nép vào tháng một song có thể cho tới tận tháng mười hai doanh nghiệp mới phải thực hiện chi trả bồi thường, do đó doanh nghiệp bảo hiểm có số lượng tiền nhàn rỗi khá lớn có thể tuỳ ý sử dụng Trên thực tế công ty bảo hiểm có nhiều khoản phí bảo hiểm tích tụ từ những người đóng bảo hiểm trong một thời gian dài, khoản tiền này sẽ được dùng để đầu tư Bên cạnh đó do đặc thù của hoạt động kinh doanh bảo hiểm phải chi trả những khoản tiền khi xảy ra rủi ro, nên để có thể đảm bảo khả năng thanh toán kịp thời doanh nghiệp bảo hiểm phải trích lập các quỹ dự phòng kỹ thuật từ nguồn phí bảo hiểm thu được Điều 96 Luật kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam quy định: "dự phòng nghiệp vụ là khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm phải trích lập nhằm mục

Trang 3

đích thanh toán cho những trách nhiệm bảo hiểm đã được xác định trước và phát sinh từ các hợp đồng bảo hiểm đã giao kết" Trên bảng cân đối kế toán, các quỹ dự phòng này được thể hiện là khoản mục nợ phải trả của doanh nghiệp Cũng giống như trường hợp của các ngân hàng thương mại, doanh nghiệp bảo hiểm không thể biết trước một cách chính xác khi nào sẽ phải chi trả tiền bảo hiểm nhưng có thể dự đoán được tỷ lệ dự trữ cần thiết vừa đủ để đảm bảo khả năng thanh toán mà không làm lãng phí nguồn vốn đầu tư Nhằm đảm bảo quyền lợi của những người tham gia bảo hiểm, điều 77 Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam ban hành ngày 20/12/2000 còng quy định rõ:

"Doanh nghiệp bảo hiểm phải luôn duy trì khả năng thanh toán trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh bảo hiểm" và "Doanh nghiệp bảo hiểm được coi là

có đủ khả năng thanh toán khi đó trớch lập đầy đủ dự phòng nghiệp vụ và cú biờn khả năng thanh toán không thấp hơn biên khả năng thanh toán tối thiểu theo quy định của Chính phủ", trong đó biên khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm là phần chênh lệch giữa giá trị tài sản và các khoản nợ phải trả của doanh nghiệp bảo hiểm

Tóm lại, nguồn vốn nhàn rỗi được dùng để đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm: vốn điều lệ, quỹ dự trữ bắt buộc, quỹ dự trữ tự nguyện, lãi chưa sử dụng từ năm trước, các quỹ để đầu tư hình thành tự lợi nhuận để lại (quỹ dự phòng tài chính, quỹ đầu tư phát triển, quỹ phóc lợi khen thưởng, quỹ trợ cấp mất việc ), nguồn vốn nhàn rỗi từ các quỹ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm của doanh nghiệp

Trang 4

- Đặc điểm và các yêu cầu đối với hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm

Hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm có những đặc điểm khác biệt so với hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư cá nhân hoặc các tổ chức tài chính khỏc, nú thể hiện ở quy mô đầu tư, cách thức tổ chức hoạt động đầu tư

và các yêu cầu trong đầu tư Như đã trình bày ở trên, doanh nghiệp bảo hiểm

có ưu thế về nguồn vốn nhàn rỗi, do đó quy mô đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm sẽ rất lớn Có thể nói đây là một trong những nhà đầu tư có tổ chức lớn nhất trên thị trường tài chính do đó nó có khả năng tiến hành đa dạng hoá đầu

tư một cách có hiệu quả, đồng thời doanh nghiệp thường tổ chức một bộ phận đầu tư chuyên nghiệp nhằm tăng hoạt động trong đầu tư đồng thời khai thác lợi thế tiết kiệm chi phí

Bên cạnh những ưu thế mang lại nhờ đặc thù của hợp đồng kinh doanh bảo hiểm, hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm cũng phải tuân theo những yêu cầu, ràng buộc nhất định Để đảm bảo quyền lợi của khách hàng, những người tham gia bảo hiểm, các doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm phải quản lý chặt chẽ nguồn vốn nhàn rỗi của mình theo quy định của pháp luật Tại điều 98 khoản 1 Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam quy định rõ nguyên tắc sử dụng vốn nhàn rỗi của doanh nghiệp bảo hiểm là: "Việc đầu tư vốn của doanh nghiệp phải đảm bảo an toàn, hiệu quả và đáp ứng được yêu cầu chi trả thường xuyên cho các cam kết theo hợp đồng bảo hiểm"

Bên cạnh những quy định của pháp luật, các doanh nghiệp bảo hiểm cũng có những quy chế riêng trong việc đầu tư của mình, việc đảm bảo vốn đầu tư một cách an toàn sẽ giúp cho doanh nghiệp bảo hiểm chắc chắn sẽ thực hiện được các cam kết với người được bảo hiểm khi xảy ra rủi ro Vì vậy yêu cầu đảm bảo tính an toàn luôn được đặt lên hàng đầu đối với hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm Đây cũng chính là quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của người được bảo hiểm khi tham gia bảo hiểm

Trang 5

Mục đích của hoạt động đầu tư là tìm kiếm lợi nhuận từ đồng vốn bỏ

ra, doanh nghiệp bảo hiểm cũng không nằm ngoài quy luật đó Hơn nữa, nguồn vốn nhàn rỗi mà doanh nghiệp bảo hiểm huy động được, tương tự như nguồn vốn của các ngân hàng thương mại đều phải bỏ ra một phần chi phí vốn đáng kể do đó đầu tư nhằm sinh lời cũng là một yêu cầu tất yếu đối với các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm Đầu tư vốn hiệu quả sẽ đáp ứng được việc bù đắp một phần chi phí kinh doanh cho doanh nghiệp bảo hiểm từ đó có điều kiện để doanh nghiệp bảo hiểm cân nhắc tới việc giảm mức phí bảo hiểm, tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp Hơn nữa người tham gia bảo hiểm phải nộp phớ thấp hơn, nhiều người tham gia bảo hiểm hơn, xột trờn tổng thể đã đem lại lợi Ých cho toàn xã hội

Yêu cầu cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng trong việc đầu tư vốn của doanh nghiệp bảo hiểm đó là phải đảm bảo đáp ứng được các yêu cầu chi trả cho các cam kết bảo hiểm khi xảy ra rủi ro Mà rủi ro xảy ra đều không được báo trước và có thể xảy ra bất kỳ thời điểm nào trong năm, do đó để có thể đáp ứng được nhu cầu thanh toán bằng tiền mặt kịp thời thì các tài sản đầu

tư phải là những tài sản có tính thanh khoản cao, tức là khả năng chuyển đổi thành tiền một cách dễ dàng Có như vậy mới đáp ứng được nhu cầu thanh toán thực sự của doanh nghiệp bảo hiểm và đảm bảo quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm

Tóm lại, hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm luôn phải đáp ứng được ba yêu cầu trên tuân thủ theo ba yêu cầu trên, tuy nhiên tuỳ theo nguồn hình thành vốn các yêu cầu này sẽ có thứ tự ưu tiên khác nhau nhằm phát huy lợi thế của từng nguồn mà không ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh bảo hiểm

Trang 6

1.1.2 Các loại hình đầu tư của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm

Hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm có thể được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau, những cách phân loại thường được doanh nghiệp sử dụng là:

- Theo mục đích đầu tư: đầu tư nhằm mục đích sinh lời; đầu tư nhằm mục đích bảo toàn vốn, phân tán rủi ro; đầu tư nhằm đảm bảo tính thanh khoản Ngoài ra, do hoạt động đầu tư cũng có thể là công cụ của doanh nghiệp bảo hiểm trong hoạt động nắm quyền kiểm soỏt cỏc tổ chức khác nhằm phục vụ cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm hoặc đầu tư sinh lời

Tuỳ theo tính chất của nguồn hình thành vốn đầu tư và chiến lược đầu

tư mà doanh nghiệp bảo hiểm có mục đích đầu tư tập trung vào loại hình đầu

tư nào Đối với các khoản đầu tư bảo đảm tính thanh khoản, khả năng sinh lời

sẽ thấp hơn, chủ yếu là gửi tiền vào các tổ chức tín dụng hoặc mua chứng khoán ngắn hạn như tín phiếu kho bạc Đầu tư nhằm sinh lời là hoạt động mang lại lợi nhuận chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm, có kỳ hạn hơn và mức độ rủi ro cao hơn Ngoài ra, để phân tán rủi ro, các doanh nghiệp phải tiến hành đa dạng hoá danh mục đầu tư, bảo toàn vốn chứ không tập trng vào một loại hình đầu tư cụ thể

- Theo phương thức đầu tư: đầu tư trực tiếp, gián tiếp Cách phân loại này thực chất dùa trên vai trò của doanh nghiệp đầu tư đối với dự án đầu tư

Đầu tư trực tiếp là doanh nghiệp bỏ vốn trực tiếp vào dự án và trực tiếp tham gia quản lý hoạt động kinh doanh của dự án đó Phương thức đầu tư này đòi hỏi sự am hiểu về lĩnh vực kinh doanh của dự án, kinh nghiệm về quản trị kinh doanh, nhưng thường đem lại sự chủ động và lợi nhuận cao cho phía nhà đầu tư Thông thường doanh nghiệp bảo hiểm sẽ cử đại diện của mình chịu trách nhiệm trực tiếp tham gia quản lý, giám sát và thực thi những yêu cầu của doanh nghiệp đối với dự án đó

Trang 7

Đối với hoạt động đầu tư gián tiếp, bộ phận đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm không phải trực tiếp thực hiện quản lý hoạt động của dự án đầu tư

mà chỉ cung cấp vốn cho dù án thông qua các hình thức cho vay, mua các công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu

- Thời hạn đầu tư: đầu tư ngắn hạn, dài hạn Các khoản đầu tư có thời hạn trên 1 năm là các dự án đầu tư dài hạn Thông thường các khoản đầu tư ngắn hạn có tính thanh khoản cao nhưng tỷ lệ thu nhập thấp, các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ thường sử dụng đầu tư ngắn hạn làm khoản mục dự trữ cho các nhu cầu chi trả khi cần thiết Còn đối với loại hình bảo hiểm nhân thọ, do có thể xác định được nhu cầu chi trả đối với từng thời kỳ nên nhu cầu về các loại đầu tư có có khả năng thanh khoản cao thấp hơn, họ thường tập trung vào đầu tư dài hạn để có thể nâng cao được tỷ lệ thu nhập Bên cạnh đú, cỏc doanh nghiệp bảo hiểm cũng có thể đầu tư rất ngắn hạn trên thị trường tiền tệ với các hình thức cho vay "qua đêm" đối với các tổ chức tài chính khác nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản của họ, hình thức đầu tư này cũng đem lại lợi nhuận cao mà rủi ro lại không lớn

- Theo tài sản đầu tư: chứng khoán, cho vay, góp vốn, gửi tiền, bất dộng sản Theo cách phân loại này, doanh nghiệp bảo hiểm có thể chuyên môn hoá bộ phận đầu tư thành các bộ phận nhỏ nhằm quản lý từng loại tài sản

có tính chất giống nhau; chẳng hạn như bộ phận chuyên đầu tư các loại chứng khoán, bộ hận thẩm định dự án để cho vay, góp vốn; bộ phận đầu tư bất động sản

Luật kinh doanh bảo hiểm ở nước a (điều 98) cho phép doanh nghiệp bảo hiểm dùng vốn nhàn rỗi để đầu tư ở Việt Nam vào các loại tài sản sau:

 Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp có bảo lãnh

 Tiền gửi tại các tổ chức tín dụng

 Kinh doanh bất động sản

 Cổ phiếu, trái phiếu của doanh nghiệp không có bảo lãnh

 Góp vốn vào doanh nghiệp khác

Trang 8

 Cho vay theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng

 Uỷ thác đầu tư

Tóm lại, hoạt động đầu tư tài chính của công ty bảo hiểm sẽ bao gồm các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu công ty, trái phiếu Chính phủ), tiền gửi ngân hàng, cho vay qua các tổ chức tài chính trung gian và uỷ thác đầu tư Ngoài ra nhà nước cũng quy định tỷ lệ vốn nhàn rỗi được phép đầu tư vào mỗi danh mục đầu tư nhằm bảo đảm cho doanh nghiệp bảo hiểm luôn duy trì được khả năng thanh toán

Gửi tiền tại các tổ chức tín dụng: đây là loại hình đầu tư ngắn hạn, dễ quản lý, Ýt rủi ro, doanh nghiệp bảo hiểm có thể tính toán tương đối chính xác các khoản thu nhập trong tương lai, nếu lùa chọn các ngân hàng có tiềm lực tài chính mạnh, uy tín thì rủi ro là tương đối thấp Tuy nhiên các khoản tiền gửi này cũng chịu những rủi ro về lạm phát và lãi suất, hơn nữa lãi suất của các khoản tiền gửi rất thấp nờn đõy không phải là loại hình đầu tư có hiệu quả đối với doanh nghiệp bảo hiểm

Hoạt động uỷ thác đầu tư: doanh nghiệp bảo hiểm sẽ sử dụng dịch vụ

uỷ thác đầu tư của một tổ chức tín dụng khác, tổ chức này sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp bảo hiểm để đầu tư vào các danh mục của mình và cam kết

sẽ đạt được một mức lãi suất nhất định và thu phí hoa hồng tuỳ theo kết quả thực tế đầu tư Đối ới doanh nghiệp bảo hiểm, tương tù như gửi tiền vào tổ chức tín dụng loại hình đầu tư này không cần nhiều "chất xám" và Ýt gặp rủi

ro nếu uỷ thác đầu tư vào các tổ chức tài chính lớn có nhiều uy tín

Cho vay thông qua các tổ chức tài chính trung gian: Loại hình đầu tư này đòi hỏi phải có trình độ và kinh nghiệm thẩm định dự án, để đảm bảo nguyên tắc an toàn thì việc cho vay phải được tiến hành theo hình thức cho vay có thế chấp phải được giám sát chặt chẽ Nhìn chung đây là loại hình đầu

tư cho lãi suất cao song rủi ro còng cao hơn, hơn nữa doanh nghiệp bảo hiểm lại phải cạnh tranh với các tổ chức cho vay chuyên nghiệp trong việc tỡm cỏc

dự án tốt Ngoài ra trong điều kiện thị trường mua bán nợ chưa phát triển thỡ

Trang 9

tớnh lỏng của các loại đầu tư này rất thấp và không phù hợp với nguồn đầu tư

từ quỹ dự phòng của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ

Chứng khoán: Danh mục đầu tư chứng khoán của một doanh nghiệp bảo hiểm thường bao gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty và cổ phiếu Đây là loại hình đầu tư có lãi suất, tính thanh khoản tương đối cao, phù hợp với yêu cầu đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm Đặc biệt là khi thị trường tài chính đã phát triển thì đầu tư chứng khoán trở thành một xu hướng chung đối với tất cả các tổ chức tài chính Tuy nhiên để xây dựng được một danh mục đầu tư phù hợp với đặc điểm, phù hợp với chiến lược đầu tư của từng doanh nghiệp không phải là một công việc đơn giản

1.1.3 Tổ chức hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp bảo hiểm

Đối với một doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động đầu tư đóng vai trò cực

kỳ quan trọng, do đó để hoạt động đầu tư nói chung và hoạt động đầu tư tài chính nói riêng có hiệu quả đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng được một mô hình tổ chức quản lý hoạt động đầu tư một cách có hiệu quả Tuy nhiên không tồn tại một mô hình phù hợp với tất cả các doanh nghiệp mà tuỳ theo điều kiện cụ thể về quy mô, loại hình hoạt động bảo hiểm mà doanh nghiệp sẽ lùa chọn mô hình đầu tư thích hợp Thông thường bộ phận đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm sẽ được tổ chức thành một tổ chức đầu tư độc lập hoặc chỉ tồn tại dưới hình thức một phòng đầu tư trực thuộc doanh nghiệp bảo hiểm

- Mô hình tổ chức thành công ty đầu tư độc lập

Đây là loại hình tổ chức phổ biến đối với các doanh nghiệp bảo hiểm trên thế giới Mô hình tổ chức này giúp doanh nghiệp bảo hiểm tập trung vốn, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, phù hợp đối với các doanh nghiệp

có quy mô lớn và phát triển Các công ty đầu tư độc lập hoặc các quỹ đầu tư

là một công cụ được doanh nghiệp bảo hiểm sử dụng để tiến hành các hoạt động đầu tư một cách chuyên môn hoá cao đối với từng loại hình đầu tư và từng loại tài sản đầu tư Bên cạnh đú cỏc công ty hay quỹ đầu tư có thể chỉ tập

Trang 10

trung vào một khu vực địa lý hay một nhóm ngành nghề nhất định hoặc có phạm vi hoạt động rộng và có lĩnh vực đầu tư tổng hợp

Trang 11

- Mô hình tổ chức bộ phận đầu tư trực thuộc

Theo cách thức tổ chức này, bộ phận đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm

là cỏc phũng đầu tư của doanh nghiệp Cỏc phũng này chỉ chuyên môn hoá thực hiện thuần tuý công việc đầu tư cũn cỏc hoạt động khác có liên quan và

hỗ trợ hoạt động đầu tư như dự báo nguồn vốn, xem xét tính bảo đảm pháp lý, phân tích kết quả hoạt động đầu tư là do các bộ phận chức năng của doanh nghiệp thực hiện Do đây là bộ phận phụ thuộc nên quyền quyết định của bộ phận đầu tư không cao, chỉ có chức năng tư vấn, cung cấp thị trường, đề xuất giải pháp, quản lý các khoản đầu tư cho lãnh đạo doanh nghiệp bảo hiểm ra quyết định đầu tư Mô hình này thường được áp dụng đối với doanh nghiệp bảo hiểm có quy mô nhỏ hoặc mới được thành lập Lúc này hoạt động đầu tư của doanh nghiệp còn giới hạn trong phạm vi hẹp, chưa đa dạng hoá và chuyên môn hoỏ sõu

Bên cạnh hai mô hình trờn, doanh nghiệp bảo hiểm cũng có thể thực hiện đầu tư gián tiếp qua việc nắm giữ cổ phần của các tổ chức đầu tư khác như việc nắm giữ các chứng chỉ quỹ đầu tư hoặc uỷ thác đầu tư cho mét t chức tài chính trung gian như vậy doanh nghiệp có thể tận dụng ưu thế chuyên môn hoá của các tổ chức đồng thời phân tán rủi ro cho danh mục đầu

tư của chính mình

Trang 12

1.1.4 Vai trò của hoạt động đầu tư trong kinh doanh bảo hiểm

- Đối với nền kinh tế

Trong nền kinh tế thị trường, việc doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư vốn nhàn rỗi không những có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp mà còn đem lại lợi Ých to lớn cho sự phát triển kinh tế Mặc dù mục đích chính của việc thiết lập các quỹ dự phòng không phải là nhằm vào việc đầu tư kiếm lời mà

để đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên cho doanh nghiệp, nhưng do được xác định là mọt nguồn vốn nhàn rỗi nờn cỏc quỹ dự phòng sẽ được doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện để đầu tư vào các lĩnh vực khác nhau để kiếm lời Để nền kinh tế có thể phát triển ổn định thì một trong những yêu cầu đầu tiên là phải có vốn, hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm sẽ là một kênh cung cấp vốn quan trọng để phát triển kinh tế xã hội Đối với những đất nước đang trong giai đoạn công nghiệp hoỏ thỡ những nguồn vốn được huy động từ nội bộ nền kinh tế như vậy là cực kì cần thiết cho quá trình tích

tụ tập trung tư bản Khi tham gia vào thị trường vốn, doanh nghiệp bảo hiểm

có vai trò như một trung gian tài chính song lại có một ưu điểm hơn các tổ chức trung gian khác ví dụ như có thể huy động được các khoản tiền nhỏ trong công chúng thông qua các hình thức thu phí bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm thu hót, cung ứng vốn sẽ góp phần thúc đẩy sự luân chuyển, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế Chẳng hạn doanh nghiệp bảo hiểm có thể là người cung cấp hàng hoá cho thị trường bằng cách phát hành

cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường, cũng có thể là người bảo lãnh phát hành cho chứng khoán của các doanh nghiệp khác hoặc cung ứng các dịch vụ về tài chính cho nhà đầu tư Bên cạnh đó, với tư cách là một nhà đầu từ chuyên nghiệp, với lợi thế về chuyên môn hoá trong lĩnh vực đầu tư, lợi thế nhờ quy

mô, về thông tin, khả năng chia sẻ rủi ro, các doanh nghiệp bảo hiểm đã góp phần tạo nên tính sôi động và hiệu quả của thị trường tài chính

Hiện nay xu hướng phát triển của tổ chức tài chính trung gian là đa dạng hoỏ cỏc dịch vụ tài chính nhằm đáp ứng một cách tốt nhất cho nhu cầu

Trang 13

của khách hàng Việc phải tìm hiểu, xác định quan hệ với quá nhiều trung gian tài chính cho một mục đích khiến chớnh cỏc nhà đầu tư riêng lẻ mong muốn cú cỏc "siêu thị tài chính", ở đó họ có thể tìm được đầy đủ các dịch vụ

và có thể giảm bớt chi phí và thời gian cho hoạt động đầu tư Đồng thời các trung gian tài chính cũng không muốn khách hàng của mình chuyển sang các đối thủ cạnh tranh khác do không có đủ các dịch vụ cung cấp cho họ Để tận dụng lợi thế hiện có, duy trì và phát triển với khách hàng, tiết kiệm chi phí, các trung gian tài chính tìm mọi cách bành trướng thế lực sang các lĩnh vực mới Vì vậy việc tham gia hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm là xu hướng chung trên thị trường tài chính thế giới

- Đối với bản thân doanh nghiệp

Theo nguyên tắc cơ bản về bảo hiểm, phần phí bảo hiểm thu được không hoàn toàn thuộc về doanh nghiệp, đõy chớnh là sự đóng góp của nhiều người cá nhõn để bù đắp phần tổn thất cho một số Ýt gặp rủi ro dựa trờn quy luật số lớn Do đó doanh nghiệp bảo hiểm sẽ không thu lợi trực tiếp từ phần phí thu được đó, có thể trong năm nay doanh nghiệp không phải chi trả nhiều hơn dự tính, như vậy xột trờn tổng thể, phần phí thu được sẽ chỉ dùng cho để chi trả bảo hiểm Như vậy thì doanh nghiệp bảo hiểm thanh toán chi phí kinh doanh và thu lợi nhuận từ đâu? Điểm mấu chốt của vấn đề là ở việc sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi có hiệu quả Đây cũng chính là đặc điểm nổi bật chứng tỏ doanh nghiệp bảo hiểm là một trung gian tài chính lớn, có vai trò quan trọng trên thị trường tài chính Do luồng tiền ra vào không cùng thời điểm, thông thường quy mô của luồng tiền vào là rất lớn, doanh nghiệp bảo hiểm có thể đầu tư nhằm thu được phần lợi nhuận có thể trang trải cho các chi phí hoạt động, chi trả phần lãi suất kĩ thuật đối với trường hợp bảo hiểm nhân thọ, tạo

ra lợi nhuận cho doanh nghiệp, hoạt động đầu tư đã góp phần duy tri và phát triển nguồn vốn

Thu nhập từ việc đầu tư các quỹ dự phòng sẽ giúp doanh nghiệp tăng cường khả năng thanh toán, bảo vệ tốt nhất quyền lợi của những người được

Trang 14

bảo hiểm Ngoài ra nếu hoạt động đầu tư có hiệu quả tạo ra nhiều lợi nhuận tức là đã gián tiếp làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp bảo hiểm

Do không phải sử dụng phí bảo hiểm làm chi phí kinh doanh, doanh nghiệp

có thể thực hiện giảm phí bảo hiểm, đa dạng hoá sản phẩm, tăng lãi suất kĩ thuật cho các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ Mặt khác chính việc đầu tư vốn nhàn rỗi sẽ giúp doanh nghiệp bù đắp được các khoản chi phí bồi thường, chi phí quản lý lớn, ổn định được kết quả kinh doanh Điều này cũng giúp cho doanh nghiệp bảo hiểm có điều kiện giảm phí bảo hiểm hoặc không tăng phí trong các kỳ kinh doanh tiếp theo Như vậy, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ có điều kiện để tăng cường khả năng cạnh tranh của mình, thu hót khách hàng và toạ ưu thế trong việc kỹ kết các hợp đồng bảo hiểm, hơn nữa cũng góp phần làm giảm rủi ro cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm - kinh doanh rủi ro

Đối với khách hàng bảo hiểm, hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm đã góp phần đảm bảo nguồn tài chính vững chắc để đảm bảo thực hiện các cam kết đối với khách hàng, góp phần làm gia tăng giá trị các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ (biểu hiện ở việc cam kết lãi chia thêm cho khách hàng mua bảo hiểm nhân thọ)

Tóm lại, hoạt động đầu tư chính là phần cốt lõi đóng vai trò sống còn đối với một doanh nghiệp bảo hiểm ngày nay

Trang 15

1.2 Hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm

1.2.1 Nội dung của hoạt động đầu tư tài chính trong DNBH

Hoạt động đầu tư đối với doanh nghiệp bảo hiểm cũng tương tự như hoạt động đầu tư thông thường, tức là việc từ bỏ tạm thời quyền sử dụng một khoản vốn nhất định trong một khoảng thời gian để thu về một lượng giá trị lớn hơn trong tương lai nhằm bù đắp về thời gian mà người đầu tư chấp nhận

từ bỏ quyền sử dụng khoản đầu tư, tỷ lệ lạm phát dự tính và rủi ro đối với khả năng thu hồi khoản đầu tư Đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm, đầu tư là một hiệu quả quan trọng để duy trì và phát triển doanh nghiệp vỡ nú sử dụng phần vón nhàn rỗi tiến hành các hoạt động sinh lời nhằm bảo đảm khả năng thanh toán, nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm bảo hiểm và tạo lợi nhuận cho doanh nghiệp Tuy nhiên, hoạt động đầu tư đối với một doanh nghiệp bảo hiểm có một số khác biệt so với các loại hình đầu tư thông thường của một nhà đầu tư cá nhân hoặc các loại hình tổ chức khác Do nó sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi có được từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm nên hoạt động đầu tư chịu một số ràng buộc về mặt luật pháp nhằm đảm bảo sự an toàn về vốn đầu tư, khả năng thanh toán và sinh lời

Như vậy Đầu tư tài chính:Là loại hình đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất cố định trước hoặc lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty phát hành Đầu tư tài chính không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính của tổ chức hoặc cá nhân đầu tư.

1.2.2 Hiệu quả của đầu tư tài chính trong doanh nghiệp bảo hiểm

- Quan điểm về hiệu quả trong đầu tư tài chính

Trong hoạt động sử dụng vốn nhàn rỗi của doanh nghiệp bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có thể đầu tư vào tài sản vật chất Tuy nhiên, nếu đầu

tư nhiều vào tài sản vật chất sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc chuyển đổi thành tiền mặt để đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả bảo hiểm, do

đó để đảm bảo các nguyên tắc sử dụng vốn thì biện pháp tốt nhất là doanh

Trang 16

nghiệp bảo hiểm đầu tư vào tài sản tài chính Tuy nhiên, nhà đầu tư luôn phải tính đến một đặc trưng của các tài sản tài chính đó là mối quan hệ biện chứng của rủi ro dự tính và thu nhập kì vọng Do vậy, khi đánh giá hiệu quả của hoạt động đầu tư tài chính thì không thể chỉ đánh giá đơn thuần về mặt kế toán mà còn phải xem xét chúng trong mối quan hệ với những rủi ro có thể xảy ra khi đầu tư vào loại tài sản này.

Về mặt hiệu quả tài chính, đõy chớnh là thu nhập mà nhà đầu tư nhận được khi đầu tư thể hiện qua lãi suất sinh lời của đồng vốn bỏ ra Thường thì nhà đầu tư rất quan tâm đến hiệu quả này, nhất là đứng trên góc độ doanh nghiệp Với một nguồn lực có hạn, nhà đầu tư luôn phải cân nhắc tới việc bỏ

ra những gì và thu được những gì và không những vậy nhà đầu tư còn phải tìm cách tối đa hoá lợi nhuận thu được Điều này đặc biệt đúng với các doanh nghiệp bảo hiểm, bản thân đồng vốn đầu tư của doanh nghiệp Ngoài ra, hiệu quả về mặt tài chính là những sự bảo đảm cho khả năng thanh toán của doanh nghiệp Ngoài ra, hiệu quả về mặt tài chính của hoạt động đầu tư tài chính trong doanh nghiệp bảo hiểm còn có thể được xem xét dưới góc độ là một kênh huy động vốn quan trọng trên thị trường vốn Lượng vốn cung ứng ra thị trường sẽ thể hiện năng lực tài chính của doanh nghiệp Đối với toàn bộ thị trường vốn thì khó có thể lượng hoá được hiệu quả của hoạt động cung ứng vốn của một đơn vị kinh doanh nào đó và cũng khó có thể đo lường được sự tác động tới tình hình phát triển của thị trường Song đối với bản thân doanh nghiệp, sự gia tăng về số tuyệt đối nguồn vốn đầu tư vào tài sản tài chính có thể đánh giá được sự gia tăng về quy mô đầu tư vào loại hình tài sản cũng như

sự gia tăng về lượng vốn cung ứng ra thị trường

- Rủi ro trong hoạt động đầu tư tài chính

Bên cạnh đó, rủi ro đối với hoạt động đầu tư tài chính là sự không chắc chắn về luồng thu nhập dự kiến trong tương lai Mục tiêu của nhà đầu tư là thu được lợi nhuận dự kiến nhưng trên thực tế nhà đầu tư khó có thể thu được lợi nhuận như mong muốn trên những tài sản tài chính rủi ro như cổ phiếu,

Trang 17

trái phiếu và các công cụ tài chính khác Do vậy, hiệu quả của hoạt động đầu

tư vào tài sản tài chính còn phải được xem xét trên khía cạnh giảm thiểu các rủi ro khi đầu tư Đó là các đánh giá định tính và định lượng về rủi ro khi đầu

tư vào từng loại tài sản, cả danh mục tài sản và biện pháp giảm thiểu rủi ro cho toàn danh mục đầu tư Rủi ro trong hoạt động đầu tư tài chính có thể được chia làm những loại sau đây:

Rủi ro kinh doanh là sự không chắc chắn về các luồng thu nhập của doanh nghiệp do bản thân của hoạt động kinh doanh Do đó, nhà đầu tư đòi hỏi được bù đắp rủi ro dựa trờn sự không chắc chắn về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Ví dụ, một công ty thực phẩm bán lẻ thông thường trải qua những giai đoạn bán hàng ổn định, thu nhập tăng trưởng theo thời gian và có rủi ro kinh doanh thấp so với một công ty trong ngành công nghiệp ô tô nơi có doanh số và thu nhập dao động theo chu kì kinh doanh, điều này đem lại rủi

ro kinh doanh cao

Rủi ro tài chính là sự không chắc chắn do cách thức tài trợ của doanh nghiệp Nếu một doanh nghiệp chỉ sử dụng cổ phiếu thường để tài trợ, nó chỉ phải gánh chịu rủi ro kinh doanh Nếu doanh nghiệp vay tiền để tài trợ cho hoạt động, nó phải trả những khoản tiền cố định (dưới dạng lãi phải trả cho chủ nợ) trước khi trả cổ tức cho cổ đông, do đó làm tăng rủi ro cho thu nhập

từ cổ phiếu của nhà đầu tư

Rủi ro thanh khoản của một khoản đầu tư là sự không chắc chắn khi chuyển khoản đầu tư đó thành tiền mặt trên thị trường thứ cấp Khi một nhà đầu tư tiến hành đầu tư, anh ta hy vọng rằng khoản đầu tư đó sẽ được giữ đến khi đáo hạn (ví dụ với trái phiếu) hoặc nó sẽ có thể bán được cho người khác Trong hai trường hợp này, nhà đầu tư hy vọng có thể chuyển loại chứng khoán mình đang nắm giữ sang tiền mặt và sử dụng tiền thu được để tiêu dùng hoặc đầu tư vào nơi khác Sự khó khăn khi chuyển đổi càng lớn, rủi ro thanh khoản càng cao Một nhà đầu tư phải cân nhắc hai câu hỏi về thanh khoản khi tính toán rủi ro thanh khoản cho một loại chứng khoán: (1) Mất bao

Trang 18

lâu để chuyển sang thành tiền mặt? (2) Giá cả của khi chuyển đổi như thế nào? Sự không chắc chắn về tốc độ mua bán khoản đầu tư hay sự không chắc chắn về giá làm tăng rủi ro thanh khoản Một loại chứng khoán như tín phiếu kho bạc Mỹ hầu như không có rủi ro thanh khoản bởi vì nó có thể mua bán trong vòng vài phót với mức giá được yết đồng nhất Ngược lại, các tác phẩm hội hoạ, đồ cổ hoặc các lô đất ở vùng hẻo lánh là những loại tài sản có tính thanh khoản kém Những loại tài sản này cần nhiều thời gian để tìm người mùa và giá bán có thể thay đổi rất lớn so với kì vọng khi đó nhà đầu tư sẽ tăng

tỷ lệ lợi tức yêu cầu để bù đắp cho rủi ro thanh khoản

Rủi ro tỷ giá là rủi ro về thu nhập khi nhà đầu tư nắm giữ chứng khoán tính theo một loại ngoại tệ khác Khả năng phải gành chịu rủi ro tăng lên khi nhà đầu tư mua và bán tài sản trên thị trường thế giới, đối lập với việc chỉ mua bán tài sản trong nước Một nhà đầu tư Mỹ mua cổ phiếu của Nhật yết gia theo đồng Yên phải tính đến không chỉ rủi ro của thu nhập từ đồng Yên mà còn cả sự thay đổi ty giá hối đoái giữa đồng Yên với đồng USD Như vậy, bên cạnh rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp nước ngoài, rủi ro tài chính, rủi ro thanh khoản, nhà đầu tư còn phải tính đến rủi ro khi khoản thu nhập theo đồng Yên phải chuyển giá càng cao và mức bù rủi ro càng lớn

Rủi ro chính trị là những rủi ro gây ra bởi khả năng xảy ra thay đổi lớn trong chính trị hoặc môi trường kinh tế của một quốc gia

Thông thường các nhà đầu tư sử dụng phương sai và độ lệch chuẩn của thu nhập kì vọng để đánh giá rủi ro

Công thức tính phương sai là:

Trang 19

Do đơn vị của phương sai là một đại lượng vụ nghĩa (bỡnh phương của đơn vị biến thu nhập Ri) nờn người ta cũng sử dụng độ lệch chuẩn để đỏnh giỏ rủi ro Độ lệch chuẩn là căn bậc hai của phương sai:

 = ∑=n p[RiE(R i)] 2

1 i

- Cỏc chỉ tiờu đỏnh giỏ hiệu quả

Với quan niệm về hiệu quả của hoạt động đầu tư tài chớnh như vậy thỡ việc đỏnh giỏ hiệu quả hoạt động đầu tư tài chớnh sẽ thụng qua một số chỉ tiờu định lượng cơ bản như quy mụ vốn đầu tư và tốc độ tăng quy mụ vốn đầu tư,

tỷ suất lợi nhuận đầu tư, tỷ số khả năng thanh toỏn hiện tại, hiệu suất sử dụng vốn

+ Quy mụ đầu tư và tốc độ tăng quy mụ đầu tư

Quy mụ đầu tư chớnh là tống số vốn doanh nghiệp bảo hiểm dựng để đầu tư và tốc độ tăng quy mụ đầu tư vào tài sản tài chớnh được xỏc định thụng qua cụng thức:

Tốc độ tăng quy mụ vốn đầu tư = ( − 1 ) * 100

trước kỳ

ầu

Đ vốn số

này kỳ tư

ầu

Đ vốn số

Quy mụ đầu tư thể hiện số tuyệt đối về nguồn vốn mà doanh nghiệp bảo hiểm dựng để đầu tư vào tài sản tài chớnh, cũn tốc độ tăng quy mụ sẽ thể hiện khả năng mở rộng hoạt động đầu tư tài chớnh qua cỏc thời kỳ Số lượng vốn đầu tư vào tài sản tài chớnh lớn và tốc độ tăng quy mụ đầu tư nhanh sẽ cho thấy khả năng mở rộng hoạt động

+ Doanh thu đầu tư

Doanh thu đầu tư là tổng thu nhập từ hoạt động đầu tư đem lại, đối với hoạt động đầu tư Khỏi niệm doanh thu đầu tư bao gồm cả phần chi phớ vốn phải bỏ ra để cú được nguồn vốn nhàn rỗi cho hoạt động đầu tư, do đú nú mới chỉ phản ỏnh phần giỏ trị tăng lờn thờm thu về từ khoản đầu tư chứ chưa phản ỏnh lợi nhuận thực sự của hoạt động đầu tư Tuy nhiờn đõy cũng là một chỉ

Trang 20

tiờu quan trọng phản ỏnh hiệu quả của hoạt động đầu tư tại doanh nghiệp bảo hiểm.

+ Tỷ suất lợi nhuận đầu tư

Chỉ tiờu tỷ suất lợi nhuận đầu tư đỏnh giỏ hiệu quả của hoạt động đầu

tư của doanh nghiệp bảo hiểm, một yếu tố quan trọng đúng gúp vào lợi nhuận chung của doanh nghiệp Chỉ tiờu cũng cho biết chất lượng chung của danh mục đầu tư của doanh nghiệp

Tỷ suất lợi nhuận đầu tư được tớnh bằng cụng thức sau:

Tỷ suất lợi nhuận đầu tư =

bINH trung tư

ầu

Đ vốn Tổng

ầu

Đ từ thuần nhập

thu Tổng

Song do đặc thự của hoạt động đầu tư tại doanh nghiệp bảo hiểm nờn chỉ tiờu này cú thể được cụ thể hơn cho phự hợp Theo hệ thống chỉ tiờu giỏm sỏt doanh nghiệp bảo hiểm ban hành kốm theo quyết định số 153/2003/QĐ-BTC ngày 22/9/2003 chỉ tiờu tỷ suất lợi nhuận đầu tư được tớnh như sau:

Tỷ suất lợi nhuận đầu tư =

- Lợi nhuận hoạt động đầu tư năm hiện tại

Về thực chất mẫu số của chỉ tiờu này phản ỏnh tổng giỏ trị tài sản bỡnh quõn của doanh nghiệp bảo hiểm trong 2 năm đỏnh giỏ chớnh xỏc hơn Chỉ tiờu tỉ suất lợi nhuận đầu tư tài sản thấp là dấu hiệu cho thấy doanh nghiệp bảo hiểm cú nhiều tài sản khụng sinh lời (chẳng hạn cỏc khoản phải thu, tài sản cố định )

+ Tỷ trọng đầu tư trung và dài hạn trờn tổng nguồn vốn đầu tư

Trong danh mục của doanh nghiệp bảo hiểm, tỷ trọng đầu tư trung và dài hạn là một chỉ tiờu giỏn tiếp phản ỏnh hiệu quả của hoạt động đầu tư, bởi

vỡ cỏc hoạt động đầu tư trung và dài hạn thường đem lại tỷ suất sinh lời cao hơn đầu tư ngắn hạn Đối với doanh nghiệp bảo hiểm, do cú được nguồn vốn nhàn rỗi lớn và hoạt động dự bỏo luồng tiền ra vào cú phần dễ dàng hơn cỏc

2*Lợi nhuận từ hoạt động đầu tư

Tài sản năm trước+Tài sản năm hiện tại

Trang 21

tổ chức tài chính trung gian khỏc nờn họ luôn cố gắng tăng tỷ trọng đầu tư trung và dài hạn trong tổng vốn đầu tư, chẳng hạn chuyển bớt tỷ trọng đầu tư vào tiền gửi ngân hàng sang trái phiếu chính phủ để có thể nâng tỷ suất sinh lời của hoạt động đầu tư, tránh việc sử dụng vốn không hiệu quả.

Mặc dù việc đánh hiệu quả hoạt động thông qua các chỉ tiêu định lượng

là rất quan trọng, kết quả của hoạt động đầu tư tài chính còn phải được đánh giá trên khía cạnh định tính nên không thể chỉ dựng cỏc chỉ tiêu định lượng để xem xét một cách toàn diện hiệu quả của hoạt động đầu tư tài chính Có những tác động của hoạt động đầu từ tài chính không thể xác định thông qua các chỉ tiêu định lượng mà chỉ có thể xác định thông qua chỉ tiêu định tính như lượng khách hàng tham gia bảo hiểm tăng lên, uy tín của doanh nghiệp trên thị trường, sự hài lòng của khách hàng, mức độ rủi ro của tài sản đầu tư, khả năng thu hồi vốn và lãi đầu tư

Tóm lại, hiệu quả hoạt động đầu tư phải được xem xét dưới nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau Bên cạnh các chỉ tiêu được tính toán cụ thể và có thể được so sánh với nhau ta cũng phải xem xét tới các yếu tố không thể lượng hoá được về phía khách hàng và đối với nền kinh tế - xã hội nói chung

1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động đầu tư tài chính của DNBH

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp luôn phải tính tới tác động của các yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp Có những yếu

tố thúc đẩy, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển nhưng cũng có không

Ýt yếu tố bất lợi cản trở hoạt động của doanh nghiệp Do đặc thù kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm, sự tác động từ các yếu tố môi trường là rất lớn không chỉ đối với hoạt động bảo hiểm mà còn tác động trực tiếp và gián tiếp tới hoạt động đầu tư tài chính

- Các nhân tố chủ quan

Các nhân tố chủ quan tác động tới hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm chính là những nhân tố bên trong doanh nghiệp, doanh nghiệp có

Trang 22

thể tự điều chỉnh những nhân tố tiêu cực Các nhân tố chủ quan thường gặp bao gồm: loại hình kinh doanh bảo hiểm, quy mô của doanh nghiệp, chính sách đầu tư của doanh nghiệp mô hình tổ chức của bộ phận đầu tư

+ Loại hình kinh doanh bảo hiểm của doanh nghiệp

Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ hay phi nhân thọ sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn huy động vốn đầu tư và yêu cầu của hoạt động đầu tư do đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn huy động vốn đầu tư và yêu cầu của hoạt động đầu tư do đó sẽ ảnh hưởng đến cách thức đầu tư của doanh nghiệp Nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm gắn liền với đặc điểm của các sản phẩm bảo hiểm của doanh nghiệp Các đặc điểm đó tạo ra các yêu cầu đối với hoạt động thời hạn, khả năng sinh lợi, khả năng thanh khoản, độ rủi ro Vốn đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ là vốn ngắn hạn nờn cú yêu cầu cao về tính thanh khoản nhưng không đòi hỏi sinh lợi lớn Do đó nếu doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ thỡ cỏc nguồn đầu tư sẽ tập trung vào nguồn ngắn hạn, độ an toàn cao hơn và chấp nhận khả năng sinh lời thấp hơn Đối với kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, do thời hạn thu phí dài, việc

dự báo luồng tiền ra là khá chính xác nên có thể tập trung đầu tư dài hạn với lãi suất cao hơn để có thể đảm bảo chi trả lãi suất kĩ thuật

+ Quy mô của doanh nghiệp

Quy mô của doanh nghiệp bảo hiểm biểu hiện ở quy mô doanh thu phí bảo hiểm và quy mô tài sản quyết định quy mô vốn đầu tư của nó Đối với một nhà đầu tư chuyên nghiệp, việc anh ta có lượng vốn như thế nào ảnh hưởng rất lớn đến chiến lược đầu tư của anh ta Ưu thế về quy mô làm giảm chi phí cho hoạt động đầu tư, tăng khả năng đa dạng hoá cho danh mục đầu

tư, quy mô lớn cũng giúp cho doanh nghiệp có thể dễ dàng hơn trong việc

"điều khiển" thị trường tài chính, ở đó các tổ chức tài chính trung gian đóng một vai trò cực kỳ quan trọng như những lợi Ých không nhở cho chính mình

Quy mô của doanh nghiệp bảo hiểm cũng ảnh hưởng đến phương thức

và loại hình đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm Những doanh nghiệp bảo

Trang 23

hiểm có quy mô nhỏ không có điều kiện tổ chức bộ phận đầu tư quy mô và chuyên nghiệp nên họ chủ yếu sử dụng các dịch vụ đầu tư tài chính chứ không có điều kiện tổ chức các bộ phận chuyên nghiệp nhằm quản lý đầu tư Ngược lại, những doanh nghiệp bảo hiểm quy mô lớn có thể tổ chức bộ phận đầu tư quy mô và chuyên nghiệp, điều này giúp họ tích tụ và tập trung vốn dễ dàng hơn, chuyên môn hoá hơn từ đó đem lại doanh thu đầu tư cao hơn Hơn nữa, do có thể tham gia mọi loại hình đầu tư trong khuôn khổ pháp luật cho phép, họ có thể tham gia mọi loại hình đầu tư trong khuôn khổ pháp luật cho phép, họ có thể thực thi chính sách đầu tư của mình một cách chủ động mà không phải "liệu cơm gắp mắm" như các doanh nghiệp nhỏ lùa chọn dịch vụ đầu tư tài chính, giảm chi phí cho hoạt động đầu tư tài chính.

Trang 24

+ Chính sách đầu tư của doanh nghiệp

Mặc dù chính sách đầu tư phụ thuộc rất lớn vào loại hình kinh doanh bảo hiểm và quy mô doanh nghiệp, tuy nhiên nó vẫn là một trong những hoạt động đặc trưng của từng doanh nghiệp và là một nhân tố quan trọng quyết định hoạt động đầu tư sẽ diễn ra như thế nào

Chính sách đầu tư của doanh nghiệp sẽ quyết định doanh nghiệp nên đầu tư vào đâu, với khối lượng như thế nào, vào thời điểm nào? Đây cũng là những câu hỏi mà bất kỳ nhà đầu tư nào cũng phải tự trả lời Đối với từng doanh nghiệp, chính sách đầu tư phải phù hợp với doanh nghiệp Chính sách đầu tư cũng chỉ ra nguồn hình thành vốn đầu tư chủ yếu và từ đó quyết định

mô hình tổ chức hoạt động đầu tư mang ý nghĩa sống còn với doanh nghiệp Chính sách đầu tư cũng chỉ ra nguồn hình thành vốn đầu tư chủ yếu và từ đó quyết định mô hình tổ chức hoạt động đầu tư Khi doanh nghiệp bảo hiểm duy trì chính sách tập trung nguồn vốn đầu tư, thì hoạt động đầu tư được định hướng theo mô hình tập trung nguồn vốn đầu tư, thì hoạt động đầu tư được định hướng theo mô hình tập trung và ngược lại khi chính sách về mục đích đầu tư và chính sách về danh mục đầu tư sẽ định hướng hoạt động đầu tư trong việc tập trung vào loại hình đầu tư ngắn hạn hay dài hạn, có tính thanh khoản cao hay có tính sinh lời Chính sách về quản lý danh mục đầu tư sẽ quyết định phân công nhiệm vụ và quy trình, cách thức quản lý danh mục đầu

+ Quan điểm của lãnh đạo doanh nghiệp

Đối với một doanh nghiệp hoạt động kinh doanh, xây dựng được một phương hướng, chiến lược kinh doanh phù hợp là cơ sở để dẫn đến thành công, điều này phụ thuộc rất lớn vào những nhà hoạch định chiến lược, những nhà lãnh đạo của doanh nghiệp Vì vậy có thể nói muốn có một chính sách đầu tư tốt, phát huy được tiềm năng và lợi thế của doanh nghiệp đòi hỏi lãnh đạo doanh nghiệp phải nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của hoạt động đầu

tư đối với doanh nghiệp bảo hiểm Nhân tố này gián tiếp tác động tới hoạt

Trang 25

động đầu tư tài chính thông qua những quyết định mà lãnh đạo doanh nghiệp đưa ra Nếu lãnh đạo doanh nghiệp không đánh giá hết được tầm quan trọng của hoạt động đầu tư mà tập trung vào phát triển hoạt động bảo hiểm thì tất nhiên, hoạt động đầu tư tại doanh nghiệp bảo hiểm đó khó có thể phát triển tốt được.

+ Mô hình tổ chức - nhân sự của bộ phận đầu tư

Mô hình tổ chức cũng như phân cấp quản lý đầu tư cũng sẽ quyết định tới việc ra quyết định đầu tư, nhất là trong lĩnh vực đầu tư vào tài sản tài chính Việc phân cấp quản lý và quyết định đầu tư giúp cho từng vị trí trong

bộ phận quản lý đầu tư có thể chủ động đưa ra quyết định kịp thời, nâng cao vai trò, vị trí và trách nhiệm của mỗi cá nhân, tổ chức hoạt động đầu tư theo

mô hình bộ phận đầu tư phụ thuộc hoặc độc lập với tổ chức hoạt động kinh doanh bảo hiểm Đối với mô hình phụ thuộc: Do tính chất phụ thuộc, quyền hạn và trách nhiệm đối với công việc không được phát huy cao nhất Hơn nữa

do không có nhiều quyền quyết định nờn tớnh chuyên nghiệp không cao, hoạt động đầu tư thường phải thông qua mét quy trình xét duyệt, xin ý kiến lãnh đạo nên bỏ lỡ nhiều cơ hội đầu tư dẫn tới không đạt kết quả cao nhất Đối với

mô hình bộ phận đầu tư độc lập, do giải quyết được những vướng mắc trờn nờn có thể nâng cao hiệu quả trong hoạt động đầu tư tài chính Mô hình đầu

tư độc lập đem lại khả năng tập trung hoá, chuyên môn hoá và đa dạng hoá hoạt động đầu tư cao cao hơn Trên thực tế, các doanh nghiệp bảo hiểm lớn trên thế giới đều áp dụng mô hình đầu tư tập đoàn kiểu như vậy, với bộ phận đầu tư được tách ra thành một công ty độc lập thực hiện việc đầu tư vốn uỷ thác của tập đoàn mẹ

Nhõn tè con người mà cụ thể là trình độ chuyên môn cũng như kinh nghiệm của bộ phận đầu tư sẽ quyết định khả năng phân tích và đánh giá tình huống, qua đó ảnh hưởng đến tính đúng đắn và kịp thời của các quyết định đầu tư Thực tế cho thấy , mặc dù được hỗ trợ rất nhiều bởi máy móc hiện đại trong việc tính toán và phân tích, hoạt động đầu tư vẫn phụ thuộc chủ yếu vào

Trang 26

con người và việc tổ chức nhân sự của bộ phận đầu tư cũng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm Chỉ khi nào các phần việc đầu tư được giao cho cán bộ đầu tư có khả năng phù hợp, không xảy ra tình trạng không đủ trình độ hoặc lãng phí nhân lực thì hoạt động đầu tư có thể đạt hiệu quả cao nhất.

+ Các nhân tố khác

Ngoài ra hoạt động đầu tư còn phụ thuộc vào các công ty hỗ trợ như hoạt động nghiên cứu dự báo, hoạt động kế toán, hoạt động phân tích kết quả kinh doanh, trình độ ứng dụng công nghệ thông tin

Nghiên cứu phát triển thị trường là hoạt động có tác động gián tiếp đến hoạt động đầu tư Nghiên cứu dự báo luồng tiền nhằm xác định yêu cầu về thời hạn của nguồn vốn đầu tư Công tác này hỗ trợ rất nhiều cho hoạt động đầu tư, bởi lẽ đầu tư bằng nguồn vốn ổn định sẽ đạt hiệu quả cao hơn Nếu hoạt động dự báo luồng tiền không chính xác hoặc không dự báo được khi nào nhu cầu tiền mặt tăng cao thì bộ phận đầu tư sẽ chỉ dám đầu tư vào những tài sản có khả năng thanh khoản cao như tiền gửi ngân hàng do đó hiệu quả đầu tư sẽ tăng chi phí để chuyển đổi thành tiền mặt Ngoài ra hoạt động nghiên cứu thị trường cũng cung cấp các thông tin dự báo kinh tế, xã hội cũn giỳp Ých cho việc lập kế hoạch đầu tư và dự kiến danh mục đầu tư Bên cạnh

đó, hoạt động kế toán và phân tích kết quả kinh doanh có vai trò quan trọng trong việc xác định và đánh giá kết quả hoạt động đầu tư để có thể điều chỉnh kịp thời nhằm đem lại hiệu quả cao nhất, hạn chế được những tổ thất

Hoạt động đầu tư ngày nay mang tính chuyên nghiệp cao và ngày càng được chuyên môn hoá sâu sắc đặc biệt là việc ứng dụng các công cụ toán học, thống kê và xác suất trong việc hỗ trợ ra quyết định đầu tư Do đó, hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm không chỉ cần đến trình độ và kinh nghiệm của đội ngò cán bộ mà còn cần tới sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật hiện đại như máy vi tính, các phần mềm chuyên dụng Các phương tiện này sẽ hỗ trợ dự báo nguồn vốn thu thập và xử lý thông tin đầu tư từ môi trường ngoài,

Trang 27

quản lý hoạt động và phần tích đánh giá kết quả đầu tư để lãnh đạo đưa ra những quyết định có lợi nhất cho doanh nghiệp Nếu thiếu các phương tiện này, năng suất công việc sẽ giảm dẫn tới không thể tận dụng được hết các cơ hội đầu tư.

1.4.2.Các nhân tố khách quan

Bên cạnh những nhân tố chủ quan thuộc về bản thân doanh nghiệp, hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm còn chịu tác động bởi các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp Đây là những yếu tố cơ bản của môi trường đầu tư tài chính, nú cú thể tự điều chỉnh được Tuy nhiên các doanh nghiệp bảo hiểm cần phải nhận biết các yếu tố này để có thể tận dụng những tác động tích cực và hạn chế những yếu tố tiêu cực với hoạt động đầu tư tài chính của mình

+ Khung pháp lý điều tiết hoạt động đầu tư tài chính của DNBH

Vai trò của các tổ chức tài chính trung gian đối với nền kinh tế là rất lớn, vì vậy Nhà nước có những biện pháp quản lý nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển của các tổ chức này Sự sụp đổ của hệ thống các ngân hàng thương mại làm nền kinh tế bị ảnh hưởng nghiêm trọng trong lịch sử cho thấy cần thiết phải có sự can thiệp của Nhà nước Khung pháp lý được coi là một công

cụ quan trọng nhằm quản lý hoạt động của các tổ chức tài chính nói chung và hoạt động của các công ty bảo hiểm nói riêng Nhân tố pháp lý ở đây bao gồm tính đồng bộ, đầy đủ, thống nhất và kịp thời của hệ thống pháp luật và cá văn bản dưới luật; đồng thời nú cũn gắn liền với trình độ dân trí và quá trình chấp hành, thi hành pháp luật

Đối với hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm, nhằm đảm bảo duy trì hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm và bảo vệ quyền lợi của người mua bảo hiểm luật pháp quy định các nguồn được dùng để đầu tư

và quy định các tài sản được phép đầu tư với những tỉ lệ nhất định Bên cạnh mục tiêu bảo vệ những người tham gia bảo hiểm, các quy định còn có tác dụng đảm bảo hoạt động của thị trường tài chính trước ảnh hưởng của các

Trang 28

doanh nghiệp bảo hiểm Do các doanh nghiệp bảo hiểm sử dụng ưu thế về quy mô để thao túng thị trường thu lợi trong hoạt động đầu tư Ngoài ra, để thực hiện những mục tiêu kinh tế xã hội, Nhà nước có thể khuyến khích đầu

tư vào một lĩnh vực, ngành nghề nhất định và hạn chế đầu tư vào những khu vực khác trong nền kinh tế thông qua khung pháp lý Tuỳ thuộc vào mức độ phát triển của thị trường vốn còng như sù lớn mạnh của các doanh nghiệp bảo hiểm mà pháp luật sẽ quy định phạm vi đầu tư vốn nhàn rỗi của doanh nghiệp bảo hiểm Ví dụ Luật kinh doanh bảo hiểm PJICO quy định các doanh nghiệp bảo hiểm chỉ được đầu tư trong phạm vi PJICO để tránh tình trạng chảy vốn

ra nước ngoài trong khi nền kinh tế trong nước đang rất cần vốn đầu tư

Tóm lại, khung pháp lý là một nhân tố ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm Với sự điều tiết của những quy định pháp lý này, doanh nghiệp bảo hiểm chỉ được hoạt động đầu tư trong một khuôn khổ nhất định chứ không được tự do như những nhà đầu tư cá nhân

+ Sù phát triển của thị trường đầu tư tài chính

Mức độ phát triển của thị trường tài chính trong nền kinh tế cũng ảnh hưởng lớn tới hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm thể hiện trên nhiều phương diện: hàng hoá đầu tư, chi phí giao dịch, các dịch vụ hỗ trợ Một thị trường phát triển sẽ cung cấp lượng hàng hoá tài sản tài chính đa dạng và phong phú hơn qua đú giỳp cho doanh nghiệp bảo hiểm dễ dàng xây dựng danh mục đầu tư phù hợp Ngoài ra, các thị trường này còn là nơi doanh nghiệp bảo hiểm tìm đến để nguồn tài trợ thanh khoản và chuyển đổi loại hình đầu tư Trong các tình huống cần đáp ứng khả năng thanh khoản, doanh nghiệp bảo hiểm có thể dễ dàng và nhanh chóng chuyển loại hình đầu tư hoặc tìm được nguồn tài trợ với chi phí thấp Ngược lại, nếu chỉ cần một trong các thị trường này yếu kém, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ bị hạn chế hơn trong việc lùa chọn công cụ đầu tư và khó có được doanh nghiệp đầu tư mong muốn, thậm chí phải hy sinh mục tiêu thu nhập để tăng dự phòng thanh toán vì chi

Trang 29

phí và thời gian tìm nguồn tài trợ cũng như chuyển đổi loại hình đầu tư là tốn kém hơn Hơn nữa với ưu thế là quy mô lớn và tính chuyên nghiệp cao, chi phí giao dịch tại các thị trường tài chính phát triển sẽ được giảm đi rất nhiều, góp phần làm tăng lợi nhuận của các hoạt động đầu tư tài chính Thứ ba là, hoạt động đầu tư trờn cỏc thị trường tài chính chưa phát triển luụn cú rủi ro cao do vấn đề thông tin không cân xứng, các dịch vụ hỗ trợ chưa phát triển, tính thanh khoản của hàng hoá thấp

Sự phát triển và mức độ cạnh tranh của thị trường bảo hiểm cũng có ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm Với một thị trường bảo hiểm phát triển, khả năng tích tụ tập trung vốn của các doanh nghiệp về khả năng thanh toán và khả năng sinh lời chính là động lực thúc đẩy hoạt động đầu tư phải đạt hiệu quả cao

+ Chính sách thuế

Thuế là một nhân tố khách quan có thể xếp cùng loại với yếu tố môi trường pháp lý song những tác động của chính sách thuế tới môi trường đầu

tư mang tính trực tiếp nên có thể coi chính sách thuế như một nhân tố độc lập

Ví dụ như, các chính sách thuế tác động tới sự lùa chọn danh mục đầu tư khi tạo sự hấp dẫn đối với những ngành nghề Nhà nước khuyến khích phát triển thông qua việc ưu đãi thuế cho ngành nghề đó Chính sách thuế thu nhập cũng ảnh hưởng tới hoạt động đầu tư tài chính, chẳng hạn việc miễn thuế thu nhập đối với các loại trái phiếu chính phủ sẽ làm tăng sức hấp dẫn đối với các loại trái phiếu này

+ Yếu tố cạnh tranh trong hoạt động đầu tư

Mặc dù là một trong những nhà đầu tư có tổ chức lớn nhất trên thị trường tài chính, các doanh nghiệp cũng vấp phải sự cạnh tranh quyết liệt trong hoạt động đầu tư tài chính Cạnh tranh là một yếu tố cơ bản của nền kinh tế thị trường nói chung và thị trường tài chính nói riêng, những người cần vốn cạnh tranh với nhau để thu hút cỏc nguồn vốn có chi phí thấp, sự ổn định cao, Ýt yêu cầu ràng buộc còn nhà đầu tư thì cạnh tranh với nhau nhằm

Trang 30

tìm được những khoản đầu tư tốt có khả năng sinh lời cao, rủi ro thấp, dễ kiểm tra giám sát Vì vậy, có thể thấy muốn thực hiện tốt hoạt động đầu tư tài chính đòi hỏi doanh nghiệp bảo hiểm phải vượt qua được sự cạnh tranh của các đối thủ trên thị trường, những tổ chức tài chính khác và cả những doanh nghiệp bảo hiểm cùng ngành bởi vậy đõy chớnh là những đối thủ cú cựng ưu thế cùng mục tiêu đầu tư.

Hơn nữa, yếu tố cạnh tranh còng mang tính tích cực khi nú giỳp cho doanh nghiệp bảo hiểm đánh giá hoạt động đầu tư của mình một cách khách quan hơn và trở thành động lực để thúc đẩy doanh nghiệp phải đổi mới và hoàn thiện hoạt động đầu tư của mình để có thể tồn tại và phát triển

+ Các yếu tố khác

Hoạt động đầu tư cũng phụ thuộc vào môi trường đầu tư trong nước và quốc tế, các biến động về kinh tế xã hội Bởi vì nhìn chung doanh nghiệp bảo hiểm khi đầu tư vào các thị trường cũng phải quan tâm tới các yếu tố chung của thị trường như các nhà đầu tư khác như tỉ lệ thu thập không rủi ro, mức bù rủi ro, tỉ lệ lợi tức yêu cầu mà những tỉ lệ này lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác Hoạt động đầu tư nói chung chịu tác động rất lớn bởi sự phát triển kinh

tế xã hội, ví dụ trong giai đoạn nền kinh tế tăng trưởng mạnh yêu cầu về khả năng sinh lời cao hơn và rủi ro cũng sẽ thấp hơn so với việc đầu tư vào nền kinh tế đang trong giai đoạn suy thoái Sự phát triển kinh tế xã hội nói chung cũng tác động tới sự phát triển của thị trường tài chính, tới khung pháp lý và gián tiếp ảnh hưởng hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm

Môi trường chính trị xã hội không những tác động đến quyết định của nhà đầu tư trong việc trả lời câu hỏi có đầu tư hay không mà còn tác động đến loại hình thời hạn và lĩnh vực đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm Trong một quốc gia mất ổn định về chính trị thì chẳng nhà đầu tư nào muốn bỏ tiền đầu

tư vào những dự án có thời gian thu hồi vốn trung và dài hạn bởi khả năng mất vốn là rất cao và ngược lại

Hoạt động đầu tư cũng chịu ảnh hưởng bởi văn hoá, phong tục tập quán của địa phương Những yếu tố này thể hiện ở thãi quen, tâm lý đầu tư, ví dụ đối với một xã hội mà trình độ dân trí chưa cao, mức thu nhập thấp thì nhìn

Trang 31

chung người dân sẽ Ýt tham gia vào hoạt động đầu tư gián tiếp làm cho thị trường tài chính kém phát triển, ngược lại đối với những quốc gia phát triển, người dân có thu nhập cao thì tất yếu sẽ nảy sinh nhu cầu đầu tư số tiền tiết kiệm và góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính.

Chương 1 đã hệ thống và làm rõ những vấn đề cơ bản về hoạt động đầu

tư tài chính của một doanh nghiệp bảo hiểm từ đó phân tích các nhân tố chủ quan và khách quan tác động tới hoạt động này Trên cơ sở những lý luận chung vừa trình bày, chương 2 sẽ đi sâu phân tích thực trạng hoạt động đầu tư tài chính tại Công ty Bảo hiểm PJICO

Trang 32

Chương 2 Thực trạng hoạt động đầu tư tài chính

tại công ty bảo hiểm PJICO

2.1 Khái quát về Công ty Bảo hiểm PJICO

2.1.1 Quá trình hình thành & phát triển của PJICO

Sau khi chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều bước phát triển mới, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày càng lớn, đặc biệt

là các doanh nghiệp nhà nước đã được giao vốn kinh doanh, tổng sản phẩm quốc nội tăng, lạm phát giảm, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, nhu cầu cho bảo hiểm ngày càng tăng Chính vì vậy, việc xoá bỏ độc quyền nhà nước trong kinh doanh bảo hiểm là rất cần thiết Nghị định 100 CP ngày18/12/1993 của chính phủ về hoạt động kinh doanh bảo hiểm cho phép nhiều doanh nghiệp bảo hiểm ra đời, đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh

tế đất nước và ổn định xã hội Tuy nhiên, hoạt động bảo hiểm mới thực sự sôi động bắt đầu từ năm 1995, khi mà hàng loạt công ty ra đời trong đó có công

ty cổ phần bảo hiểm PTROLIMEX Công ty được cấp giấy phép thành lập số

1873 GP-UB ngày 8/6/1995 của uỷ ban nhân dân thàn phố Hà Nội Đây là công ty cổ phần đầu tiên ở Việt Nam được ra đời và hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm Có thể nói rằng PJICO ra đời rất phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế đất nước, phù hợp với chủ trương đa dạng hoá hoạt động kinh doanh bảo hiểm đối với các thành phần kinh tế khuyến khích cổ phần hoỏ cỏc doanh nghiệp nhà nước Nó tăng thêm sức sống cho ngành bảo hiểmViệt Nam Sù có mặt của PJICO trong thị trường bảo hiểm Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng những người mua bảo hiểm có quyền lùa chọn mua bảo hiểm tại bất kỳ công ty nào

Người khởi xướng và lập dự án là tổng công ty xăng dầu Việt Nam Ngay từ đầu năm 1994 đã tiếp xúc với một số công ty trong lĩnh vực bảo

Trang 33

hiểm Sau gần một năm chuẩn bị PJICO cùng với các cổ đông thống nhất tiến hành thành lập công ty cổ phần bảo hiểm PETROLIMEX.

Công ty có 80% là vốn góp của các doanh nghiệp nhà nước, 20% phát hành cổ phiếu bên ngoài chủ yếu cho cán bộ công nhân viên, công ty có tên gọi chính thức là công ty cổ phần bảo hiểm PETROLIMEX, tên tiếng anh: PETROLIMEX JOIN STOCK INSURANCE COMPANY Công ty có 8 cổ đông, có số vốn lớn nhất gồm 7 cổ đông sáng lập và một cổ đông tham gia đó là:

Trong đó công ty xăng dầu là người khởi xướng có vốn góp cao nhất 51% sau

đó là liên hiệp đường sắt Việt Nam Bèn cổ đông trong 8 cổ đông là những đơn vị kinh tế lớn của Việt Nam là nguồn động lực chính thức thúc đẩy cho

sự phát triển của PJICO

PJICO Insurance

C«ng ty t¸i b¶o hiÓm quèc gia ViÖt Nam

C«ng ty vËt t­ thiÕt bÞ

an toµn- ATEXIM

C«ng ty thiÕt bÞ an toµn – A- T

Tæng c«ng ty x¨ng dÇu ViÖt

Nam - petrolimex C«ng ty ®iÖn tö HN -

Trang 34

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của PJICO

Sơ đồ bộ mỏy tổ chức

Trong những năm đầu với mục tiờu “xừy dựng, củng cố bộ mỏy hoạt động đi đụi với việc tăng cường cụng tỏc khai thỏc” Cụng ty đó ổn định tổ chức bộ mỏy trong cụng ty và thiết lập một mạng lưới chi nhỏnh hoạt động rộng khắp

cả nước như: Cỏc chi nhỏnh ở hải phũng, Thành phố Hồ Chớ Minh, Nghệ An, Quảng Bỡnh, Huế, Nha Trang, Đắc Lắc, Kiờn Giang, Đồng Nai, Tiền Giang PJICO đó xõy dựng phỏt triển được một hệ thống 200 cỏc tổng đại lý và cỏc cộng tỏc viờn bảo hiểm trong cả nước Đầu năm 1997 PJICO đó thành lập thờm 4 văn phũng đại diện trờn địa bàn Hà Nội

Lỳc mới thành lập cụng ty mới chỉ cú 35 cỏn bộ cụng nhõn viờn và hiện nay con số này đó lờn tới hơn 200 người Điều này chứng tỏ, quy mụ cụng ty ngày càng mở rộng, sản phẩm cụng ty được thị trường chấp nhận Đa số cỏc

Chi nhánh và các văn phòng đại diện

P.KD chứng

khoán

Trang 35

cán bộ công nhân viên có trình độ đại học chuyên ngành như bảo hiểm, ngoại thương, luật…cú nhiều người có 2,3 bằng đại học đã từng làm việc nhiều năm trong lĩnh vực bảo hiểm Đõy chớnh là nội lực quan trọng, là yếu tố tạo nên chất lượng phục vụ đưa hình ảnh của PJICO trở nên gần gũi quen thuộc với mọi người.

PJICO không ngừng lớn mạnh đã chiếm được niềm tin thực sự trong tâm trí khách hàng Công ty PJICO đã không ngừng nỗ lực nâng cao chất lượng và

đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ, hiện đại hóa các cơ sở vật chất kỹ thuật

để trở thành địa chỉ tin cậy của khách hàng trong cả nước.Là Công ty cổ phần bảo hiểm đầu tiên ra đời tại Việt Nam, kể từ khi thành lập đến nay Công ty PJICO là công ty đứng hàng thứ 3 trên thị trường Việt Nam về bảo

hiểm phi nhân thọ với phương châm hoạt động : “ Thực hiện đầy đủ những

gì chúng tôi cam kết ”

2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của PJICO

Kết quả hoạt động kinh doanh của PJICO được thể hiện trong bảng sau:Bảng 1 Kết quả hoạt động kinh doanh của PJICO (2002-2005)

* Tổng doanh thu thuần (total net revenues) đã trừ đi chi phí nhượng tái bảo hiểm

Trang 36

Mặc dù trong giai đoạn 2001 - 2005 thị trường bảo hiểm Việt Nam có những khó khăn, PJICO đã thực hiện việc tổ chức lại hoạt động bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ, nhưng kết quả kinh doanh PJICO liên tục tăng trưởng và đạt hiệu quả cao Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu bình quân đạt xấp xỉ 30% Năm 2000, tổng doanh thu kinh doanh của PJICO đạt 1832 tỷ đồng thì đến năm 2005 tổng doanh thu kinh doanh đã đạt 5656 tỷ đồng, tức là gấp 3 lần năm 2000

Trang 37

Chuyên đê thực tập tốt nghiệp Nguyễn Mạnh Cường - TTCK-K44

Năm 2003, tổng doanh thu (bao gồm cả phí nhượng tái bảo hiểm) đạt 4.929 tỷ đồng tăng trưởng 27,4% so với năm 2002 Trong đó, doanh thu bảo hiểm phi nhân thọ đạt 1.617 tỷ tăng trưởng 33,2%; doanh thu hoạt động tài chính đạt 512 tỷ tăng trưởng 36,2%; doanh thu nhận tái bảo hiểm đạt 55 tỷ đồng tăng 43,1%, doanh thu khác đạt 72,8 tỷ đồng Năm 2005, tổng doanh thu kinh doanh của PJICO đạt hơn 5656 tỷ đồng, tăng 16,3% so với năm 2004 Ước tính cả năm 2005, PJICO đạt doanh thu bảo hiểm gốc trong lĩnh vực phi nhân thọ là 1862 tỷ đồng Trong tổng doanh thu kinh doanh của PJICO năm

2005, doanh thu từ hoạt động đầu tư tài chính tăng trưởng mạnh nhất (tăng tới 49%), doanh thu từ biện pháp phi nhân thọ tăng 15,8%, bảo hiểm nhân thọ tăng 13,7%

0 1000000

Trang 38

Doanh thu phí bảo hiểm liên tục tăng trưởng cao trong nhiều năm qua với tổng số phí bảo hiểm gốc thu được trong giai đoạn 1993 - 2004 lên tới 23,322

tỷ đồng Cho đến nay, PJICO vẫn là doanh nghiệp bảo hiểm có quy mô lớn trên thị trường bảo hiểm Việt Nam trên lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ

Tuy thị phần của PJICO liên tục giảm qua các năm nhưng do quy mô ngày càng lớn nên thực chất số tuyệt đối vẫn tăng đều qua các năm Hơn nữa trong quá trình hội nhập với kinh tế toàn cầu, sự xuất hiện của nhiều công ty bảo hiểm mới làm cho mức độ cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm Việt Nam ngày càng khốc liệt

Về hiệu quả kinh doanh, lợi nhuận trước thuế của PJICO đạt tốc độ tăng trưởng ổn định, tốc độ tăng trung bình từ năm 2001 đến nay đạt khoảng 25%/năm Năm 2005 lợi nhuận trước thuế đạt 224,7 tỷ đồng tăng trưởng 18,5% so với năm 2004

Biểu đồ 2 Lợi nhuận trước thuế của PJICO (1999 - 2005)

Những kết quả trên cho thấy, nhìn tổng thể PJICO đã đạt được cả hai mục tiêu "tăng trưởng và hiệu quả" đã đề ra Năm 2004, bên cạnh thực hiện tốt mục tiêu "tăng trưởng và hiệu quả" PJICO còn tập trung thực hiện mục tiêu "đổi mới" nhằm cung cấp cho khách hàng các sản phẩm và dịch vụ đạt trình độ quốc tế Theo định hướng phát triển của PJICO, năm 2005 , tổng nguồn vốn đầu tư của toàn công ty vào năm 2005 dự kiến sẽ vượt con sè 10.700 tỷ đồng Dự kiến tốc độ tăng doanh thu đạt khoảng trên 850 tỷ đồng,

Trang 39

nâng tỷ trọng đầu tư trung, dài hạn lên xấp sỉ 80% tổng nguồn vốn Trong năm 2006, PJICO đã đặt mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận 5,2% và doanh thu tăng 13% so với năm 2005

2.2 Thực trạng hoạt động đầu tư tàI chính tại công ty BH PJICO

2.2.1 Thực trạng hoạt động đầu tư tại PJICO

- Cơ sở đầu tư của PJICO

Về nguồn vốn đầu tư, PJICO thực hiện chính sách tập trung nguồn vốn nhàn rỗi của Công ty để thực hiện đầu tư tại Trung tâm Đầu tư Nguồn vốn đầu tư bao gồm: Vốn chủ sở hữu nhàn rỗi, vốn nhàn rỗi từ quỹ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm của các đơn vị thành viên hạch toán độc lập và vốn đầu tư khác Công ty quy định hạn mức tối đa trên tài khoản thanh toán của các đơn vị thành viên tuỳ theo doanh thu Khi số dư trên tài khoản thanh toán của đơn vị nào vượt quá hạn mức thì đơn vị đó phải chuyển số vượt mức về tài khoản của trụ sở chính

Quy chế đầu tư vốn cũng quy định lĩnh vực và hạn mức đầu tư, về quy chế tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm PJICO cũng thực hiện chính sách phân cấp thẩm quyền ra quyết định đầu tư, theo đó tuỳ thuộc vào quy mô và tính chất của dự án, khoản đầu tư và mức độ tham gia đầu tư của PJICO mà thẩm quyền ra quyết định đầu tư thuộc về Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc hay Trung tâm Đầu tư

Hiện tại, trong việc sử dụng các nguồn vốn từ các hoạt động bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ, phương châm của PJICO là "Bảo toàn và phát triển nguồn vốn" coi "đầu tư an toàn" là mục tiêu cao nhất sau đó là phát triển nguồn vốn hiệu quả Đối với các hoạt động đầu tư cụ thể, PJICO duy trì chính sách thực hiện và quản lý tập trung danh mục đầu tư tại Trung tâm Đầu tư kết hợp giao nhiệm vụ giám sát các dự án đầu tư trực tiếp vì vậy trên thực tế, hoạt động đầu tư của PJICO chỉ tập trung vào đầu tư tài chính Các dự án góp vốn liên doanh về hình thức là đầu tư trực tiếp nhưng thực tế PJICO chỉ đầu tư

Trang 40

dưới dạng mua cổ phần và cử người theo dõi, việc này được giao cho lãnh đạo Công ty hoặc chuyên viên tài chính đại diện chủ sở hữu và giám sát quá trình thực hiện, chứ không tham gia quản lý hoạt động kinh doanh

- Tỷ trọng các nguồn vốn đầu tư của PJICO

+ Thực trạng nguồn hình thành vốn đầu tư của PJICO.

Nguồn hình thành vốn đầu tư chủ yếu từ vốn chủ sở hữu nhàn rỗi và vốn nhàn rỗi từ quỹ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm bao gồm: Vốn điều lệ, quỹ

dự trữ bắt buộc, quỹ dự trữ tự nguyện, các khoản lãi của những năm trước chưa sử dụng và các quỹ được sử dụng để đầu tư hình thành từ lợi tức để lại doanh nghiệp, nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm Trên thực tế nguồn hình thành vốn đầu tư chủ yếu là từ quỹ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm do tỉ lệ vốn chủ sở hữu nhàn rỗi là khá thấp (thường là dưới dạng các quỹ trong bảng cân đối kế toán), còn lại là nguồn vốn kinh doanh Ýt khi được sử dụng để đầu tư Từ biểu đồ 3 và bảng 2, ta có thể thấy tỷ trọng của vốn chủ sở hữu chỉ chiếm khoảng xấp xỉ 20% và có xu hướng ngày càng

giảm

Biểu đồ 3 Tỷ trọng các nguồn hình thành vốn đầu tư của PJICO

Trong giai đoạn 2000 - 2005, sự tăng trưởng ổn định của doanh thu và lợi nhuận làm vốn chủ sở hữu của PJICO tăng nhanh từ 792 tỷ đồng năm

2000 lên 1634 tỷ đồng năm 2004 Như trờn đã trình bày, nguồn hình thành vốn đầu tư chủ yếu là từ các khoản dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm, vì vậy ta sẽ tập trung phân tích nguồn vốn này Do hoạt động khai thác thị trường tăng

0 20 40 60 80 100

2002 2003 2004 2005

Vçn chñ së h÷u C¸c kho¶n dù phßng b¶o hiÓm

Ngày đăng: 09/11/2015, 10:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ bộ máy tổ chức - Thực trạng hoạt động đầu tư tài chính của công ty bảo hiểm PJICO
Sơ đồ b ộ máy tổ chức (Trang 34)
Bảng 2. Tổng nguồn hình thành vốn đầu tư của PJICO (2003 - 2005) - Thực trạng hoạt động đầu tư tài chính của công ty bảo hiểm PJICO
Bảng 2. Tổng nguồn hình thành vốn đầu tư của PJICO (2003 - 2005) (Trang 41)
Bảng 3. Hiệu suất sử dụng vốn đầu tư của PJICO (2001 - 2005) - Thực trạng hoạt động đầu tư tài chính của công ty bảo hiểm PJICO
Bảng 3. Hiệu suất sử dụng vốn đầu tư của PJICO (2001 - 2005) (Trang 43)
Bảng 6. Cơ cấu đầu tư theo tài sản của PJICO - Thực trạng hoạt động đầu tư tài chính của công ty bảo hiểm PJICO
Bảng 6. Cơ cấu đầu tư theo tài sản của PJICO (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w