ODA VÀ VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN NÀY ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM1.1 TỔNG QUAN VỀ ODA ODA hay “hỗ trợ phát triển chính thức” là một dòng vốn chảy từ cácnước đang phát triển hay các
Trang 1Phân tích tình hình thu hút và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA ở Việt Nam trong thời gian vừa qua
Phạm Lê Thông 1 Phạm Văn Tuấn 4104650
3 Nguyễn Thanh Hòa B100032
4 Nguyễn Thị Ngọc Tiên 2065526 5.Nguyễn Hồ Tường Huy 1066275 6.Nguyễn Thị Thảo Duyên 4084240
Cần Thơ-2012
Trang 21 ODA VÀ VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN NÀY ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM
1.1 TỔNG QUAN VỀ ODA
ODA hay “hỗ trợ phát triển chính thức” là một dòng vốn chảy từ cácnước đang phát triển hay các tổ chức đa phương đến các nước đang phát triển.Trong quá trình phát triển của ODA đã cho thấy sự phát triển của cả về quy môcũng như tính hiệu quả trong hoạt động chuyển giao và tiếp nhận ODA.Mục tiêucủa ODA là phát triển kinh tế-xã hội Cùng với mục tiêu này ODA đã đóng vaitrò to lớn trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội ở các nước đang phát triểntrong đó có cả Việt Nam
Kể từ khi bắt đầu tiếp nhận ODA đến nay, Việt Nam đã nhận được sự
hỗ trợ tích cực của cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế đối với công cuộc phát triểnkinh tế xã hội Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA đã đóng vai trò quantrọng, góp phần giúp Việt Nam nâng cao cơ sở hạ tầng, đạt được tăng trưởngkinh tế cao,giúp xoá đói giảm nghèo và cải thiện đời sống nhân dân Để hiểuđược vai trò của nguồn vốn này đối với quá trình phát triển kinh tế ở Việt Namtrong thời gian qua và hiểu được những thách thức đặt ra cũng như qua đó đề ragiải pháp phù hợp chúng tôi đã thực hiện bài báo cáo này
1.1.1 Lịch sử hình thành ODA
Sau đại chiến thế giới thứ II các nước công nghiệp phát triển đã thoả thuận
về sự trợ giúp dưới dạng viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với điều kiệm ưuđãi cho các nước đang phát triển Tổ chức tài chính quốc tế WB( Ngân hàng thếgiới) đã được thành lập tại hội nghị về tài chính- tiền tệ tổ chức tháng 7 năm
1944 tại Bretton Woods( Mỹ) với mục tiêu là thúc đẩy phát triển kinh tế và tăngtrưởng phúc lợi của các nước với tư cách như là một tổ chức trung gian về tàichính, một ngân hàng thực sự với hoạt động chủ yếu là đi vay theo các điều kiệnthương mại bằng cách phát hành trái phiếu để rồi cho vay tài trợ đầu tư tại cácnước
Trang 3Tiếp đó một sự kiện quan trọng đã diễn ra đó là tháng 12 năm 1960 tạiPari các nước đã ký thoả thuận thành lập tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển(OECD) Tổ chức này bao gồm 20 thành viên ban đầu đã đóng góp phần quantrọng nhất trong việc dung cấp ODA song phương cũng như đa phương Trongkhuôn khổ hợp tác phát triển , các nước OECD (tổ chức hợp tác kinh tế và pháttriển) đã lập ra các uỷ ban chuyên môn trong đó có ủy ban hỗ trợ phát triển (DAC) nhằm giúp các nước đang phát triển phát triển kinh tế và nâng cao hiệuquả đầu tư.
1.1.2 Khái niệm ODA
Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là viết tắt của cụm từ OfficialDevelopment Assistance, là một hình thức đầu tư nước ngoài hoặc là tất cả cáckhoản hỗ trợ không hoàn lại và các khoản tín dụng ưu đãi Gọi là “hỗ trợ” bởi vìcác khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suấtthấp với thời gian vay dài thuộc hệ thống Liệp Hợp Quốc,các tổ chức (IMF,ADB, WB ) hoặc các tổ chức phi chính phủ đôi khi còn gọi là viện trợ Gọi là
“phát triển” vì mục tiêu danh nghĩa của các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế
và nâng cao phúc lợi ở nước được đầu tư Gọi là “chính thức”, vì nó thường làcho Nhà nước vay
Nội dung viện trợ ODA gồm:
- ODA do các nước tài trợ cho một nước nhưng không hoàn lại hay choluôn (grant) thực hiện các chương trình hoặc dự án theo sự thỏa thuậngiữa 2 bên thường được thực hiện dưới các dạng hỗ trợ kỹ thuật hoặcviện trợ bằng hiện vật
- ODA do các nước tài trợ hay nói đúng hơn là cho vay (lending) tùy theomột quy mô và mục đích đầu tư mà có lãi suất ưu đãi và thời gian trả nợthích hợp nhưng khác với các khoản vay khác là hình thức này cho vayvới lãi suất thấp (tuỳ thuộc vào mục tiêu vay và nước vay) thời gian ân
Trang 4hạn và trả rất dài (khoảng thời gian ân hạn là 10- 12 năm, còn thời giantrả là từ 20-30 năm).
- ODA cho vay hỗn hợp là loại ODA kết hợp hai dạng trên, bao gồm mộtphần không hoàn lại và tín dụng ưu đãi theo các điều kiện của tổ chứchợp tác kinh tế và phát triển (OECD)
Có hai hình thức tài trợ chính là: Viện trợ song phương và đa phương
- Viện trợ song phương: là do chính phủ nước này tài trợ cho chính phủnước kia thông qua hiệp định ký kết giữa hai chính phủ
- Viện trợ đa phương: là hình thức viện trợ chính thức do các tổ chức quốc
tế tài trợ như quỹ tiền tệ (IMF), ngân hàng thế giới (WB) hay tổ chức khuvực như ngân hàng phát triển châu Á (ADB), liên minh châu âu (EU).hoặc của một quốc gia cho một quốc gia nào đó được thực hiện thôngqua các tổ chức quốc tế và phi chính phủ
Hình thức viện trợ ODA: Theo mục đích và cách tiếp nhận ODA được thựchiện thông qua 4 hình thức sau :
- Hỗ trợ cán cân thanh toán nghĩa là các nước phát triển có thể viện trợbằng tiền mặt để các nước đang phát triển thực hiện dự án hoặc hỗ trợdưới hình thức hàng hóa nhập khẩu, hàng hóa từ các nước viện trợ nhậpkhẩu vào được bán ra trên thị trường trong nước và số thu nhập bằng bản
tệ được đưa vào ngân sách chính phủ
- Tín dụng thương mại: Đây là một hình thức cho vay nhưng thời gian ânhạn và thời gian trả dài, lãi suất thấp trên thực tế là một dạng hàng hóa córàng buộc
- Viện trợ chương trình (gọi tắt là viện trợ phi dự án): là hình thức hai bênviện trợ và tiếp nhận viện trợ kí kết hiệp định, theo đó bên viện trợ sẽcung cấp một số vốn ODA nhất định cho bên tiếp nhận viện trợ để bêntiếp nhận sẽ thực hiện một mục đích tổng quát mà không phải xác địnhchính xác nó sẽ được sử dụng như thế nào
Trang 5- Hỗ trợ dự án cơ sở hạ tầng và kỹ thuật: là hình thức chủ yếu của viện trợchính thức, bên viện trợ có thể hỗ trợ kĩ thuật như chuyên gia tư vấn haychuyển giao kĩ thuật,tri thức và quan trọng nhất là đạo tạo về phân tíchkinh tế, quản lý, thống kê, thương mại, hành chính nhà nước, các vấn đề
xã hội
1.1.3 Đặc điểm của ODA
ODA là các khoản viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại hoặc tíndụng ưu đãi Do vậy, ODA có những đặc điểm chủ yếu sau:
Vốn ODA mang tính ưu đãi
Vốn ODA có thời gian cho vay,ân hạn dài ví dụ như vốn ODA của
WB(Ngân hàng Thế Giới),ADB(Ngân hàng phát triển châu Á),JBIC(Ngân hànghợp tác Quốc tế Nhật Bản) có thời gian hoàn trả 40 năm và ân hạn 10 là nămThông thường,trong ODA có yếu tố không hoàn lại được xác định dựa vào thờigian cho vay,ân hạn và so sánh lãi suất viện trợ và tín dụng thương mại và đâycũng là điểm phân biệt viện trợ và cho vay thương mại.Sự ưu đãi ở đây thể hiện ởchỗ vốn ODA chỉ dành riêng cho các nước đang và chậm phát triển, vì mục tiêuphát triển và là để so sánh với tập quán thương mại quốc tế Có hai điều kiện cơbản nhất để các nước đang và chậm phát triển có thể nhận được ODA là:
+ Điều kiện thứ nhất: Tổng sản phẩm quốc nội( GDP) bình quân đầungười thấp Nước có GDP bình quân đầu người càng thấp thì thường được tỷ lệviện trợ không hoàn lại của ODA càng lớn và khả năng vay với lãi suất thấp vàthời hạn ưu đãi càng lớn
+ Điều kiện thứ hai: Mục tiêu sử dụng vốn ODA của các nước này phảiphù hợp với chính sách và phương hướng ưu tiên xem xét trong mối quan hệgiữa bên cấp và bên nhận ODA Thông thường các nước cung cấp ODA đều cónhững chính sách và ưu tiên riêng của mình, tập trung vào một số lĩnh vực mà họquan tâm hay có khả năng kỹ thuật và tư vấn Đồng thời, đối tượng ưu tiên củacác nước cung cấp ODA cũng có thể thay đổi theo từng giai đoạn cụ thể Vì vậy,
Trang 6nắm bắt được xu hướng ưu tiên và tiềm năng của các nước, các tổ chức cung cấpODA là rất cần thiết.
Vốn ODA mang tính ràng buộc:
ODA có thể ràng buộc ( hoặc ràng buộc một phần hoặc không ràng buộc)nước nhận về địa điểm chi tiêu Ngoài ra mỗi nước cung cấp viện trợ cũng đều cónhững ràng buộc khác và nhiều khi các ràng buộc này rất chặt chẽ đối với nướcnhận Ví dụ, Nhật Bản quy định vốn ODA của Nhật đều được thực hiện bằngđồng Yên Nhật
Vốn ODA mang yếu tố chính trị:
Các nước viện trợ nói chung đều không quên dành được lợi ích cho mìnhvừa gây ảnh hưởng chính trị vừa thực hiện xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tư vấnvào nước tiếp nhận viện trợ Chẳng hạn, Bỉ, Đức và Đan Mạch yêu cầu khoảng50% viện trợ phải mua hàng hoá dịch vụ của nước mình Canada yêu cầu tới65% Nhìn chung 22% viện trợ của DAC(có ủy ban hỗ trợ phát triển) phải được
sử dụng để mua hàng hoá và dịch vụ của các quốc gia viện trợ
ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ:
Khi tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA do tính chất ưu đãi nên gánhnặng nợ thường chưa xuất hiện Một số nước do không sử dụng hiệu quả ODA
có thể tạo nên sự tăng trưởng nhất thời nhưng sau một thời gian lại lâm vào vòng
nợ nần do không có khả năng trả nợ Vấn đề là ở chỗ vốn ODA không có khảnăng đầu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu trong khi việc trả nợ lạidựa vào xuất khẩu thu ngoại tệ Do đó, trong khi hoạch định chính sách sử dụngODA phải phối hợp với các nguồn vốn để tăng cường sức mạnh kinh tế và khảnăng xuất khẩu
1.1.4 Vai trò của ODA
Trang 7Đối với nước xuất khẩu vốn:
Viện trợ song phương tạo điều kiện cho các công ty của bên cung cấphoạt động thuận lợi hơn tại các nước nhận viện trợ một cách gián tiếp Cùngvới sự gia tăng của vốn ODA, các dự án đầu tư của những nước viện trợ cũngtăng theo với những điều kiện thuận lợi, đồng thời kéo theo sự gia tăng vềbuôn bán giữa hai quốc gia Ngoài ra, nước viện trợ còn đạt được những mụcđích về chính trị, ảnh hưởng của họ về mặt kinh tế - văn hoá đối với nướcnhận cũng sẽ tăng lên Nguồn ODA đa phương mặc dù cũng có ưu điểm giúpcác nước tiếp nhận khôi phục và phát triển kinh tế, nhưng nó cũng có mặt tiêucực ở chỗ dễ tạo ra nạn tham nhũng trong các quan chức Chính phủ hoặcphân phối giàu nghèo trong các tầng lớp dân chúng nếu không có nhữngchính sách kiểm soát và quản lý chặt chẽ việc sử dụng nguồn vốn này trongnước Điều nguy hiểm nhất có thể xảy ra của viện trợ ODA là các nước cungcấp không nhằm cải tạo nền kinh tế - xã hội của nước đang phát triển mànhằm vào các mục đích quân sự
Đối với các nước tiếp nhận đặc biệt là phát triển kinh tế xã hội ViệtNam:
Xuất phát từ kinh nghiệm của các nước trong khu vực và từ tình hình thực
tế trong nước, trong những năm gần đây Việt Nam đã và đang thực hiện chiếnlược phát triển kinh tế với xu hướng mở rộng và đa dạng hoá các mối quan hệkinh tế quốc tế Một trong những mục tiêu chính trong chiến lược này là thuhút ODA cho phát triển kinh tế Vai trò của ODA được thể hiện ở một sốđiểm chủ yếu sau:
+ ODA là nguồn bổ sung vốn quan trọng cho đầu tư và phát triển
+ ODA giúp cho việc tiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ
+ ODA giúp cho việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế
+ ODA góp phần tăng khả năng thu hút FDI và tạo điều kiện để mở rộng đầu
tư phát triển
Trang 82.THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC TRONG THỜI GIAN VỪA QUA
2.1 Tổng quan về tình hình huy động và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức nói chung tại Việt Nam
Hỗ trợ phát triển chính thức đã có lịch sử từ lâu, hơn nửa thế kỉ nay nó phản ánhmột trong những mối quan hệ giữa các nước phát triển hoặc các tổ chức với cácnước đang phát triển thông qua hình thức viện trợ bằng tiền mặt hay sản phẩm,hàng hóa, dịch vụ cho các nước đang phát triển nhằm giúp các nước này pháttriển, góp phần xóa đói giảm nghèo, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội ở cácnước này Tuy nhiên nguồn vốn ODA có hai mặt, thực tế sử dụng ODA cho thấynếu các nước nhận viện trợ sử dụng hợp lí, không để xảy ra tình trạng thất thoát,tham nhũng, lãng phí thì sẽ giúp cho các nước này, nó không phải luôn có hiệuquả đối với bất kì quốc gia, bất kì vùng lãnh thổ nào, ngược lại nó có thể để lạigánh nặng nợ nần khó trả Từ sau đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 với chủtrương đổi mới đất nước, Đảng và Nhà Nước ta đã thực hiện chính sách đối ngoại
mở rộng, mở của giao lưu với nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, vượtqua những khó khăn và thách thức Việt Nam đã từng bước phá vỡ thế bao vâycấm vận, mở rộng các mối quan hệ hợp tác với các nước Kết quả là vị thế củanước ta trên trường quốc tế cũng đã thay đổi Năm 1995 Việt Nam gia nhập hiệphội các quốc gia Đông Nam Á, năm 2007 trở thành thành viên của tổ chức
thương mại thế giới WTO, tham gia các hoạt động kinh tế, góp phần thúc đẩytăng trưởng phát triển kinh tế khu vực, chuyển dịch cơ cấu kinh tế tạo đà cho cácbước phát triển tiếp theo trong thời kì mới Kể từ khi Việt Nam nối lại quan hệvới các nhà tài trợ đa phương và song phương sau một thời gian ngừng cung cấpcác chương trình, dự án viện trợ ( trừ một số Bắc Âu) Trong thời kì 1993-2008(tính đến hết tháng 10 năm 2008) tổng vốn ODA cam kết giải ngân đạt 22,065 tỷUSD , chiếm 52% tổng vốn ODA cam kết, và 62,65% tổng vốn ODA cam kết vàtính đến hết năm 2011, có khoảng 33,414 tỷ USD vốn ODA cho Việt Nam được
Trang 9giải ngân, chiếm 61% tổng vốn ODA đã ký kết Mức giải ngân này vẫn chưa đạtmục tiêu đề ra trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm và tỷ lệ giải ngânvẫn còn thấp hơn mức trung bình của thế giới và khu vực đối với một số nhà tàitrợ cụ thể.
Bảng 1: Tình hình cam kết, giải ngân ODA giai đoạn 1993-2011
Năm Cam kết ODA
(triệu USD)
Ký kết(triệu USD)
Giải ngân ODA(triệu USD)
Trang 10Đồ thị 1: Cam kết, Ký kết và giải ngân ODA giai đoạn 1993-2011
Trang 11Bảng 2: So sánh cam kết, ký kết và giải ngân ODA giữa các kỳ
Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư
Tình hình giải ngân là biểu hiện bước đầu hiệu quả của nguồn vốn ODA.Tổng mức giải ngân đã tăng đều từ 0,413 tỷ USD năm 1993 đến 1,350 tỷ USDnăm 1999.Số vốn ODA cam kết nói trên được giải ngân dựa trên tình hình thựchiện các chương trình và dự án được ký kết giữa Chính phủ và các nhà tài trợ Từnăm 1993 tính đến hết tháng 10 năm 2008, Chính phủ Việt Nam và các nhà tàitrợ đã ký các điều ước quốc tế cụ thể về ODA với tổng số vốn đạt 35,217 tỷUSD, chiếm 82,98% tổng vốn ODA cam kết trong thời kỳ này, trong đó vốnODA vay ưu đãi chiếm khoảng 80%, vốn ODA không hoàn lại chiếm khoảng20% Giải ngân vốn ODA năm 2011 ước tính đạt 3,65 tỷ USD cao hơn con số3,541 tỷ USD của năm 2010 bao gồm:vốn ODA vay ưu đãi chiếm khoảng 87%,vốn ODA không hoàn lại chiếm 13%
2.1.1 Các nhà tài trợ và lĩnh vực ưu tiên tài trợ cho Việt Nam
Trên thế giới hiện nay có 4 nguồn cung cấp ODA chủ yếu là: Các nướcthành viên của DAC; Liên Xô cũ và các nước Đông Âu; Một số nước arập vàmột số nước đang phát triển Trong các nguồn này ODA từ các nước thành viênDAC là lớn nhất Bên cạnh ODA từ các quốc gia thì ODA từ các tổ chức viện trợ
đa phương cũng chiếm một khối lượng lớn trong đó bao gồm: Các tổ chức thuộc
Trang 12hệ thống Liên hợp quốc, Liên minh châu âu(EU), các tổ chức phi chínhphủ(NGO), các tổ chức tài chính quốc tế( WB, ADB, IMF)…
Đối với Việt Nam trước năm 1993 nguồn viện trợ chủ yếu từ Liên Xô vàcác nước Đông Âu nhưng kể từ khi nối lại quan hệ với cộng đồng các nhà tài trợquốc tế năm 1993 thì cho đến nay tại Việt Nam có trên 45 tổ chức tài trợ chínhthức đang hoạt động với khoảng 1500 dự án ODA và trên 350 tổ chức phi chínhphủ đang có tài trợ cho Việt Nam
Sau đây là các lĩnh vực ưu tiên chủ yếu của một số nhà tài trợ lớn dànhcho Việt Nam:
Nhà tài trợ Ưu tiên toàn cầu Ưu tiên ở Việt Nam
Mỹ Tăng trưởng kinh tế; ổn
Trang 13Anh Nhiều lĩnh vực Xoá đói giảm nghèo;
GTVT
WB Thúc đẩy phát triển kinh
tế & tăng phúc lợi
Xoá đói giảm nghèo;
GTVT
IMF
Cân bằng về mậu dịchquốc tế; ổn định tỷ giá
hối đoái
Hỗ trợ cán cân thanhtoán& điều chỉnh cơ cấu
Canađa Cơ sở hạ tầng; phát triển
khu vực tư nhân
Hỗ trợ kinh tế & tàichính; hỗ trợ thiết chế &
quản lý
2.1.2 Tình hình phân bổ ODA theo vùng kinh tế
Sự phân bố nguồn vốn ODA giữa các vùng miền, giữa Trung ương và địaphương mặc dù đã có những cải thiện nhất định song vẫn chưa đáp ứng yêu cầu
đặt ra mặt khác tình hình phân bổ vốn ODA vẫn còn chưa đồng đều và gặp phải
nhiều vướng mắc về thủ tục hành chính cũng như nạn quan liêu còn nhức nhối tại
Trang 14Nguồn :Tổng Cục Thống Kê năm 2008
Trong thời gian qua đã có 1 số chương trình, dự án ODA đã thực hiện xong vàhiện đang phát huy tác dụng tích cực trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hộiViệt Nam như nhà máy điện tử dụng khí thiên thiên phú Mỹ 2 - giai đoạn 1,nhiều bệnh viện ở các thành phố, các trường học đã được cải tạo và nângcấp.Nguồn ODA cũng đã hỗ trợ tăng cường năng lực phát triển thể chế cho nhiềulĩnh vực quan trọng như tài chính, ngân hàng Đối với nhiều chương trình, dự ánODA đã thực hiện phương thức đấu thầu cạnh tranh quốc tế, do đó cơ quanhưởng thụ Việt Nam đã lựa chọn được các công ty thực hiện dự án vừa đáp ứngđược yêu cầu kỹ thuật và công nghệ, vừa tiết kiệm được vốn vay
Trang 152.1.3 Tình hình thu hút và sử dụng ODA giai đoạn 1993-2006
Để sử dụng nguồn vốn ODA đã cam kết, từ năm 1993-2001 chính phủ ViệtNam đã kí kết với các nhà tài trợ các điều ước quốc tế cụ thể về ODA trị giá14,72 tỷ USD, đạt khoảng 73,8% vốn ODA đã cam kết tính đến hết năm2001,trong đó ODA vốn vay khoảng 12,35 tỷ USD (84%), và ODA vốn viện trợkhông hoàn lại khoảng 2,37 tỷ USD (16%)
Tình hình thực hiện đã có bước tiến triển khá, năm sau cao hơn năm trước Từnăm 1993 tới hết năm 2001 vốn ODA giải ngân khoảng 9.5 tỷ USD, tương đương54% tổng nguồn vốn ODA cam kết
BẢNG 3:So sánh tình hình cam kết, giải ngân ODA giai đoạn 1993-2006
Năm Cam kết ODA
(triệu USD)
Ký kết (triệu USD)
Giải ngân ODA (triệu USD)
Trang 16Nguồn vốn ODA đã được tập trung vào phát triển kinh tế – xã hội ưu tiên củachính phủ Năm lĩnh vực ưu tiên thu hút và sử dụng ODA thời kì 2001-2006 baogồm:
+ Phát triển nông nghiệp và nông thôn kết hợp xóa đói giảm nghèo (15,66%)+ Năng lượng và công nghiệp (21,78%)
+ Giao thông vận tải và bưu chính viễn thông (28,06%)
+ Cấp, thoát nước và phát triển đô thị (9,17%)
+ Y tế, giáo dục và đào tạo (8,90%)
+ Môi trường, khoa học và kỹ thuật (3,32%)
Năng lượng và công nghiệp Giao thông vận tải và bưu chính viễn thông Cấp, thoát nước và phát triển đô thị
Y tế, giáo dục và đào tạo Môi trường, khoa học và kỹ thuật
Các ngành khác