Trong pháp luật Việt Nam, khái niệm lâm vào tình trạng phá sản lần đầu tiênđược ghi nhận ở Luật công ty 1990, theo đó thì “công ty gặp khó khăn hoặc bịthua lỗ trong hoạt động kinh doanh
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU.
Trên thế giới, ở các quốc gia có nền thị trường phát triển, phá sản được coi
là hiện tượng bình thường ở bất kì doanh nghiệp nào đang hoạt động Hiện nay,trong nền kinh tế thị trường của Việt Nam, hiện tượng này cũng đang dần trở nênphổ biến Đây là xu thế tất yếu, khách quan của quá trình cạnh tranh, quá trình đàothải và sự chọn lọc tự nhiên: các chủ thể làm ăn thua lỗ, kém hiệu quả tất yếu phảichấm dứt sự tồn tại của mình qua việc bị tuyên bố phá sản và đương nhiên, chỉ cócác chủ thể kinh doanh hoạt động thực sự có hiệu quả mới có thể tiếp tục tồn tạitrong nền kinh tế thị trường ngày nay Phá sản đã góp phần làm lành mạnh hóa thịtrường, cơ cấu lại nền kinh tế, làm cho kinh tế thị trường trở nên đúng với bản chấtcủa nó hơn Tuy nhiên phá sản là một vấn đề từ lý luận đến thực tiễn là một quátrình tìm hiểu và nghiên cứu bởi khi một doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản nó sẽảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế và đặc biệt là quyền lợi của người lao động ítnhiều sẽ bị xáo trộn như tiền lương, các chế độ, việc làm và các vấn đề tiêu cựcphát sinh và các khoản nợ của doanh nghiệp và hợp tác xã
Khi một doanh nghiệp, hợp tác xã bị lâm vào tình trạng phá sản đã làm nảysinh nhiều mối quan hệ phức tạp cần được giải quyết Chẳng những quan hệ nợnần giữa các chủ nợ với doanh nghiệp mắc nợ, quan hệ giữa doanh nghiệp mắc nợvới người lao động do tình trạng mất khả năng thanh toán nợ gây ra Vì vậy việcgiải quyết kịp thời các vấn đề đó có ý nghĩa rất quan trọng nhằm thiết lập một trật
tự cần thiết để thúc đẩy sự phát triển kinh tế đồng thời đảm bảo quyền chủ thể củacác mối quan hệ hay các bên liên quan
Đối với nước ta việc phá sản vẫn là một vấn đề mới mẻ Cho nên thực tiễn giảiquyết phá sản của nước ta trong thời gian qua còn gặp rất nhiều khó khăn, vướngmắc Vì vậy mà việc tìm hiểu về những việc làm của doanh nghiệp, hợp tác xãtrước khi lâm vào tình trạng phá sản là một vấn đề quá sâu rộng mà không thể nàogiải quyết ngay trong ngày một ngày hai được mà đó là cả một quá trình nghiêncứu, tìm tòi và đưa ra những giải pháp hữu hiệu nhất để các doanh nghiệp có thêmnhiều cơ hội cải thiện tình hình của doanh nghiệp mình, đưa doanh nghiệp mìnhthoát khỏi tình trạng đứng trước nguy cơ phá sản, giúp họ lập lại cân bằng, đưadoanh nghiệp đi vào hoạt động bình thường trở lại Chính vì thế mà luật phá sản
đã đặt ra những quy định riêng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có cơ hội phụchồi hoạt động kinh doanh của mình, quay trở lại kinh doanh bình thường khôngphải tuyên bố phá sản Trước những yêu cầu mới của nền kinh tế thị trường, việcquy định chặt chẽ và cụ thể về pháp luật phá sản càng trở nên cấp thiết Vì vậy,chúng tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản theo Luật phá sản năm 2004” để nghiêncứu và tìm hiếu sâu hơn về chế định này theo quy định của pháp luật hiện hành
Trang 2Chương I Những quy định của pháp luật Việt Nam và một số quốc gia điển hình trên thế giới về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản.
1 Quy định của pháp luật Việt Nam về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản.
1.1 Khái quát về phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản.
1.1.1 Khái niệm:
Khái niệm lâm vào tình trạng phá sản:
Ở nước ta, hiện tượng phá sản chỉ mới xuất hiện và pháp luật phá sản ra đời
do sự chuyển biến mới của nền kinh tế sang cơ chế thị trường Trong thời kì kinh
tế kế hoạch hóa tập trung có nhiều quan điểm cho rằng phá sản là một hiện tượngbất bình thường, thể hiện sự trì trệ và suy thoái của đời sống kinh tế xã hội vàthường bị phủ nhận “Khi có công ty, xí nghiệp làm ăn thua lỗ thì các cơ quan cấptrên bù lỗ bằng tiền ngân sách, đình chỉ hoạt động hoặc giải thể”1 Và chính sựchuyển đổi tứ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường đã làm thay đổiquan điểm về phá sản
Trong pháp luật Việt Nam, khái niệm lâm vào tình trạng phá sản lần đầu tiênđược ghi nhận ở Luật công ty 1990, theo đó thì “công ty gặp khó khăn hoặc bịthua lỗ trong hoạt động kinh doanh đến mức tại một thời điểm tổng giá trị tài sảncòn lại của công ty không đủ thanh toán tổng số các khoản nợ đến hạn được làcông ty đang lâm vào tình trạng phá sản” Tuy nhiên, quan điểm này còn rất nhiềuhạn chế, chưa phản ánh đúng bản chất của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phásản Bởi vì, tại một thời điểm nào đó mà tổng giá trị tài sản còn lại của công tykhông đủ thanh toán tổng số các khoản nợ đến hạn được thì chưa chắc doanhnghiệp đã rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán nợ ví dụ như trường hợp chủ
nợ thực hiện việc hoãn nợ, xóa nợ cho doanh nghiệp hoặc có người bảo lãnh chodoanh nghiệp đó
Trước nhu cầu ngày càng cấp thiết của tình hình phá sản của nhiều donhnghiệp trong nước, Luật phá sản 1993 ra đời,đã có những quy định mới mẻ hơn,phần nào khắc phục được những hạn chế trong luật công ty và luật doanh nghiệp.Tại Điều 2 luật phá sản 1993 quy định: “Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
là doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sau khi
áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà mất khả năng thanh toán các khoản
1 Đại học Luật Hà Nội, giáo trình Luật thương mại tập II, nxb công an nhân dân, trang 335.
Trang 3nợ đến hạn” và tại Điều 3 nghị định 189/1994/NĐ-CP hướng dẫn thi hành luật phásản đã cụ thể hóa như sau:
1- Doanh nghiệp được coi là có dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản nói tại Điều 2 của Luật Phá sản doanh nghiệp, nếu kinh doanh bị thua lỗ trong hai năm liên tiếp đến mức không trả được các khoản nợ đến hạn, không trả đủ lương cho người lao động theo thoả ước lao động và hợp đồng lao động trong ba tháng liên tiếp
2- Khi xuất hiện dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản như nói tại Khoản 1 Điều này, doanh nghiệp phải áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết như sau để khắc phục tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn:
Có phương án tổ chức lại sản xuất kinh doanh, quản lý chặt chẽ các khoản chi phí, tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm;
Có biện pháp xử lý hàng hoá, sản phẩm, vật tư tồn đọng;
Thu hồi các khoản nợ và tài sản bị chiếm dụng;
Thương lượng với các chủ nợ để hoãn nợ, mua nợ, bảo lãnh nợ, giảm, xoá nợ;
Tìm kiếm các khoản tài trợ và các khoản vay để trang trải các khoản nợ đếnhạn và đầu tư đổi mới công nghệ
3- Sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết nói tại Khoản 2 Điều này,
mà vẫn gặp khó khăn, không khắc phục được tình trạng mất khả năng thanh toán
nợ đến hạn thì doanh nghiệp đã lâm vào tình trạng phá sản và phải được xử lý theoquy định của Luật Phá sản doanh nghiệp, Nghị định này
Theo quy định mới này thì doanh nghiệp chỉ đươc coi là lâm vào tình trạngphá sản khi đáp ứng đủ các điều kiện trên, và trên thực tế khi doanh nghiệp đáp ứng được các điều kiện trên thì doanh nghiệp đã thực sự phá sản rồi, và việc thanh
lý tài sản là một thủ tục bắt buộc đối với tất cả các doanh nghiệp chứ không phải
để khôi phục lại hoạt động của chúng Vì vậy, một lần nữa khái niệm lâm vào tình trạng phá sản không thực hiện được mục đích của mình Khắc phuc được tình trạng này, Luật phá sản 2004 đã xác định khái niệm lâm vào tình trạng phá sản theo hướng đơn giản và hợp lý hơn Điều 3 luật phá sản 2004 quy định: “Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu” Theo đó, dấu hiệu để cho rằng doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là do nó không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu Việc xác định dấu hiệu này có ý nghĩa rất quan trọng, đó là căn cứ khởi đầu cho việc tiến hành các thủ tục giải
Trang 4quyết phá sản Tuy nhiên việc xác định thế nào là mất khả năng thanh toán ở các nước có những cách khác nhau Luật phá sản Việt Nam không quy định các dấu hiệu cụ thể để xác định doanh nghiệp mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn là thế nào, mà chỉ có những quy định nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp sớm mở thủ tục phá sản cũng như khả năng phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản chưa hẳn nó đã thực
sự phá sản trên thực tế, nó chỉ bị xem là phá sản khi đã tiến hành thủ tục phá sản
Thủ tục phục hồi doanh nghiệp của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản:
Thực chất của vấn đề phá sản chính là những vấn đề liên quan đến thủ tục phá sản và thủ tục thanh lý nợ của doanh nghiệp Như vậy, chúng ta cần phân biệt thủ tục phục hồi của doanh nghiệp trong trường hợp này khác với thủ tục phục hồi khi doanh nghiệp tự phục hồi,sắp xếp lại hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Doanh nghiệp tự phục hồi hoạt động kinh doanh của mình khi nó gặp khó
khăn,thua lỗ trong kinh doanh nhưng chưa có ai yêu cầu mở thủ tục phá sản So sánh với quá trình phục hồi đó, chúng ta thấy rằng thủ tục phục hồi hoạt động kinhdoanh cua doanh nghiệp khi lâm vào tình trạng phá sản có những đặc trưng cơ bản: ”Qúa trình phục hồi này là giải pháp tổ chức sản xuất là việc làm bị động của các doanh nghiệp khi lâm vào tình trạng phá sản_Đây là thủ tục tư pháp”
1.1.2 Tính chất của thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản:
Tính đặc thù của thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là
nó chỉ là một thủ tục tư pháp Trên thực tế thì cũng có nhiều doanh nghiệp gặp không ít khó khăn hoặc làm ăn thua lỗ Nhất là sau khi Việt Nam gia nhập WTO, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp ngày càng mãnh liệt hơn Để có thể đứng vững hơn trong môi trường cạnh tranh mới này,các doanh nghiệp đã chủ động thực hiện việc tổ chức lại hoạt động sản xuất kinh doanh hay tự phục hồi hoạt động của mình Nó hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của chủ doanh nghiệp
Khác với quá trình tự phục hồi, tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là một thủ tục mang tính chất tư pháp sau khi tòa án mở thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền chủ trì chứ không phải là việc doanh nghiệp tự chủ động phục hồi Và việc phục hồi chỉ được thực hiện khi doanh nghiệp đáp ứng được những yêu cầu do pháp luật quy định, nội dung, thủ tục xem xét thông qua và thời hạn phục hồi phải tuân theo quy định của pháp luật Và quan trọng hơn cả là thủ tục phục hồi này được đặt dưới sự giám sát của tòa án, các chủ nợ và doanh nghiệp phải chịu những hậu quả pháp lý bất lợi trong trương hợp phục hồi không mang lại kết quả khả quan gì cho doanh nghiệp Trong trường hợp quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản có hiệu
Trang 5lực,doanh nghiệp buộc phải tiến hành thủ tục thanh lý tài sản, thanh toán nợ cho các chủ nợ.
Việc thực hiện thủ tục phục hồi doanh nghiệp của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản nhằm mục đích:
o Giải quyết nhiều vấn đề thực tại: Giúp cho doanh nghiệp khôi phục lại tình trạng ban đầu, tạo cơ hội và điều kiện để tái tổ chức lại hoạt động kinh doanh, giúp doanh nghiệp vượt qua khỏi nguy cơ bị phá sản; tạo một lượng lớn công ăn việc làm cho người lao động…
o Tạo điều kiện cho doanh nghiệp có khả năng thanh toán hết các khoản nợ
o Thể chế hóa được chính sách kinh tế của nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, hợp tác xã đang trong tình trạng sản xuất kinh doanh khó khăn, thua lỗ có cơ hội để rút khỏi thị trường một cách
có trật tự, góp phần tái phân phối tài sản; thúc đẩy sự lưu thông vốn trong nền kinh tế thị trường, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động và các chủ nợ, đóng vai trò là một trong những công cụ quan trong của quá trình thu hồi nợ hiện nay
1.2 Những quy định pháp luật về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của
định: “Hội nghị chủ nợ thông qua Nghị quyết Nghị quyết được lập thành văn bản
và phải được nửa số chủ nợ không có bảo đảm có mặt tại HNCN đại diện cho từ hai phần ba tổng số nợ không có bảo đảm trở lên thông qua Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ có hiệu lực ràng buộc tất cả các chủ nợ” Ngoài ra, các trường hợp
thanh lý tài sản được Luật Phá sản qui định tại các điều: Điều 78 (trường hợp đặc
Trang 6biệt), Điều 79 (Hội nghị chủ nợ không thành) và Điều 80 (Sau khi có Nghị quyếtHội nghị chủ nợ lần thứ nhất thông qua các giải pháp dự kiến tổ chức lại, kế hoạchthanh toán nợ) nhưng doanh nghiệp không xây dựng được kế hoạch chính thức.
Tuy nhiên, thực tế xuất hiện trường hợp tại Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất màdoanh nghiệp, HTX lâm vào tình trạng phá sản không lập (do không có chủ trươnglập) phương án, giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh để trình Hội nghị chủ
nợ lần thứ nhất Vậy trong trường hợp này Thẩm phán có ra quyết định thanh lýtài sản không? Nếu ra quyết định thanh lý tài sản thì căn cứ điều nào trong Luậtphá sản để ra quyết định? Phải chăng Luật đã không quy định điều kiện để raquyết định thanh lý tài sản của doanh nghiệp, HTX trong trường hợp nêu trên Vềvấn đề này hiện có hai quan điểm:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, theo điểm d, Khoản 1 Điều 64 Luật Phá sản
2004 thì nếu tại Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất, doanh nghiệp, HTX lâm vào tìnhtrạng phá sản không có dự kiến, không lập phương án, giải pháp tổ chức lại hoạtđộng kinh doanh để trình Hội nghị chủ nợ thì Hội nghị chủ nợ vẫn ra Nghị quyết
về việc thanh lý tài sản Thẩm phán căn cứ vào Nghị quyết này ra quyết định thanh
lý tài sản
Quan điểm thứ hai cho rằng, vì thủ tục thanh lý tài sản quy định tại các
Điều 78, 79 và 80 của Luật phá sản không quy định điều kiện để ra quyết địnhthanh lý tài sản của doanh nghiệp, HTX trong trường hợp nêu trên, nên Thẩmphán cần tổ chức lại Hội nghị chủ nợ lần thứ hai và tiếp tục yêu cầu doanh nghiệp,HTX lâm vào tình trạng phá sản phải có dự kiến, lập phương án, đề ra giải pháp
tổ chức lại hoạt động kinh doanh để trình Hội nghị chủ nợ lần thứ hai Tại Hộinghị chủ nợ lần thứ hai, nếu doanh nghiệp, HTX lâm vào tình trạng phá sảnkhông lập phương án, giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh hoặc có phương
án, giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh để trình nhưng Hội nghị chủ nợ lầnthứ hai không thông qua thì mới ra Quyết định thanh lý tài sản
Chúng tôi tán thành quan điểm thứ hai, vì quan điểm này vừa tạo thêm cơhội, thời gian cho doanh nghiệp xây dựng phương án và giải pháp tổ chức lại hoạt
Trang 7động kinh doanh nhằm khắc phục tình trạng khó khăn của mình đồng thời cũng làviệc áp dụng tương tự với quy định của Điều 79 về trường hợp Hội nghị chủ nợkhông thành do doanh nghiệp không có mặt tại Hội nghị chủ nợ mà không có lý
có văn bản đề nghị Thẩm phán gia hạn Thời hạn gia hạn không quá ba mươi ngày.Như vậy, muốn áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải đáp ứng hai điều kiện sau:
- Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất được tổ chức thành
- Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất thong qua nghị quyết đồng ý với các giải pháp
tổ chức lại hoạt động kinh doanh, kế hoạch thanh toán nợ cho các chủ nợ vàyêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã phải xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh
Tuy nhiên,vấn đề đặt ra ở đây là “phải chăng trách nhiệm phục hồi hoạt động kinh doanh hoàn toàn thuộc về trách nhiệm của chính doanh nghiệp đó???” Nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhanh chóng phục hồi lại hoạt động,đưa doanhnghiệp thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, pháp luật phá sản đã có những quy định rất cụ thể về vấn đề này Để mở rộng hơn nữa chủ thể có khả năng tham gia vào việc xây dựng dự thảo phương án phục hồi hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp, hợp tác xã nhằm nâng cao khả năng cứu vớt doanh nghiệp, hợp tác xã khỏikhả năng thanh toán các khoản nợ Luật phá sản cho phép doanh nghiệp hoặc bất
kì chủ nợ hoặc người nào nhận nghĩa vụ phục vụ hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp, hợp tác xã đều có quyền xây dựng những phương án phục hồi hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp và nộp cho tòa án trong thời hạn quy định Quy địnhnày cũng phù hợp với xu hướng của các nước tiến bộ trên thế giới như Pháp, Mỹ, Đức,…
Trang 8=> Theo xu hướng này thì khả năng phục hồi lại hoạt động của các doanh nghiệp
là rất cao, bởi lẽ nó tạo nhiều ràng buộc hơn đối với tất cả các chủ thể có vốn góp vào doanh nghiệp cũng như những người lao động có tâm huyết muốn gắn bó với doanh nghiệp Làm tăng vai trò, trách nhiệm của các chủ thể quản lý và chủ thể góp vốn vào doanh nghiệp
rõ các điều kiện, thời hạn và kế hoạch thanh toán nợ Trước khi bắt đầu hoặc tại Hội nghị chủ nợ, phương án phục hồi hoạt động kinh doanh; doanh nghiệp, hợp tác xã
có thể được sửa đổi, bổ sung vào phương án theo sự thoả thuận của các bên
1.2.3 Xem xét, thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh:
Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được phương án phục hồi hoạtđộng kinh doanh, Thẩm phán phải xem xét, nghiên cứu phương án phục hồi
hoạtđộng kinh doanh để ra một trong các quyết định: Đưa phương án ra Hội nghị chủ nợ xem xét, quyết định hoặc đề nghị sửa đổi, bổ sung phương án phục hồi hoạt động kinh doanh nếu thấy phương án đó chưa bảo đảm các nội dung quy định của pháp luật
Phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã được xem xét, thông qua bằng nghị quyết của hội nghị chủ nợ lần hai Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày quyết định đưa phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản ra Hội nghị chủ
nợ, Thẩm phán phải triệu tập Hội nghị chủ nợ để xem xét và thông qua phương án phục hồi Nghị quyết về phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã được thông qua khi có quá nửa số chủ nợ không có bảo đảm có mặt đại diện cho từ hai phần ba tổng số nợ không có bảo đảm trở lên biểu quyết tán thành Quy định này của pháp luật đã loại trừ đi vai trò của các chủ nợ không
có bảo đảm, bởi lẽ việc thông qua hay không thông qua phương án phục hồi kinh doanh của họ không có ý nghĩa gì, vì một khi doanh nghiệp không có phương án phục hồi và bị tòa án tuyên là phá sản thì các chủ nợ có bảo đảm là người được ưu tiên trong việc thanh toán các khoản nợ đến hạn => Họ mong muốn các doanh nghiệp, hợp tác xã hoàn trả khoản nợ của mình càng sớm càng tốt,tránh tình trạng
“đêm dài lắm mộng” Nếu kéo dài hơn nữa thì họ sẽ có khả năng bị mất trắng
Trang 9Trong khi đó, vấn đề này lại mang ý nghĩa sống còn đối với các chủ nợ không có bảo đảm Nếu phương án phục hồi kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác
xã có tính khả thi mà hội nghị chủ nợ vẫn không thông qua thì cơ hội cứu vớt doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản không còn và các chủ nợ không có bảo đảm không có khả năng thu hồi các khoản nợ của mình Ngược lại, trong trường hợp phương án phục hồi kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã có tính khả thi không cao mà hội nghị chủ nợ vẫn thông qua thì khả năng thu hồi vốn của các chủ nợ càng thấp Vì vậy, việc thông qua hay không thông qua phương án phục hồi kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản cần được các chủ nợ không có bảo đảm xem xét, đánh giá và đưa ra những phương án tối ưu nhất
Sau khi nghị quyết về phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được thông qua, thẩm phán phải ra quyết định công nhận nghị quyết
đó.Nghị quyết này có hiệu lực với tất cả các bên có liên quan
1.2.4 Thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh:
1.2.4.1 Giám sát thực hiện phương án phục hồi:
Sau khi thẩm phán ra quyết định công nhận nghị quyết của hội nghị chủ nợ
về phương án phục hồi hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp sẽ bắt tay vào việc thực hiện dự án đó Đó cũng là thời điểm mà tổ quản lý, thanh lý tài sản giải thể Phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã do doanh nghiệp, hợp tác xã tự tiến hành với cơ chế giám sát thích hợp Cứ sáu tháng một lần, doanh nghiệp, hợp tác xã phải gửi cho Toà án báo cáo về tình hình thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh ở doanh nghiệp, hợp tác xã Ngoài ra chủ nợ cũng có nghĩa vụ giám sát việc thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã
1.2.4.2 Thời hạn thực hiện phương án phục hồi:
Thời hạn tối đa để thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản là ba năm, kể từ ngày cuốicùng đăng báo về quyết định của Toà án công nhận Nghị quyết của Hội nghị chủ
nợ về phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã.Tuy nhiên pháp luật Việt Nam lại không quy định rõ thủ tục đăng công báo này =>gây nhiều khó khăn cho doanh nghiệp, hợp tác xã trong quá trình thực thi phápluật
Trang 10So với những quy định trên của luật phá sản thì luật doanh nghiệp quy định ngắn hơn (tối đa không quá 2 năm kể từ ngày hội nghị chủ nợ thông qua phương
án hòa giải) Trong nhiều trường hợp thì thời hạn 2 năm này không phải là đủ dài
để doanh nghiệp có thể hoàn tất công việc của mình, nhất là đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn cần thay đổi toàn bộ quy mô sản xuất, công nghệ… Do đó, luật phá sản cũng cho phép các doanh nghiệp kéo dài thêm thời hạn tối đa này để thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
Ngoài ra, pháp luật về phá sản còn cho phép doanh nghiệp trong quá trình thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh, các chủ nợ và doanh nghiệp,hợp tác xã có quyền thoả thuận về việc sửa đổi, bổ sung phương án phục hồi hoạt động kinh doanh hoặc thoả thuận về việc sửa đổi, bổ sung phương án phục hồi hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã được chấp nhận khi có quá nửa số chủ nợ không có bảo đảm đại diện cho từ hai phần ba tổng số nợ không có bảo đảm trở lên đồng ý (Điều 75 Luật phá sản năm 2004) và phải được thẩm phán ra quyết định công nhận Quyết định công nhận của thẩm phán phải được gửi cho doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày raquyết định
1.2.5 Đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh:
1.2.5.1 Các trường hợp tiến hành đình chỉ thủ tục phục hồi kinh doanh:
Theo quy định tại Điều 76 luật phá sản 2004 Thẩm phán ra quyết định đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tìnhtrạng phá sản nếu có một trong các trường hợp sau đây:
o Doanh nghiệp, hợp tác xã đã thực hiện xong phương án phục hồi
hoạt động kinh doanh;
o Được quá nửa số phiếu của các chủ nợ không có bảo đảm đại diện cho từ hai phần ba tổng số nợ không có bảo đảm trở lên chưa thanh toán đồng ý đình chỉ
Quy định trên của pháp luật là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn thi hành Bởi lẽkhi thực hiện xong phương án phục hồi hoạt động kinh doanh đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đã hoàn thành nhiệm vụ của mình Trong trường hợp này, sựcông nhận của tòa án bằng quyết định đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh là vấn đề tất yếu và cần thiết cho các doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản Không những thế, tòa án còn phải ra quyết định đình chỉ thủ tục phục hồi khi có nửa số phiếu của các chủ nợ không có bảo đảm đại diện cho
từ hai phần ba tổng số nợ không có bảo đảm trở lên chưa thanh toán đồng ý đình chỉ Sở dĩ pháp luật có quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi cho các chủ
nợ không có bảo đảm, nhưng khi bắt tay vào thực hiện phương án có thể vì lý
do khách quan nào đó mà họ cho rằng phương án phục hồi sẽ không mang lại
Trang 11lợi ích gì cho họ và họ đi đén quyêt định này Dường như ý định này cũng có phần nào phán ánh độ tin cậy về khả năng thanh toán của doanh nghiệp, hợp tác
xã mà các chủ nợ không có bảo đảm đã dành cho họ khi đồng ý đình chỉ thủ tụcphục hồi hoạt đông của doing nghiệp, hợp tác xã
Tòa án phải gửi và thông báo công khai quyết định đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định tại Điều 29 Luậtphá sản:
Quyết định của Toà án được gửi cho doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, Viện kiểm sát cùng cấp và đăng trên báo địa phương nơi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản có địa chỉ chính, báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp
Quyết định của Toà án về mở thủ tục phá sản phải được thông báo cho các chủ nợ,những người mắc nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
Thời hạn gửi và thông báo quyết định mở thủ tục phá sản quy định là bảy ngày, kể
từ ngày Toà án ra quyết định
1.2.5.2 Hậu quả pháp lý của việc đình chỉ thủ tục phục hồi:
Theo quy định tại Điều 77 Luật Phá sản 2004, việc ra quyết định đình chỉthủ tục phục hồi dẫn đến một hậu qủa pháp lý rất quan trọng là doanh nghiệp đóđược coi không lâm vào tình trạng phá sản Sau khi doanh nghiệp thoát khỏi lâmvào tình trạng phá sản, nếu việc thi hành án dân sự chưa được thi hành thì doanhnghiệp sẽ tiếp tục phải thực hiện những nghĩa vụ thi hành án dân sự bị đình chỉ do
áp dụng thủ tục phục hồi Mặt khác, việc giải quyết những vụ án bị đình chỉ theoĐiều 57 Luật Phá sản mà chưa được giải quyết thì ngay sau khi ra quyết định đìnhchỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc giải quyết vụ ánlại được tiếp tục và doanh nghiệp lại tiếp tục là đương sự của vụ án đó
Tại tiểu mục 11.3 Mục 11 Phần II Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày
12 tháng 5 năm 2006 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng
dẫn: “Trường hợp quyết định đình chỉ vụ án quy định tại điểm g khoản 1 Điều 192 của BLTTDS và khoản 2 Điều 77 của Luật Phá sản, nếu sau đó Toà án ra quyết
Trang 12định đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh gửi trả lại hồ sơ vụ án cho Toà án có thẩm quyền, thì Toà án đó tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung”.
Thực tế tại các Toà án địa phương, do nhận thức vấn đề này không giốngnhau nên đã thực hiện quy định này chưa có sự thống nhất Cụ thể là:
Có địa phương cho rằng, phải thực hiện đúng câu chữ của hướng dẫn trên,nghĩa là sau khi được trả lại hồ sơ vụ án cùng với quyết định đình chỉ thủ tục phụchồi hoạt động kinh doanh của Toà án giải quyết phá sản, Toà án đã ra quyết địnhđình chỉ giải quyết vụ án theo điểm g khoản 1 Điều 192 của BLTTDS đương nhiênphải khôi phục lại vụ án và tiếp tục giải quyết vụ án mà không cần làm lại thủ tụcthụ lý vụ án Nguyên đơn không phải làm lại thủ tục khởi kiện và cũng không phảinộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm
Một số địa phương khác cho rằng, sau khi đã có quyết định đình chỉ giảiquyết vụ án, muốn được Toà án giải quyết lại vụ án đó thì nguyên đơn phải làmđơn khởi kiện lại theo quy định tại khoản 1 Điều 193 BLTTDS và phải làm lại thủtục thụ lý vụ án như một vụ án mới, trong đó có việc phải nộp lại tiền tạm ứng ánphí sơ thẩm (tạm ứng án phí sơ thẩm lần trước đã bị nộp vào công quỹ Nhà nướctheo quy định tại khoản 2 Điều 193 BLTTDS) 2
2 Chế định pháp luật về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của một số quốc gia trên thế giới:
2.1 Pháp luật về thủ tục phục hồi doanh nghiệp ở Nhật Bản
Luật phá sản của Nhật Bản gồm hai thủ tục chính là thủ tục thanh lý tài sản và thủ tục phục hồi Trong đó, thủ tục thanh lý tài sản bao gồm: Phá sản; Thanh lý đặc biệt và Thoả hiệp Theo thủ tục này thì toàn bộ tài sản của công ty được chuyển thành tiền mặt và thanh toán cho các chủ nợ, chấm dứt sự hoạt động cũng như
2 Thực trang về vấn đề phá sản và hoàn thiện môi trường pháp luật kinh doanh tại Việt
Nam, do PGS TS Dương Đăng Huệ; Ths Nguyễn Thanh Tịnh chủ biên.
Trang 13chấm dứt sự tồn tại của công ty Thủ tục phục hồi bao gồm: Tổ chức lại công ty (tái thiết công ty), Phục hồi dân sự và Sắp xếp công ty
o Tổ chức lại công ty
Thủ tục này chỉ áp dụng cho những công ty lớn, công ty tài chính, bảo hiểm, ngân hàng Mục tiêu của thủ tục này là bảo tồn giá trị của công ty với tư cách là một thực thể hoạt động và vẫn đảm bảo các quyền của các bên liên quan Theo thủ tục này, hoạt động của công ty được quản lý và giám sát, các quyền của chủ nợ và doanh nghiệp mắc nợ được cân nhắc, điều chỉnh, các hoạt động kinh doanh được tiếp tục
Khi công ty mắc nợ nộp đơn xin tái thiết công ty thì kèm theo đơn phải có bản cân đối tài chính, kiểm kê tài sản của công ty, danh sách chủ nợ, bản trình bày khả năng tái thiết công ty (chứng minh những nguồn vốn có thể huy động được, khả năng có thể trả được những chi phí, những khoản nợ nhất định) và kế hoạch tổng thể về kinh doanh của công ty tương lai (phải nêu được có sự hợp tác của các công ty chủ nợ trong tương lai)
Toà án sẽ xem xét đơn trong vòng một tuần, nếu thấy đã đầy đủ theo quy định thì Toà án thụ lý đơn, ra lệnh bảo toàn tài sản và chỉ định người quản lý tài sản Người quản lý tài sản sẽ đến công ty người mắc nợ và sẽ nắm quyền kinh doanh (ban điều hành của công ty bị giải tán) Người này sẽ điều tra tình trạng của công ty trong thời hạn từ một đến ba tháng Nếu thấy công ty có khả năng tái thiết được thì báo cáo với Toà án để mở thủ tục tái thiết công ty, ngược lại thì mở thủ tục phá sản Để thực hiện những công việc trên, người quản lý tài sản sẽ phải tìm kiếm người có khả năng quản lý công ty vỡ nợ, tìm kiếm những công ty có thể mua (bảo trợ) công ty vỡ nợ
Đặc trưng của thủ tục này là: có thể hạn chế quyền của chủ nợ có bảo đảm (có nghĩa là quyền của chủ nợ đối với tài sản thế chấp của người mắc nợ bị đình chỉ, tạm thời chưa thanh toán, chưa giải quyết quyền lợi cho chủ nợ có bảo đảm, quyền này sẽ được khôi phục khi công ty người mắc nợ bị phá sản); Giảm thiểu sự
ưu tiên đối với khoản nợ thuế (trong thủ tục phá sản khoản nợ này được ưu tiên); Các cổ đông công ty chia sẻ và cùng gánh chịu thiệt hại; phát hành cổ phiếu mới
để hình thành cổ đông mới của công ty Công ty bảo trợ chính (Công ty bỏ tiền nhiều nhất để mua công ty vỡ nợ) sẽ là cổ đông chính và thông thường người quản
lý tài sản để công ty bảo trợ chính nắm giữ quyền quản lý của công ty tái thiết Toà
án kiểm tra giám sát quá trình thực hiện kế hoạch tổ chức lại công ty…
Trong thời hạn một năm kể từ ngày Toà án mở thủ tục tái thiết công ty, phương án tái thiết công ty phải hoàn thành và nếu chưa hoàn thành thì được gia hạn thêm một năm nữa Phương án này do hội nghị chủ nợ có bảo đảm và hội nghị
Trang 14chủ nợ không có bảo đảm thông qua Trên thực tế thì chỉ tiến hành một hội nghị chủ nợ, nhưng phát hành hai lá phiếu khác nhau cho hai loại chủ nợ Phải có trên 2/3 chủ nợ không có bảo đảm và 3/4 chủ nợ có bảo đảm tán thành thì phương án tái thiết được thông qua Phương án giảm nợ phải có 4/5 chủ nợ có bảo đảm thông qua Mặc dù luật quy định phương án tái thiết được xây dựng trong vòng hai năm, nhưng trên thực tế nó được thực hiện một cách khẩn trương, chỉ trong vòng một năm hoặc ít hơn Khi phương án tái thiết được thông qua thì công ty được coi như một công ty bình thường khác, Luật sư được chỉ định làm người quản lý tài sản ở lại công ty với vai trò là người tư vấn giám sát hoạt động của công ty Nếu thấy phương án tái thiết đã thực hiện được từ 70% đến 80% thì Toà án sẽ chấm dứt vai trò giám sát của họ (cũng là chấm dứt sự giám sát của Toà án).
Trên thực tế, ở Nhật Bản chưa có một công ty nào được tái thiết lại lâm vàotình trạng phá sản Tuy nhiên, về mặt lý thuyết thì công ty tái thiết hoàn toàn có thể lại lâm vào tình trạng phá sản Trong trường hợp này, quyền lợi của các chủ nợmới đã giúp công ty tái thiết sẽ được giải quyết như thế nào? Ở Nhật Bản chưa có quy định về vấn đề này, ở Mỹ thì quy định rõ trong trường hợp này chủ nợ mới sẽ phải được ưu tiên hàng đầu
o Thủ tục phục hồi dân sự
Cũng tương tự như thủ tục tổ chức lại công ty, thủ tục phục hồi dân sự cũng nhằm bảo đảm cho doanh nghiệp mắc nợ tiếp tục kinh doanh, tạo cơ hội cho doanh nghiệp mắc nợ phục hồi kinh tế sau khi gặp khó khăn về tài chính chứ không phải
là thanh toán nó
Tuy nhiên, nếu thủ tục tổ chức lại công ty chỉ áp dụng cho những công ty lớn thì thủ tục phục hồi dân sự được áp dụng cho cả cá nhân kinh doanh và pháp nhân vừa và nhỏ Pháp nhân không chỉ bao gồm các công ty kinh doanh mà còn bao gồm cả những pháp nhân công ích như trường học, bệnh viện… Thủ tục này cũng
áp dụng cho các công ty lớn nếu họ lựa chọn thủ tục này
Theo thủ tục này, doanh nghiệp mắc nợ chỉ cần đang ở tình trạng có khả năng sẽ không thể thanh toán nợ đến hạn là được quyền nộp đơn xin phục hồi dân sự
Khi doanh nghiệp mắc nợ nộp đơn xin phục hồi dân sự, Toà án sẽ thụ lý đơn ngay (không cần một tuần chuẩn bị như các thủ tục khác) Và ngay sau đó, Toà án chỉ định người giám sát tài sản và ra lệnh bảo toàn tài sản Trong vòng từ hai tuần đến một tháng, người giám sát tài sản điều tra để xác định doanh nghiệp mắc nợ có cònkhả năng kinh doanh hay không Toà án sẽ ra quyết định mở thủ tục phục hồi dân
sự trên cơ sở báo cáo này
Trang 15Ở thủ tục phục hồi dân sự, trong vòng ba tháng kể từ ngày Toà án quyết định mở thủ tục, doanh nghiệp mắc nợ phải nộp phương án phục hồi, có thể được gia hạn hai lần, mỗi lần một tháng Nếu đã gia hạn hai lần mà không có phương án phục hồi thì Toà án ra quyết định phá sản.
Trong vòng năm tháng kể từ ngày Toà án mở thủ tục sẽ triệu tập hội nghị chủ nợ
để thông qua phương án phục hồi người mắc nợ Nếu trên 1/2 số chủ nợ (với trên 1/2 tổng số nợ) tán thành phương án phục hồi, thì phương án này được Toà án công nhận và doanh nghiệp mắc nợ sẽ thực hiện phương án phục hồi trong vòng
ba năm
Nhìn chung, thủ tục phục hồi dân sự tương tự như thủ tục tổ chức lại công ty, tuy nhiên có ba điểm khác biệt căn bản giữa thủ tục phục hồi dân sự và thủ tục tổ chứclại công ty:
Ở thủ tục phục hồi dân sự, thành phần quản lý hiện tại của doanh nghiệp mắc nợ vẫn nắm quyền quản lý và kinh doanh; ở thủ tục tổ chức lại công ty thì bộ phận này được thay thế bằng một thành phần mới
Ở thủ tục tổ chức lại công ty, cổ đông hiện tại được coi như không còn nữa,còn ở thủ tục phục hồi dân sự thì vẫn giữ nguyên
Quyền bảo đảm của chủ nợ trên tài sản thế chấp của công ty ở thủ tục phục hồi dân sự không bị hạn chế, còn ở thủ tục tổ chức lại công ty thì bị đình chỉ
Trong trường hợp chủ nợ có bảo đảm không đồng ý tạm thời dừng quyền của mình đối với tài sản thế chấp (ví dụ: chủ nợ có bảo đảm vẫn muốn bán nhà xưởng
là tài sản thế chấp của người mắc nợ), thì doanh nghiệp mắc nợ không thể tiếp tục kinh doanh được nữa, do đó tùy theo quan hệ với chủ nợ mà công ty sẽ lựa chọn tái thiết công ty hoặc phục hồi dân sự
o Thủ tục sắp xếp công ty
Thủ tục này về bản chất cũng là thủ tục phục hồi lại công ty nhưng được giải quyếtngoài Toà án Thủ tục này tiết kiệm thời gian và chi phí tố tụng, nên cũng được nhiều công ty áp dụng Đặc điểm căn bản của thủ tục này là phương án sắp xếp lại công ty cần phải được hội nghị chủ nợ thông qua, doanh nghiệp mắc nợ sẽ gặp từng chủ nợ để thỏa thuận việc sắp xếp lại công ty (hoãn nợ, mức trả nợ, cách thứctrả nợ, bỏ bớt lĩnh vực kinh doanh không có lãi…) Trong thủ tục này, pháp luật cóquy định cho phép sự can thiệp cần thiết của Toà án đối với những chủ nợ có bảo đảm nếu muốn bán tài sản thế chấp thì Toà án sẽ ra lệnh ngăn chặn Tuy nhiên, sự can thiệp của Toà án là rất hạn chế