Xuất phát từ lý do trên, tôi xin trình bày một số vấn đề xem như là những giải pháp để giáo viên giúp học sinh có kĩ năng làm tốt bài văn nghị luận xã hội.. - Giải pháp giúp học sinh học
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TÂY NINH TRƯỜNG THPT LỘC HƯNG – TRẢNG BÀNG *****
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LÀM VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
Người thực hiện: NGUYỄN HỮU CHUNG Chức vụ: Giáo viên ( Tổ Văn – GDCD)
Năm học: 2009- 2010
Trang 2I MỞ ĐẦU:
1 Lý do chọn đề tài:
Ở trường phổ thông, môn văn có vị trí, vai trò rất quan trọng trong việc hình thành phát triển nhân cách, năng lực ngôn ngữ cho học sinh Thông thường môn ngữ văn gồm các phân môn: Đọc văn, tiếng việt, làm văn Trong đó phân môn làm văn có vị trí hết sức quan trọng, bởi lẽ nó quyết định cho việc nhận định, đánh giá, diễn đạt ngôn ngữ của học sinh Trong chương trình sách giáo khoa ngữ văn những năm trước đây thường xuất phát từ một quan niệm khá cực đoan: Coi trọng nghị luận văn học Để khắc phục tình trạng cực đoan trên, chương trình ngữ văn hiện nay có những điều chỉnh lớn nhằm cân đối giữa nghị luận văn học và nghị luận xã hội Đây là một nội dung phù hợp nhưng cũûng hết sức khó khăn cho việc học tập của học sinh Xuất phát từ lý do trên, tôi xin trình bày một số vấn đề xem như là những giải pháp để giáo viên giúp học sinh có kĩ năng làm tốt bài văn nghị luận xã hội
2 Đối tượng nghiên cứu:
-Học sinh lớp 12B2 trường THPT Lộc Hưng
- Giải pháp giúp học sinh học tốt phần làm văn nghị luận xã hội: Tìm hiểu những vấn đề xã hội, chính trị; Phân tích đề; Lập dàn ý cho bài văn nghị luận xã hội
3 Phạm vi nghiên cứu:
- Đề tài được nghiên cứu, thử nghiệm ở lớp 12B2 Trường THPT Lộc Hưng
- Sách giáo khoa chương trình chuẩn lớp 12: Nghị luận về một tư tưởng đạo lí; Nghị luận về một hiện tượng đời sống
Ở đây người viết chỉ minh họa bằng một số đề bài mà giáo viên đã dạy hoặc ra đề cho học sinh trên thực tế để xoáy sâu đề tài
4 Phương pháp nghiên cứu:
- Đọc, nghiên cứu tài liệu, tổng hợp để hình thành đơn vị kiến thức + Sách giáo khoa, sách giáo viên ngữ văn 12
+ Tài liệu tham khảo có liên quan đến đề tài
- Phương pháp kiểm tra
Trang 3- So sánh đối chiếu kết quả.
II Nội dung đề tài:
1 Cơ sở lí luận:
Bắt đầu từ năm 2008- 2009, học sinh lớp 12 trung học phổ thông trên cả nước được học theo chương trình và sách giáo khoa mới Bộ Giáo dục và đào tạo đã có công văn số 9550/ BGDĐT-KTKĐCLGD, ngày 13-
10 – 2008 thông báo về khung cấu trúc đề thi và hình thức thi trong kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông Theo thông báo của Bộ thì chắc chắn trong đề thi môn ngữ văn phải có một phần làm văn nghị luận xã hội Thiết nghĩ đây là nội dung đáng quan tâm Chính vì vậy mà tôi đã chọn đề tài “ Rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận xã hội” để phần nào giúp cho học sinh có kĩ năng làm bài tốt hơn, đặc biệt là trong kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông sắp tới
2 Cơ sở thực tiễn:
- Sách giáo khoa:Theo phân phối chương trình, phân môn làm văn nghị luận xã hội rất ít: một tiết nghị luận về tư tưởng đạo lí; Một tiết nghị luận về một hiện tượng đời sống; Hai tiết trả bài viết( 1,2) Với thời lượng đó, giáo viên chỉ giải quyết những kiến thức cơ bản nhất Học sinh thực sự chưa có cái nhìn đầy đủ về bản chất của vấn đề
- Học sinh: Nhiều học sinh còn mơ hồ và chưa biết cách viết một bài văn nghị luận nói chung, nghị luận xã hội nói riêng.Vốn hiểu biết về đời sống xã hội, chính trị còn nhiều hạn chế
- Chất lượng thực tế qua khảo sát đầu năm :
Qua mặt hạn chế về thời gian giành cho phân môn cũng như những khó khăn của học sinh hiện nay, tôi nhận thấy đề tài này rất cần thiết nhằm giới thiệu những kinh nghiệm và phương pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả dạy nghị luận xã hội cho học sinh nói chung, cho lớp 12 nói riêng
3 Biện pháp thực hiện:
Tìm hiểu những vấn đề thuộc lĩnh vực đời sống xã hội rất cần thiết cho học sinh, tuy nhiên rất khó thực hiện Bởi lẽ, theo phân phối chương trình, phân môn làm văn nghị luận xã hội rất ít, bản thân học sinh lười đọc sách báo, ít quan tâm đến cuộc sống xung quanh, vốn hiểu biết về đời
Trang 4sống xã hội còn hạn chế Vì vậy giáo viên phải có một giải pháp phù hợp để học sinh nắm kiến thức cần thiết
Ngoài vốn kiến thức văn học, học sinh cần có kiến thức về đời sống xã hội ở một mức độ nào đó Nghị luận xã hội là những bài văn bàn về các vấn đề xã hội- nhân sinh, một tư tưởng đạo lí, một lối sống cao đẹp, một hiện tượng tích cực hoặc tiêu cực của đời sống, một vấn đề về thiên nhiên, môi trường… để nắm bắt được những vấn đề này, học sinh cần quan tâm đến đời sống xã hội, nghe đài, đọc báo, tham khảo các tài liệu khác nhau…
Giáo viên có thể yêu cầu học sinh tìm hiểu mỗi ngày một nội dung thuộc vấn đề xã hội Ví dụ, tìm hiểu những câu tục ngữ, danh ngôn đề cập đến tư tưởng đạo lí hoặc tìm hiểu những hiện tượng mang tính thời sự: Môi trường, giao thông, AIDS… Tranh thủ trong thời gian dạy bồi dưỡng, giáo viên sẽ cho học sinh thảo luận trao đổi, lập thành dàn ý
Bài văn nghị luận dài hay ngắn, nội dung phong phú hay nghèo nàn là tùy thuộc vào kiến thức về cuộc sống xã hội con người Số vốn kiến thức ấy không phải tự nhiên có, cũng không phải ngày một ngày hai mà là do khổ công tìm hiểu lâu ngày mà thành Đã gọi là bàn bạc để tìm ra điều hay lẽ phải…cái tốt, cái xấu chứa đựng trong những câu nói thuộc về lĩnh vực xã hội, chính trị thì học sinh cần phải biết xã hội, chính trị là gì, chúng phát triển như thế nào, có ảnh hưởng đến đời sống tinh thần và vật chất của mỗi người trong xã hội ấy ra sao, chúng có ưu điểm, khuyết điểm nào…Chúng là cơ sở để bàn luận, đánh giá, giải thích, chứng minh một vấn đề nào đó trong cuộc sống
Như vậy vấn đề cơ bản đầu tiên là chúng ta phải nắm bắt được những vấn đề về xã hội, chính trị
Xã hội là gì? Chính trị là gì? Từ đó ta có được vốn hiểu biết về sự phát triển xã hội của xã hội con người và thiết thực – gần gũi hơn là để làm phong phú cho bài làm văn.Ví dụ: Bình luận câu tục ngữ Pháp: “ Sống là tranh đấu” Khi gặp đề này chúng ta phải biết những chế độ chính trị trong đời sống của xã hội con người để lập luận
Giáoviên cần phải giúp cho học sinh nắm được những đặc tính cơ bản của dân tộc: Ý thức quốc gia, tự hào dân tộc, yêu làng xóm quê hương, yêu gia đình, cần cù lao động, khiêm tốn, thân ái, tính trào lộng, yêu nghệ thuật….Đó là những vốn kiến thức cần có để bài văn nghị luận xã hội được phong phú
Một bài văn nghị luận cần phải đáp ứng trọn vẹn những yêu cầu: Giải thích đúng nghĩa, dẫn chứng đúng nội dung, bàn bạc đúng yêu cầu; Trình bày nội dung đúng với thể loại văn nghị luận mà đề đòi hỏi; Sắp
Trang 5xếp ý một cách hợp lí, khoa học; Lời văn cần rõ ràng mạch lạc Để đạt được những yêu cầu đó, giáo viên có thể giúp học sinh tiến hành các bước như sau:
3.1 Tìm hiểu đề: Đây là vấn đề thực ra không có gì mới, nhưng lại có
ảnh hưởng đến kết quả bài làm Một học sinh mới đọc qua đề là bắt tay vào làm bài ngay, dẫn đến bài văn có thể sai lạc cả nội dung và phương pháp hay có những đoạn xa đề, lạc đề
Muốn tìm hiểu đề, học sinh chú ý đến các phần trong đề bài Dù ra dưới dạng nào đề bài đó cũng có ba phần:
- Nội dung mà đề yêu cầu( Thường là câu văn trích dẫn)
- Yêu cầu thể loại nghị luận( Kiểu bài)
- Tư liệu( Phạm vi dẫn chứng)
Ví dụ: “ Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động” Ý kiến trên gợi cho anh( chị) những suy nghĩ gì về việc tu dưỡng và học tập của chính mình
Tìm hiểu đề bài trên, chúng ta thấy có ba phần:
- Nội dung: Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động
- Câu hỏi ý kiến trên gợi cho anh chị suy nghĩ gì về việc tu dưỡng và học tập của chính mình: Yêu cầu thể loại nghị luận
- Phạm vi dẫn chứng: Từ thực tế
Tìm hiểu đề và xác định được ba điều trên, học sinh đã tránh được chuyện lạc đề, một lỗi nặng nề nhất trong thao tác làm văn
3.2 Xác định – Định hướng luận điểm, luận cứ:
Xác định nội dung trong tìm hiểu đề chính là xác định luận đề Xác định xong luận đề bắt đầu tìm các luận điểm Muốn tìm được luận điểm cần dựa vào đề bài để đặt các câu hỏi Đặt và trả lời đúng các câu hỏi là đã tìm ra được luận điểm
Ví dụ: Tuổi trẻ học đường suy nghĩ và hành động như thế nào để góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông Với đề bài này, ta sẽ xác định được luận đề: Vấn đề giảm thiểu tai nạn giao thông Từ luận đề được xác định, giáo viên cần định hướng cho học sinh đặt câu hỏi để tìm ra luận điểm
- Tai nạn giao thông là gì?
- Nghe qua đề bài, em liên tưởng đến điều gì? Vì sao nó như vậy? Tác hại của nó thế nào? Vì sao lại đặt vai trò này cho tuổi trẻ, cho học sinh? Chính các câu hỏi này sẽ hướng học sinh tìm được các luận điểm: Giải thích khái niệm tai nạn giao thông; Thực trạng; Nguyên nhân; Hậu
Trang 6quả; Biện pháp…Nhưng khó nhất vẫn là tìm luận cứ để làm cơ sở lập luận cho luận điểm Nếu xác định được luận điểm có trong luận đề là đã sắp xếp được các ý trong bài làm một cách hợp lí, khoa học thì tìm được những luận cứ là bước quan trọng trong việc làm cho các luận điểm trở nên rõ ràng, phong phú ý, đầy tính thuyết phục Bởi vậy, chúng ta cần định hướng luận điểm để giới hạn các luận cứ và luận chứng
Ví dụ:Với đề bài trên, để tìm luận cứ cho luận điểm: Nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông.Ta đặt câu hỏi: Tai nạn giao thông từ đâu mà ra? Nguyên nhân nào? Từ đó ta sẽ có được những luận cứ: Cơ sở vật chất-Hạ tầng còn kém, phương tiện tham gia giao thông tăng nhanh, ý thức tham gia giao thông ở một bộ phận người còn hạn chế, xử lí chưa nghiêm minh…
Sau khi xác định luận đề, tìm các luận điểm, luận cứ, ta sẽ có một dàn bài tổng quát Từ dàn bài tổng quát, ta có thể trình bày thành một bài văn bằng nhiều thao tác khác nhau Một bài văn nghị luận nói chung, bài văn nghị luận xã hội nói riêng bao giờ cũng có ba phần: Mở bài, thân bài, kết bài
Trong chương trình lớp 12, làm văn nghị luận xã hội gồm có hai phần: Nghị luận về một tư tưởng,đạo lí và nghị luận về một hiện tượng đời sống
Phần 1: nghị luận về một hiện tượng đời sống là bàn về một hiện tượng
có ý nghĩa đối với đời sống con người trong xã hội Bài nghị luận về một hiện tượng đời sống cần làm rõ một số nội dung:
- Nêu rõ hiện tượng, phân tích mặt đúng, mặt sai, mặt lợi, mặt hại của hiện tượng
- Chỉ ra nguyên nhân và bày tỏ thái độ, ý kiến nhân định của người viết bằng các thao tác lập luận phù hợp
- Người viết cần chọn góc độ riêng để bàn luận và có thể đưa ra những đề xuất, giải pháp của mình trước hiện tượng đó
Như vậy, với đề bài vừa phân tích ở trên, ta có thể lập được dàn ý:
a Mở bài:
Giới thiệu : Tai nạn giao thông đang có chiều hướng gia tăng, là vấn đề nhiều người trong xã hội đang quan tâm
b Thân bài:
- Giải thích: Tai nạn giao thông là gì?
Trang 7- Nguyên nhân: Cơ sở vật chất kém, phương tiện tham gia giao thông tăng, ý thức tham gia giao thông ở một bộ phận người còn hạn chế, nhất là giới trẻ, xử lí chưa nghiêm minh, chưa thỏa đáng
- Hậu quả: Thiệt hại về vật chất, gây tử vong, chấn thương, tàn phế cho con người…
- Dẫn chứng minh họa
- Vì sao lại đặt vai trò này cho tuổi trẻ, cho học sinh?
+ Là bộ phận đông tham gia giao thông phức tạp…
+ Có nhiều sáng tạo và rất năng động…
- Biện pháp giải quyết- Thanh niên học sinh làm gì để góp phần giảm tai nạn giao thông trong xã hội
c Kết bài: Khẳng định sự cần thiết phải giảm thiểu tai nạn giao thông vì
sự phồn vinh và cuộc sống bình yên của mọi người, xã hội, thời đại Tin tưởng ở thanh niên học sinh sẽ làm được vấn đề này
Phần 2: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí thường là quan điểm về đạo
đức, lẽ sống, về văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng…Đây là dạng bài có tác dụng giáo dục đạo đức,nhân cách đối với học sinh Bài nghị luận bàn về
tư tưởng đạo lí nhằm trình bày quan điểm, suy nghĩ của mình để thuyết phục người khác, đồng thời tự mình nâng cao nhận thức, rèn luyện phẩm chất theo vấn đề mình đang nghị luận Người viết phải có chủ kiến của mình để bàn luận về vấn đề đặt ra của đề bài bằng những thao tác lập luận phù hợp Bài nghị luận về tư tưởng, đạo lí có một số nội dung:
- Giới thiệu, giải thích tư tưởng, đạo đức cần bàn luận
- Phân tích những mặt đúng, bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến vấn đề bàn luận
- Nêu ý nghĩa, rút ra bài học nhận thức và hành động về tư tưởng, đạo lí
Ví dụ: Ý kiến của anh( chị) về mục đích học tập do UNESCO đề
xướng: “ Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình” Với đề bài này, ta cần tìm hiểu tư tưởng trong câu nói là tư tưởng gì, đúng sai như thế nào, từ đó mới xác định được phương hướng bàn luận(nội dung) và cách bàn luận( Sử dụng thao tác lập luận nào) + Nội dung: Mục đích học tập do UNESCO đề xướng
+ Thao tác lập luận: Giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận + Tư liệu: Từ thực tế cuộc sống và học tập
Trang 8Giáo viên có thể đặt câu hỏi gợi ý để học sinh tìm hiểu và trả lời Giáo viên chốt lại từng phần của vấn đề.Với đề bài này, ta sẽ lập được dàn ý:
a Mở bài: Giới thiệu mục tiêu học tập do UNESCO đề xướng và trích dẫn nguyên văn đề bài
b Thân bài:
- Phân tích và giải thích các khái niệm:
+ Học để biết? Học để thỏa mãn nhu cầu tiếp thu kiến thức Học có vai trò quan trọng và là nền tảng của cuộc sống con người Cuộc sống ngày càng phát triển và không ngừng phát triển Để tồn tại trong cuộc sống không ngừng phát triển cần có tri thức Con người, đặc biệt là giới trẻ phải biết vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống cá nhân và cộng đồng Do đó cần học tự giác, chăm chỉ, trung thực… Không học lệch, học tủ, học đối phó đồng thời phải nắm vững kiến thức, vận dụng được kiến thức vào cuộc sống
+ Học để làm? Học nhưng phải thực hành Tuổi trẻ phải biết vận dụng những tri thức đã học vào thực tế cuộc sống một cách sáng tạo…
+ Học để chung sống? Học nhưng cần phải thích ứng với hoàn cảnh sống để tồn tại và phù hợp với đời sống xã hội xung quanh mình…Vì vậy cần giao lưu mở rộng, cần hội nhập với thế giới nhưng không hòa tan vào nền văn hóa thế giới Tuổi trẻ phải học, phải có kiến thức, tiếp thu có chọn lọc những nền văn hóa khác nhau trên thế giới
+ Học để tự khẳng định mình? Học để hoàn thiện nhân cách, để hiểu biết đầy đủ hơn, để làm việc có hiệu quả hơn và quan hệ xã hội sẽ tốt đẹp hơn Học cần tìm tòi sáng tạo cho nên học để tự khẳng định giá trị của mình trong cuộc sống
- Mỗi vấn đề cần nêu một số dẫn chứng cụ thể
- Bình luận: Nhận xét, đánh giá mục đích học tập của UNESCO là quan điểm tiến bộ, đúng đắn…Phê phán quan điểm chạy theo thành tích, học nhồi nhét, học xa rời thực tế… của một số người trong xã hội
c Kết bài:
- Khái quát vấn đề đã trình bày
- Đánh giá mục đích học tập của cá nhân: Đây là bài học định hướng học tập cho tuổi trẻ và mọi người trong cuộc sống hiện tại
Trở lại vấn đề về bố cục của bài văn nghị luận vừa nêu trên, giáo viên cần giải thích và phân tích kĩ cách thức mở bài,thân bài và kết bài của một bài nghị luận Bởi lẽ có nhiều học sinh còn lúng túng, mất thời
Trang 9gian trong khâu mở bài, viết sơ sài ở phần thân bài và thậm chí làm qua loa hoặc không làm phần kết bài
- Mở bài: Là phần mở đầu của bài văn Xét về mặt nội dung cần phải nêu được vấn đề, giới hạn vấn đề, hướng giải quyết Xét về mặt hình thức thường ngắn gọn nhưng đầy đủ Có nhiều cách mở bài, tùy dụng ý của người làm mà có thể mở bài theo nhiều cách khác nhau,tuy nhiên có hai cách được sử dụng nhiều nhất: Mở bài trực tiếp hoặc gián tiếp
+ Đặt vấn đề trực tiếp là tìm cách giới thiệu ngay nội dung chủ yếu của vấn đề Lối mở bài này có tác dụng tập trung sự chú ý của người đọc, người nghe ngay từ đầu
Ví dụ: Bình luận câu tục ngữ: “ Tốt gỗ hơn tốt nước sơn” Ta có thể mở bài như sau: Bàn về mối quan hệ giữa bản chất với hình thức bề ngoài của sự vật, hiện tượng, tục ngữ Việt Nam có câu: “ Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”
+ Đặt vấn đề gián tiếp: Đây là phương pháp được sử dụng nhiều nhất trong cả văn nghị luận xã hội và nghị luận văn học Cách mở bài này là nêu ra những ý liên quan đến vấn đề cần nghị luận để khêu gợi rồi mới bắt vào vấn đề ấy Có nhiều cách: Diễn dịch, quy nạp, tương đồng, tương phản, giải thích những từ mang ý nghĩa chính, dựa vào lịch sử…
Diễn dịch: Loại mở bài đi từ cái chung, cái số nhiều… đến chi tiết, đến một người, một sự vật Loại mở bài này đòi hỏi học sinh phải có tầm nhìn bao quát và trí phán đoán chính xác về vấn đề cần bàn luận
Ví dụ: Với đề bài ở trên, ta có thể mở bài như sau: Tục ngữ thường thể hiện những triết lí rất sâu sắc của dân gian Bàn về mối quan hệ giữa bản chất với hình thức bề ngoài của sự vật, hiện tượng, ông cha ta cócâu:
“ Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”
Quy nạp: Nêu lên những ý nhỏ hơn vấn đề đặt ra trong đề bài rồi tổng hợp lại thành vấn đề cần nghị luận Ví dụ: Với đề bài ở trên, ta có thể mở bài như sau: Trong đời sống nhiều khi ta phải đứng trước một sự lựa chọn về vật, về người: Người đẹp mà kém, người giỏi lại không đẹp; Vật đẹp thì không bền, còn vật bền thì không đẹp Đối với các trường hợp ấy, dân gian ta có lời khuyên: “ Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”
Tương phản: Để mở bài theo lối tương phản, học sinh cần biết: Nội dung chính của đề, nội dung trái ngược với nội dung chính của đề Ví dụ: Với đề bài ở trên, ta có thể mở bài như sau: Người đời không mấy ai không bị hấp dẫn bởi vẻ đẹp bên ngoài, bởi danh vọng, địa vị Vì thế, nhiều người thường bị những hình thức bên ngoài ấy lừa dối, khiến mất khả năng đánh giá chính xác sự vật, hiện tượng, thậm chí còn đem cả cuộc sống theo đuổi “ những vinh quang vô ích” Để răn đời, đồng thời để
Trang 10nêu lên một nhận xét chung về vai trò quan trọng của nội dung so với hình thức, tục ngữ có câu: “ Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”…
Mở bài bằng cách nào là tùy ở mỗi người nhưng cần nêu được vấn đề, gây sự chú ý cho người đọc, viết giản dị, tự nhiên
- Thân bài: Đây là phần trọng tâm của bài văn Giải quyết toàn bộ nội dung do đề bài đặt ra Thân bài phải từ luận đề để tìm ra luận điểm, mỗi luận điểm được viết thành một đoạn văn hoàn chỉnh Lý lẽ, lập luận phải chặt chẽ, dẫn chứng phải xác thực, đảm bảo tính hệ thống, nhất quán giữa các ý Để trình bày phần thân bài, giáo viên lưu ý một số vấn đề sau: + Xét về giới hạn giá trị của đề:
Với những đề nội dung hoàn toàn đúng, triển khai phần thân bài
tương đối đơn giản, nghĩa là theo dàn bài chung của từng thể loại văn nghị luận đã được học( Chứng minh, giải thích, bình luận…)
Ví dụ: Hãy cho biết ý kiến của mình về giá trị của câu ca dao “ Một cây làm chẳng nên non- Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”
Với những đề mà nội dung chỉ đúng một phần thì ở phần thân bài
cần trình bày những luận điểm, luận chứng ở dạng đối chiếu, so sánh
Ví dụ: Hãy bình luận câu tục ngữ : “ Học thầy không tày học bạn”
Ở phần thân bài chúng ta định hướng cho học sinh triển khai bằng hình thức so sánh, đối chiếu giữa kết quả của học thầy, học bạn mới xác định được ý khẳng định “không tày” của câu tục ngữ là không đúng hoàn toàn
Đối với những đề có nội dung hoàn toàn sai cần triển khai giải thích
nghĩa, ý nghĩa của vấn đề, dùng chứng cứ, lập luận để bác bỏ( không đồng ý), hình thành một quan niệm sống phù hợp
Ví dụ: Cổ nhân có dạy: “ Ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau” Anh( chị) có đồng ý với quan niệm sống ấy không, tại sao? Đối với đề bài này ta giải thích ý nghĩa của câu tục ngữ: Lập ý của người xưa Sau đó dùng chứng cứ, lập luận để bác bỏ ý ấy Cuối cùng, hình thành một quan niệm sống phù hợp
+ Xét về yêu cầu thể loại của đề để có hướng nghị luận thích hợp Khi tìm hiểu đề, ngoài biết nội dung chính, chúng ta còn biết yêu cầu về thể loại văn nghị luận của đề
Ví dụ: Bàn về mối quan hệ bạn bè, có người nói: “ Tôi sẽ nhìn nghiêng nếu bạn tôi chột mắt” Anh( chị) hãy chứng minh Với đề này yêu cầu thể loại ở phần thân bài là nghị luận chứng minh Cũng với đề trên, nếu ta đặt câu hỏi: Anh chị hãy cho biết tại sao và chứng minh câu nói ấy thì yêu cầu thể loại của đề trên ở phần thân bài là phối hợp giữa