Địa vị pháp lý của cơ quan Đăng kí kinh doanh
Trang 1Lời nói đầu
Cùng với sự mở cửa của nền kinh tế thị trờng, pháp luật Việt Nam đang ngày càng hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể tham gia vào kinh doanh Sự ra đời của các văn bản pháp lý đợc xã hội đánh giá rất cao trong đó có Luật Doanh nghiệp, Nghị định 109, Nghị định 125
Luật Doanh nghiệp 1999 qui định “công dân có quyền làm những gì pháp luật không cấm”, thực sự là bớc tiến rrong việc tạo lập khuôn khổ pháp lý cho việc thực thi nguyên tắc tự do kinh doanh ở nớc ta
Đăng ký kinh doanh là một thủ tục hành chính, là một công cụ quản lý kinh
tế vĩ mô của Nhà nớc, đối với nhà đầu t đó là phơng tiện để thực hiện quyền tự do kinh doanh Đăng ký kinh doanh có tầm quan trọng rất lớn Ngay từ năm 1991, chủ tịch Hội đồng Bộ trởng (Nay là Thủ tớng Chính phủ) đã cho phép thành lập
Vụ quản lý ĐKKD thuộc Trọng tài Kinh tế Nhà nớc Năm 1994 quản lý Nhà nứơc
về ĐKKD đợc chuyển sang hệ thống cơ quan Kế hoạch và Đầu t Năm 1999 t tởng chỉ đạo là hình thành hệ thống cơ quan ĐKKD thống nhất trong cả nớc Hiện nay
hệ thống cơ quan ĐKKD ở nớc ta qui định cụ thể trong Nghị định 02/2000/NĐ-CP
và Nghị định 109/2004/NĐ-CP thay thế Nghị định 02/2000/NĐ-CP
Cơ quan ĐKKD đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc thực thi pháp luật kinh doanh ở nớc ta Các vấn đề về thực trạng, cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ của cơ quan ĐKKD đang đợc chú trọng và quan tâm Nó cung cấp các dịch vụ công và là một trong những công cụ quản lý kinh tế của Nhà nớc Có rất nhiều vấn
đề đợc xem xét, đặt ra xung quanh cơ quan ĐKKD để hoàn thiện hơn pháp luật kinh doanh nớc ta Do vậy em đã chọn đề tài:
“Địa vị pháp lý của cơ quan ĐKKD “
Mặc dù đã từng xuất hiện bộ phận quản lý ĐKKD từ năm 1991 nhng hiện nay cơ quan ĐKKD vẫn còn là đề tài khá mới mẻ Do sự hiểu biết hạn chế nên đề tài chắc chắn có nhiều thiếu sót, em xin đợc sự chỉ bảo hớng dẫn của thầy để đề tài của em đợc hoàn thiện hơn Đồng thời em cảm ơn thâỳ đã tận tình hớng dẫn giúp
đỡ em một số điều trong thời gian qua Hi vọng đề tài của em sẽ mang đến một cái nhìn mới về cơ quan ĐKKD đối với ngời đọc và những ai đã và đang quan tâm
Trang 2I Sự hình thành và phát triển của cơ quan Đăng ký kinh doanh
1 Trớc khi có Luật Doanh nghiệp 1999
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung khi mà các doanh nghiệp chỉ bao gồm doanh nghiệp Nhà nớc và hợp tác xã thì việc sản xuất nh thế nào,qui mô, phân phối cho ai đều do chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nớc đề ra Do đó hoạt động
ĐKKD có thể coi là không có Hơn nữa môi trờng kinh doanh hầu nh không có cạnh tranh nên không đòi hỏi quản lý về ĐKKD Khi chuyển sang nền kinh tế thị trờng, sự đẩy mạnh quản lý Nhà nớc về ĐKKD là một đòi hỏi cấp thiết
Năm 1990 Luật Doanh nghiệp t nhân và Luật Công ty ra đời đã khẳng định quan điểm không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế Luật Công ty đầu tiên đợc qui định trong dân luật thi hành tại các Toà án Nam- Bắc Kỳ năm 1931 Nhng đến năm1990 với sự chuyển đổi cơ chế thị trờng, quyền tự do kinh doanh đ-
ợc Luật Doanh nghiệp t nhân và Luật Công ty ghi nhận
Trong hiến pháp 1992 cơ chế thị trờng đã đựoc ghi nhận thành nguyên tắc hiến định Nhà nớc đảm bảo quyền tự do kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật Cả lí luận và thực tiễn khẳng định “Nền kinh tế nào cũng cần đến vai trò quản lý của Nhà nớc” Để quản lý kinh tế, Nhà nứơc đã sử dụng rất nhiều công cụ nh
ĐKKD, thuế, giấy phép kinh doanh trong đó phải kể đến tầm quan trọng của chế
độ ĐKKD và cần phải có cơ quan quản lý nó
Theo thông t số 07/TT/ĐKKD ngày 29/07/1991 nêu rõ việc thực hiện ĐKKD
là nhiệm vụ và quyền hạn đợc pháp luật giao cho trọng tài kinh tế theo qui định tại
đoạn 2 điều 2 Pháp lệnh trọng tài kinh tế Năm 1991 Chủ tịch Hội đồng Bộ trởng ( Nay là Thủ tớng Chính phủ ) đã cho phép thành lập vụ quản lý ĐKKD thuộc trọng tài kinh tế Nhà nớc để “giúp Chủ tịch Trọng tài Kinh tế Nhà nớc dự thảo các văn bản hớng dẫn và theo dõi việc thực hiện luật lệ Nhà nớc và các văn bản hớng dẫn việc ĐKKD “ Theo đó ở địa phơng đã thành lập phòng ĐKKD thuộc Trọng tài Kinh tế cấp tỉnh để tiến hành ĐKKD cho các Doanh nghiệp trong phạm vi cả nớc.Nhận thấy sự bât hợp lí của Luật Doanh nghiệp t nhân ,Luật Công ty thể hiện ở việc luật ghi nhận công dân Việt Nam có quyền tự do kinh doanh nhung lại
Trang 3qui định ngời kinh doanh phải xin phép cơ quan nhà nớc có thẩm quyền để thành lập doanh nghiệp ; hơn nữa Trọng tài Kinh tế Nhà nớc chỉ giống nh là một cơ quan quản lí Nhà nớc ,do đó năm 1994 trọng tài kinh tế Nhà nứơc bị giải thể , ủy ban kế hoạch nhà nớc cấp tỉnh đảm nhiệm theo qui định của luật sửa đổi ,bổ sung một số
điều cuả Luật Công ty 1994 ở Trung ơng, ủy ban kế hoạch nhà nớc giao nhiệm vụ này cho Vụ kế hoạch hoá thực hiện, còn ở địa phơng, Sở Kế hoạch và đầu t đợc giao nhiệm vụ trực tiếp thực hiện việc ĐKKD cho các doanh nghiệp.Tuy nhiên lúc này nhu cầu về xây dựng một hệ thống cơ quan ĐKKD đủ mạnh để thực hiện các nhiệm vụ đơc giao cha đặt ra một cách cấp bách
Ngày 31/03/1998 thủ tớng chính phủ ra chỉ thị số 16/1998/CT-TTg về giải quyết những kiến nghị của doanh nghiệp theo đó các tỉnh,thànhphố trực thuộc Trung Ương giao cho các sở kế hoạch và đầu t làm đầu mối tiếp nhận hồ sơ và xử
lí các đề nghị của doanh nghiệp để trình UBND tỉnh quyết định Trong khi chờ sửa
đổi Luật Công ty, những doanh nghiệt đã có giấy phép thành lập nếu có đủ điều kiện và có yêu cầu ĐKKD ngay thì cơ quan kế hoạch đợc quyền cấp ĐKKD, không đòi hỏi các thủ tục khác Bộ Kế hoạch và Đầu t phối hợp Bộ t pháp ban hành thônh t liên tịch số 05/1998/TTLT-BKH-TP ngày 10/07/1998 hớng dẫn thủ tục thành lập, ĐKKD đối với doanh nghiệp t nhân , công ty
2 Sau khi có luật doanh nghiệp 1999
Ngày 12/06/1999 Nh nớc ban hành luật Doanh nghiệp và bắt đầu có hiệu lực
từ ngày 01/01/2000 Cuối năm 1999 đẻ chuẩn bị cho việc triển khai thi hành luật doanh nghiệp, tại thông báo số 188/TB-VPCP ngày 29/09/1999 của văn phòng chính phủ về một số vấn đề cấp bách trong việc hớng dẫn thi hành luật doanh nghiệp,Phó thủ tớng chính phủ đã nêu rõ “t tởng chỉ đạo là hình thành hệ thống cơ quan đăng kí kinh doanh thống nhất trong cả nớc có chức năng ,nhiệm vụ và cán
bộ đủ năng lực để thực hiện nhiệm vụ ĐKKD và quản lí sau ĐKKD” Tuy nhiên vì nhiều lí do khác nhau nên t tởng chỉ đạo trên của chính phủ vẫn cha đợc thực hiện
Trang 4Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 của chính phủ về ĐKKD và thông t liên tịch số 05/2000/TTLT-BKH-BTCCBCP đã qui định cụ thể hệ thống cơ quan ĐKKD, gồm có phòng ĐKKD cấp tỉnh và phòng ĐKKD cấp huyện
Ngày 02/04/2004 Nghị định số 109/2000/NĐ-CP ra đời thay thế Nghị định trên, theo đó cơ quan ĐKKD cấp huyện
II Nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của cơ quan ĐKKD nớc ta
1 Trớc khi có Luật Doanh nghiệp 1999
Theo Nghị định số 221-HĐBT ngày 23/07/1991, Nghị định 222-HĐBT ngày 23/07/1991 và Thông t 07/TT/ĐKKĐ ngày 29/07/1991 của Trọng tài Kinh tế Nhà nớc thì ĐKKD là nhiệm vụ và quyền hạn pháp luật giao cho Trọng tài Kinh tế Trọng tài Kinh tế tỉnh nơi đặt trụ sở chính của Doanh nghiệp t nhân, Công ty thực hiện việc ĐKKD cho các Doanh nghiệp t nhân, Công ty đã đợc Uỷ ban nhân dân tỉnh mình cấp giấy phép thành lập Trọng tài Kinh tế tỉnh nơi đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện của Doanh nghiệp t nhân hoặc Công ty thực hiện việc ĐKKD cho chi nhánh hoặc văn phòng đại diện đã đợc UBND tỉnh mình cấp giấy phép đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện
Trọng tài Kinh tế thực hiện việc ĐKKD qui định tại Điều 2 Pháp lệnh Trọng tài Kinh tế Trọng tài Kinh tế Nhà nớc kiểm tra việc thực hiện ĐKKD của Trọng tài Kinh tế cấp tỉnh bao gồm việc tiếp nhận hồ sơ ĐKKD, cấp giấy chứng nhận
ĐKKD, việc ghi các biểu mẫu, giấy tờ, thay đổi kinh doanh Trọng tài Kinh tế nhận hồ sơ ĐKKD của chủ Doanh nghiệp t nhân, Công ty khi hồ sơ đã đầy đủ theo qui định pháp luật Nếu hồ sơ thiếu hoặc cha hợp lệ, Trọng tài Kinh tế hớng dẫn
bổ sung hoặc làm lại hồ sơ ĐKKD Khi hồ sơ ĐKKD đầy đủ và hợp lệ, Trọng tài Kinh tế tiếp nhận hồ sơ có ghi vào phiếu nhận hồ sơ và giao phiếu nhận hồ sơ cho ngời nộp hồ sơ Sau đó Trọng tài Kinh tế sẽ xem xét nội dung hồ sơ Thời hạn để xem xét và cấp giấy chứng nhận ĐKKD cho DNTN, Công ty là 15 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ Trọng tài Kinh tế có thể từ chối cấp giấy chứng nhận ĐKKD nấu
hồ sơ không đủ để chứng minh là chủ DNTN hay Công ty có đủ điều kiện luật
Trang 5định để hoạt động kinh doanh Ngời bị từ chối có quyền khiếu nại đến Trọng tài Kinh tế Nhà nứơc Chủ tịch Trọng tài Kinh tế Nhà nớc xem xét giải quýêt các vi phạm trong ĐKKD.
Năm 1994, Trọng tài Kinh tế chấm dứt hoạt động, nhiệm vụ quản lí Nhà nớc
về ĐKKD đợc chuyển sang hệ thốnh cơ quan kế hoạch và đầu t Uỷ ban kế hoạch Nhà nớc cấp tỉnh đảm nhiệm theo qui định của luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Doanh nghiệp t nhân 1994 và Luật Công ty 1994 trình tự thủ tục
ĐKKD,quyền hạn, nhiệm vụ, trách nhiệm của cơ quan ĐKKD-nay là Uỷ ban
Kế hoạch Nhà nớc cấp tỉnh vẫn nh kế hoạch trớc đây
Năm 1995 Thủ tớng chính phủ ra quyết định số 852/CP ngày 28/12/1995 về thành lập sở kế hoạch và đầu t trên cơ sơ sát nhập và tổ chức lại Uỷ ban kế hoạch Nhà nớc cấp tỉnh và các tổ chức làm công tác hợp tác đầu t ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng Nh vậy mọi công việc của Uỷ ban Kế hoạch Nhà nớc cấp tỉnh đ-
ợc giao cho Sở kế hoạch và Đầu t trong đó có việc ĐKKD
2 Sau khi có luật doanh nghiệp 1999
2.1 Cơ cấu tổ chức
Cơ quan ĐKKD đợc tổ chức ở tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ơng (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) và ở huyện,quận, thị xă, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện)
2.1.1 Phòng ĐKKD cấp tỉnh
Theo Nghị định 02/2000/NĐ-CP và Thông t liên tịch số BKH-BTCCBCP thì phòng ĐKKD trong Sở kế hoạch và Đầu t đợc gọi chunglà phòng ĐKKD cấp tỉnh, đợc thành lập trên cơ sở sắp xếp lại cơ cấu,tổ chức, đổi tên,
05/2000/TTLT-điều chỉnh chức năng của các phòng đang thực hiện nhiệm vụ ĐKKD tại Sở kế hoạch và Đầu t Việc ĐKKD cho các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp sử dụng con dấu của phòng ĐKKD Trởng phòng ĐKKD chịu trách nhiệm trớc pháp luật trong viêc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của phòng Trởng phòng ĐKKD có thể do Giám đốc hoặc Phó giám đốc Sở kế hoạch Đầu t kiêm nhiệm Biên chế của phòng ĐKKD ở từng địa phơng do chủ tịch UBND cấp
Trang 6tỉnh quyết định trong tổng số biên chế quản lí Nhà nớc giao cho tỉnh, đợc xác định trên cơ sở khối lợng công tác ĐKKD của các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trên địa bàn và các nhiệm vụ khác đợc giao Cán bộ của phòng
ĐKKD đợc bố trí chuyên trách, ổn định, có đủ phẩm chất đạo đức, năng lực trong công tác để hoàn thành nhiệm vụ đợc giao
2.1.2 Cơ quan ĐKKD cấp huyện
Theo Nghị định 02/2000/NĐ-CP phòng ĐKKD thuộc UBND cấp huyện gọi chung là phòng đăng kí kinh doanh cấp huyện Tuỳ tình hình số lợng hộ kinh doanh cá thể và hợp tác xă trên địa bàn, chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định thành lập phòng ĐKKD riêng hoặc giao nhiệm vụ ĐKKD cho một phòng chuyên môn
đă có thuộc UBND cấp huyện (phòng Kế hoạch Đầu t hoặc phòng Tài chính Kế hoạch) Việc thành lập phòng ĐKKD riêng chỉ áp dụng đối với cấp huyện có số l-ợng lớn hộ kinh doanh cá thể và hợp tác xã, trên cơ sở sắp xếp lại số cán bộ đang làm nhiệm vụ ĐKKD thuộc các phòng chuyên môn của UBND cấp huyện
Việc ĐKKD đối với hộ kinh doanh cá thể có thể sử dụng con dấu của UBND cấp huyện hoặc dấu của phòng ĐKKD theo quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng Biên chế của phòng ĐKKD hoặc bộ phận làm nhiệm vụ kinh doanh do UBND cấp huyện quyết định trong tổng biên chế quản lý Nhà nớc của Chủ tịch UBND cấp tỉnh giao cho UBND cấp huyện, đợc xác định trên cơ sở khối lợng ĐKKD của hộ kinh doanh cá thể và hợp tác xã trên
ĐKKD qui định tại Điều 5 Nghị định ( gọi chung là cơ quan ĐKKD cấp huyện )
Trang 7Thông t liên tịch số 05/2000/TTLT-BKH-BTCCBCP hớng dẫn việc tổ chức phòng ĐKKD bị bãi bỏ Bộ trởng Bộ Kế hoạch và Đầu t thống nhất với Bộ trởng
Bộ nội vụ ban hành qui định hớng dẫn về tổ chức, bộ máy,biên chế và tiêu chuẩn cán bộ ĐKKD
2.1.3 Bộ Kế hoạch và Đầu t
Là cơ quan quản lý Nhà nớc về ĐKKD chứ không phải là cơ quan ĐKKD Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Kế hoạch và Đầu t sẽ đợc nghiên cứu ở phần dới đây
2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan ĐKKD.
Đợc qui định tại Điều 116-Luật Doanh nghiệp 1999 bao gồm: Giải quyết việc
ĐKKD và cấp giấy chứng nhận ĐKKD theo qui định của pháp luật; Xây dựng, quản lý hệ thống thông tin về doanh nghiệp, cung cấp thông tin cho các cơ quan Nhà nớc, cho tổ chức cá nhân có yêu cầu theo qui định của pháp luật; Yêu cầu doanh nghiệp báo cáo về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp khi xét thấy cần thiết cho việc thực hiện các qui định của luật này, đôn đốc việc thực hiện chế độ báo cáo của doanh nghiệp; Trực tiếp kiểm tra hoặc đề nghị cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền kiểm tra doanh nghiệp theo những nội dung trong hồ sơ ĐKKD; Xử lý
vi phạm các qui định về ĐKKD theo qui định của pháp luật, thu hồi giấy chứng nhận ĐKKD và yêu cầu doanh nghiệp làm thủ tục giải thể theo qui định tại luật này; Chịu trách nhiệm trớc pháp luật về những vi phạm trong việc ĐKKD; Thực hiện các quyền và trách nhiệm khác theo qui định của pháp luật
Cụ thể hoá Điều này Nghị định 109/2004/NĐ-CP ngày 02/4/2004 đã qui định chức năng cụ thể cho cơ quan ĐKKD cấp tỉnh, huyện
2.2.1 Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh
* Trực tiếp nhận hồ sơ ĐKKD; xem xét tính hợp lệ của hồ sơ ĐKKD và cấp giấy chứng nhận ĐKKD cho doanh nghiệp
* Hớng dẫn ngời ĐKKD về ngành nghề kinh doanh phải có điều kiện và điều kiện kinh doanh các ngành nghề đó
* Xây dựng, quản lý hệ thống thông tin về doanh nghiệp trong phạm vi địa phơng; cung cấp thông tin về doanh nghiệp trong phạm vi địa phơng cho UBND
Trang 8cấp tỉnh, các sở có liên quan và Bộ Kế Hoạch và Đầu t theo định kỳ, cho các tổ chức, cá nhân có yêu cầu.
* Yêu cầu doanh nghiệp báo cáo tình hình kinh doanh của doanh nghiệp khi xét thấy cần thiết theo qui định tại khoản 3 Điều 116 Luật Doanh nghiệp; đôn đốc việc thực hiện chế độ báo cáo tài chính hàng năm của doanh nghiệp theo qui định tại Điều 118 Luật Doanh nghiệp
* Khi xem xét hồ sơ ĐKKD, nếu phát hiện nội dung đăng ký kê khai không chính xác, không đầy đủ, thì yêu cầu ngời ĐKKD hiệu đính hoặc làm lại hồ sơ
ĐKKD; nếu phát hiện nội dung đăng ký kê khai là giả mạo thì từ chối cấp
ĐKKD
Sau khi cấp Giấy chứng nhận ĐKKD, nếu phát hiện có nội dung kê khai trong hồ sơ ĐKKD là không chính xác thì tuỳ theo mức độ vi phạm mà xử lý theo qui định tại Nghị định số 37/2003/NĐ-CP ngày 10/4/2003 của Chính phủ qui định
Không báo cáo về hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp với cơ quan
ĐKKD trong 2 năm liên tiếp
Không gửi báo cáo theo qui định tại khoản 3 Điều 116 Luật Doanh nghiệp
đến cơ quan ĐKKD trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày có yêu cầu bằng văn bản
Trang 9Kinh doanh các ngành nghề bị cấm.
Cơ quan ĐKKD không đợc quyền thu hồi Giấy chứng nhận ĐKKD của doanh nghiệp trong bất kỳ trờng hợp nào khác ngoài các trờng hợp quy định tại khoản này So với Nghị định 02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 thì trong Nghị định này nhiệm vụ thứ 5 qui định trong NĐ 02/2000/NĐ-CP đợc tách ra làm hai nhiệm
vụ trong đó nếu nội dung đăng ký kê khai là giả mạo thì từ chối cấp ĐKKD chứ không phải thông báo yêu cầu hiệu đính Ngoài ra Nghị định 109/2004/NĐ-CP ngày 02/4/2004 còn chỉ rõ nhiệm vụ trực tiếp kiểm tra hoặc yêu cầu cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền kiểm tra doanh nghiệp theo nội dung ĐKKD ( Nghị định 02/2000/NĐ-CP chỉ nêu rõ sáu nhiệm vụ mà thôi ) Trong nhiệm vụ thứ bảy, phòng ĐKKD cấp tỉnh có quyền thu hồi Giấy chứng nhận ĐKKD đối với doanh nghiệp có thêm hai trờng hợp mà trong Nghị định 02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 không hề qui định đó là “Có nội dung kê khai trong hồ sơ ĐKKD là giả mạo hoặc trái với Điều 9 Luật Doanh nghiệp và không đăng ký mã số thuế trong thời hạn một năm kể từ khi đợc cấp Giấy chứng nhận ĐKKD Nh vậyNhà n-
ớc có thể biết rõ hơn thông tin về doanh nghiệp, giám sát chặt chẽ hơn và hạn chế
sự vi phạm của doanh nghiệp
Ngời thành lập doanh nghiệp hoặc ngời đại diện nộp đủ hồ sơ theo qui định tại Điều 12 Nghị định này tại phòng ĐKKD cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính Phòng
ĐKKD cấp tỉnh không đợc yêu cầu ngời thành lập doanh nghiệp nộp thêm bất kỳ giấy tờ nào khác ngoài hồ sơ quy định tại Điều 12 Nghị định này đối với từng loại hình doanh nghiệp
Khi tiếp nhận hồ sơ, phòng ĐKKD cấp tỉnh phải trao giấy biên nhận về việc nhận hồ sơ cho ngời nộp hồ sơ Ngời thành lập doanh nghiệp có thể gửi hồ sơ
ĐKKD qua địa chỉ th điện tử (Email) của phòng ĐKKD cấp tỉnh Khi nhận đợc hồ sơ ĐKKD gửi qua th điện tử, phòng ĐKKD cấp tỉnh xem xét tính đầy đủ, hợp lệ
và thông báo cho ngời thành lập doanh nghiệp biết thời gian đến nhận Giấy chứng nhận ĐKKD qua số điện thoại hoặc địa chỉ th điện tử của ngời thành lập doanh nghịêp hoặc yêu cầu ngời thành lập doanh nghiệp sửa đổi bổ, sung hồ sơ cho đúng qui định Trong trờng hợp này, khi đến nhận Giấy chứng nhận ĐKKD, ngời thành
Trang 10lập doanh nghiệp phải nộp một bộ hồ sơ ĐKKD (hồ sơ trên giấy) tại phòng ĐKKD cấp tỉnh để đối chiếu và lu hồ sơ Qui định này cũng áp dụng đối với trờng hợp doanh nghiệp lập chi nhánh, văn phòng đại diện và đăng ký thay đổi, bổ sung nội dung ĐKKD Phòng ĐKKD cấp tỉnh chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơ, không chịu trách nhiệm về những hành vi vi phạm pháp luật của doanh nghiệp xảy
ra sau ĐKKD Phòng ĐKKD cấp tỉnh cấp Giấy chứng nhận ĐKKD cho doanh nghiệp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ, nếu có đủ các điều kiện về ngành nghề, việc đặt tên doanh nghiệp, hồ sơ ĐKKD, nộp đủ lệ phí ĐKKD theo qui định pháp luật tại khoản 3 Điều 13 của Nghị định 109/2004/NĐ-CP ngày 02/4/2004 Trờng hợp hồ sơ không hợp lệ hoặc tên doanh nghiệp đợc đặt không
đúng theo qui định thì phòng ĐKKD cấp tỉnh phải thông báo bằng văn bản cho ngời thành lập doanh nghiệp biết trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày nhận hồ sơ thông báo phải nêu rõ nội dung cần sửa đổi và cách thức sửa đổi Quá thời hạn nói trên mà không có thông báo thì tên của doanh nghiệp coi nh đợc chấp nhận, hồ sơ
ĐKKD đợc coi là hợp lệ Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận
ĐKKD cho doanh nghiệp, phòng ĐKKD cấp tỉnh gửi bản sao Giấy chứng nhận
ĐKKD đến Bộ Kế hoạch và Đầu t, cơ quan thuế, cơ quan thống kê, cơ quan quản
lý ngành kinh tế-kĩ thuật cùng cấp, cơ quan ĐKKD cấp huyện nơi doanh nghiệp
đặt trụ sở chính và phải gửi đến Trung tâm thông tin doanh nghiệp ( mà Nghị định 02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 cha qui định ) Đối với việc lập chi nhánh, văn phòng đại diện, việc đăng ký thay đổi địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp, đăng
ký thay đổi vốn đầu t của chủ Doanh nghiệp t nhân, vốn điều lệ của Công ty; đăng
ký bổ sung, thay đổi ngành nghề kinh doanh , phòng ĐKKD cấp tỉnh xem xét và thực hiên theo đúng các qui định trong Nghị định
Khác với trớc đây, cơ quan ĐKKD theo Luật Doanh nghiệp không chỉ thực hiện các thủ tục ĐKKD mà còn phải cập nhật thông tin về doanh nghiệp, theo dõi, giám sát doanh nghiệp theo các nội dung đã đăng ký trong suet quá trình hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp Ngoài việc đăng bạ, hớng dẫn ngành nghề kinh doanh theo luật định cho doanh nghiệp , cơ quan ĐKKD còn cung cấp thông tin về doanh nghiệp cho các tổ chức, cá nhân có yêu cầu (Điều 20 Luật
Trang 11Doanh nghiệp1999) Việc xác định thông tin giúp doanh nghiệp có cơ sở pháp lý chính thức để giảm đáng kể công sức xác định địa vị pháp lý của đối tác, bạn hàng thúc đẩy giao dịch giữa các doanh nghiệp, tìm kiếm bạn hàng mới, lành mạnh hoá, tạo ra sân chơi bính đẳng cho các doanh nghiệp.
Về quản lý Nhà nớc, việc chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm” thực sự là một bớc tiến mới Cơ quan ĐKKD theo dõi, giám sát doanh nghiệp trong suet quá trình hoạt động Ngoài việc doanh nghiệp phải nộp báo cáo tài chính định kỳ cho phòng ĐKKD thì phòng ĐKKD có quyền yêu cầu doanh nghiệp báo cáo về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp khi xét thấy cần thiết cho việc thực hiện các qui
định của Luật Doanh nghiệp 1999 Sau khi xem xét tuỳ vào mức độ vi phạm để xử
lý và có thể thu hồi Giấy chứng nhận ĐKKD theo qui định tại Điều 23 Nghị định 109/2004/NĐ-CP ngày 02/4/2004
2.2.2 Cơ quan Đăng ký kinh doanh cấp huyện.
* Trực tiếp nhận đơn ĐKKD của hộ kinh doanh cá thể, xem xét tính hợp lệ của đơn ĐKKD và cấp Giấy chứng nhận ĐKKD cho hộ kinh doanh cá thể
* Hớng dẫn ngời ĐKKD về ngành, nghề kinh doanh phải có điều kiện và
điều kiện kinh doanh các ngành nghề đó
* Xây dung, quản lý hệ thống thông tin về hộ kinh doanh cá thể hoạt động trên phạm vi địa bàn, định kỳ báo cáo UBND cấp huyện, phòng ĐKKD cấp tỉnh về
hộ kinh doanh cá thể và doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện doanh nghiệp trên phạm vi địa bàn
* Trực tiếp phối hợp với cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền kiểm tra doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể theo nội dung ĐKKD trên phạm vi địa bàn, xác minh nội dung ĐKKD của doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện trên phạm vi
địa bàn theo yêu cầu của phòng ĐKKD cấp tỉnh
* Thu hồi Giấy chứng nhận ĐKKD đối với hộ kinh doanh cá thể trong các ờng hợp:
tr Không tiến hành hoạt động kinh doanh trong thời hạn sáu moi ngày kể từ ngày đợc cấp Giấy chứng nhận ĐKKD ( Theo Nghị định 02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 là ba mơi ngày )
Trang 12- Ngừng hoạt động kinh doanh quá sáu mơi ngàyliên tục mà không thông báo với cơ quan ĐKKD cấp huyện nơi ĐKKD ( Theo Nghị định 02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 là ba mơi ngày )
- Chuyển địa điểm kinh doanh sang quận, huyện khác
- Kinh doanh ngành nghề bị cấm
Cơ quan ĐKKD cấp huyện nhận đơn trao giấy biên nhận và cấp Giấy chứng nhận ĐKKD cho hộ kinh doanh cá thể trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận
đơn nếu đủ điều kiện về ngành nghề kinh doanh, các qui định về việc đặt tên và nộp đủ lệ phí ĐKKD theo qui định Trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận ĐKKD, cơ quan ĐKKD cấp huyện gửi bản sao Giấy chứng nhận
ĐKKD hộ kinh doanh cá thể cho cơ quan thuế cùng cấp và sở chuyên ngành
Khác với Nghị định 02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000, trong Nghị định 109/2004/NĐ-CP ngày 02/4/2004 cơ quan ĐKKD cấp huyện còn phải định kỳ báo cáo phòng ĐKKD cấp tỉnh về doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện doanh nghiệp tên phạm vi địa bàn, xác minh nội dung ĐKKD của doanh nghiệp, chi nhánh và văn phòng đại diện trên phạm vi địa bàn theo yêu cầu phòng ĐKKD cấp tỉnh
Nh vậy theo qui định mới trách nhiệm quyền hạn của cơ quan ĐKKD cấp huyện đợc mở rộng hơn Đồng thời thời hạn thu hồi Giấy chứng nhận ĐKKD của doanh nghiệp khi không tiến hành hoặc ngừng hoạt động kinh doanh từ ba mơi ngày nay chuyển thành sáu mơi ngày cũng là một qui định thoáng hơn, nới rộng hơn trong kinh doanh đối với doanh nghiệp
2.2.3 Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Bộ Kế hoạch và Đầu t về Đăng ký kinh doanh.
* Ban hành theo thẩm quyền những văn bản hớng dẫn về chuyên môn, nghiệp
vụ, biểu mẫu phục vụ công tác ĐKKD
* Hớng dẫn, đào tạo, bồi dỡng nghiệp vụ ĐKKD cho cán bộ làm công tác
ĐKKD
* Quy định chế độ báo cáo về công tác ĐKKD và kiểm tra việc chấp hành chế độ báo cáo đó trong phạm vi toàn quốc
Trang 13* Xây dựng, quản lí hệ thống thông tin về doanh nghiệp trong phạm vi toàn quốc, cung cấp thông tin về doanh nghiệp cho các cơ quan có liên quan của chính phủ theo định kì, cho tổ chức, cơ quan có yêu cầu.
* Giám sát, kiểm tra công tác đăng kí kinh doanh, kiểm tra các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến ĐKKD do các bộ, hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng ban hành, phát hiện những quy định do các cơ quan đó ban hành không đúng thẩm quyền hoặc trái với Luật Doanh nghiệp hoặc Nghị định hớng dẫn thi hành luật và giải quyết theo quy định tại các khoản 3,
4, 5 Điều 13 Nghị định số 86/2002/NĐ-CP ngày 05/11/2002 của Chính phủ quy
định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ (Chức năng này thay thế chức năng phát hành bản tin về doanh nghiệp để công bố thông tin về thành lập, giải thể, phá sản doanh nghiệp, về thay đổi nội dung
ĐKKD của doanh nghiệp và các thông tin pháp luật trong kinh doanh trong Nghị
định 02/2000/NĐ-CP)
* Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ĐKKD
Có thể thấy trong Nghị định mới việc kiểm tra, giám sát ĐKKD đợc tăng ờng chặt chẽ hơn Ngoài ra trong nghị định 125/2004/NĐ-CP bổ sung thêm Điều 36a NĐ 03/2000/NĐ-CP quy định thực hiện quản lí nhà nớc đối với doanh nghiệp của các Bộ, cơ quan ngang Bộ cơ quan thuộc chính phủ trong đó có Bộ Kế hoạch
c-và Đầu t Nh vậy nghị định 109/2004NĐ-CP quy định nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan ĐKKD cơ bản giống Nghị định 02/2000/NĐ-CP, tuy nhiên có phần nới rộng hơn trong tự do kinh doanh Đặc biệt so với quy định trớc đây, chức năng “hậu kiểm” và cung cấp thông tin thực sự có ý nghĩa trong khi mà số lợng doanh nghiệp không ngừng tăng lên, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn
III Thực trạng về đăng kí kinh doanh và cơ quan đăng kí kinh doanh Kiến nghị và giải pháp
1 Về đăng kí kinh doanh
Đăng kí kinh doanh là một thủ tục hành chính mà ở đó nhà đầu t công khai hoá sự ra đời của mình với giới thơng nhân, Nhà nớc thừa nhân t cách pháp lí đồng