1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Công ty TNHH một thành viên quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam

21 278 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời gian qua vấn đề xử lý nợ xấu vẫn luôn là một yêu cầu đặt ra không chỉ với bản thân các tổ chức tín dụng mà còn cả toàn bộ hệ thống ngân hàng và nền kinh tế. Các số liệu mới nhất của Ngân hàng Nhà nước cho biết, nợ xấu tính đến năm 2013 đã giảm từ hơn 8% năm 2012 xuống còn 6%.

Trang 1

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT: i

LỜI GIỚI THIỆU i

1 Thực trạng nợ xấu ngân hàng Việt Nam 1

2 Khung pháp lý và cơ chế giám sát nợ xấu 1

2.1 Khung pháp lý: 1

2.2 Cơ chế giám sát, xử lý nợ xấu: 1

2.2.1 Phân loại nợ và trích lập dự phòng, xử lý nợ tồn đọng: 1

2.2.2 Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản AMC: 1

3 Quá trình hình thành ý tưởng VAMC 1

3.1 Mục đích hoạt động: 1

3.2 Hình thức hoạt động : 1

3.3 Hình thức và điều kiện mua nợ: 1

3.4 Những lợi ích mà VAMC sẽ mang lại: 1

4 Tình hình hoạt động trong 2 năm vừa qua và các vấn đề đặt ra 1

4.1 Tình hình hoạt động: 1

4.2 Thành tựu và thách thức: 1

4.2.1 Thành tựu: 1

4.2.2 Thách thức: 1

4.3 Các vấn đề đặt ra: 1

4.3.1 Nếu sau 5 năm các khoản nợ xấu bán cho VAMC không được xử lý triệt để, trong khi ngân hàng lại không trích dự phòng, thì vòng luẩn quẩn nợ xấu sẽ lặp lại và xấu hơn 1

4.3.2 Xử lý nợ xấu đang là vấn đề đặt ra đối với VAMC 1

4.3.3 Khuôn khổ pháp lý cơ bản cho tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại vừa thiếu, vừa không đồng bộ đang là rào cản lớn nhất làm chậm quá trình tái cơ cấu hệ thống các ngân hàng thương mại 1

KẾT LUẬN 1

TÀI LIỆU THAM KHẢO: i

Trang 2

VAMC: Công ty TNHH một thành viên quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam gọi tắt là Công ty Quản lý tài sản.

AMC: Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản trực thuộc ngân hàng thương mạiTCTD: Tổ chức tín dụng

NHNN : Ngân hàng Nhà nước

NHTM : Ngân Hàng Thương Mại

TSĐB : Tài sản đảm bảo

DNNN: Doanh nghiệp nhà nước

Trang 3

Trong thời gian qua vấn đề xử lý nợ xấu vẫn luôn là một yêu cầu đặt ra không chỉvới bản thân các tổ chức tín dụng mà còn cả toàn bộ hệ thống ngân hàng và nền kinh tế Các số liệu mới nhất của Ngân hàng Nhà nước cho biết, nợ xấu tính đến năm 2013 đãgiảm từ hơn 8% năm 2012 xuống còn 6% Trong khi đó, Vneconomy ngày 14/3 cũng dẫnbáo cáo của các tổ chức tín dụng cho biết, nợ xấu hiện còn 4,08% sau khi lên cao nhất4,86% vào cuối tháng 11/2012 Đồng thời, tốc độ tăng nợ xấu cũng có xu hướng giảm vàgiảm tới 12,2% vào tháng 12/2012 chủ yếu do tổ chức tín dụng tự xử lý bằng dự phòngrủi ro Theo Thống đốc Nguyễn Văn Bình khi trả lời phóng viên hồi cuối 2012, mục tiêutrong 2013 là giải quyết được 4 - 5% nợ xấu trong tổng số khoảng 8% của hệ thống ngânhàng, trong đó, tổ chức tín dụng tự xử lý bằng dự phòng khoảng 40 - 50 nghìn tỷ đồng.

Để phần nào giải quyết vấn đề này, chính phủ đưa ra đề án lập công ty quản lý tàisản VAMC, với mục đích giải quyết bớt số nợ xấu trong xã hội Sự kiện thành lập Công

ty quản lý tài sản Việt Nam (VAMC) là một sự kiện lớn trong lĩnh vực tài chính của nước

ta và cũng gây ra không ít vấn đề bàn cãi trong thời gian qua

Có lẽ mục tiêu thành lập VAMC là vô cùng hợp lý trong một bối cảnh hết sức cầnthiết để có một tổ chức như vậy Tuy nhiên trong thời gian qua, từ khi bắt đầu triển khaiđến giờ thì hiệu quả dự án vẫn chưa thuyết phục các chuyên gia tài chính và các đốitượng quan tâm Và để hiểu rõ hơn chúng ta cùng nhau xem xét bối cảnh thành lập, mụctiêu thiết thực cũng như hiệu quả hoạt động cho tới thời điểm hiện tại của VAMC Từ đây

ta đưa ra những vấn đề tranh cãi cần quan tâm và cần có sự giải đáp hợp lý trong tươnglai

Trang 4

1 Thực trạng nợ xấu ngân hàng Việt Nam

Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc, nợ xấu là các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày ; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc,tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận, hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạndưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ đượcthanh toán đầy đủ

Còn theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005, và sửa đổi theo Quyết định18/2007/QĐ-NHNN, Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dướimức tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) Tỷ lệ nợxấu là tỷ lệ nợ xấu so với tổng nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5

Việt Nam là một trong những nước tốc độ tăng trưởng huy động và cho vay caonhất trong khu vực, trong đó, hệ thống ngân hàng đóng vai trò chủ lực với thị phần tíndụng chiếm tới xấp xỉ 95% của toàn hệ thống các TCTD Trong các giai đoạn phát triểncủa nền kinh tế, trong bối cảnh thị trường vốn còn chưa phát triển, TDNH luôn đóng vaitrò là kênh dẫn vốn chủ đạo trên thị trường tài chính, bảo đảm đáp ứng nhu cầu vốn chođầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh và góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh

tế TDNH đã tăng trưởng bình quân trên 30%/năm trong giai đoạn 2001-2010, tỷ lệ tín

dụng/GDP đã tăng từ 40,1% vào năm 2000 lên tới 125% vào năm 2010

Bên cạnh sự tăng trưởng mạnh mẽ với những đóng góp tích cực cho nền kinh tếtrong thời gian vừa qua, hoạt động TDNH cũng còn rất nhiều vấn đề tồn đọng mà nổi bậtvà luôn được quan tâm nhiều là vấn đề nợ xấu Nợ xấu là sự tồn tại tất yếu trong hoạtđộng của hệ thống ngân hàng, vì vậy sự tồn tại của nợ xấu chỉ thực sự nguy hiểm khi nóvượt lên ngưỡng cao hoặc bối cảnh kinh tế, tình hình tài chính hiện tại của các chủ thểtrong nền kinh tế có thể đẩy nợ xấu lên mức nguy hiểm trong tương lai

Sau khi khối lượng nợ tồn đọng từ những năm 1990 được xử lý thì tỷ lệ nợ xấu từnăm 2000 với mức 2 con số đã giảm xuống còn ở mức thấp 1 con số Tuy nhiên trongnhững năm gần đây, tỷ lệ nợ xấu đang có chiều hướng gia tăng

Nhận định về nợ xấu, nhiều chuyên gia đã ví: “Nợ xấu giống một bộ phận trên cơthể con người, khi bệnh đã nặng cần xử lý nhanh để tránh thối rữa Nếu che lên vếtthương bằng nhiều loại vải chỉ là nhất thời, không nhìn thấy, nhưng bệnh thì càng tồitệ.Bởi vậy, xử lý nợ xấu cần nhanh hơn, mạnh, dứt điểm và minh bạch, chuẩn xác về tỷlệ”

Trang 5

Sự chuẩn xác về tỷ lệ nợ xấu là vấn đề đang được dư luận quan tâm khi các NHTM côngbố tỷ lệ nợ xấu chỉ bằng một nửa con số của Thống đốc NHNN đưa ra Tuy nhiên đểthống nhất trong phân tích và đánh giá chúng ta dùng số liệu của Ngân hàng Nhà Nước.

Năm 2011, lần đầu tiên (NHNN) chủ động công bố tỷ lệ nợ xấu trong các ngânhàng Theo đó, nợ xấu toàn hệ thống ngân hàng ở mức 3,6 - 3,8% tổng dư nợ Con số nàytới cuối năm 2012, theo công bố của NHNN là 4,08 %, cho dù theo các tổ chức đánh giáđộc lập thì con số thực tế cao hơn nhiều

Bước sang năm 2013, tỷ lệ nợ xấu vẫn còn ở mức cao, mức cao nhất là 4.77% vàotháng 10/2013 Đặc biệt, tháng 12/2013, nợ xấu của toàn hệ thống các tổ chức tín dụngViệt Nam có bước giảm mạnh nhất trong năm: từ 4,55% tháng liền trước xuống chỉ còn3,61%

Lần đầu tiên trong năm 2013 tỷ lệ nợ xấu mới giảm được xuống dưới 4% Dù đây là tỷ lệtổng hợp từ báo cáo của các tổ chức tín dụng, mức độ sát thực có hạn chế nhất định,nhưng là kết quả của loạt giải pháp mà Ngân hàng Nhà nước triển khai quyết liệt tronghai năm qua

Nguồn: Ngân hàng Nhà Nước

Trang 6

Có hai hướng xử lý cụ thể và trực tiếp nhất tạo nên kết quả trên: một là các tổ chứctín dụng tự xử lý; hai là bán lại nợ xấu cho VAMC (dù nợ xấu vẫn còn đó nhưng khôngcòn thể hiện ở con số báo cáo) Thế nhưng, đà giảm mạnh trong tháng 12/2013 không thểnối tiếp Sau đợt cao điểm mua lại gần 40.000 tỷ đồng nợ xấu, VAMC cũng tạm thờichững lại Nợ xấu lại có xu hướng tăng lên Theo báo cáo tài chính quý 1/2014 mà cácngân hàng thương mại tập trung công bố cho thấy nhiều trường hợp khó khăn hơn ở nợquá hạn Như ACB đã chính thức vượt mốc 3% với 3,27%; DongA Bank đã lên mức khácao với suýt soát 4%; PG Bank sau khi giảm được trong năm qua (một phần lớn nhờ bánlại cho VAMC) cũng đã trở lại trên 4%; hay tại Sacombank, một trong số ít thành viên có

tỷ lệ thấp năm 2013 (1,45%), đã tăng lên 1,86%

Ở diễn biến chung, theo cơ quan chuyên trách của Ngân hàng Nhà nước đưa ragần đây, đến hết tháng 2/2014, nợ xấu của toàn hệ thống vào khoảng 122.000 tỷ đồng,ứng với tỷ lệ 3,86% Nếu tính cả các khoản nợ được cơ cấu theo Quyết định 780, nợ xấucủa toàn hệ thống lên tới gần 308.000 tỷ đồng (chiếm 9,71% dư nợ)

Báo cáo Cập nhật tình hình phát triển kinh tế Việt Nam 2013 được Ngân hàng Thếgiới (WB) công bố gần đây cho thấy, ở khu vực tài chính ngân hàng, tuy những rủi ro vềhệ thống đã có phần được cải thiện nhưng quá trình cải cách và tái cơ cấu ở khu vực nàyvẫn còn mong manh, chưa được thực hiện quyết liệt Cải cách mạnh mẽ các ngân hàng làvấn đề cần phải được triển khai quyết liệt hơn nữa Thực ra, nếu chúng ta cản trở nhữnghoạt động hay hạn chế việc cho vay thì chính là đã hạn chế việc đưa luồng vốn vào ổnđịnh kinh tế Như vậy, nó sẽ làm chậm lại quá trình phát triển và tăng trưởng Các chuyên

Nguồn: Ngân hàng Nhà Nước

Trang 7

gia của WB và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cho rằng, ngân hàng thương mại Nhà nước cầnphải có những cải cách, cải thiện hơn nữa để nâng cao năng lực.

Bên cạnh đó, phần lớn những khách hàng lớn của ngân hàng thương mại Nhà nướclại chính là các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) Số liệu của một số nhà khoa học chothấy khu vực DNNN hiện đóng góp vào 70% nợ xấu của toàn hệ thống, trong đó các tậpđoàn kinh tế, tổng công ty chiếm 53% số nợ xấu Một đặc điểm nổi bật là nợ xấu của các

DN Việt Nam gắn khá chặt chẽ với khu vực bất động sản (BĐS) Dư nợ cho khu vực nàyvay chiếm dưới 16% nhưng các tài sản thế chấp bằng BĐS cho các khoản vay khác nhauchiếm tới 60-80% tổng giá trị tài sản thế chấp Khi thị trường BĐS suy giảm, nhữngkhoản nợ xấu, nợ quá hạn được thế chấp bởi BĐS sẽ rất khó thanh lý.Việc thanh lý mạnhcác tài sản thế chấp sẽ tiếp tục khiến giá BĐS giảm thêm và càng làm trầm trọng thêmtình hình nợ xấu của nền kinh tế.Do đó, cải cách phải song song việc cải cách khối ngânhàng thương mại Nhà nước với cải cách các DNNN Tuy nhiên, báo cáo Cập nhật tìnhhình phát triển kinh tế Việt Nam 2013 của WB cũng cho thấy tiến độ cải cách và tái cơcấu các DNNN vẫn hết sức chậm chạp sau 2 năm kể từ khi Chính phủ phê duyệt chủtrương và lộ trình cải cách

1 Khung pháp lý và cơ chế giám sát nợ xấu

1.1 Khung pháp lý:

Ngày 05/10/2001, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số TTg về việc phê duyệt đề án xử lý nợ tồn đọng của các NHTM, đây được coi là cơ sởpháp lý cho hoạt động phân loại nợ và xử lý các khoản nợ tồn động phát sinh trước thờiđiểm 31/12/2000 của các Ngân hàng thương mại Kèm theo là Thông tư liên tịch số02/2002/TTLT-NHNN-BTP ngày 05/02/2002 của Thủ tướng Chính phủ hướng dẫn thựchiện quyết định 149/2001/QĐ-TTg về thủ tục bán tài sản đảm bảo, công chứng, chứngthực văn bản bán tài sản và giao tài sản cho các ngân hàng thương mại theo bản án, quyếtđịnh của toà án

Đồng thời, vào ngày 05/10/2001, Thủ tướng cũng ra quyết định số TTg về việc thành lập công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản trực thuộc ngân hàngthương mại Theo quyết định này, các ngân hàng thương mại được phép thành lập Công

150/2001/QĐ-ty quản lý nợ và khai thác tài sản đảm bảo (AMC), có tư cách pháp nhân, hạch toán độclập sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản

Trang 8

Đến ngày 22/04/2005, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ra Quyết định số493/2005/QĐ-NHNN, ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập dự phòng để xử lý rủi

ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng Theo quyết định này, nợđược phân làm 5 nhóm: nhóm 1 là nợ đủ tiêu chuẩn với mức trích dự phòng là 0%, nhóm

2 là nợ cần chú ý với mức trích lập dự phòng 5%, nhóm 3 là nợ dưới tiêu chuẩn với mứctrích lập dự phòng 20%, nhóm 4 là nợ nghi ngờ nên mức trích lập lên đến 50%, còn lạinhóm 5 là nợ có khả năng mất vốn với mức trích lập 100% Và quyết định này được sửađổi bổ sung vào ngày 25/04/2007 theo quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN

- Và những năm gần đây, khi nền kinh tế đang suy giảm, vấn đề nợ xấu trở thành mối longại thực sự đối với các Ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng Ngân hàng nhà nướcban hành Thông tư số 02/2013/TT_NHNN vào ngày 21/01/2013 nhằm mục đích giám sát

nợ xấu của hệ thống ngân hàng tốt hơn Phạm vi xác định, phân loại nợ, trích lập dựphòng rủi ro được mở rộng thêm các tài sản: các khoản cấp tín dụng dưới hình thức pháthành thẻ tín dụng, tiền mua và uỷ thác mua trái phiếu doanh nghiệp, uỷ thác cấp tín dụng,tiền gửi (trừ tiền gửi thanh toán) tại các tổ chức tín dụng Bên cạnh đó, việc phân loại nợcòn phải sử dụng kết quả phân loại của Trung tâm Thông tin Tín dụng Ngân hàng nhànước (CIC) để điều chỉnh Tuy nhiên, hiệu lực của thông tư này đã bị hoãn so với dự kiếnvào ngày 01/06/2013

Nghị định số 53/2013/NĐ-CP của Chính phủ về thành lập tổ chức hoạt động củaCông ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam ra đời Tiếp theo ngày31/05/2013, Quyết định 843/2013/QĐ-TTG phê duyệt Đề án “Xử lý nợ xấu của hệ thốngcác tổ chức tín dụng” và Đề án “Thành lập Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tíndụng Việt Nam”được Thủ tướng Chính phủ ký thông qua Ngày 27/06/2013, Thống đốcNgân hàng Nhà nước đã ra quyết định số 1459/QĐ-NHNN về thành lập Công ty Tráchnhiệm hữu hạn một thành viên Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam NhữngQuyết định này đã đưa ra được Phương thức mới trong việc giải quyết vấn đề Nợ xấucũng như thúc đẩy tăng trưởng tín dụng hợp lý và từ đây nhiều Quyết định cũng nhưThông tư ra đời nhằm định hướng hoạt động cho công ty quản lý tài sản này

Thông tư số 19/2013/TT-NHNN ngày 06/09/2013 Quy định về việc mua, bán và

xử lý nợ xấu của Công ty Quản lý Tài sản của các tổ chức tín dụng Ở đây Ngân hàngNhà nước đã phân định thẩm quyền; nguyên tắc mua, bán nợ xấu; đồng tiền giao dịch làViệt Nam Đồng (VNĐ); tỷ giá quy đổi ngoại tệ USD là tỷ giá bình quân liên ngân hàngvà tỷ giá tính thuế xuất nhập khẩu đối với các ngoại tệ khác; đối với việc mua nợ xấu

Trang 9

bằng vàng thì sẽ sử dụng giá mua vào của công ty trách nhiêm hữu hạn một thành viênvàng bạc đã quý Sài Gòn Trong Thông tư này cũng quy định việc phát hành Trái phiếuđặc biệt của Công ty Quản lý tài sản: Chủ thể phát hành; điều kiện, điều khoản của Tráiphiếu đặc biệt; phương án và thủ tục phát hành cũng như trách nhiệm quản lý, sử dụng.Ngoài ra, phương thức xử lý nợ xấu và tài sản đảm bảo của công ty Quản lý Tài sản, việctrích lập dự phòng rủi ro của các tổ chức tín dụng bán nợ, trách nhiệm của các bên thamgia được quy định cụ thể.

Ngày 09/09/2013, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục ra thông tư số NHNN quy định về cho vay tái cấp vốn trên cơ sở trái phiếu đặc biệt của Công ty Quản

20/2013/TT-lý Tài sản của các tổ chức Tín dụng Việt Nam Thông tư này nhằm hỗ trợ nguồn vốn hoạtđộng của các Tổ chức tín dụng trong quá trình xử lý nợ xấu theo nghị định 53/2013/NĐ-

CP, quy định các điều kiện được tái cấp vốn, mức lãi suất, mức tái cấp vốn, thời hạn táicấp vốn và trình tự thủ tục tiến hành

Ngoài ra việc xử lý nợ xấu còn phải tuân theo các bộ luật Dân sự (2005), Luật Đấtđai (2003), Luật Phá sản (2004), Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2010), LuậtDoanh nghiệp (2005), Luật tổ chức tín dụng (2010)

1.2 Cơ chế giám sát, xử lý nợ xấu:

6, chương 2: Quy định cụ thể của Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN

(Khoản 3: Trường hợp khách hàng có nhiều hơn một khoản nợ với tổ chức tín dụngmà có bất kỳ khoản nợ bị chuyển sang nhóm nợ rủi ro cao hơn thì tổ chức tín dụng bắtbuộc phải phân loại các khoản nợ còn lại của khách hàng đó vào nhóm nợ rủi ro cao hơntương ứng với mức độ rủi ro Khoản 4: Trường hợp các khoản nợ (kể các các khoản nợtrong hạn và các khoản nợ cơ cấu lại thời gian trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ cấulại) mà tổ chức tín dụng có đủ cơ sở để đánh giá là khả năng trả nợ của khách hàng bị suygiảm thì tổ chức tín dụng chủ động quyết định phân loại các khoản nợ đó vào các nhóm

nợ rủi ro cao hơn tương ứng với mức độ rủi ro.)

Trang 10

- Nợ nhóm 4: Nợ nghi ngờ bao gồm: các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360ngày;các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày theo thờihạn đã cơ cấu lại; các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 4 theo quy định khoản 3và khoản 4 điều 6 chương 2 Quy định cụ thể Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN.

- Nợ nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn bao gồm: các khoản nợ quá hạn trên 360ngày; các khoản nợ khoanh chờ chính phủ xử lý; các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả

nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã được cơ cấu lại; các khoản nợ khác được phânloại và nhóm 5 theo quy định khoản 3 và khoản 4 điều 6 chương 2 Quy định cụ thể Quyếtđịnh số 493/2005/QĐ-NHNN

Theo phân loại này thì mức trích lập dự phòng được đưa ra như sau: nhóm 3: 20%,nhóm 4: 50% và nhóm 5: 100% Đối với các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý sẽtrích lập dự phòng theo khả năng tài chính của tổ chức tín dụng

Dựa vào phân loại định tính (nếu tổ chức tín dụng có đủ khả năng và điều kiện thựchiện)

- Nợ nhóm 3: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là không có khả năngthu hồi cả gốc lẫn lãi khi đến hạn Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng đánh giá là cókhả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi

- Nợ nhóm 4: các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là khả năng tổn thất cao

- Nợ nhóm 5: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là không còn khả năngthu hồi, mất vốn

Mức trích lập dự phòng cũng tương tự như phân loại định lượng

Số tiền dự phòng cụ thể phải trích được tính theo công thức:

R = Max {0, (A – C)} x r

Trong đó:

R: Số tiền dự phòng cụ thể phải trích

A: Giá trị của khoản nợ

C: Giá trị của tài sản đảm bảo

r: Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể

Ngoài ra các tổ chức tín dụng sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng đối vớicác khoản nợ trong các trường hợp: Khách hàng tổ chức, doanh nghiệp bị giải thể, phásản theo quy định của pháp luật, cá nhân bị chết hoặc mất tích; Các khoản nợ thuộc nhóm

5 theo cả hai phương pháp định tính và định lượng Các tổ chức tín dụng thực hiện việc

sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro một quý một lần Việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro

Ngày đăng: 08/11/2015, 22:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w