1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tính toàn lan truyền ô nhiễm trên hệ sông khu vực hạ lưu sông thái bình

48 338 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 24,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ sông nghiên cứu Hệ sông dùng trong tính toán mô hình trong khuôn khổ của dé tai nhằm tính toán lan truyền ô nhiễm được giới hạn từ mặt cất Phú Lương sông Thái Bình và Bến Bình sông K

Trang 1

CỤC MÔI TRƯỜNG

kk *

ĐỀ TÀI

ĐÁNH GIÁ DỰ BÁO KHẢ NĂNG TIẾP NHẬN CHAT THAI KHU VUC HẠ

LƯU SÔNG THÁI BÌNH VÀ ĐƯA RA CÁC KIẾN NGHỊ SỬ DỤNG NGUỒN NƯỚC PHỤC VỤ CHO QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỂ

TÍNH TOÁN LAN TRUYỀN Ô NHIÊM

TREN HE SONG KHU VUC HA LUU

SONG THAI BINH

Cơ quan thực hiện:

TT Khảo sát, Nghiên cứu,

Tư vấn Môi trường Biến

Hà Nội, 1998

Trang 2

TÍNH TOÁN LAN TRUYỀN Ô NHIỄM TRÊN HỆ SÔNG

KHU VỰC HẠ LƯU SÔNG THÁI BÌNH

4 Mô hình toán

a Hệ sông nghiên cứu

Hệ sông dùng trong tính toán mô hình trong khuôn khổ của dé tai nhằm tính toán lan truyền ô nhiễm được giới hạn từ mặt cất Phú Lương (sông Thái Bình) và Bến Bình (sông Kinh Thầy) ra biển bao gồm các nhánh sông: Thái Bình, Luộc, Văn Úc, Lạch Tray, Kinh Môn, Cửa Cấm, Kinh

Thầy, Giá, Đá Đục, (Hình 1) Việc lựa chọn hệ sông này dựa trên yêu cầu

nghiên cứu khả năng tải ô nhiễm của các sông, điều kiện về mặt số liệu và

đòi hỏi của mô hình toán Đồi hỏi của mô hình toán là phải có được các điều

kiện biên tại tất cả các biên của hệ, nhất là trong trường hợp dự đoán xu thế

ô nhiễm và xem xét khả năng rủi ro liên quan đến vấn đề ô nhiễm

Hệ sông đã chọn có thể được biểu diễn bằng sơ đồ trên hình 2 tương

thích với mô hình sử dụng cho tính toán thuỷ lực và lan truyền ô nhiễm

b Mô hình tính toán

Mô hình sử dụng ở đây là mô hình WQ95 được phát triển từ mô hình SALT93 xây dựng tại Viện Cơ học đã được dùng tính toán truyền triều, xâm nhập mặn và lan truyền ô nhiễm cho các hệ sông thực tế [1, 2, 3, 4] trong nhiều dự án khác nhau và đã được đánh giá như một chương trình tác nghiệp

phục vụ cho các hoạt động liên quan

- Hệ phương trình cơ bản thuỷ lực hệ sông:

Trang 3

B: chiều rộng mặt cắt tính tại mặt nước (m), - A: diện tích mặt cắt tai thoi diém tinh (m7),

ø: gia tốc trọng trường (m/s?),

R: bán kính thuỷ lực (m),

q: lưu lượng (vào, ra) bổ sung trên một đơn vị chiều dài

sông (m?⁄s) c: hệ số nhám Chezy, t: thời gian

- Sơ đồ hoá hệ sông:

Hệ sông được sơ đồ hoá bao gồm các nhánh sông liên kết với nhau thông qua các nút và các biên Mỗi nhánh được chia thành các đoạn sông phân cách nhau bằng các điểm (mặt cắt) Ở các biên, mực nước hoặc lưu

lượng được cho làm điều kiện biên cho mô hình Mặt cắt được đánh số theo các nhánh biên trước, các nhánh trong sau và chiều đánh số của nhánh biên

hướng ra biên trong khi đối với các nhánh trong thì tuỳ tiện

- Phương pháp:

Hệ phương trình được giải bằng sơ đồ sai phân ẩn 4 điểm Preismann

kết hợp với phương pháp truy đuổi kép đối với mỗi nhánh Cũng bằng phương pháp truy đuổi có thể xây dựng hệ phương trình đại số đối với mực nước tại các nút (giao của các nhánh) Sau đó giải hệ này để có được giá trị

tại H tại nút, dùng làm điều kiện biên khi giải cho từng nhánh Hệ phương

trình đối với các nút nói trên được giải bằng phương pháp khử Gauss có lưu

ý đến độ thưa của ma trận xác định nó

Điều kiện tại nút được sử dụng là tổng lưu lượng qua nút bằng không

và mực nước tại các mặt cắt kề sát nó của các nhánh sông liên quan bằng

nhau Đối với các bài toán giả định sau này khi tính khả năng tải và pha

loãng chất ô nhiễm, điều kiện biên ngoài biển có thể lấy là dao động thuỷ

triều (rạm Hòn Dáu) còn điều kiện biên thượng nguồn thì có thể lấy là lưu lượng trung bình theo thời đoạn Trong mùa kiệt, mùa mà nồng độ ô nhiễm

có khả năng là đáng kể, lưu lượng này khá nhỏ

- Phương trình chất lượng nước:

Phương trình bảo toàn nồng độ của một loại vật chất trong nước sông

có thể được mô tả như sau:

Trang 4

5

or ox ax?

Trong đó: C(x,t): nồng độ của chất trung bình theo mặt cắt sông,

U: vận tốc dòng chảy trung bình theo mặt cắt,

hệ số thực nghiệm kèm theo còn là một vấn đề cần nghiên cứu Trong khuôn

khổ của đề tài này, các chất ô nhiễm lan truyền trong hệ thống sông ngắn nói trên với tốc độ dòng chảy trung bình gần thoả mãn tính chất bảo toàn và

có thể đơn giản hoá xem chúng là những chất thụ động Khi đó kết quả của

những tính toán là nhằm đánh giá khả năng pha loãng các chất gây ô nhiễm

đổ vào hệ Hàm S chi được đưa vào như là tốc độ mất đi của vật chất theo

thời gian

Phương pháp phân rã toán tử được áp dụng để giải phương trình nói trên Phương trình thành phần tải được giải bằng phương pháp đường đặc” trưng và phương trình thành phân khuyếch tán, bằng phương pháp truy đuổi Với giả thiết bỏ qua thành phần khuyếch tán tại biên và điểm hợp lưu sông,

ta có thể tính ra được giá trị nồng độ vật chất tại biên khi nước chảy ra biên

và phải cho điều kiện biên khi nước từ ngoài biên chảy vào Điều này sẽ rất

có lợi cho việc sử dụng điều kiện biên giả định ở các biên biển trong các bài

toán giả định sau này khi nghiên cứu khả năng pha loãng và tải lượng ô nhiễm của hệ sông

Các chỉ tiết về thuật toán, chương trình tính toán và áp dụng thực tế

của mô hình nói trên được trình bày trong [4]

2 Tính toán hiệu chỉnh mô hình

Hiệu chỉnh mô hình là công đoạn hết sức quan trọng và cần thiết cho

các tính toán dự đoán giá trị sau này Hệ thống sông khu vực hạ lưu sông Thái Bình rất phức tạp và ít được khảo sát, đo đạc Do vậy, các số liệu về địa

hình và thuỷ văn ở đây rất hạn chế Để thực hiện phần tính toán, đã tập hợp

Trang 5

các số liệu đo đạc được trong khuôn khổ đề tài và các số liệu sưu tập được từ

một số đề tài liên quan khác để phục vụ việc xây dựng bộ số liệu khá đầy đủ

về hệ thống sông và phục vụ việc hiệu chỉnh mô hình Cần lưu ý rằng, trong

tính toán chất lượng nước, sự đúng đắn của các kết quả về thuỷ lực đóng vai trò quyết định độ chính xác của phân bố nồng độ chất ô nhiễm Do đó, hiệu

chỉnh và kiểm chứng mô hình thuỷ lực được coi là một trong những nhiệm

vụ trọng tâm

a Mô hình 1

Hệ sông nhỏ hơn bao gồm các đoạn sông: Cấm, Kinh Thầy, Kinh Môn và Lai Vu được minh hoạ trên sơ đồ Hình 3 Hệ bao gồm 7 nhánh, 26 mặt cắt, 4 biên và 3 hợp lưu Số liệu về diện tích, chiều rộng tiết diện và

chiều dài đoạn sông được lấy từ đề tài “Cơ sở khoa học cho các phương án phòng chống lũ lụt đồng bằng Sông Hồng” 1997-1999 do Viện Cơ học chủ

trì Các số liệu mặt cắt khảo sát, đo đạc trong khuôn khổ đề tài này và trong một số đề tài khác [5] được sử dụng như là số liệu bổ sung để tham khảo và

hiệu chỉnh số liệu mô hình

Mô hình 1 được áp dụng hiệu chỉnh đối với 3 phương án tính toán:

* Phương án 1: Dựa trên bộ số liệu của Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn

1980, bao gồm: mực nước và lưu lượng tại các trạm Bến Bình và Cửa Cấm từ

1*00 ngày 01/03 đến 23°00 ngay 31/03/1980 Lưu lượng tại Bến Bình va mực nước tại Cửa Cấm được dùng làm điều kiện biên cho mô hình [Hình 4,

5] Lưu lượng tại Bến Triều và đầu nhánh sông Kinh Môn (Mặt cắt 8) được

lấy ~ 20% lưu lượng tại Bến Bình như có thể thấy từ một số bộ số liệu đới

với mùa kiệt Số liệu về lưu lượng tại Cửa Cấm và mực nước tại Bến Bình được dùng để hiệu chỉnh mô hình Kết quả hiệu chỉnh đạt yêu cầu ở mức độ

ban đầu với sự phù hợp của kết quả tính toán và thực đo như minh hoạ trên các hình 6 và 7

* Phương án 2: Dựa trên bộ số liệu của đề tài “Cơ sở khoa học cho các phương án phòng chống lũ lụt đồng bằng Sông Hồng” bao gồm lưu lượng tại các mặt cắt Cầu Bình, Cửa Cấm, và mực nước tại các mặt cắt Cầu

Bình, Cửa Cấm và Bến Triểu từ lh0O ngày 14/08 đến 19h00 ngày

23/08/1996

Trang 6

Lưu lượng tại Bến Bình, Bến Triều và mực nước tại Cửa Cấm dùng

làm điều kiện biên cho mô hình (Hình 8, 9) Kết quả tính toán khá phù hợp

với số liệu đo đạc và được minh hoa trên các hình 10-13

* Phương án 3: Kiếm chứng mô hình dựa trên các kết quả khảo sát

đợt 1 trong khuôn khổ của đề tài này, bao gồm: lưu lượng và mực nước tại

trạm Bến Bình, Bến Triều, Cửa Cấm từ 16°00 ngày 24/11 đến 7"00 ngày

26/11/1998 Lưu lượng tại Bến Bình, Bến Triều và mực nước tại Cửa Cấm

dùng làm điều kiện biên cho mô hình (Hình 14, 15) Kết quả tính toán so với

số liệu đo đạc tại mặt cắt Cửa Cấm và Đông Triều được biểu diễn trên các

hình 16-18

Ngoài việc hiệu chỉnh hệ số nhám theo không gian và theo cấp mực

nước, lưu lượng tại Bến Triều được nghiên cứu và hiệu chỉnh qua quan hệ

của nó với lưu lượng Bến Bình nhằm khắc phục tình trạng thiếu số liệu nhất

là trong các trường hợp tính toán giả định sau này

b Mô hình 2

Mô hình 2 được xây dựng nhằm nghiên cứu bức tranh chung về lan

truyền chất ô nhiễm trong cả khu vực hạ lưu sông Thái Bình như đã giới

thiệu ở hình 1 Hệ thống sông được sơ đồ hoá theo hình 2, bao gồm 18

nhánh, 63 mặt cắt, 9 biên và 8 nút trong Các biên phía biển trong mô hình

này là các mặt cắt sát biển và dao động mực nước ở đó được giả định bằng

dao động thuỷ triều tại trạm Hòn Dấu Cũng như đối với mô hình 1, các số

liệu về mặt cắt địa hình của hệ sông được lấy từ bộ số liệu của đề tài “Cơ sở

choa học cho các phương án phòng chống lũ lụt đồng bằng sông Hồng”, số

lệu khảo sát của đề tài này và các đề tài liên quan khác Tính toán được thực

tiện cho giai đoạn từ 10°00 ngày 21 dén 7°00 ngay 26/11/1998

Điều kiện biên tại các mặt cắt cửa sông Thái Bình (9), Văn úc (18),

-ach Tray (24) và Cấm (30) được cho là dao động thuỷ triều tại trạm Hòn

)ấu lấy từ bảng thuỷ triều 1998 và minh hoạ trên hình 18 Điều kiện biên

rên các mặt cắt thượng nguồn của hệ sông này được lấy là lưu lượng đo đạc

rong đợt khảo sát tháng 11/1998 Chế độ dòng chảy trong khoảng thời gian

ói trên trong khu vực nói chung ít biến đổi Do vậy lưu lượng ở trạm Phú

ương, Chanh Chử được xử lý để dùng chung cho thời đoạn như đối với mặt

ất Cầu Bình và Bến Triều

Trang 7

Để có thể cho lưu lượng giả định ở thượng nguồn các nhánh sông của

hệ, các nhánh sông này được kéo dài “nhân tạo” khoảng 20 km với giả thiết

là tại đầu trên của sông lưu lượng dòng chảy là hằng số theo thời gian Khi

đó mặt cắt biên của hệ như Bến Bình, Phú Lương, Chanh Chữ trở thành mặt cắt trong và số liệu đo đạc tại đó sẽ được dùng để hiệu chỉnh mô hình chứ không phải làm điều kiện biên như các phương án trước

Lưu lượng tại các mặt cắt biên nói trên được lấy trung bình theo thời đoạn từ 21-26/11/1998 bằng 150 mỶ/s tại Cầu Bình, 200 m3/s tại Phú Lương, 100mŸ/s tại Chanh Chữ và 30 mỶ/s tại Bến Triều Tính toán về thuỷ lực theo

mô hình nói trên cho kết quả khá phù hợp với số liệu đo đạc cả về mực nước

và lưu lượng (xem các hình 19-25)

Thực tế, sự sai khác giữa kết quả tính toán và thực đo có thể được

giảm bớt nếu có số liệu mặt cắt và dao động thuỷ triều tại biên biển chính

xác hơn

Sau khi đã có kết quả về dòng chảy, mô hình chất lượng nước đã được

áp dụng tính toán sự lan truyền COD, BOD, Tổng N và NH; là những chất

chủ yếu trong thành phần chất thải sinh hoạt và công nghiệp của khu vực

nghiên cứu trong đó có thành phố Hải Phòng, thành phố Hải Dương, Thị xã

Phả Lại-Sao đỏ và các khu dân cư khác

Bảng 3 trong phần tổng quan về các nguồn thải của Báo cáo tổng hợp

đã cho lượng chất ô nhiễm do nước thải sinh hoạt từ các khu dân cư chính

Có thể thấy nguồn từ Hải Dương chủ yếu đổ vào Phú Lương, từ Sao Đỏ vào

Cầu Bình và từ Hải Phòng vào Cửa Cấm Như vậy 3 nguồn ô nhiễm chính này được đưa vào mô hình qua 3 mặt cắt nói trên

Nguồn ô nhiễm công nghiệp nói chung rất khó xác định, vì vậy được giả định bằng khoảng 50% lượng chất thải sinh hoạt Cả hai nguồn này được hiệu chỉnh trong mô hình nhằm có được kết quả phù hợp với số liệu đo được

trong đợt khảo sát

Cường độ nguồn thải sử dụng trong mô hình và đánh giá thực tế (Bảng

3 của Báo cáo tổng hợp) được trình bày trong Bang 1:

Tại các biên cửa sông Thái Bình, Văn Úc và Cấm nồng độ chất ô

nhiễm được lấy giả định tương ứng bằng nồng độ đo được trong đợt khảo sát

tại các điểm Cầu Hàn, Khuể và trạm Thuỷ văn Cửa Cấm Nồng độ tại cửa

Lạch-Tray lấy theo số liệu đo đạc tháng 12/1996 của đề tài: “ Nghiên cứu dé

Trang 8

uất các biện pháp bảo vệ môi trường và xây dựng phương án kiểm soát ô

hiểm khu vực tam giác kinh tế Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh” (Cục Môi

Sao Đỏ Mô hình 7 6.0 1.2 0.4

Tại các biên thượng nguồn giả định, nồng độ được cho bằng 50%

ồng độ tương ứng với các giá trị đo được trong thời gian khảo sát ở các

am Phú Lương, Cầu Bình (vì ở các trạm này có nguồn bổ sung) và nồng độ

ú biên của nhánh sông Luộc bằng giá trị tại trạm Chanh Chữ

Trên cơ sở các số liệu biên, nguồn đã chọn và điều kiện đầu tương đối

hù hợp với các giá trị đo được trong đợt khảo sát 11-12/1998, mô hình chất

fợng nước đã được dùng tính cho khoảng thời gian như đối với mô hình

uỷ lực (từ 10h/21 đến 7h/26/11/1998 Các hình 26-43 là kết quả so sánh

ồng độ BOD, COD, N tổng, NH; tại một số trạm đã đo được trong thời gian ngày từ 7h ngày 25/11 đến 7h ngày 26/11/1998

Có thể nói rằng các kết quả tính toán sau khi hiệu chỉnh mô hình với

16t số điều kiện biên giả định phù hợp với giá trị đo đạc (dao động của các

iá trị tính toán nằm trong khoảng giữa của các giá trị đo đạc tương ứng)

Các phương án tính toán dự đoán khả năng ô nhiễm nước sông

ùng hạ lưu sông Thái Bình:

Mô hình được áp dụng tính toán sự lan truyền các chất BOD, COD, lito tổng và NH; cho một tháng mùa kiệt trong hệ sông nghiên cứu Điều lên biên thuỷ lực tại các biên biển được lấy là dao động thủy triều tại trạm

(on Dau tháng 3/1998 lấy từ bảng triều (Hình 44)

Trang 9

Đã tính toán cho 3 phương án lưu lượng ứng với giá trị trung bình, nhỏ

và nhỏ nhất và dao động của thuỷ triều tại Hòn Dấu tháng 3/1998 Các giá trị này đối với trạm Phú Lương và Cầu Bình như sau:

Úng với lưu lượng trung bình 150 mỶ/s qua trạm Phú Lương, lưu

lượng tại Cầu Bình được lấy là 75 mỶ/s, Tranh Chữ 50 mỶ/s và Bến Triều 15

m°⁄s Nồng độ chất ô nhiễm vào các biên thượng nguồn của hệ sông được lấy gấp 2 lần so với phương án tháng 11/1998 (vì lưu lượng tháng 3 nói chung nhỏ bằng 1/2 lần lưu lượng tháng 8)

Tại các biên biển cửa sông Thái Bình, Văn Úc và Cấm, nồng độ chất ô nhiễm được lấy giả định tương ứng bằng nồng độ đo được trong đợt khảo sát

tại các điểm Cầu Hàn, Khuể và trạm Thuỷ văn Cửa Cấm Nồng độ tại cửa

Lạch Tray lấy theo số liệu đo đạc tháng 12/1996 của đề tài: “ Nghiên cứu đề xuất các biện pháp bảo vệ môi trường và xây dựng phương án kiểm soát ô nhiễm khu vực tam giác kinh tế Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh” (Cục Môi

trường - 1996)

Các giá trị đó cho trong Bảng 2

Bảng 2: Giá trị nồng độ chất ô nhiễm giả định tại các biên cửa sông

Ứng với mỗi một phương án lưu lượng, mô hình đã được áp dụng tính

toán cho các chế độ đổ thải khác nhau:

e Cường độ thải của 3 trung tâm Hải Phòng, Hải Dương và Sao Đỏ lấy

như giá trị hiện tại

Trang 10

e Cường độ thải của 3 trung tâm nói trên tăng 50% so với hiện tại Giả

thiết này dựa trên cơ sở là khi dự án phát triển khu tam giác kinh tế

Bắc Bộ được triển khai, lượng chất thải sinh hoạt sẽ tăng lên cỡ 50%

và mặc dù các hoạt động công nghiệp gia tăng nhiều song chất lượng

nước thải công nghiệp cũng được hoàn thiện dần, do vậy tổng lượng

chất thải công nghiệp cũng chỉ tăng cỡ như đối với chất thải sinh hoạt

e© Nồng độ tại biên cao và thấp hơn hiện tại do điều kiện đổ thải ở phía thượng nguồn thay đổi

e© Các nguồn thải từ Hải Phòng, Hải Dương và Sao Đỏ thay đổi theo các tương quan khác (ví dụ trường hợp khi lượng thải của 3 nguồn vào

Cửa Cấm, Phú Lương và Cầu Bình tăng gấp đôi giá trị hiện tại, khi giữ nguyên lượng thải vào Cửa Cấm và tăng gấp 3 lần lượng thải ở Phú Luong va Cau Binh, )

Một số kết quả tính toán và sự so sánh giữa chúng được minh hoạ trên

¡c hình 45 - 88 Nói chung, tính đúng đắn của mô hình được khẳng định

ác phương án dự đoán là “rủi ro” đều cho các kết quả cao của nồng độ

tất ô nhiễm trong hầu hết khu vực hạ lưu sông Thái Bình, đăc biệt trên ánh sông Cửa Cấm, Cao Kênh Việc tăng lượng ô nhiễm từ thượng nguồn

“âu Bình) sẽ đễ gây ô nhiễm cho các sông hơn là từ phía hạ lưu (Cửa Cấm)

Có thể có một số nhận xét sau:

Đối với BOD: Có thể nói rằng mùa kiệt nước sông trong khu vực Cửa

ấm, Cao Kênh đã bị ô nhiễm bởi chất hữu cơ BOD, còn các nơi khác tương

hi sạch bởi thông số này nếu theo phương án tính với nguồn thải có khối

ơng như hiện tại Còn với khối lượng chất thải được tính theo quy hoạch

ng thể vào năm 2010, nước ở khu vực Cao Kênh, Cửa Cấm sẽ bị ô nhiễm

ng bởi thông số này Ở khu vực Phú Lương, Bến Triều cũng chớm bi 6

1iễm

Đối với COD: Nếu tính toán với lượng chất thải như hiện tại thì nước

›ng hệ thống sông chưa bị ô nhiễm Giá trị COD luôn nhỏ hơn 10 mg tới hạn cho phép đối với nước mặt dùng cho các cơ sở cấp nước trước khi tly) Con với khối lượng thải được tính theo quy hoạch vào năm 2010, tớc ở khu vực Cửa Cấm và Cao Kênh sẽ có giá trị vượt quá giới hạn cho vép trên Ổ các khu vực khác nước vẫn còn sạch bởi thông số này

10

Trang 11

Đối với NH3: Nếu tính toán với lượng nước thải như hiện tại, nước

sông ở hầu hết các khu vực đều có giá trị vượt quá 0,05 mgi1 (giới hạn cho

phép đối với nước mặt dùng cho cơ sở cấp nước trước khi xử lý, TCVN 5942-1995) đặc biệt khu vực Cao Kênh, Cửa Cấm vượt quá 2-5 lần Kết quả này khá trùng hợp với kết quả điều tra khảo sát trong nhiều năm trước đây cũng như trong tháng I1, 12/1998

Nếu tính toán lượng chất thải có khối lượng theo quy hoạch vào năm

2010, ở hầu hết các sông hàm lượng NH3 có xu hướng tăng 1,5-2 lần

Trường hợp có sự cố bất thường về thủy văn, lượng nước trong hệ thống sông xuống thấp, lưu lượng của cả 2 nhánh sông chính đổ vào hệ chỉ

còn khoảng 125 mỶ/s, mô hình tính toán cho thấy: với khối lượng chất thải như hiện tại, hàm lượng của hầu hết các thông số môi trường đều tăng Hàm lượng NH; trong sông đều vượt quá giới hạn 0,05 mg/1 (giới hạn cho phép đối với nước mặt dùng cho các cơ sở cấp nước trước khi xử lý, TCVN 5942- 1995) Còn các chất hữu cơ, COD, BOD ở các nơi đều tăng nhưng vẫn nằm

trong giới hạn cho phép của tiêu chuẩn trên đối với nước mặt loại A trừ khu vực Cửa Cấm và Cao Kênh

Với khối lượng chất thải dự tính vào năm 2010, nước trong lưu vực vẫn còn đảm bảo chất lượng về các thông số COD, BOD trừ khu vực Cửa Cấm và Cao Kênh đã bị ô nhiễm Hàm lượng NH, ở hầu hết các khu vực trong sông đều có giá trị tăng cao khoảng 2 lần so với hiện tại

Mô hình toán là công cụ tốt phục vụ các nghiên cứu thuỷ động lực học và chất lượng nước nói chung và đối với tính toán ô nhiễm khu vực hạ lưu sông Thái Bình nói riêng Tuy nhiên, rất nhiều vấn đề phải lưu ý khi áp dụng nó và kết quả của mô hình cần phải được xem xét đánh giá trước khi sử dụng Trong bài toán này, rất nhiều các tham số được cho giả định trên cơ sở

sử dụng đối đa các thông tin, dữ liệu hiện có cũng như kinh nghiệm chuyên

gia Các kết quả chưa thể có tính định lượng cao vì sự thiếu hụt nhiều số liệu Tuy vậy, độ chính xác của các kết quả chắc chắn sẽ ngày càng được

hoàn thiện hơn khi có thêm các nguồn số liêu bổ sung đáng tin cậy

11

Trang 12

TÀI LIỆU THAM KHẢO

- Nguyễn Tất Đắc, Nguyễn Minh Sơn M6 hinh tinh toán dòng chảy và

chất lượng nước trên hệ thống kênh sông WFQð87 và kỹ thuật chương trình Tuyển tập báo cáo quốc gia “Ứng dụng Mô hình Toán-Thuỷ văn-

Thuỷ lực trong Phát triển và Quản lý Tài nguyên Nước Hà Nội, 1988

- Nguyễn Tất Đắc, Nguyễn Minh Sơn Vấn đề dự báo xâm nhập mặn ở

Đồng bằng sông Cửu Long Tuyển tập Hội nghị Cơ học Chất lỏng, Chất

khí Toàn quốc 12/1995 Hà Nội, 1996

- Nguyễn Tất Đắc Tính toán sự nhiễm bản kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè, Thành phố Hồ Chí Minh

Nguyễn Tất Đắc Mô hình toán học một chiều mô phỏng sự truyền triều

và x m nhập mặn trong hệ thống kênh sông Luận án phó tiến sỹ toán lý,

Hà Nội 1987

- Cục môi trường Báo cáo tổng hợp “Các biện pháp bảo vệ môi trường và

phương án kiểm soát ô nhiễm vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, giai đoạn

2” Cơ quan thực hiện: TT Khảo sát, Nghiên cứu, Tư vấn Môi trường biển Hà Nội 1997

12

Trang 13

nh 1 Sơ đồ trạm khảo sát môi trường hệ thống sông Thái Bình

Trang 16

Q(m3/s)

Hình 4: Lưu lượng tại trạm Cầu Bình từ 2h00/1/3 đến 23 h00/31/3/86

(Số liệu đo đạc dùng làm điều kiện biên)

T(Giờ)

Hinh5: Cao độ mực nước tại trạm Cửa Cấm từ 2h00/1/3 đến 23h00/31/3/86

(Số liệu đo đạc dùng làm điều kiện biên)

Trang 17

Lưu lượng tại trạm Cửa Cấm từ 2h00/1/3 đến 23h00/31/3/86 Hình 6

Trang 18

Hình 8 Lưu lượng tại mặt cát 3 (tram Cau Binh)

Trang 19

Hình 11 Lưu lượng tại mặt cat 24

Từ 1h/14/8 đến 19h/23/8/96

Trang 20

Hình 15 Mực nước tại mặt cắt 11 (trạm Cửa

Cấm) Số liệu đo đạc dùng làm điều kiện bim

Trang 22

Hình 19: Cao độ mực nước tại trạm Phú

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w