a Cac nhân tố ảnh hưởng đến độ mặn nước sông Các sông ở dải ven biển Nam Trung Bộ đều bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, chảy xuống đồng bằng và đổ ra biển Đông, nên độ mặn theo thuỷ triều sẽ
Trang 1BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG CUC-BAO VE MÔI TRƯỜNG
BAO CAO CHUYEN DE GIAI DOAN 1
Báo cáo thu thập thông tin đánh giá dữ liệu môi trường
nước biên MỤC 2.1.3.2
ĐÈ TÀI: Thu thập, điều tra, khảo sát và bỗ sung thông tin dữ Hệu âài
nguyên, môi trường đới bờ vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ
(từ Thanh Hóa đến Bình Thuận)
Tác giả:NCS Nguyễn Đình Thái
Hà Nội, 2007
Trang 2Báo cáo thu thập thông tin đánh giá dữ liệu môi trường nước biển
_#
Khu vực ven biên miên trung đa dạng vệ sông ngòi nên lượng nước sông đô ra biên hàng năm là rât lớn, tài nguyên nước gắn liên với sự xâm nhập mặn ven biên
a) Cac nhân tố ảnh hưởng đến độ mặn nước sông
Các sông ở dải ven biển Nam Trung Bộ đều bắt nguồn từ dãy Trường Sơn,
chảy xuống đồng bằng và đổ ra biển Đông, nên độ mặn theo thuỷ triều sẽ xâm nhập sâu vào trong sông ngòi, các rạch và đồng ruộng của vùng đồng bằng
Diễn biến mặn của nước sông vùng cửa sông ven biển phụ thuộc vào nhiều
yếu tố như sau:
- Yếu tố địa lý như địa hình lòng sông, cửa sông;
- Yếu tố khí tượng như sóng, gió, nhiệt độ không khí, độ mưä„ độ bốc hoi );
- Yếu tố thuỷ văn, thuỷ lực: độ mặn của nước biển, độ mặn của nước sông, lượng nước và chế độ nước sông chảy từ thượng nguồn đổ về, thuỷ triều (độ lớn và chế độ), nhiệt độ nước sông, đặc điểm thuỷ lực lòng dẫn ) và
Yếu tố hoạt động nhân sinh: như hoạt động kinh tế-xã hội của con người trên lưu vực và trong đoạn sông như xây dựng các hồ chứa nước, đập dâng, cống lấy
Độ mặn của nước vùng cửa sông ven biển ở Nam Trung Bộ tương đối ổn định và ít bị dòng chảy sông ngòi xáo trộn Độ mặn (S, %o) ở lớp nước mặt thường cao hơn, dao động trong phạm vi 28§-34,3%o, chênh lệch S giữa lớp nước mặt với lớp nước dưới đáy chỉ vào khoảng 1-2%o Độ mặn cao nhất vào tháng 3 và thấp nhất vào tháng 8
b) Diễn biến của độ mặn của nước vùng cửa sông ven biển theo thời gian
Hàng năm nước ở các vùng cửa sông ven biển Nam Trung Bộ đều biến đổi
theo mùa Vào mùa lũ, do nước sông ở thương lưu đổ về lớn nên độ mặn của nước
Trang 3
sông nhỏ, nên mặn không thể xâm nhập sâu vào trong mạng lưới sông ngòi, rạch Ở vùng đồng bằng hạ lưu của các ông từ đà Nắng vào đến Bình Thuận, thậm chí ở vùng cửa sông có nơi vẫn có nước ngọt Ngược lại, vào mùa cạn, dỏ nước sông từ
thượng nguồn chảy về ít và tương đối ốn định nên mặn từ biển có thể xâm nhập sâu
vào trong mạng lưới sông ngòi, rạch và như vậy, độ mặn nước sông hạ lưu lúc này
lớn và phụ thuộc vào thuỷ triều
Độ mặn lớn nhất và xâm nhập vào sâu nhất ở vùng hạ lưu các con sống thường xuất hiện vào thời kỳ có lượng dòng chảy từ thượng nguồn đổ về ít nhất, đó
là vào các tháng 2-3 và tháng 7-8 hàng năm
Sự biến đổi trong ngày của độ mặn phụ thuộc chủ yếu vào sự biến đổi của thuỷ triều Chu kỳ mặn cũng tương ứng với chu kỳ triều Trong một chu kỳ triều, độ mặn nhỏ nhất xuất hiện vào những ngày triều kém và tăng dân, đạt giá trị lớn nhất vào những ngày triều cường, sau đó giảm dan cho đến những ngày triều kém của chu kỳ triều tiếp theo
Khi mặn theo thuỷ triều xâm nhập vào trong sông, độ mặn ở lớp nước sát đáy sông lớn và giảm dần lên mặt nước Độ mặn lớp nước đáy có thể lớn hơn lớp nước mặt 5 -10 lần và do đó vùng cửa sông có thể hình thành các nêm mặn Tốc độ
truyền mặn cũng như độ mặn đều giảm dần khi vào sâu trong sông
Độ mặn và ranh giới mặn ở hạ lưu một số sông vùng Nam Trung Bộ đã được xác định như sau:
- Hạ lưu sông Thu Bồn và sông Tam Kỳ: ranh giới mặn xa nhất khoảng 20km đối với độ mặn trung bình lớn nhất 1%o, giảm còn 14,5km ở sông Thu Bồn, 19km ở sông Tam Kỳ và sông Vỹnh Điện đối với độ mặn trung bình lớn nhất 3%o
- Trên sông Trà Khúc, tại An Đạo: độ mặn trung bình đạt tới 6%o và lớn
nhất tới 15%o
- Trên sông Vệ, tại An Vệ: độ mặn trung bình khoảng 7,2%o và độ mặn lớn
nhất khoảng 27%o |
- Tại Tân Giang trên sông Kôn, độ mặn trung bình và lớn nhất tương ứng
khoảng 5,2%o và 23%o
Trang 4
Tại Bình Thới trên sông Hà Thanh, độ mặn trung bình và lớn nhất tương ứng khoảng 21,6 %o và 35%o
- Các sông khác: đo độ dốc dòng sông lớn, biên độ thuỷ triều nhỏ và đặc biệt
có các công trình ngăn mặn ở cửa sông nên mặn thường không thể xâm nhập sâu
vào trong sông
Tuy nhiên, vào những năm khô hạn nhất là những năm EI Ninô như các năm
1983, 1998 , do nước sông từ thượng nguồn đổ về giảm đáng kể, nên độ mặn có thể xâm nhập sâu hơn so với ranh giới mặn trung bình được dua ra 6 bang -
Ranh giới mặn trung bình lớn nhất trong mùa cạn ở hạ lưu
hệ thống sông Thu Bồn — Tam Ky
Độ mặn Ranh giới mặn cách cửa biển (km)
Sông Vĩnh Điện | Sông ThuBồn | Sông Tam Kỳ
Chế độ nước sông ở vùng ven biển rất đa dạng và phức tạp do ảnh hưởng của thuỷ triều Điều này cần được quan tâm thích đáng trong việc đánh giá tài nguyên nước của một lãnh thổ
Trong khu vực ven biển miền trung, chế độ thuỷ triều gồm có nhật triều không đều, bán nhật triều không đều, bán nhật triều đều đặn Phía bắc Thanh Hoá, chế độ thuỷ triều đặc trưng là nhật triều đều với hầu hết số ngày trong tháng, trong
một ngày có một lần triều lên và một lần triều rút Triều mạnh vào các tháng I, VI,
VII, XII, triều yếu vào các tháng HI, IV, VIII, IX hàng năm
Khu vực nam Thanh Hoá đến Quảng Bình thuộc chế độ nhật triều không
đêu; trong khoảng nửa tháng có một lân triêu cường (nước lên, xuông mạnh) và
Trang 5một lần triều kém Trong thời gian triều kém, trung bình có 2 lần triều cường và 2 lần triều kém, nhưng cũng có thể xuất hiện 3 lần triều cường Chu kỳ triều nửa tháng dài 14 -13 ngày Trong thời kỳ triều kém, xuất hiện một con nước gọi là nước sinh kéo đài khoảng 2-3 ngày, thời gian triều lên và triều xuống đều ngắn, biên độ triều chỉ khoảng 3 - 4 cm, trong một ngày có 2 đỉnh, 2 chân triều hay hai đỉnh, 3 chân triều Chu kỳ một con triều dài khoảng 24 giờ Thời gian triều lên khoảng 7 -8 giờ, có thể tới 9 - 10 giờ đối với triều cường Thời gian triều rút khoảng 15-16 giờ,
có khi tới 18-19 giờ Biên độ triều trung bình trong một ngày khoảng120 - 160 cm, tăng lên 300 cm đối với những con triều cường Khoảng cách mà triều có thể truyền vào trong sông xa nhất khoảng 30 -45 km đối với các sông ở Thanh Hoá, 65
Chế độ thuỷ triều từ Quảng Bình đến Thừa Thiên - Huế gồm từ nhật triều
không đều ở bắc Quảng Bình đến bán nhật triều không đều từ nam Quảng Bình trở vào Riêng cửa Thuận An và phụ cận có chế độ bán nhật triều đều Biên độ triều lên trung bình tháng biến đổi trong phạm vi từ 30 -40 cm ở hạ lưu sông Huong dén
150 cm ở hạ lưu các sông ở bắc Quảng Bình Ở hạ lưu sông Hương và một số sông nhỏ khác có vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, chế độ dòng chảy ở các vùng đầm phá này bị tác động mạnh bởi chế độ bán nhật triều không đều, mỗi ngày có hai chân triều và 2 đỉnh triều Biên độ triều lớn nhất khoảng 60 -80 cm, ít thay đổi
theo triều cường, triều kém trong tháng Trong mùa cạn, mực nước đỉnh triều ở biển luôn cao hơn mực nước đỉnh triều trong đầm phá, chênh lệch tới 25 - 35 cm ở
đầm Cầu Hai, 5- 15 cm ở phá Tam Giang Trái lại, trong mùa lũ mực nước trong
đầm phá luôn cao hơn mực nước biển, khoảng 100 cm ở đầm cầu Hai, 70 cm ở phá
Tam Giang
Ranh giới mặn
Khi mặn theo thuỷ triều xâm nhập vào trong sông, độ mặn ở lớp nước sát đáy sông lớn và giảm dần lên mặt nước Độ mặn lớp nước đáy có thê lớn hơn lớp nước mặt 5 -10 lần và do đó vùng cửa sông có thể hình thành các nêm mặn Tốc độ truyền mặn cũng như độ mặn đều giảm dần khi vào sâu trong sông Sự giảm độ mặn theo khoảng cách xa biển được biểu thị gần đúng theo công thức:
Trang 6SI= SạeKL
trong đó:
S; - độ mặn tại vị trí gốc (%o)
S¡ - độ mặn tại vị trí cách gốc L km (%o)
K - hệ số ảnh hưởng của địa hình và các yếu tố khác
Độ mặn và ranh giới mặn ở hạ lưu một số sông vùng Bắc Trung Bộ đã được - xác định như sau:
e Hạ lưu sôrfg Mã: độ mặn ở cửa sông khá lớn, khoảng 26 -28§%o, nhưng ranh _
giới mặn xa nhất khoảng 35 km, khoảng 10 km đối với S = 1%o và 5 km đối với S =
eHa lưu song Cả: ranh giới mặn xa nhất 32 km ứng với Š = I%o tại Chợ
Tràng (Hà Tĩnh), độ mặn trung bình tháng đều nhỏ hơn 0, 5%o; độ mặn lớn nhất
e Hạ lưu sông hương: những tháng đầu mùa cạn, mặn có thể xâm nhập vào trong sông, đến chợ Đông Ba vào tháng III và vượt quá chùa Thiên Mụ vào tháng
IV
e Các sông khác: do độ dôc dòng sông lớn, biên độ thuỷ triêu nhỏ và đặc biệt
có các công trình ngăn mặn ở cửa sông nên mặn thường không thê xâm nhập sâu vào trong sông
Những nghỉ ngờ về loại dầu gây ô nhiễm bờ biển miền Trung đã và đang từng bước được khẳng định Đây là loại dầu tương tự nhựa đường: gặp nước biển lạnh thi von
cục, khi lên bờ gặp tiết trời nóng ấm thì dẻo, mềm và dễ tan chảy qua kế tay
Chiều 28.1, có mặt trong đoàn khảo sát của Tổng cục Du lịch, chúng tôi đã bị dính loại dầu này trên bãi biển Vũng Rô (Phú Yên) và đến ngày 4.2 lại gặp chúng suốt
đọc dài bãi biển từ Hội An (Quảng Nam) đến Mỹ Khê (Đà Nẵng) Vì thế, có thể khẳng định hiện tượng ô nhiễm này đã diễn ra đúng 1 tuần hoặc hơn trong phạm vi đọc dài bờ biển từ Phú Yên đến Thừa Thiên - Huế (ngoại trừ Bình Định chưa có
Trang 7thông tin) và hiện chưa có dấu hiệu dừng lại khi hằng đêm loại dầu này vẫn tiếp tục
theo gió biển đất đạt vào bờ
Sau nhimg nghi van ban dau la dau F.O (fuel oil) dùng để đốt lò bị rò rỉ từ tàu chim hoặc súc xả ngoài khơi, nay sau khi thu gom mẫu va kiểm nghiệm, Trung tâm Ứng phó Sự cố tràn dầu (ƯPSCTD) khu vực II đã xác định đây là dầu thô Theo các chuyên gia, dầu thô sau khi qua những công đoạn tỉnh luyện, cho ra ote sin pham nhu dau Gas oil (GO), dau Diesel oil (DO), dau Fuel oil (FO) nén đây còn được gọi
là dầu mỏ hoặc vàng đen
#
Kết quả này gián tiếp bác bó nghỉ vấn dầu rò rỉ từ chiếc xà lan chở đăm gỗ bị đắm ngoài Cù Lao Chàm (Quảng Nam) và cũng bác bỏ luôn các suy luận cho rằng có tàu nào đó súc xả dầu cặn ngoài khơi Nghi vấn hiện nay quy về 2 tác nhân: (1) Một tàu chở dầu nào đó khi đi qua vùng biển Hải Nam (Trung Quốc) đã gặp sự cố và chìm Hoặc (2) Dầu tràn lên theo chu kỳ từ các giếng khoan thăm dò ngoài thềm
# ¢
-
Trong 2 tác nhân, khả năng thứ nhất khó xảy ra bởi nếu có thì như thường lệ đã có
thông tin từ cảng vụ VN và quốc tế Ngược lại, tin biển ô nhiễm có thé 1a tin mừng!
Miền Trung phát hiện dầu mỏ thay vì khí không hữu dụng như chúng tôi từng đưa
tin?
Về vấn đề này, Liên doanh dầu khí Việt - Xô đã cử người ra khơi để.xem xét Trung tâm ƯPSCTD miền Trung cũng đã gửi mẫu cho Trung tâm Tiêu chuẩn đo lường khu vực 3 để xét nghiệm loại dầu thô này có thuộc dòng dầu Việt Nam hay không? Ngoài ra, còn có thông tin đáng chú ý, theo Trung tâm ƯPSCTD miền Trung, trong bão Xangsane vừa qua, có một giàn khoan xin vào trú ấn ở Đà Nẵng,
có khả năng sau khi phát hiện ra dầu, đơn vị thăm dò rút mũi khoan nhưng không bịt kỹ, áp lực đây dầu bục lên Trung tâm đã kiến nghị với Ủy ban Quốc gia tìm kiếm cứu nạn có công điện yêu cầu Petro Việt Nam cho khảo sát tình hình khai thác dâu khí trên vùng biên ngoài khơi miên Trung
Trang 82 Mấy ngày qua, không chỉ có trực thăng được Ủy ban Quốc gia tìm kiếm cứu nạn điều đi kiểm tra vùng biển Quảng Nam, Đà Nẵng, phát hiện 3 vệt dầu loang màu vàng sẫm rộng khoảng 1.000m”, mà cả những ngư dân đánh bắt thủy sản tại những vùng biển này cũng điện về cho biết, tình trạng dầu loang vẫn tiếp tục theo gió hướng về bờ biển miền Trung Tuy nhiên, tất cả đều chưa xác định được nguyên nhân và vị trí phát xuất sự cố Mọi người chỉ biết rằng, dầu loang vẫn đang tiếp tục
tiến vào bờ °
Trả lời TNO trưa 4.2, ông Cái Vĩnh Tuấn, Chủ tịch UBND huyện Phú-Lộc (Thừa
Thiên- Huế) cho biết, từ ngày 3.2 dầu vón cục đã lan đến bờ biển xã Vinh Mỹ và có
khả năng tiếp tục lan đến bờ biển các xã Vinh Hải, Vinh Hiền thuộc khu III phá ` Tam Giang Do việc xử lý ngoài tầm tay của huyện nên ông đang tông hợp tình hình báo cáo lên UBND tỉnh Trong khi đó, theo ông Phạm Văn Bảy, Trưởng phòng Quản lý Du lịch thuộc Sở Thương mại- Du lịch tỉnh Phú Yên, hiện tượng ô
nhiễm dầu đã bắt đầu xuất hiện tại bãi biển Tuy Hòa
Trước đó, ngày 28.1, ông và nhiều thành viên tour khảo sát du lịch cũng đã thấy
dầu đen vón cục dạt lên bãi biển Vũng Rô lẫn với dăm gỗ màu trắng Theo ông, do
một số bãi ở Phú Yên nhô xa ra biển, mặt ngửa ra hướng bắc nên bị ô nhiễm dầu
Ngược lại những bãi nào mặt hướng về phía nam thì ít bị ô nhiễm dầu Đúng như nhận định của ông, trưa 4.2 chúng tôi cũng đã liên lạc với ông Nguyễn Kim Khuê (Sở Du lịch Bình Định), được biết chưa có thông tin nào về việc biển Bình Định bị
Tuy nhiên, ông Ngô Minh Chính, Giám đốc Sở Du lịch tỉnh, cho biết: “Năm 2006, một số vùng bờ biển ở Hòn Rơm, Mũi Né, Hàm Thuận Nam từng bị nạn tương tự Khi đó, UBND tỉnh đã gửi văn bản đến Tổng công ty Dầu khí VN yêu cầu đơn vị này cùng phối hợp với địa phương khảo sát, đánh giá và đưa ra giải pháp khắc phục
sự có Ngoài ra, tỉnh cũng đã gửi mẫu dầu thu được tại các bãi biển đến các cơ quan chuyên môn để phân tích, đánh giá và tìm nguồn gốc
Điêu tra nguyên nhân cho biết, loại dâu vón cục và dẻo mêm như nhựa đường mà đài báo mô tả mấy hôm nay, đúng y dòng dầu VN mà một đơn vị nước ngoài đang
4.
Trang 9khai thác ngoài khơi, cách đất liền 60km Thế nhưng do sợ bị phạt nặng, đơn vị này
đã không công nhận và sau đó chỉ đồng ý hỗ trợ tài chính cho Quỹ xử lý môi
trường của tỉnh" Theo ông Chính, lúc ay Bình Thuận xử lý rốt ráo sự việc chỉ trong
20 ngày do lượng dầu vào bờ ít hơn Quảng Nam và một vài tỉnh miền Trung hiện nay Thiển nghĩ, kinh nghiệm này của Bình Thuận cần được các tỉnh thành miền Trung nghiên cứu, áp dụng trong bối cảnh hiện nay nếu có kết luận cuối cùng về sự
cô tràn dâu tại các giêng khoan thăm dò dâu mỏ ngoài thêm lục địa miễn Trung “
3 Theo thống kê của Cục Môi trường (Bộ KHCN&MT), từ năm 1987 đến nay- đã xảy ra hơn 90 vụ íràn dầu tại các vùng sông và biển ven bờ của nước ta, gây thiệt hại to lớn về kinh tế cũng như ô nhiễm nghiêm trọng và lâu dài cho môi trường Khi xảy ra sự cố tràn dầu trên nước hoặc trên đất, khả năng triển khải ứng cứu
nhanh có vai trò đặc biệt quan trọng để loại bỏ hoàn toàn hay giảm thiểu tối đa
~ ˆ > cA ` A a x & x À k R A
những hậu quả nghiêm trọng và lâu dài mà sự cô tràn dâu có thê gây ra
Khi dầu tràn trên đất hoặc dầu tràn trên nước xâm nhập vào bờ biển, bờ sôrig, đốt
đất, rửa đất dé loại bỏ dầu lẫn trong đất là điều không khả thi Xúc đất, cát nhiễm dầu chuyển đi nơi khác là việc làm cực kì tốn kém và cũng chỉ là "đánh bùn sang ao" Dé càng lâu dâu càng ngầm xuông sâu
Một thời gian sau có thể trên mặt đất không còn dấu hiệu của dầu do bị nước thủy triều rửa trôi hay bị các lớp đất khác lắp lên, nhưng thực chất phần lớn lượng dầu
tràn đã ngắm sâu xuống dưới, không thể tự phân hủy, làm nhiễm độc lâu dài môi
trường đất và nước ngầm Biện pháp phổ biến được sử dụng hiện nay để thu gom dầu tràn trên nước là sử đụng bơm hút, phao quây Nhưng các biện pháp cơ học này chỉ giúp thu gom được 10 - 40% lượng dầu tràn, và càng không khả thi trong điều kiện sóng to gió lớn Một lượng lớn dầu tràn không thể thu gom được sẽ nhũ tương từng phần trong nước, xâm nhập vào bờ gây thiệt hại nghiêm trọng đối với môi trường nước và đất, đặt biệt là đối với các vùng nuôi thủy sản
Công nghệ sinh học Enretech của Úc ra đời đã mở ra một khả năng mới cho ứng
cứu khẩn cấp và xử lý ô nhiễm dầu tràn trên đất cũng như ở những khu vực nhạy cảm, khó tiếp cận Tại một hội thảo chuyên đề do Cục Môi trường, Bộ KHCN&MT
Trang 10tổ chức, các nhà khoa học và quản lý đánh giá cao tính ưu việt của công nghệ mới
và nhận định răng sản phẩm Enretech không chỉ có thể áp đụng cho các doanh nghiệp mà còn cho các hoạt động mang tính quốc gia có liên quan tại Việt Nam Sản phẩm Enretech đã chính thức được Cục Môi trường cho phép nhập khẩu và sử
dụng tại Việt Nam để xử lý ô nhiễm dầu từ năm 1998
TNO đã có cuộc trao đổi trực tuyến với TS Nguyễn Chí Dũng, TGĐÐ Công ty VIT,
đơn vị độc quyền phấn phối sản phẩm Enretech tại VN Ông nói: “Việc xác định nguồn gốc tràn vãi của sự cố tràn dầu ngoài Quảng Nam tương đối khó Trước mắt, điều có thể làm được là tập trung xử lý hậu quả ô nhiễm trên bờ Đối với dầu đã lẫn trong cát, có thể sử dụng chế phẩm Enretech trộn đều với cát và làm phân hủy sinh
học lượng dầu lẫn trong đó, nếu là váng dầu nổi trên mặt biển có thể dùng phao
quây để quây dầu lại và sử dụng bơm hút dầu tràn (nếu lớp dầu dày đặc) hoặc dùng các tấm thấm dầu hoặc xơ hút dầu trên mặt nước là Enretech Cellusorb để thu gom” TS cho biết, công ty sẵn sàng tư vấn miễn phí cho các địa phương Còn theo
kỹ sư Nguyễn Minh Quyết, người trực điện thoại nóng 0908048338 của 'Công ty VIT, nếu dầu đã vón cục dạt lên bờ thì biện pháp thu gom thủ công hiện nay là hiệu quả nhất
Ngoài việc xả nước thải ra biển, nhiều hộ nuôi hiện nay còn thải trực tiếp nước thải và bùn ao nuôi ngay trên khu vực đất cát cạnh bờ đầm nuôi, gây ô nhiễm
và mặn hoá nguồn nước ngầm ngọt Dịch bệnh có thể lây lan qua các đầm nuôi khác do sử dụng nước ngầm ngọt đã bị ảnh hưởng bởi nước thải ngầm xuống từ các
đầm nuôi bị nhiễm bệnh theo cách thức như vậy Đem mầm bệnh từ đầm này qua
đầm khác, tạo cơ hội bùng phát dịch bệnh tràn lan, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuât trước mắt và lâu dài