1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu các sản phẩm dịch và dịch vụ thông tin thư viện tại thư viện trường đại học sư phạm hà nội 2

73 589 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 721,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều đó không phụ thuộc vào việc họ là người giàu hay người nghèo, công dân của một nước phát triển hay của một nước đang phát triển,… Ngay từ khi mới thành lập, Thư viện trường Đại Học

Trang 1

1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Thư viện – Thông tin

Người hướng dẫn khoa học Th.s TẠ THỊ MỸ HẠNH

Hà Nội – 2012

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường ĐHSP

Hà Nội 2, Ban chủ nhiệm khoa CNTT, đã tạo điều kiện cho em được tiếp cận thực tế, áp dụng kiến thức lý thuyết vào thực tiễn, tạo cơ sở tổng hợp được nhiều kiến thức, trang bị nhiều kĩ năng cần thiết, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu Qua đó, nó còn giúp em làm quen được với cơ cấu tổ chức cũng như cách làm việc tại các cơ quan Đó chính là những hành trang vô cùng quý báu để em bước vào đời

Xin gửi lời cảm ơn tới các bác, các anh, các chị bên tổ Thư viện đã tạo điều kiện, giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu làm khoá luận

Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn Cô Th.S Tạ thị Mỹ Hạnh đã tận tình, quan tâm, hướng dẫn và chỉ bảo em trong suốt thời gian thực hiện khoa luận tốt nghiệp này

Và em cũng xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong khoa đã tận tình giảng dạy, trang bị cho em những kiến thức cần thiết trong suốt quá trình học tập tại trường để hôm nay em vận dụng những kiến thức tích lũy được áp dụng vào thực tế Cám ơn gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên tinh thần giúp tôi có thêm động lực để hoàn thành khóa luận

Do hạn chế về điều kiện thời gian, bài khoá luận của em chắc không tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô và các bạn

Lời cuối cùng xin gửi tới quý thầy cô lời chúc sức khỏe và đạt được nhiều thành công trong sự nghiệp nghiên cứu khoa học

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 03, năm 2012

Sinh Viên

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Bài khóa luận được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của Th.S Tạ Thị Mỹ Hạnh Tôi xin cam đoan:

Khóa luận “Tìm hiểu các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện trường Đại học sư phạm Hà Nội 2” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi Các

số liệu có nguồn gốc rõ ràng tuân thủ đúng nguyên tắc và kết quả trình bày trong luận văn được thu thập trong quả trình nghiên cứu là trung thực Chưa từng được ai công bố trước đây

Xuân Hòa, tháng 5 năm 2012

Tác giả khóa luận

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài……… 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……….3

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài……… 3

4 Phương pháp nghiên cứu……… 3

5 Đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn của đề tài……… 4

6 Cấu trúc của khóa luận……… 6

CHƯƠNG 1: CÁC SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THỒN TIN - THƯ VIỆN TRONG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN – THƯ VIỆN TẠI THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2……… 5

1.1 Khái quát trường Đại học sư phạm Hà Nội 2………… … 5

1.2 Đặc điểm hoạt động Thông tin - Thư viện tại trường ĐHSPHN 2 6

1.2.1 Chức năng và nhiệm vụ của Thư viện Trường ĐHSPHN 2……… 7

1.2.2 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ………8

1.2.3 Nguồn lực thông tin……… 9

1.2.4 Cơ sở vật chất và ứng dụng CNTT……… ……… 11

1.2.5 Người dùng tin và nhu cầu tin……….……… 13

1.3 Sản phẩm và dịch vụ TT – TV……… 19

1.3.1 Khái niệm……… 19

1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện……….22

1.3.3 Vai trò của sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện tại trường ĐHSPHN 2……… 24

CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN - THƯ VIỆN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2……… 26

2.1 Các sản phẩm thông tin - thư viện tại trường ĐHSPHN 2…….……… 26

Trang 6

2.1.1 Hệ thống mục lục………… ……… 26

2.1.2 Thư mục……… ……… 33

2.1.3 Cơ sở dữ liệu……… 36

2.2 Dịch vụ thông tin……… ……… … 40

2.2.1 Dịch vụ cung cấp tài liệu gốc……… … 40

2.2.2 Dịch vụ mạng……… 48

2.2.3 Dịch vụ trao đổi thông tin……… ………… 49

2.2.4 Dịch vụ hỏi đáp và tư vấn……… ……… 50

CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ KHUYẾN NGHỊ……… 52

3.1 Nhận xét…… ……… 52

3.1.1 Ưu điểm……… 52

3.1.2 Nhược điểm………53

3.2 Khuyến nghị……… 54

3.2.1 Nâng cao chất lượng các sản phẩm và dịch vụ thông tin hiện có 54

3.2.2 Đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ thông tin… ……….………56

3.2.3 Bồi dưỡng, quan tâm đến đội ngũ cán bộ Thư viện…… ……… 57

3.2.4 Đào tạo người dùng tin…… ….……… 59

3.2.5 Tăng cường quảng bá, giới thiệu sản phẩm và dịch vụ thông tin…… 61

KẾT LUẬN……… ……….63

TÀI LIỆU THAM KHẢO………64

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, có nhiều vấn đề ảnh hưởng tới các cơ quan Thông tin – Thư viện (TT- TV): Các quan hệ quốc tế mới, sự phát triển kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ, nhu cầu người dùng tin đa dạng…Đó cũng chính là những tiền đề quan trọng cho sự phát triển của hoạt động thông tin khoa học Để đáp ứng cho sự phát triển đó, đòi hỏi các cơ quan TT – TV phải chú trọng đến vấn

đề nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin của cơ quan mình Thông qua các hệ thống sản phẩm và dịch vụ, có thể xác định được mức độ đóng góp của các cơ quan TT - TV vào quá trình phát triển kinh tế -

xã hội nói chung Và nhờ vậy, các cơ quan này khẳng định được vai trò cũng như vị trí xã hội của mình

Sản phẩm và dịch vụ TT – TV là một hệ thống hết sức năng động, luôn phát triển Bởi vì chúng phụ thuộc chặt chẽ vào nhiều yếu tố có tính đặc trưng như: nhu cầu thông tin của xã hội nói chung, các tiền đề kinh tế - xã hội, trong

đó có các thành tựu về khoa học và công nghệ, cơ sở hạ tầng cho hoạt động thông tin, sự biến động của các nguồn thông tin v.v… Chính vì thế, các nội dung của sản phẩm và dịch vụ TT - TV cũng hết sức đa dạng, phong phú, thay đổi theo các điều kiện không gian và thời gian ở tất cả các phạm vi có thể Xét cho cùng, cũng giống như sự phát triển kinh tế - xã hội, sự phát triển hoạt động thông tin nói chung phụ thuộc vào nguồn lực và sự lựa chọn khuynh hướng phát triển của mỗi cộng đồng (địa phương, vùng, quốc gia,…)

mà vì nó, hoạt động này được sinh ra và nuôi dưỡng

Kể từ thập kỉ 80, trên phạm vi rộng lớn nhất, đã diễn ra những biến đổi sâu sắc trong toàn bộ các quá trình của thông tin khoa học Mục tiêu của

Trang 8

những biến đổi ấy là dựa trên những thành tựu của công nghệ thông tin, bằng việc tạo ra những sản phẩm và dịch vụ thích hợp, các cơ quan TT - TV giúp cho con người ở mọi nơi, vào mọi lúc đều có điều kiện để học tập suốt đời; có thể truy nhập và khai thác được nguồn di sản trí tuệ chung của loài người; giúp cho mọi cá nhân và tổ chức có thể tìm đến nhau và trao đổi thông tin một cách thân thiện và nhanh chóng nhất nhằm cùng hợp tác và phát triển Điều đó không phụ thuộc vào việc họ là người giàu hay người nghèo, công dân của một nước phát triển hay của một nước đang phát triển,…

Ngay từ khi mới thành lập, Thư viện trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội

2 (ĐHSPHN 2) đã rất quan tâm đến việc tổ chức các sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu tin của người dùng tin, góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học của toàn trường Hiện nay, Thư viện trường ĐHSPHN 2 đã tổ chức được một số sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện phục vụ cho nhu cầu tin của người dùng tin như: các bản Thư mục, các cơ sở dữ liệu, dịch vụ cung cấp tài liệu, dịch vụ sao chụp tài liệu,dịch vụ tìm tin trên Internet,… Hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin này đã mang lại nhiều lợi ích như tìm kiếm thông tin nhanh, hiệu quả Nhưng trong quá trình sử dụng, nhiều sản phẩm và dịch vụ thông tin vẫn bộc lộ những khuyết điểm, chưa thỏa mãn tối

đa nhu cầu tin của người dùng tin tại Thư viện

Từ những lý do trên, em đã lựa chọn đề tài cho khóa luận của mình là:

“Tìm hiểu các sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Thư viện Trường ĐHSP

Hà Nội 2” với nguyện vọng có thể góp phần nhỏ bé vào việc nghiên cứu

những vấn đề thực tiễn và đề xuất những biện pháp để nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin cho Thư viện Vì chưa có kinh nghiệm nên bài khóa luận còn nhiều thiếu sót, kính mong thầy cô giáo và các bạn góp ý để đề tài được hoàn thiện hơn

Trang 9

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Sản phẩm và dịch vụ thồng tin - thư viện

- Phạm vi nghiên cứu: Thư viện trường ĐHSPHN 2 từ 2005 đến nay

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Tìm hiểu về các sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện tại Thư viện

trường ĐHSPHN 2

- Tìm ra những ưu, nhược điểm và đề xuất một số ý kiến góp phần nâng

cao chất lượng và phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện tại Thư viện trường ĐHSPHN 2

4 Phương pháp nghiên cứu

 Phương pháp luận

Dựa trên phương pháp luận của duy vật biện chứng và đường lối chính sách của Đảng, nhà nước về phát triển văn hóa, giáo dục và hoạt động thông tin

 Phương pháp cụ thể

Để thực hiện đề tài em đã sử dụng phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp phân tích – tổng hợp tài liệu

Dựa trên những tài liệu đề cập đến nghiệp vụ Thư viện về các sản phẩm

và dịch vụ Thư viện thông tin, em đã tham khảo và phân tích – tổng hợp những lý thuyết cần thiết để phục vụ bài nghiên cứu

- Phương pháp quan sát (khảo sát thực tế)

Sử dụng phương pháp quan sát tổng thể, quan sát chọn lọc, quan sát

trực tiếp và gián tiếp, quan sát bên ngoài và bên trong để rút ra nhận xét về cơ

sở vật chất và vốn tài liệu trong Thư viện cũng như những hiệu quả hoạt động

của các sản phẩm và dịch vụ thông tin Thư viện

- Phương pháp thống kê toán học

Trang 10

Việc thống kê số lượng bạn đọc, hệ thống cơ sở vật chất cũng như nguồn lực thông tin giúp bài khóa luận có cơ sở đánh giá được chính xác hiệu quả phục vụ của các sản phẩm và dịch vụ Thư viện thông tin

- Phương pháp phân tích phiếu yêu cầu của bạn đọc

Cho phép thu thập các thông tin sinh động, chính xác về nhu cầu đọc cũng như giá trị kho tài nguyên thông tin của Thư viện

- Phương pháp phỏng vấn: nhằm điều tra ý kiến phản hồi của bạn đọc

về hiệu quả hoạt động của các sản phẩm và dịch vụ TT – TV

5 Đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn của đề tài

 Về mặt lý luận

Làm sáng tỏ vai trò của các sản phẩm và dịch vụ TT – TV đối với người dùng tin trong học tập và nghiên cứu nói chung cũng như nâng cao chất lượng đào tạo nói riêng của trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

 Về mặt thực tiễn

Trên cơ sở nghiên cứu chất lượng các sản phẩm và dịch vụ TT - TV, đề

ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của các sản phẩm

và dịch vụ thông tin – thư viện tại Thư viện trường ĐHSPHN 2

6 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung khóa luận gồm 3 chương:

- Chương 1: Sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện trong hoạt động

TT - TV tại Thư viện trường ĐHSPHN 2

- Chương 2: Hiện trạng sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện trường

ĐHSPHN 2

- Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông

tin - thư viện tại Thư viện trường ĐHSPHN2

Trang 11

CHƯƠNG 1 SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THƯ VIỆN TRONG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN – THƯ VIỆN TẠI THƯ VIỆN TRƯỜNG

ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

1.1 Khái quát về trường Đại học sư phạm Hà Nội 2

Trường ĐHSPHN 2 được thành lập từ năm 1967, theo Quyết định số 128/CP ngày 14/8/1967 của Chính phủ Lúc này, Trường ĐHSPHN 2 được đặt ở Cầu Giấy, Từ Liêm, Hà Nội, có nhiệm vụ đào tạo giáo viên khoa học tự nhiên cho các trường trung học phổ thông Với nhiệm vụ đó, trong các năm từ năm 1967 đến năm 1975, trường gồm các khoa tự nhiên: Khoa Toán, Khoa Vật Lý, Khoa Hóa, Khoa Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp, Khoa Kỹ thuật Công nghiệp và Khoa cấp 2 Trường đã đào tạo được hàng ngàn giáo viên và cán bộ giáo dục Nhiều cán bộ đã được thực tập, đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài Trong điều kiện chiến tranh ác liệt, phải sơ tán, phong trào thi đua “Hai tốt” của trường vẫn không ngừng được đẩy mạnh Đội ngũ cán bộ trưởng thành đã

có nhiều đóng góp quan trọng vào sự phát triển của các ngành khoa học cơ bản và sự nghiệp giáo dục của nước nhà

Ngày 11/10/1975, Bộ trưởng Bộ Giáo dục ra Quyết định số 872/QĐ về việc cải tạo xây dựng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1 và Trường Đại học

Sư phạm Hà Nội 2 để mỗi trường đều hoàn chỉnh, có các khoa đào tạo giáo viên cấp 3 khoa học xã hội, các khoa đào tạo giáo viên cấp 3 khoa học tự nhiên và chuyển Trường ĐHSPHN 2 lên Xuân Hoà, Sóc Sơn, Hà Nội (nay là Phường Xuân Hòa, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc) Từ đó, trường bước vào giai đoạn mới, xây dựng và phát triển toàn diện

Trang 12

Hiện nay, trường ĐHSPHN 2 đã phát triển trở thành trường đại học đào tạo đa ngành học, đa cấp học Từ 6 khoa ban đầu về khoa học tự nhiên đến nay trường đã có 11 khoa, 10 phòng ban, 9 đơn vị trực thuộc Trong đó có:

- 12 ngành đào tạo cử nhân sư phạm

- 10 ngành đào tạo cử nhân khoa học

- Là cơ sở đào tạo cử nhân đa ngành, đa lĩnh vực phục vụ cho việc phát triển văn hóa xã hội

- Là trung tâm nghiên cứu giáo dục, khoa học cơ bản và ứng dụng, là cầu nối chuyển giao công nghệ mới vào thực tiễn giáo dục, khoa học và kinh tế

- Sinh viên được tiếp thu tri thức khoa học tiên tiến, được rèn luyện trong môi trường sư phạm và được chuẩn bị kỹ năng nghề nghiệp đạt chuẩn quốc gia và khu vực, sẵn sàng thích ứng với sự phát triển của xã hội

1.2 Đặc điểm hoạt động Thông tin - Thư viện tại trường ĐHSPHN 2

Thư viện Trường ĐHSPHN 2 được xây dựng năm 1979 Trải qua gần

40 năm hoạt động, Thư viện không ngừng phát triển cùng sự đi lên của nhà trường Trong tiến trình đổi mới giáo dục, Thư viện đã và đang chuyển mình, đổi mới một cách toàn diện, sâu sắc theo hướng hiện đại hóa, nhằm kịp thời đáp ứng những yêu cầu mới của hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và học tập trong điều kiện mới Dự kiến đến năm 2012, Thư viện trường ĐHSPHN2 sẽ trở thành Trung tâm Thông tin - Thư viện, phục vụ đắc lực cho

Trang 13

sự nghiệp đào tạo của nhà trường, đảm bảo thông tin tư liệu cho các hoạt động: giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học của cán bộ, giảng viên và sinh viên trong toàn trường

1.2.1 Chức năng và nhiệm vụ của Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

 Chức năng

Thư viện có chức năng đảm bảo việc thu thập, lưu trữ, bảo quản và phổ biến tài liệu, cung cấp thông tin khoa học cho các ngành đào tạo cao học, cử nhân khoa học và cử nhân sư phạm, cũng như hỗ trợ khai thác hiệu quả những nguồn thông tin phục vụ cho công tác giảng dạy học tập và NCKH của cán

bộ, giảng viên, sinh viên nhà trường cùng các bạn đọc ngoài trường

 Nhiệm vụ

Thư viện Trường ĐHSPHN2 có các nhiệm vụ sau đây:

- Tham mưu cho Ban giám hiệu xây dựng quy hoạch, kế hoạch hoạt động dài hạn và ngắn hạn của Thư viện; tổ chức điều phối toàn bộ hệ thống thông tin, tư liệu trong trường

- Bổ sung, phát triển nguồn lực thông tin trong nước và nước ngoài đáp ứng nhu cầu giảng dạy, học tập, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ của nhà trường; thu nhận tài liệu do nhà trường xuất bản, các công trình nghiên cứu khoa học đã được nghiệm thu, tài liệu hội thảo, khóa luận, luận văn của cán bộ, giáo viên, học viên và sinh viên, chương trình đào tạo, giáo trình, tài liệu khác của nhà trường, các ấn phẩm tài trợ, biếu tặng, tài liệu trao đổi giữa các thư viện

- Tổ chức phục vụ, hướng dẫn cho bạn đọc khai thác, tìm kiếm, sử dụng hiệu quả nguồn tài liệu và các sản phẩm dịch vụ TT – TV thông qua các hình thức phục vụ của Thư viện phù hợp với quy định của pháp luật

Trang 14

- Xây dựng kế hoạch phát triển Thư viện theo mục tiêu “Thư viện điện tử”; Thư viện là địa chỉ tin cậy để cập nhật nhanh nhất, tốt nhất về lĩnh vực thông tin hoặc tìm kiếm kiến thức mới

- Thực hiện dịch thuật các tài liệu phục vụ nhu cầu công tác của trường Những chức năng và nhiệm vụ được trình bày trên đây, đã xác định rõ các hoạt động nhằm từng bước xây dựng Thư viện Trường ĐHSPHN2 trở thành Trung tâm Thông tin – Thư viện, phục vụ đắc lực cho việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học, thỏa mãn nhu cầu của bạn đọc (người dùng tin) của Thư viện

1.2.2 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ

Cơ cấu tổ chức của một cơ quan TT – TV là hệ thống các phòng ban với những chức năng và nhiệm vụ riêng Cơ quan TT – TV có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ, chức năng của mình thông qua hoạt động của các phòng ban Vì vậy, tất yếu phải có sự phân công trách nhiệm, sắp xếp tổ chức một cách rõ ràng giữa các cán bộ và sự phối hợp hoạt động thống nhất trong cơ quan

Bộ máy tổ chức của Thư viện Trường ĐHSPHN 2 bao gồm: Ban chủ nhiệm, và 3 phòng chức năng (phòng nghiệp vụ bổ sung, phòng đọc, phòng mượn) với 20 cán bộ Thư viện có trình độ bao gồm 01 Thạc sĩ, 15 cử nhân và

04 trung cấp, trong đó có 13 cán bộ được đào chuyên ngành Thư viện, 1 cán

bộ ngoại ngữ, 2 cán bộ tin học và 4 cán bộ thuộc các ngành khác

Ngoài Ban Chủ nhiệm Thư viện (1 Chủ nhiệm, 1 Phó Chủ nhiệm), các cán bộ được phân bổ về các tổ chuyên môn sau: Tổ nghiệp vụ – bổ sung, Tổ phục vụ đọc, Tổ phục vụ mượn Nhân sự của các tổ này hiện đang đảm nhận công việc tại các phòng chức năng theo sơ đồ sau đây:

Trang 15

Bảng 1.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Thư viện Trường ĐHSPHN2

1.2.3 Nguồn lực thông tin

Hiện nay, Thư viện trường ĐHSPHN 2 có một nguồn lực thông tin khá mạnh, phong phú, đa dạng về hình thức và nội dung

 Về hình thức: Tài liệu của Thư viện trường ĐHSPHN 2 được

phân theo các loại hình sau:

Loại hình Số đầu tài liệu Số bản tài liệu

Phòng mượn giáo trình

Phòng tra cứu

Phòng đọc tổng hợp

Phòng Báo – Tạp chí

Phòng đọc đa phương tiện

Trang 16

Qua khảo sát, điều tra cho thấy loại hình chủ yếu của Thư viện là tài liệu giấy (sách, báo in, tài liệu viết tay, tài liệu photo,…) chiếm 90% Trong tài liệu dạng giấy thì sách là chủ yếu chiếm 80%, báo, tạp chí chiếm 20 % tài liệu điện tử chiếm 10% Tài liệu điện tử gồm có:

- Các CSDL Thư viện xây dựng

- Bài luận văn, luận án, khóa luận tốt nghiệp được nộp lưu chiểu cho Thư viện từ năm 2007 kèm theo bản in Thư viện đã đưa các tài liệu này vào CSDL thư mục với dạng tài liệu in Tuy nhiên với dạng tài liệu điện tử , Thư viện vẫn chưa tổ chức thành CSDL toàn văn

- Đĩa CD - ROM

 Về nội dung: Nội dung của tài liệu được phân chia theo các chuyên

ngành đào tạo của trường như sau:

Nội dung Số đầu tài liệu Tỉ lệ (%)

Bảng 1.3: Nguồn lực thông tin phân chia theo nội dung

 Về ngôn ngữ: Vốn tài liệu của Thư viện được xây dựng tương đối đa

Trang 17

bằng Tiếng Việt được phân bố ở tất cả các phòng, riêng tài liệu ngoại văn tập trung chủ yếu ở phòng Tra cứu và phòng Báo, tạp chí

Ngôn ngữ tài liệu Số bản tài liệu Tỉ lệ (%)

Bảng 1.4: Nguồn lực thông tin phân chia theo ngôn ngữ

Như vậy về ngôn ngữ, tài liệu tại Thư viện trường ĐHSPHN 2 chủ yếu

là sách Tiếng Việt Ngoài ra các sách viết bằng ngôn ngữ khác chiếm số lượng ít

1.2.4 Cơ sở vật chất và ứng dụng CNTT

1.2.4.1 Cơ sở vật chất

Từ chỗ cơ sở vật chất còn nghèo nàn, thiếu thốn, lạc hậu, chỉ có các phòng đọc nhỏ bé và vài thiết bị cũ kỹ, đến nay Thư viện đã có một cơ ngơi khá khang trang, với tổng diện tích sử dụng 2.650m2, gồm tầng 1, 3 (nhà Đa năng 8 tầng) và tầng 2,3,4 (Nhà 10) bao gồm hệ thống các phòng:

Trang 18

Hệ thống các phòng hiện đại với trang thiết bị chuyên dụng: bàn ghế, tủ mục lục, giá tài liệu, máy in mã vạch, đầu đọc mã vạch, máy tính, cổng từ, điều hòa nhiệt độ…sẵn sàng đáp ứng phục vụ nhu cầu bạn đọc

1.2.4.2 Ứng dụng công nghệ thông tin

Liên tục phấn đấu trở thành một thư viện hiện đại, Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã nhanh chóng ứng dụng các phần mềm trong hoạt động của mình Năm 1999, được sự giúp đỡ của Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thư viện đã triển khai phần mềm CDS/ISIS để sử dụng vào công tác quản lý và xây dựng CSDL của thư viện Từ năm 2006, đến nay, được tài trợ bởi Dự án Phát triển giáo dục của Ngân hàng Thế giới, Thư viện bắt đầu ứng dụng phần mềm Libol 5.5

Thư viện đã ứng dụng CNTT vào các hoạt động TT – TV thông qua phần mềm libol với 7 phân hệ đã hoạt động tích cực trong các hoạt động Thư viện

- Tổng số máy tính hoạt động: 33 bộ máy tính

- Máy cho bạn đọc tra cứu: 21

- Máy cho cán bộ Thư viện làm việc: 12

- CSDL do cán bộ Thư viện xây dựng: 03 (sách, luận án-luận văn, tạp chí ) Việc ứng dụng CNTT vào hoạt động thông tin Thư viện đã mang lại nhiều lợi ích cho Thư viện nói chung và cho bạn đọc nói riêng

 Với bạn đọc:

- Giúp bạn đọc nhận được đầy đủ, chính xác và nhanh chóng các thông tin

mình cần từ các nguồn khác nhau

- Giảm thời gian phục vụ của Thư viện và thời gian chờ đợi của bạn đọc

- Tạo khả năng tiếp cận ngang nhau các thông tin bên trong và bên ngoài Thư viện

Trang 19

 Với Thư viện:

- Giảm chi phí xử lý Thư mục tài liệu: Đối với công tác biên mục thì đã xuất hiện hình thức mới đó là biên mục trên mạng hay còn gọi là biên mục sao chép Điều này có nghĩa là người cán bộ biên mục lấy những thông tin Thư mục trong danh sách các tài liệu mà đơn vị đã đăng ký bổ sung hoặc có thể tìm tài liệu đó trên mạng thông qua chỉ số ISBN (mỗi cuốn sách chỉ có duy nhất một chỉ số này) Sau đó có thể thêm một số yếu tố riêng của đơn vị mình như: ký hiệu kho, ngày tháng xử lý tài liệu …Việc biên mục này giúp cho cán bộ xử lý tài liệu tiết kiệm được nhiều thời gian, đồng nhất các yếu tố

1.2.5 Người dùng tin và nhu cầu tin

Trang 20

đại học và một lượng lớn học viên hệ vừa làm vừa học (số liệu năm 2011) Tuy nhiên, số người dùng tin thường xuyên sử dụng Thư viện trường phần lớn là Cán bộ nghiên cứu và giảng dạy, sinh viên đại học, học viên sau đại học Xét theo tính chất công việc, có thể phân chia số người dùng tin này vào hai nhóm chính sau: Nhóm người dùng tin Cán bộ nghiên cứu, giảng dạy và Nhóm người dùng tin Sinh viên, học viên

1.2.5.2 Nhu cầu tin

Do đặc thù công việc khác nhau nên nhu cầu tin của hai nhóm người dùng tin nêu trên không hoàn toàn giống nhau về nội dung thông tin, mức độ chuyên sâu của thông tin, các sản phẩm và dịch vụ thông tin…

 Nhóm người dùng tin Sinh viên và Học viên

Nhóm người dùng tin Sinh viên và Học viên là nhóm người dùng tin có

số lượng đông đảo (7.295 người) và chiếm tỉ lệ lớn trong cơ cấu thành phần người dùng tin của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 (94,7%) Đây cũng là nhóm người dùng tin thường xuyên sử dụng Thư viện và nhu cầu tin của họ cũng có sự biến đổi tương đối nhiều theo từng giai đoạn học tập tại trường

Trang 21

STT Khoa Số lượng sinh viên (người)

Bảng 1.5: Số lượng sinh viên của trường năm 2011

Với đặc trưng của một trường sư phạm, phần lớn học viên cao học của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 là những thầy cô giáo đang trực tiếp giảng dạy tại các trường trung học phổ thông, trung học cơ sở… Họ có nhu cầu lớn đối với các tài liệu về phương pháp giảng dạy, khoa học giáo dục và phương pháp thực hiện nghiên cứu khoa học trong lĩnh vưc giáo dục, cũng như tài liệu chuyên ngành về những môn học đang được họ giảng dạy Những người dùng tin này đang đồng thời công tác tại một cơ sở giáo dục nào đó trong thời gian học tập, nghiên cứu tại trường, nên thời gian thu thập thông tin của họ không nhiều Với một nhu cầu tin lớn, trải rộng và đòi hỏi sự cập nhật kiến thức, nhóm người dùng tin này thường xuyên sử dụng các sản phẩm, dịch vụ thông tin của Thư viện, đặc biệt là các bản Thư mục thông báo tài liệu mới, dịch vụ cung cấp các tài liệu điện tử, dịch vụ sao chụp tài liệu…

Những sinh viên chính quy của nhà trường là những người dùng tin chủ yếu của Thư viện Đây cũng là nhóm người dùng tin có đặc điểm riêng biệt và

Trang 22

thường xuyên có sự biến đổi về nhu cầu tin Sinh viên của trường cần nhiều thông tin về các lĩnh vực khoa học đại cương, khoa học chuyên ngành, được thể hiện trên nhiều loại hình tài liệu khác nhau: sách, báo, tạp chí… Họ thường đưa ra các yêu cầu tin trải rộng từ tài liệu, giáo trình, đến các tài liệu mang tính chất tham khảo để phục vụ cho quá trình học tập và bước đầu nghiên cứu khoa học của mình Bên cạnh đó, nhóm người dùng tin này cũng

có không ít các yêu cầu tin mang tính chất giải trí rất đang dạng, bổ sung kiến thức xã hội về các lĩnh vực như: âm nhạc, thời trang, điện ảnh… Ngoài ra, nhu cầu tin của những sinh viên thường xuyên biến đổi, theo sở thích, theo mối quan tâm ở từng thời điểm của họ Việc đáp ứng nhu cầu tin cho sinh viên của trường là không hề dễ dàng và luôn đòi hỏi Thư viện phải kịp thời nắm bắt nhu cầu tin của họ, tạo ra những sản phẩm, dịch vụ thông tin – thư viện mới, hữu ích để đáp ứng và phát triển nhu cầu tin của những người này Nhu cầu tin của sinh viên gắn với chương trình học tập hàng năm Nhu cầu của sinh viên những năm đầu chủ yếu là giáo trình và tài liệu tham khảo

để bổ sung cho việc học tập trên lớp, nhằm nâng cao kiến thức Những năm cuối sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học, làm khóa luận, thi tốt nghiệp nên nhu cầu về sử dụng tài liệu là đa dạng và chuyên sâu hơn

Nhìn chung, những người dùng tin thuộc nhóm Sinh viên và học viên của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 là những người năng động, ham học hỏi, có tinh thần học tập nghiêm túc, có nhu cầu tin phong phú, đa dạng về các môn học đại cương, môn học chuyên ngành, về khoa học giáo dục và phương pháp giáo dục mới Thông tin họ sử dụng có thể ở nhiều dạng tài liệu khác nhau: sách, báo, tạp chí, tài liệu điện tử Nhóm người dùng tin này cũng

có nhu cầu lớn về các sản phẩm, dịch vụ TT - TV của Thư viện Đồng thời, nhóm này cũng có nhiều yêu cầu tin nghiêng về giải trí, cần thiết để phát triển lối sống lành mạnh, vui tươi của mình Nhóm người dùng tin sinh viên và học

Trang 23

viên của nhà trường là đối tượng phục vụ chủ yếu của thư viện, nên việc đáp ứng và kích thích phát triển nhu cầu tin của nhóm này là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

 Nhóm người dùng tin Cán bộ nghiên cứu và Giảng dạy:

Bảng 1.6: Số lượng cán bộ giảng dạy của trường ĐHSPHN 2 (năm 2011)

Nhu cầu tin của nhóm này rất đa dạng, phong phú Nhóm Cán bộ nghiên cứu và giảng dạy là lực lượng nòng cốt của nhà trường Nhu cầu của nhóm này chủ yếu là những thông tin về các chuyên ngành đào tạo của trường, đặc biệt là về các bộ môn họ đang giảng dạy, nghiên cứu Nhóm này rất cần các thông tin này ở mức độ chuyên sâu và toàn diện, đề phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học của họ, cụ thể là phục vụ trực tiếp cho việc soạn bài giảng, viết giáo án, thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học và hướng dẫn sinh viên và học viên thực hiện các đề tài nghiên cứu ở nhiều cấp khác nhau Do đó, Thư viện cần tìm hiều và bổ sung các tài liệu chuyên ngành mới, liên quan đến các môn học đang được giảng day tại trường, cũng như những công trình nghiên cứu khoa học của các Cán bộ nghiên cứu và giảng dạy; các công trình nghiên cứu của học viên, sinh viên trong toàn trường

Trang 24

Ngoài ra, Thư viện cũng cần thường xuyên quan tâm đến ý kiến của những người dùng tin thuộc nhóm này về các thông tin chuyên ngành có giá trị, bao gồm cả các kỷ yếu hội nghị, hội thảo khoa học, các tài liệu hướng dẫn giảng dạy, nghiên cứu chuyên môn sâu… Bên cạnh đó, nhóm người dùng tin này cũng cần đến một số thông tin khác để mở rộng tầm hiểu biết xã hội Vì vậy, Thư viện không thể bỏ qua việc bổ sung một lượng các thông tin khác như: tin tức thời sự trong nước và quốc tế, các tác phẩm nổi tiếng…

Trong số các Cán bộ nghiên cứu và giảng dạy, có một số người đồng thời

là các cán bộ lãnh đạo, quản lý như: các thầy trong Ban Giám hiệu, các trưởng phó khoa, bộ môn, phòng ban hành chính… Tuy chỉ chiếm một số lượng (50 người) và một tỉ lệ tương đối nhỏ (chưa đầy 1% trong tổng số người dùng tin của trường), nhưng đây là những người có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tổ chức, điều hành và phát triển các hoạt động của nhà trường Công việc chính của nhóm này là tìm hiểu để đưa ra các quyết định đúng đắn, nhằm hoàn thành các kế hoạch đã đặt ra Nhu cầu thông tin của họ thường phải là thông tin chuyên sâu, nhưng cũng phải khá toàn diện về khoa học quản lý, khoa học giáo dục, các chính sách phát triển giáo dục của Đảng, Nhà nước và các lĩnh vực khác, thông tin cập nhật về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa…, thông tin về chủ trương phát triển của địa phương… Tuy nhiên, những người này rất bận rộn, có khi phải đi công tác trong và ngoài nước, nên thời gian để tìm kiếm thông tin của họ không có nhiều Thông tin họ mong muốn nhận được phải là những thông tin đầy đủ, có độ chính xác cao, được cung cấp kịp thời và có độ

cô đọng, xúc tích, để giúp họ hoàn thành công việc của mình Do vậy, họ thường có nhu cầu rất cao đối với các nguồn tin có tóm tắt, hay các bản tổng quan, phân tích, dự báo Mặt khác, nhiều cán bộ lãnh đạo, quản lý có khả năng

sử dụng ngoại ngữ tốt nên họ cũng có yêu cầu về tài liệu ngoại văn Nhu cầu tin của nhóm này rất đa dạng, chuyên sâu và đòi hỏi nhiều hình thức đáp ứng khác

Trang 25

nhau Thư viện cần luôn nắm bắt nhu cầu tin của nhóm này và có những sản phẩm, hình thức dịch vụ thông tin phù hợp để góp phần vào sự nghiệp phát triển lâu dài của Nhà trường

Ngoài ra Thư viện còn phục vụ người dùng tin ngoài trường có nhu cầu

sử dụng các dịch vụ tại Thư viện Đối tượng người dùng tin bên ngoài thường

là sinh viên, giáo viên các trường lân cận như: trường Trung Cấp Xây Dựng

số 4, trường Cao Đẳng Cơ Điện, trường cấp 3 Xuân Hòa…

Trung bình mỗi ngày Thư viện tiếp đón phục vụ khoảng trên 400 lượt bạn đọc (số liệu thống kê của Thư viện năm 2011) Hầu hết đều sử dụng các hình thức phục vụ của Thư viện như mượn về nhà, đọc tại chỗ, tra cứu hệ thống thông tin truyền thống và hiện đại

1.3 Sản phẩm và dịch vụ TT - TV

1.3.1 Khái niệm

Sản phẩm và dịch vụ TT – TV được hình thành do nhu cầu trao đổi và tiếp nhận thông tin trong xã hội, có quá trình phát triển lâu dài Khởi đầu, chúng chỉ là những loại hình giản đơn nhưng cùng với sự thay đổi của thời gian và sự phát triển xã hội, sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện phát triển ở mức độ cao hơn, ngày càng thỏa mãn đầy đủ hơn yêu cầu của người dùng tin Nhưng phải đến thập niên 70 của thế kỉ XX, sự phát triển có tính đột phá của các lĩnh vực như: kĩ thuật số, kĩ thuật vi xử lý, công nghệ truyền thông đa phương tiện đã mang lại khả năng lớn hơn trong việc đáp ứng các nhu cầu thông tin cũng như việc tạo ra các sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện mới

Xét trên bình diện chức năng đối với người dùng tin thì có thể chia thành 2 loại: Sản phẩm thông tin và dịch vụ thông tin:

Trang 26

Sản phẩm thông tin: là kết quả của quá trình xử lý thông tin do một

cá nhân hoặc tập thể thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin của người dùng tin.5, tr.21

Dịch vụ thông tin: bao gồm những hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu

thông tin và trao đổi thông tin của người sử dụng các cơ quan thông tin Thư viện nói chung.5, tr.24

1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện

Sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện được tạo ra dưới sự tác động của nhiều yếu tố sau:

- Các yếu tố của môi trường kinh tế - xã hội

- Các yếu tố của cơ quan TT – TV

1.3.2.1 Các yếu tố của môi trường kinh tế - xã hội

 Nhu cầu về các sản phẩm dịch vụ thông tin Thư viện

Trong xã hội hiện đại, nhu cầu hoàn thiện của con người vô cùng đa dạng, và ngày càng đòi hỏi ở mức cao hơn Nếu giữa các quốc gia khác nhau

đã xuất hiện các khoảng cách thông tin khác nhau, thì trong mỗi quốc gia, khoảng cách đó cũng đang xuất hiện để phân hóa xã hôi thành những người giàu và nghèo thông tin Điều đó đã hạn chế quyền bình đẳng của con người trong xã hội Do vậy, các cơ quan TT – TV đóng vai trò như một thiết chế xã hội, giúp mọi người ở mọi vị trí trong xã hội vào mọi lúc và tại mọi nơi có điều kiện “tiếp cận tự do không hạn chế tới các tư tưởng văn hóa và thông tin”; giúp cho mọi người trong xã hội học thức có điều kiện học, học nữa, học mãi nhằm không ngừng hoàn thiện mình Để đạt được mục đích đó, các cơ quan này phải có chính sách đặc biệt giúp cho họ sử dụng được nguồn thông tin nói chung Sản phẩm và dịch vụ thông tin do chính những cơ quan này tạo

ra chính là công cụ để thực hiện mục đích đó

Trang 27

 Vấn đề sở hữu thông tin xã hội

Có thể nói, ở tất cả mọi nơi, thông tin đều được thừa nhận và khẳng định là sở hữu chung của toàn xã hội và con người đều cần được bình đẳng trong việc được quyền sử dụng thông tin Do đó, có thể khẳng định việc tạo điều kiện cho con người thông qua các sản phẩm, dịch vụ thông tin thích hợp

để họ có thể truy nhập tới di sản trí tuệ chung của nhân loại là một chức năng

xã hội quan trọng của các cơ quan TT - TV Các cơ quan này cần hướng hoạt động của mình không coi lợi nhận là mục tiêu chủ yếu mà coi việc phục vụ nhu cầu tin của xã hội là mục tiêu chủ yếu

 Chính sách thông tin quốc gia

Xét trong môi trường của những nước có nền kinh tế chuyển đổi theo hướng thị trường có vai trò định hướng của nhà nước, có thể thấy rõ tầm quan trọng và sự cần thiết của một chính sách thông tin quốc gia đồng bộ và thích hợp với những điều kiện kinh tế xã hôi đặc thù đối với sự phát triển hoạt động của các cơ quan thông tin - thư viện nói chung, trong đó có sự phát triển của

hệ thống sản phẩm và dịch vụ mà chúng tạo ra Điều đó được thể hiện qua các phương diện sau:

- Để có thể tạo ra các sản phẩm và dịch vụ phù hợp, các cơ quan thông tin thư viện cần có được hạ tầng thông tin quốc gia đủ cho phép nó hòa nhập với cộng đồng thông tin trong khu vực và quốc tế

- Thông tin một mặt được xem xét như một hàng hóa, song trong nhiều trường hợp nó lại gắn bó chặt chẽ với các vấn đề an ninh và quyền lợi của mỗi quốc gia, mỗi cộng đồng và thậm chí, mỗi các nhân của cộn đồng

- Để phù hợp với xu thế phát triển xã hội theo hướng thị trường có đinh hướng của Nhà Nước, ở mỗi quốc gia tất sẽ hình thành một thị trường thông tin thống nhất trên phạm vi quốc gia, trên cơ sở một không gian thông tin thống nhất trên phạm vi quốc gia

Trang 28

1.3.2.2 Các yếu tố của cơ quan thông tin Thư viện

 Đối tượng xử lý thông tin

Đối tượng xử lý thông tin là một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp tới các sản phẩm và dịch vụ thông tin Thư viện Bởi vì chính sản phẩm là sự phản ánh về đối tượng; nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin về chúng cho người dùng tin Trước đây, các cơ quan TT – TV chỉ chủ yếu giới hạn việc cung cấp thông tin về nguồn tài liệu Do vậy việc xử lý thông tin chủ yếu được tập trung vào nguồn tài liệu mà thôi Chính vì thế mà các tiêu chuẩn cho việc xử lý thông tin đã được hình thành và phổ biến được hướng chủ yếu vào các đối tượng tài liệu là: xuất bản phẩm (sách, tài liệu chuyên khảo, báo, tạp chí các loại ) và tài liệu chưa xuất bản (luận án, luận văn khoa học, báo cáo khoa học, bản thảo các công trình khoa học…) Sau này đối tượng xử lý thông tin được quan tâm còn được mở rộng ra các tài liệu phi văn bản như tranh ảnh, biểu đồ, bản đồ, video…Tương ứng với các nhóm đối tượng trên

đã hình thành các tiêu chuẩn xử lý thông tin riêng nhằm tạo khả năng thống nhất giữa các cơ quan TT – TV khác nhau Sự khác biệt trong tiêu chuẩn ứng với mỗi nhóm đã phản ánh mức độ ảnh hưởng của đối tượng xử lý thông tin

đối với các sản phẩm được tạo ra từ chúng

 Người dùng tin

Các khía cạnh phản ánh tác động của người dùng tin tới các sản phẩm dịch vụ TT – TV được thể hiện cụ thể qua:

- Nội dung của thông tin được cung cấp Về cùng một nhóm đối tượng,

đối với những nhóm người dùng tin khác nhau thì nhu cầu thông tin về đối tượng cũng khác nhau, do đó thông tin đặc trưng cho đối tượng – thuộc tính, thông tin cần xử lý cũng hết sức khác biệt nhau, bởi vì điều đó phụ thuộc vào những nhu cầu cụ thể của người dùng tin

Trang 29

- Hình thức thông tin được cung cấp: thông tin được cung cấp là nhằm

thỏa mãn nhu cầu của những con người cụ thể Nhu cầu thông tin được tạo nên trên cơ sở của nhu cầu nhận thức Việc sử dụng thông tin được hình thành trên cơ sở đòi hỏi khách quan của mục đích sử dụng thông tin đồng thời phụ thuộc vào tâm lý, thói quen của con người Do đó, để thỏa mãn được nhu cầu với một chất lượng cao, các sản phẩm dịch vụ cần dừa trên cả các yếu tố có liên quan đến tâm lý và thói quen người sử dụng tin Những yếu tố này sẽ góp phần chi phối hình thức thông tin được cung cấp

 Công nghệ thông tin

Công nghệ thông tin phát triển với tốc độ nhanh chóng đã thâm nhập vào quá trình tổ chức và thực hiện các sản phẩm dịch vụ Có thể nêu một số tác động của công nghệ thông tin vào hệ thống này theo các khía cạnh sau:

- Quá trình xử lý thông tin Tại đây, công nghệ thông tin một mặt phát

triển và hoàn thiện các quá trình xử lý thông tin, mặt khác hình thành nên các công nghệ mới cho những quá trình này nhằm mục đích tạo ra được tính đa dạng, phong phú và năng động cho các cơ quan TT – TV trong việc tạo ra acsc sản phảm dịch vụ của mình

- Quá trình tạo lập nội dung thông tin: CNTT mới còn thâm nhập cả

vào quá trình tạo lập nội dung thông tin để hình thành nên các sản phẩm tương ứng Ví dụ: biên mục tự động, dịch tự động…

- Quá trình phân phối thông tin: Ứng dụng CNTT đã cho ra đời các hệ

thống phổ biến thông tin chọn lọc, các ngân hàng dữ liệu được khai thác trên các mạng truyền tin công cộng, hệ thống mục lục công cộng trực tuyến OPAC… Các biến đổi này đã tạo ra môi trường mà nhờ nó việc phổ biến thông tin mang tính cộng đồng sâu sắc

- Quá trình trao đổi và truyền thông tin: CNTT đã tạo nên cho quá trình

trao đổi và truyền thông tin giữa người dùng tin, người cung cấp thông tin,

Trang 30

người môi giới thông tin, người sản xuất thông tin được thực hiện một cách

Các sản phẩm và dịch vụ thông tin là công cụ thiết yếu để thư viện thực hiện nhiệm vụ của mình Chất lượng của các sản phẩm và dịch vụ thông tin được xem là thước đo hiệu quả hoạt động TT - TV, là yếu tố thể hiện chức năng, nhiệm vụ của thư viện Đồng thời, qua đó có thể xác định được mức độ đóng góp của thư viện đối với sự nghiệp đào tạo, nghiên cứu và sự phát triển của Nhà trường

Sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện là công cụ, phương tiện, hoạt động do thư viện tạo ra để xác định, truy nhập, khai thác và quản lý các nguồn thông tin của thư viện Là cầu nối người dùng tin – nguồn thông tin thư viện Mỗi đối tượng người dùng tin có nhu cầu sử dụng các loại sản phẩm và dịch vụ thông tin khác nhau và ở các mức độ khác nhau Qua việc sử dụng hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin, người dùng tin sẽ lựa chọn, khai thác được những thông tin thích hợp có trong nguồn lực thông tin của Thư viện và

họ sẽ thỏa mãn được nhu cầu tin của mình Do nhu cầu tin của người dùng tin tại trường ĐHSPHN 2 luôn không ngừng thay đổi và phát triển nên sản phẩm

và dịch vụ TT – TV cũng phải phát triển, phải thay đổi và hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu đó

Sản phẩm và dịch vụ TT - TV còn giúp cho việc trao đổi, chia sẻ nguồn lực thông tin giữa trung tâm với các cơ quan TT – TV khác

Trang 31

Tóm lại, trong hoạt động TT - TV, hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện giữ vai trò hết sức quan trọng và là một hệ thống năng động, luôn phát triển Hiệu quả hoạt động của hệ thống này phụ thuộc chặt chẽ vào một số yếu tố như: nhu cầu của người dùng tin, nguồn kinh phí, năng lực, trình độ của cán bộ Thư viện

Trang 32

CHƯƠNG 2

HIỆN TRẠNG SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN - THƯ VIỆN TẠI THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

2.1 Các sản phẩm thông tin - thư viện tại Thư viện trường ĐHSPHN 2

Trong thời đại thông tin đóng vai trò chủ đạo, ảnh hưởng trực tiếp tới các quyết định của con người cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, việc tạo ra các sản phẩm thông tin cũng trở nên vô cùng quân trọng

và cần thiết Đó là công cụ, phương tiện do cơ quan TT – TV tạo ra để xác định, truy nhập, khai thác và quản lý các nguồn lực thông tin nhằm đáp ứng nhu cầu tin của người dùng tin, là cầu nối giữa người dùng tin với các nguồn lực thông tin của thư viện Đồng thời, chúng cũng phản ánh nguồn lực thông tin hiện có của thư viện

Nhận thức được vai trò và sự cần thiết của các sản phẩm thông tin, các thư viện tại Việt Nam, trong đó có Thư viện trường ĐHSP Hà Nội 2, đã rất quan tâm tới việc tổ chức, xây dựng hệ thống các sản phẩm thông tin nhằm phục vụ tốt nhất nhu cầu của người dùng tin

Hiện nay, Thư viện trường ĐHSP Hà Nội 2 đã tổ chức được một số sản phẩm thông tin sau:

2.1.1 Hệ thống mục lục

Hệ thống mục lục là tập hợp các đơn vị / phiếu mục lục được sắp xếp

theo một trình tự nhất định, phản ánh nguồn tin của một / một nhóm cơ quan thông tin Thư viện.[1,tr.37]

Mục lục Thư viện được xây dựng nhằm một số mục đích sau:

- Cho phép người dùng tin xác định được vị trí ( địa chỉ lưu trữ tài liệu trong kho của một/một số cơ quan thông tin - thư viện)

- Phản ánh trữ lượng, thành phần của kho tài liệu

Trang 33

- Trợ giúp thêm cho việc lựa chọn tài liệu bằng việc kết hợp và sử dụng các thông tin khác về tài liệu mà chúng không được sử dụng làm dấu hiệu để xây dựng mục lục

Mục lục được thể hiện dưới những dạng sau:

- Mục lục dạng phiếu: là hệ thống phiếu được sắp xếp trong ngăn của tủ mục lục

Hiện tại, Thư viện trường ĐHSPHN 2 đang sử dụng 3 loại mục lục đó là: Mục lục chữ cái, Mục lục phân loại, Mục lục truy nhập công cộng trực tuyến OPAC

 Mục lục chữ cái:

Mục lục chữ cái là mục lục Thư viện mà trong đó các phích mô tả thư mục được sắp xếp trong trật tự chữ cái họ - đệm – tên tác giả, tên các cơ quan

tổ chức – tác giả tập thể hoặc là tên các ấn phẩm và tài liệu khác

Mục lục chữ cái phản ánh đẩy đủ, toàn diện vốn tài liệu của Thư viện Trong mục lục đó không chỉ có phích chính mà còn có các phích bổ sung cho tên tác giả, tên tài liệu, phích chỉ chỗ

Mục lục chữ cái giúp bạn đọc tìm các tài liệu nếu bạn đọc biết tên tác giả hay tên sách Mục lục này được xếp theo vần chữ cái từ A - Z Ngoài việc thỏa mãn những yêu cầu bạn đọc, mục lục chữ cái còn giúp cán bộ Thư viện trong công tác bổ sung, chỉ dẫn thư mục, thanh lọc tài liệu Nhiệm vụ chính nhất của mục lục chữ cái là trả lời cho hai câu hỏi sau:

Trang 34

- Trong Thư viện có hay không một tác phẩm nào đó?

- Trong Thư viện, có những tác phẩm nào, của một tác giả nào đó?

Do có nhiều ưu điểm, nên Mục lục chữ cái được lựa chọn sử dụng phổ biến tại các cơ quan TT – TV, đặc biệt là các thư viện truyền thống Thư viện trường ĐHSPHN 2 hiện đang sử dụng hệ thống mục này làm công cụ tra cứu của mình

Mục lục chữ cái của Thư viện trường ĐHSPHN 2 được mô tả theo tiêu chuẩn ISBD Các phích trong Mục lục chữ cái được sắp xếp theo đúng thứ tự chữ cái Để bảo quản và tránh bị thất lạc, Thư viện đã sử dụng những hộp mục lục Mỗi hộp mục lục như vậy có thể chứa được từ 750 – 1000 phích Trong hộp có một suốt kim loại xuyên từ đầu hộp đến cuối hộp qua lỗ tròn phía dưới các phích Ở bên ngoài hộp phích có dán nhãn trên đó ghi chữ cái của phích đầu tiên của hộp đến chữ cái của phích cuối cùng Từ những hộp phích như vậy, Thư viện đã tổ chức thành các tủ Mục lục chữ cái Hiện nay Thư viện đã xây dựng được 02 tủ mục lục chữ cái đặt tại tiền sảnh tầng một tòa nhà 8 tầng để bạn đọc tiện tra cứu

Để giúp bạn đọc tra cứu dễ dàng, Thư viện sử dụng hệ thống phích tiêu

đề để phân chia giới hạn các phích với nhau theo các từ, cụm từ Thư viện sử dụng hai loại phích tiêu đề là: phích tiêu đề chính và phích tiêu đề phụ

Phích tiêu đề chính dùng để phân định giới hạn các chữ cái hoặc tác giả nổi tiếng, cơ quan, tổ chức quan trọng, có mào nhô lên ở giữa, chiếm 2/3 chiều rộng của phích

Phích tiêu đề phụ có phần mào phích nhô lên ở phía bên phải hoặc trái

để phân biệt các phích bắt đầu từ vần này đến vần kia

Song song với Mục lục chữ cái là Mục lục phân loại được bạn đọc sử dụng phổ biến

Trang 35

Mục lục phân loại của Thư viện được phân loại theo hai bảng phân loại bảng 19 lớp và bảng phân loại Dewey Trước năm 2006 tài liệu được phân loại theo bảng 19 lớp, từ tháng 3/ 2006 tài liệu được phân loại theo bảng phân loại thập phân Dewey 14 rút gọn

Cũng giống với cách tổ chức Mục lục chữ cái, các phích trong tủ mục lục được đánh máy, viết tay và thường xuyên được tu bổ để loại bỏ những phích đã cũ nát Sở dĩ Thư viện sử dụng cả hai loại phích là đánh máy và viết tay vì vẫn còn những tài liệu từ trước chưa được tiến hành xử lý hồi cố Từ khi xử lý sách bằng phần mềm Libol việc in phích đã được tiến hành tự động tất cả các phích đều được ép platic và đánh máy để tránh tình trạng phích bị dứt ra khỏi hộp phích, có giá trị sử dụng bền lâu Hiện nay, Thư viện đã xây dựng được 05 tủ Mục lục đặt tại trước cửa các phòng Mượn để bạn đọc tiện

sử dụng

Nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng Thư viên điện tử, bắt đầu từ 3 -

2006 Thư viện đã sử dụng phần mềm tích hợp Libol của công ty phần mềm Tinh Vân ứng dụng cho hoạt động TT – TV của mình, vì vậy bên cạnh Mục lục chữ cái và Mục lục phân loại, Thư viện đã xây dựng thêm hệ thống tra cứu CSDL bằng máy tính Tuy nhiên, do tính dễ sử dụng, và thói quen nên phần đông bạn đọc vẫn đang lựa chọn hai loại mục lục này làm công cụ tra cứu thường xuyên của mình Theo số liệu thống kê 100 người dùng tin thì có

Trang 36

khoảng 35,3 % lựa chọn loại hai loại Mục lục này làm công cụ tra cứu Trong

đó, có các mức độ đánh giá chất lượng đáp ứng nhu cầu như sau:

Mục lục

Tổng

số người

Mức độ đáp ứng Tốt Trung bình Chưa tốt

100 (100%)

33 (33%)

37 (37%)

20 (20%)

Bảng 2.1: Mức độ đáp ứng của Mục lục truyền thống

Nhìn chung, Thư viện trường đã xây dựng được hệ thống mục lục truyền thống tương đối đạt tiêu chuẩn về chất lượng cũng như số lượng phản ánh vốn tài liệu của Thư viện, phần nào đáp ứng được nhu cầu của người dùng tin Tuy nhiên, hiện nay hệ thống mục lục truyền thống của Thư viện chưa được hoàn thiện đồng bộ Mục lục chủ đề không được xây dựng, vì vậy phần nào ảnh hưởng đến việc tra cứu thông tin của người dùng tin

 Mục lục truy nhập công cộng trực tuyến (OPAC)

Sự xuất hiện của CNTT và truyền thông đã tạo ra những tác động to lớn đến mọi hoạt động trong lĩnh vực TT – TV và việc thiết kế mục lục truy nhập công cộng trực tuyến (OPAC) là một trong những bằng chứng rõ ràng

về những tác động của cộng đồng thư viện đã nắm lấy công nghệ thông tin và máy tính để xây dựng những công cụ tra cứu chính trong thư viện được biết đến như OPAC Từ năm 2006, bên cạnh sử dụng hệ thống Mục lục truyền thống, Thư viện đã đưa vào sử dụng hệ thống mục lục truy nhập công cộng trực tuyến OPAC

Mục lục truy nhập công cộng trực tuyến (OPAC) là một hệ thống gồm

tập hợp các biểu ghi thư mục của tài liệu được ghi lại, lưu trữ và tra cứu bằng máy tính Hệ thống mục lục này chứa đựng một số lượng biểu ghi lớn nhất

Ngày đăng: 08/11/2015, 20:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Thư viện Trường ĐHSPHN2 - Tìm hiểu các sản phẩm dịch và dịch vụ thông tin thư viện tại thư viện trường đại học sư phạm hà nội 2
Bảng 1.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Thư viện Trường ĐHSPHN2 (Trang 15)
Bảng 1.2: Nguồn lực thông tin phân chia theo loại hình tài liệu - Tìm hiểu các sản phẩm dịch và dịch vụ thông tin thư viện tại thư viện trường đại học sư phạm hà nội 2
Bảng 1.2 Nguồn lực thông tin phân chia theo loại hình tài liệu (Trang 15)
Bảng 1.3: Nguồn lực thông tin phân chia theo nội dung - Tìm hiểu các sản phẩm dịch và dịch vụ thông tin thư viện tại thư viện trường đại học sư phạm hà nội 2
Bảng 1.3 Nguồn lực thông tin phân chia theo nội dung (Trang 16)
Hình 1.1: Tỉ lệ các nhóm người dùng tin - Tìm hiểu các sản phẩm dịch và dịch vụ thông tin thư viện tại thư viện trường đại học sư phạm hà nội 2
Hình 1.1 Tỉ lệ các nhóm người dùng tin (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w