1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách đối ngoại của cộng hòa Indonesia từ năm 1991 đến nay

154 1K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 154
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với khu vực Đông Nam Á, Indonesia là một trong nước sáng lậpviên của tổ chức Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ASEAN và có nhiềuđóng góp tích cực trong mọi hoạt động của tổ chức này,

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRẦN TRUNG HIẾU

CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA CỘNG HÒA INDONESIA

TỪ NĂM 1991 ĐẾN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Trang 2

NGHỆ AN - 2013

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRẦN TRUNG HIẾU

CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA CỘNG HÒA INDONESIA

TỪ NĂM 1991 ĐẾN NAY

Chuyên ngành: Lịch sử thế giới

Mã số: 60.22.50

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS NGƯT NGUYỄN CÔNG KHANH

Trang 4

NGHỆ AN - 2013

Trang 5

Để hoàn thành luận văn thạc sĩ khoa học này, ngoài sự nỗ lực của bản

thân, đề tài “Chính sách đối ngoại của Cộng hòa Indonesia từ 1991 đến nay”

được hoàn thành nhờ sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của PGS.TS.NGƯT.Nguyễn Công Khanh, khoa Lịch sử Trường Đại học Vinh

Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Lịch sử, PhòngSau đại học trường Đại học Vinh và Bộ môn Lịch sử thế giới đã tạo điều kiệngiúp đỡ tác giả trong quá trình thực hiện đề tài này

Tuy nhiên, do hạn chế về nguồn tư liệu và khả năng nghiên cứu của bảnthân cho nên luận văn này sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết cần đượcgóp ý, sửa chữa

Kính mong được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và bạn đọc đểluận văn này được hoàn chỉnh hơn

Xin chân thành cảm ơn !

Nghệ An, tháng 10 năm 2013

Tác giả

Trần Trung Hiếu

Trang 6

A MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 4

5 Đóng góp của luận văn 5

6 Bố cục luận văn 6

B NỘI DUNG 7

Chương 1 .NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA INDONESIA TỪ 1991 ĐẾN 2012 7

1.1 Tình hình thế giới và khu vực tác động đến chính sách đối ngoại của Indonesia sau Chiến tranh lạnh 7

1.1.1 Tình hình thế giới 7

1.1.2 Tình hình khu vực Đông Nam Á 13

1.2 Tình hình Indonesia từ năm 1991 đến 2012 16

1.2.1 Tình hình kinh tế 16

1.2.2 Tình hình chính trị - xã hội 17

1.3 Khái quát chính sách đối ngoại của Cộng hoà Indonesia từ 1945 - 1991 20

1.3.1 Cơ sở hình thành chính sách đối ngoại của Indonesia 20

1.3.2 Những nét cơ bản trong chính sách đối ngoại của Cộng hoà Indonesia từ 1945 - 1991 28

Trang 7

1.3.3 Những nguyên tắc cơ bản trong chính sách đối ngoại của

Indonesia trong giai đoạn cầm quyền của Tổng thống Suharto

28

Tiểu kết chương 1 30

Trang 8

ĐỐI NGOẠI CỦA INDONESIA TỪ 1991 ĐẾN 2012 32

2.1 Những nét chung về chính sách đối ngoại của Indonesia từ 1991 đến 2012 32

2.2 Chính sách đối ngoại của Indonesia đối với các cường quốc 35

2.2.1 Chính sách đối ngoại với Mỹ 35

2.2.2 Chính sách đối ngoại với Nhật Bản 41

2.2.3 Chính sách đối ngoại với Trung Quốc 44

2.3 Chính sách đối ngoại của Indonesia đối với khu vực Đông Nam Á .48

2.3.1 Chính sách đối ngoại của Indonesia với tổ chức ASEAN 48

2.3.2 Vấn đề biển Đông 53

2.4 Chính sách đối ngoại của Indonesia với các nước láng giềng 63

2.4.1 Chính sách đối ngoại với Australia 63

2.4.2 Chính sách đối với Đông Timor 68

2.5 Chính sách đối ngoại với Việt Nam 70

Tiểu kết chương 2 77

Chương 3 .MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA INDONESIA 79

3.1 Một số đặc điểm trong chính sách đối ngoại của Cộng hòa Indonesia từ 1991 đến 2012 79

3.1.1 Tính kế thừa 79

3.1.2 Tính năng động 79

3.1.3 Tính đặc thù 82

3.2 Tác động chính sách đối ngoại đối với sự phát triển của đất nước Indonesia 84

3.2.1 Đối với sự phát triển kinh tế 84

3.2.2 Xã hội, văn hóa - giáo dục, y tế 86

Trang 9

3.2.3 Đối với khu vực Đông Nam Á 87

Trang 10

thời gian tới 109

3.3.1 Những thách thức mới 109

3.3.2 Dự báo chính sách đối ngoại của Indonesia trong thời gian tới .116

3.3.3 Một số bài học cho Việt Nam 118

3.3.4 Dự báo một số vấn đề cơ bản trong quan hệ đối ngoại Việt Nam - Indonesia trong thời gian sắp tới 120

C KẾT LUẬN 124

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 128

E PHỤ LỤC 137

Trang 11

ABM Hiệp ước tên lửa chống tên lửa

AFTA Khu vực thương mại tự do ASEAN

APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á- Thái Bình Dương ARF Diễn đàn an ninh Đông Nam Á

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

ASEM Diễn đàn hợp tác Á - Âu

BRIC Nhóm bộ tứ: Braxin, Ấn Độ, Nga, Trung Quốc CSTO Tổ chức hiệp ước an ninh tập thể

G 8 7 nước công nghiệp phát triển và Nga

G 20 Nhóm 20 nền kinh tế phát triển

EAEC Cộng đồng kinh tế Âu- Á

EU Liên minh châu Âu

IAEA Cơ quan năng lương nguyên tử quốc tế

IRC Ủy ban quan hệ quốc tế

GDP Tổng thu nhập quốc gia

NATO Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương

NAFTA Khu vực thương mại tự do Bắc Mỹ

NMD Chương trình phòng thủ tên lửa quốc gia

NICs Các nước công nghiệp mới

NPT Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân

NXB Nhà xuất bản

OSCE Tổ chức an ninh hợp tác châu Âu

RIC Nhóm bộ ba: Nga, Ấn Độ, Trung Quốc

SNG Cộng đồng các quốc gia độc lập

SCO Tổ chức hợp tác Thượng Hải

START Hiệp ước cắt giảm vũ khí chiến lược

USD Đồng Đô la Mỹ

WTO Tổ chức thương mại thế giới

Trang 12

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Đối với các quốc gia, khu vực trên thế giới, để phát triển và pháttriển bền vững kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng, chính sách đốingoại luôn là chiến lược hàng đầu trong xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoátrong giai đoạn hiện nay

Indonesia là một quốc gia lớn nằm ở khu vực Đông Nam Á, rộng lớn

và đông dân nhất khu vực cùng với nhiều yếu tố xã hội đặc trưng: đa sắc tộc

và tôn giáo; có vị trí chiến lược quan trọng án ngữ con đường hàng hải quốc

tế nối Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương; có nguồn tài nguyên, khoáng sảngiàu có Indonesia đã trở thành cầu nối đại dương cho các nền văn minhphương Đông và phương Tây

Do đó, vấn đề tìm hiểu và nghiên cứu chính sách đối ngoại để phục vụcho phát triển kinh tế và ổn định xã hội là điều kiện tiên quyết trong chiếnlược phát triển của đất nước này

1.2 Trong tuyên bố đầu tiên ngay sau khi giành độc lập đã toát lên khátvọng của nước Cộng hoà Indonesia non trẻ muốn sống trong hoà bình, hữunghị với tất cả các nước Chính đường lối đối ngoại tích cực và độc lập đã gópphần giúp quốc gia này sớm được công nhận là thành viên của Liên HợpQuốc vào năm 1950 và tích cực tham gia vào hoạt động của tổ chức này

Đối với khu vực Đông Nam Á, Indonesia là một trong nước sáng lậpviên của tổ chức Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và có nhiềuđóng góp tích cực trong mọi hoạt động của tổ chức này, phấn đấu giữ gìn vàtăng cường sự ổn định hoà bình, hợp tác giữa các nước trong khu vực - mộttrong những nét tiêu biểu trong đường lối đối ngoại của Cộng hoà Indonesia

Đặc biệt, trong những năm gần đây, khi tình hình khu vực có nhiềubiến động với những biến động phức tạp xoay quanh nhiều vấn đề như khủng

Trang 13

hoảng tài chính tiền tệ Đông Nam Á (1997-2001), khủng hoảng kinh tế toàncầu từ năm 2008, vấn đề khủng bố quốc tế, vấn đề biển Đông… Với tư thế làmột nước lớn trong khu vực, chính phủ Cộng hoà Indonesia đã tiếp tục pháthuy đường lối đối ngoại độc lập, hoà bình, nỗ lực cùng với các nước ASEANtìm kiếm những giải pháp ngoại giao con thoi trên các diễn đàn khu vực vàquốc tế.

1.3 Mặt khác, trong xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá hiện nay, việctìm hiểu, nghiên cứu chính sách đối ngoại của Cộng hoà Indonesia từ 1991đến nay có ý nghĩa rất quan trọng đối với Việt Nam, sẽ là những bài học quýgiá cho các nhà hoạch định chính sách Việt Nam trong quá trình phát triểnkinh tế - xã hội và đảm bảo giữ vững an ninh quốc phòng trong tình hình hiệnnay cũng như thới gian tới

1.4 Là một quốc gia có vị thế quan trọng trong khu vực, chính sách đốingoại của Cộng hoà Indonesia hơn hai thập kỷ qua đã được thông tin trên khánhiều sách báo, tạp chí, bản tin trong và ngoài nước Tuy nhiên, chưa có mộtcông trình khoa học nào tập hợp lại, hệ thống hoá các thông tin về quá trình

đó của Indonesia Chính vì vậy, việc lựa chọn nghiên cứu vấn đề “Chính sáchđối ngoại của Cộng hoà Indonesia từ năm 1991 đến nay” là việc làm vừa cógiá trị khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Chínhsách đối ngoại của Cộng hoà Indonesia từ năm 1991 đến nay” làm đề tài Luậnvăn Thạc sỹ khoa học

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề chính sách đối ngoại của Indonesia trong gia đoạn từ năm 1991đến nay là một vấn đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn lớn Do đó, từ trướcđến nay, đã có khá nhiều học giả, các nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu dướinhiều góc độ khác nhau

Trang 14

PGS.TS Ngô Văn Doanh với cuốn “Indonesia những chặng đường lịchsử” (1995) đã khái quát những vấn đề cơ bản về địa lý, lịch sử kinh tế, chínhtrị - xã hội, văn hoá thông qua những chằng đường lịch sử của đất nướcIndônêsia từ buổi bình minh của lịch sử đến năm 1995.

Tập thể tác giả của Viện Quan hệ quốc tế thuộc Học viện quốc gia HồChí Minh trong cuốn “Chính sách đối ngoại của các nước ASEAN Đề tài cấp

Bộ (1997-1998)” đã trình bày một cách tương đối rõ ràng chính sách đốingoại của các nước ASEAN trong đó có Indonesia Đường lối đối ngoại củaIndonesia được thay đổi trong từng thời kỳ để phù hợp với những biến đổi củađất nước, khu vực và của bối cảnh quốc tế

D.R.Sar Desai trong công trình “Đông Nam Á - Quá khứ và hiện tại”

đã đề cập đến những thay đổitrong chính sách đối ngoại Indonesia trong giaiđoạn nắm quyền của Tổng thống Suharto Thay vì nghiêng về chủ nghĩa cộngsản như thời Tổng thống Sukarno, chính quyền của Tổng thống Suharto đã thihành một đường lối đối ngoại thân phương Tây, quan hệ với các nước Cộngsản luôn ở thế đối đầu

Giáo sư Cao Xuân Phổ trong bài nghiên cứu “Gặp gỡ Việt Nam Indonesia Xưa và nay”, trên cơ sở so sánh những điểm tương đồng và sựkhác biệt trong đường lối đối ngoại của hai quốc gia đã khẳng định, dù chonhững khác biệt còn tiếp tục tồn tại, song điều quan trọng là biến những khácbiệt đó thành cơ sở để liên kết hài hoà hai quốc gia như sự hài hoà trong mộtcầu vồng muôn sắc

-PGS.TS Nguyễn Xuân Sơn và Th.S Thái Văn Long trong cuốn “Quan

hệ đối ngoại của các nước ASEAN” (1997) đã đề cập đến chính sách đốingoại cụ thể của từng nước thành viên ASEAN trong thời kỳ chiến tranhlạnh và hiện nay trên cơ sở phân tích đặc điểm chung của từng quốc gianhằm làm rõ chính sách đối ngoại của từng nước với các nước trong khu vực

Trang 15

cũng như với một số nước lớn có ảnh hưởng trong khu vực như Mỹ, NhậtBản, Trung Quốc…

Ngoài ra, chính sách đối ngoại của Indonesia cũng được đề cập mộtcách rải rác trong các giáo trình, các công trình nghiên cứu, các chuyên khảo

về Indonesia

Tuy nhiên, hầu hết các công trình hay bài viết chỉ nêu một cách kháiquát hay nghiên cứu một góc độ, một khía cạnh nhất định mà chưa hình thànhmột cách hoàn chỉnh, hệ thống về chính sách đối ngoại của Cộng hoàIndonesia từ sau chiến tranh lạnh đến nay Trên cơ sở các tác phẩm nghiêncứu, các bài viết đã có, chúng tôi sẽ cố gắng trình bày một cách hệ thống vàtương đối đầy đủ về chính sách đối ngoại của Indonesia từ năm 1991 đến nay(năm 2012)

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Chính sách đối ngoại của Indonesia trong giai đoạn từ năm 1991 đến nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Đề tài nghiên cứu chính sách đối ngoại của Indonesia trong giai đoạn

từ năm 1991 đến năm 2012, dưới thời cầm quyền của Tổng thống Suharto đếnTổng thống Sulilo Bambang Yudhoyono

- Trong khuôn khổ có hạn của luận văn, người viết không trình bày tất

cả các mối quan hệ đối ngoại song phương và đa phương của nước Cộng hoàIndonesia mà chỉ tập trung nghiên cứu chính sách đối ngoại của Indonesia vớimột số cường quốc trên thế giới, một số nước láng giềng có quan hệ khá mậtthiết với Indonesia và chính sách đối ngoại của Indonesia với tổ chức ASEAN

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tư liệu.

Khi thực hiện đề tài, người viết đã tiếp cận các nguồn tài liệu:

Trang 16

- Một số bài viết, bài nghiên cứu, bài viết của các tác giả quan tâm đếnvấn đề chính sách đối ngoại của Indonesia đăng trên một số tạp chí: Tạp chíNghiên cứu Đông Nam Á, Tạp chí Nghiên cứu Châu Á - Thái Bình Dương,Tạp chí Quan hệ Quốc tế…

- Tư liệu về chính sach đối ngoại của Indonesia qua các tác phẩm nghiêncứu, dịch thuật của các nhà nghiên cứu ở Viện Nghiên cứu Đông Nam Á

- Các giáo trình lịch sử, các sách lịch sử, các sách chuyên khảo vềIndonesia cũng như về chính sách đối ngoại nói chung của các quốc gia ĐôngNam Á

- Các công trình nghiên cứu khoa học, luận văn thạc sỹ, tiến sỹ về lịch

sử, chính trị, kinh tế, văn hoá của ASEAN và Indonesia

- Các tài liệu tham khảo báo chí, đặc biệt là Tài liệu tham khảo đặc biệtcủa Thông tấn xã Việt nam

- Nguồn tư liệu từ internet

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài “Chính sách đối ngoại của Cộng hoà Indonesia từnăm 1991 đến nay”, chúng tôi dựa vào phương pháp luận sử học macxit, kếthợp phương pháp lịch sử và phương pháp logic Đây là hai phương pháp cơbản được sử dụng để thực hiện đề tài

Ngoài ra, chúng tôi cũng vận dụng cơ sở phương pháp luận, cácphương pháp liên ngành khác như phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế,quan hệ kinh tế, phân tích, so sánh, đối chiếu, suy luận để làm sáng tỏ vấn đề

đặ ra trong luận văn

5 Đóng góp của luận văn

Đề tài “Chính sách đối ngoại của Cộng hoà Indonesia từ năm 1991 đếnnay” là quá trình tập hợp một cách có hệ thống trên cơ sở sưu tầm, chọn lọcnhững tài liệu có giá trị nhằm cung cấp một cái nhìn tổng quan về chính sáchđối ngoại của Indonesia hơn 20 năm từ 1991 đến 2012

Trang 17

Trên cơ sở tìm hiểu, chúng tôi đã xác định bối cảnh lịch sử, những cơ

sở dẫn đến việc xác lập những nguyên tắc cơ bản trong chính sách đối ngoại

để từ đó làm rõ sự cần thiết phải hình thành một chính sách đối ngoại mới choquốc gia này Đồng thời, chúng tôi cũng trình bày những biểu hiện của việcthực hiện những nguyên tắc đó thông qua những nội dung cơ bản trong chínhsách đối ngoại của Indonesia, từ đó rút ra những nhận xét và tác động củachính sách đó trong giai đoạn 1991 - 2012 cũng như triển vọng của chính sáchđối ngoại của Cộng hoà Indonesia trong thời gian tới

Mặc dù không tránh khỏi những hạn chế, song chúng tôi hy vọng luậnvăn này sẽ là một nguồn tư liệu cần thiết và bổ ích cho việc học tập, nghiêncứu về lịch sử Indonesia nói riêng, lịch sử Đông Nam Á nói chung

Trang 18

B NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI

Sự tan rã của Liên Xô và chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu đã dẫn đếnnhững thay đổi tương quan lực lượng có lợi cho Mỹ, đã tạo ra cho Mỹ một lợithế tạm thời.Tuy nhiên, sự phát triển của Nhật Bản và sự vươn lên của TrungQuốc đã tạo nên sự cân bằng tương đối trong sức mạnh giữa các quốc gia Làcực duy nhất còn lại, Mỹ ra sức củng cố địa vị siêu cường, mưu đồ chi phốithế giới Nhưng mặt khác, tuy là cực duy nhất còn lại, nhưng tình hình thếgiới không phải là thế giới một cực Mỹ đã suy yếu tương đối, mâu thuẫn lớnnhất của Mỹ là giữa tham vọng bá chủ thế giới và khả năng thực hiện của nó

Rõ ràng là Mỹ không muốn sự phát triển của thế giới theo hướng đa cực, rasức điều chỉnh chính sách đối nội, đối ngoại, tăng cường năng lực cạnh tranh,xây dựng Trật tự thế giới mới do Mỹ lãnh đạo, làm cho sự đổi thay của thếgiới đi theo quỹ đạo có lợi cho Mỹ

Trang 19

Hòa bình thế giới được củng cố, nguy cơ chiến tranh thế giới bị đẩy lùi

rõ rệt, nhưng hòa bình ở nhiều khu vực bị đe dọa Thậm chí, ở nhiều nơi xungđột quân sự, nội chiến diễn ra ác liệt Đó là các mâu thuẫn về sắc tộc, tôngiáo, tranh chấp lãnh thổ… vốn bị che lấp thời Chiến tranh lạnh nay bộc lộthành xung đột gay gắt Phần lớn những mâu thuẫn, tranh chấp này đều có cănnguyên lịch sử nên việc giải quyết không thể nhanh chóng và dễ dàng

Sau khi giành được độc lập về chính trị, các nước Á, Phi, Mỹ La tinh

đã tiến hành những cải cách kinh tế - xã hội với nhiều thành tựu đã làm thayđổi căn bản bộ mặt của các quốc gia Sự xuất hiện và ngày càng phát triển củacác nước thuộc thế giới thứ ba này trở thành một trong những lực lượng quantrọng ảnh hưởng đến sự phát triển của lịch sử thế giới

Trong bối cảnh đó, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại cóbước nhảy vọt và đạt được nhiều kỳ tích đã tác động sâu rộng đến mọi mặtcủa đời sống quốc tế đã thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá làmtăng nhu cầu hợp tác quốc tế và xu thế đối thoại để cùng giải quyết các vấn đềquốc tế Các quốc gia, dân tộc để tồn tại, phát triển bền vững phải bằng mọichủ trương, biện pháp tiếp cận, tranh thủ thời cơ để hội nhập quốc tế Nhân tốkinh tế trở thành yếu tố chủ đạo và quyết định sức mạnh tổng hợp của quốcgia đồng thời phải nhanh chóng hội nhập vào xu thế phát triển chung của kinh

tế thế giới Sự hợp tác và liên kết quốc tế ngày càng tăng nhưng đồng thời với

nó là cuộc đấu tranh vì lợi ích quốc gia, lợi ích khu vực cũng diễn ra khôngkém phần quyết liệt

Trong tình hình đó, môi trường an ninh quốc tế sau khi đối thoại thaythế cho đối đầu vẫn chưa hoàn toàn ổn định, nếu không muốn nói là phát triểntheo hướng phức tạp, bất ổn định Cuộc đấu tranh gay gắt giữa xu hướng đacực và đơn cực, các xung đột sắc tộc, tôn giáo, các phong trào ly khai…không ngừng gia tăng và tác động mạnh mẽ đến các khu vực, các quốc giatrên toàn thế giới

Trang 20

Từ những thay đổi của tình hình thế giới, tuy trật tự quốc tế mới chưahình thành, nhưng trong hơn 2 thập kỷ sau Chiến tranh lạnh có thể thấy những

xu thế mới phát triển nổi bật trên thế giới là:

Thứ nhất, xu thế phát triển lấy kinh tế làm trọng điểm Bài học của thời

kỳ sau Chiến tranh lạnh đã chứng tỏ phương pháp quan hệ quốc tế lấy đối đầuchính trị - quân sự là chủ yếu không còn phù hợp, phải chịu nhiều tổn thấthoặc thất bại như hai nước Xô - Mỹ và “một bị thương, một bị mất” Trongkhi đó phương thức lấy hợp tác và cạnh tranh về kinh tế - chính trị lại thuđược nhiều tiến bộ và kết quả như Đức, Nhật và nhóm nước NICs Sự hưngthịnh hay suy vong của một quốc gia được quyết định bởi sức mạnh tổng hợpcủa quốc gia đó, mà chủ yếu là thực lực kinh tế và khoa học kỹ thuật Vì vậy,sau Chiến tranh lạnh, tất cả các quốc gia đều đang ra sức điều chỉnh chiếnlược phát triển và tập trung mọi sức lực vào ưu tiên phát triển kinh tế.Trongthời điểm hiện nay, kinh tế trở thành trọng điểm trong quan hệ quan hệ quốc

tế và chính sách đối ngoại của tất cả các quốc gia.Cạnh tranh sức mạnh tổnghợp quốc gia thay thế cho chạy đua vũ trang đã trở thành hình thức chủ yếutrong đọ sức giữa các cường quốc Những cân nhắc về địa - kinh tế trên mức

độ nào đó đã vượt qua tính toán về địa - chính trị Các nước ngày càng nhậnthức sâu sắc rằng sức mạnh của mỗi quốc gia là một nền sản xuất phồn vinh,một nền tài chính vững mạnh và một nền công nghệ có trình độ cao, đó mới là

cơ sở để xây dựng sức mạnh thật sự của mỗi quốc gia

Thứ hai, xu thế hòa dịu trên quy mô thế giới, hòa bình thế giới được

củng cố.Chiến tranh thế giới bị đẩy lùi, song hòa bình ở nhiều khu vực vẫn bị

đe dọa, thậm chí có nơi xung đột diễn ra nghiêm trọng và chiếu hướng ngàycàng rối loạn Sau Trật tự hai cực tan rã, hiện tượng đáng chú ý nhất là chủnghĩa dân tộc nổi lên khắp nơi Khác với phong trào giải phóng dân tộc trongthập niên 60 của thế kỷ XX, hiện tượng chủ nghĩa dân tộc “mới” phần lớn

Trang 21

mang đặc điểm sự rạn nứt giữa dân tộc và quốc gia ngày càng lớn thách thứcnghiêm trọng tính hợp pháp của chính quyền về nền tảng của chủ quyền nhànước Trong khi đó, một hiện tượng nổi bật trong nền chính trị của thế giớihiện đại là ở nhiều nơi một quốc gia có nhiều chủng tộc, dân tộc hoặc bộ tộc;hoặc một chủng tộc, dân tộc lại phân bổ trong nhiều quốc gia (như ngườiCuốc có ở Irac, Iran, Thỗ Nhĩ Kỳ và một số nước Trung Á thuộc Liên Xôtrước đây) Chỉ có một số ít nước có sự đồng nhất về dân tộc như ở Nhật Bản,

Ba Lan…

Sự phục hồi và gia tăng hoạt động của các tôn giáo, nhất là gắn kết vớicác phong trào chính trị - xã hội, phong trào dân tộc càng làm phức tạp thêmtình hình ở nhiều nước trên thế giới (trên 1/3 số nước tồn tại sự bất đồng tôngiáo nghiêm trọng là do sự khác biệt về bộ tộc, chủng tộc và dân tộc)

Thứ ba, các nước lớn điều chỉnh quan hệ với nhau theo chiều hướng

xây dựng quan hệ bạn bè chiến lược ổn định và cân bằng hướng về lâu dài.Đây là đặc điểm chủ yếu và nổi bật của quan hệ giữa các nước lớn trong thời

kỳ sau Chiến tranh lạnh Sự điều chỉnh ấy là to lớn và sâu sắc.Xuất phát từ lợiích chiến lược và căn bản của mình, các cường quốc tiến hành điều chỉnh lạichính sách đối ngoại để tìm chỗ đứng tốt nhất, xây dựng khuôn khổ quan hệmới ổn định lâu dài, xác lập các điều kiện quan hệ quốc tế có lợi hơn, mởrộng hệ thống an ninh quốc gia, tạo ra không khí quốc tế để xây dựng kinh tếnước mình như mục tiêu chủ yếu trong quá trình điều chỉnh

Trước những mâu thuẫn tranh chấp với nhau, các nước lớn đều tìmkiếm biện pháp với xu hướng thông qua đối thoại, thỏa hiệp và tránh xungđột Đặc điểm nổi bật trong các quan hệ điều chỉnh giữa các nước lớn là tínhchất hai mặt Sự khác nhau về ý thức hệ và chạy đua về lợi ích, tranh giànhảnh hưởng quyết định tính hai mặt trong chính sách đối ứng, quyết định sựtồn tại song song giữa hợp tác và cạnh tranh, giữa mâu thuẫn và hài hòa, tiếp

Trang 22

xúc và kiềm chế Sự khác nhau về nền tảng kinh tế còn có thể dẫn đến sự mấtcân bằng mới

Từ sau Chiến tranh lạnh, nhất là những năm gần đây, mối quan hệ giữa

5 nước lớn Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản, Nga, Trung Quốc vừa có điều chỉnh lớnlại vừa nhộn nhịp những chuyến thăm viếng lẫn nhau với những tuyên bố,phương châm, nguyên tắc đối ngoại mới

Mỹ: Vẫn tiếp tục theo đuổi chiến lược tòan cầu trong thập kỷ 90 của thế

kỷ XX là lãnh đạo thế giới hướng tới mục tiêu đảm bảo an ninh quốc gia Mỹ,một nền kinh tế thịnh vượng và thúc đẩy các nền dân chủ trên thế giới Mỹđang từng bước điều chỉnh chiến lược “Trở lại châu Á”, tăng cường hợp tác anninh ở châu Á - Thái Bình Dương với các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, TháiLan, Singapore, Philippinnes, Australia…, trong đó hợp tác an ninh Mỹ - Nhật

là trục chính đảm bảo cho Mỹ triển khai thế chiến lược toàn cầu khu vực

Trung Quốc: Sự phát triển mạnh mẽ của Trung Quốc về kinh tế, chính

trị, quân sự, khoa học - công nghệ trong 2 thập kỷ 80 và 90 đã và đang trởthành mối đe dọa và thách thức lớn nhất đối với địa vị thống trị toàn cầu củaMỹ.Trung Quốc hiện chưa có chiến lược toàn cầu thành văn nhưng kế hoạch

4 hiện đại của Trung quốc được vạch ra từ Đại hội XI của Đảng Cộng Sảntiếp tục được bổ sung, điều chỉnh ở các đại hội tiếp sau, cho đến Đại hội XVcho thấy rõ mục tiêu chiến lược của Trung Quốc nỗ lực trở thành cường quốckhu vực và thế giới sắp trở thành hiện thực Trung Quốc đang tạo ra thế vàlực của mình trong khu vực, cố gắng liên kết với Nga, Ấn Độ tạo nên thế đốitrọng với Mỹ trong việc giải quyết các mối quan hệ quốc tế

Nga: Sau một thập niên khủng hoảng chính trị, kinh tế - xã hội, vị trí

của cường quốc Nga bị suy giảm nhiều, tuy nhiên Nga vẫn là cường quốcquân sự (chỉ đứng sau Mỹ về tiềm lực quân sự và cân bằng với Mỹ về tiềmlực hạt nhân) Do đó, Nga vẫn có tiếng nói nhất định trong việc giải quyết cácmối quan hệ quốc tế

Trang 23

Mục tiêu chiến lược của Nga là giành lại vị trí siêu cường đã mất, trên

cơ sở tăng cường nội lực mở rộng quan hệ với nước ngoài, thu hút vốn đầu tư,tăng cường tiềm lực quốc phòng, kiềm chế Mỹ trong việc giảm thiểu vũ khíhạt nhân, sửa đổi học thuyết quân sự trong việc giành chủ động vũ khí hạtnhân nhằm đối phó với chiến lược an ninh mới của NATO nhằm vào Nga vàcác nước đồng minh của Nga Nga và Trung Quốc có lợi ích tương đồngtrong việc kiềm chế thế “đơn cực” của Mỹ Do đó, Nga ra sức tăng cường hợptác với Trung Quốc trên nhiều phương diện cả chính trị, quân sự và kinh tế,củng cố Liên bang Nga - Belarut, tiếp tục mở rộng đối với các nước SNG,

EU, trong đó có Anh, Pháp, Đức tạo thành thế chiến lược cân bằng Đông Tây Khi tiềm lực kinh tế của Nga được tăng cường thì mở rộng vị trí, vai trò

-ở châu Á - Thái Bình Dương càng tr-ở nên mạnh mẽ hơn

EU: Mục tiêu chiến lược của EU là tạo dựng một thực thể có đủ sức

mạnh đối trọng với Mỹ, tách khỏi sự phụ thuộc vào Mỹ, có tiếng nói độc lậptrong các quan hệ quốc tế Trước mắt, EU cố gắng tạo dựng một thực thể kinh

tế, tiến tới một liên minh về chính trị, quân sự, từng bước mở rộng quan hệvới Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, ASEAN nhằm tạo ra một thế giới “đa cực”,hạn chế vai trò lãnh đạo của Mỹ hiện nay

Ấn Độ: Là một nước đông dân thứ hai sau Trung Quốc, trong tương lai

không xa có thể trở thành nước đông dân nhất thế giới Với thế mạnh của mộtnước lớn, Ấn Độ đang tăng tốc nền kinh tế, sẽ trở thành một cường quốc phầnmềm, cường quốc hạt nhân, mở rộng phạm vi ảnh hưởng và tầm kiểm soátquân sự không chỉ ở khu vực biển Ả Rập mà còn vươn dài ra Biển Đông

Sự vươn dậy của Ấn Độ không chỉ tạo ra sự quan tâm của Mỹ mà cảNga và Trung Quốc trong khu vực và trở thành đối tác tranh thủ, lôi kéo của 3nước lớn Mỹ, Trung Quốc và Nga

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương vẫn là khu vực phát triển năngđộng và có tốc độ phát triển cao nhất thế giới, mặc dù do tác động của cuộc

Trang 24

khủng hoảng tài chính - tiền tệ năm 2008, nhịp độ tăng trưởng của châu Á cógiảm xuống Châu Á - Thái Bình Dương đang trong quá trình liên kết kinh tế.Các mô hình liên kết kinh tế như ASEAN, APEC đang vận động và pháttriển Trong tương lai, có thể hình thành khu vực kinh tế Đông Á khi các thựcthể kinh tế Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc có đủ sức tách khỏi sự phụthuộc và không chế của Mỹ.

1.1.2 Tình hình khu vực Đông Nam Á

Ra đời từ năm 1967, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) banđầu được coi như một tổ chức thay thế cho khối SEATO và chịu sự chi phốicủa Mỹ Sau Chiến tranh lạnh, cùng với xu thế hoà bình, hợp tác để phát triển

và những chuyển biến cụ thể của tình hình an ninh - chính trị tại khu vực,ASEAN mới thực sự trở thành một tổ chức quy tụ các nước Đông Nam Á vìmục tiêu hoà bình, ổn định, hợp tác để phát triển Từ 6 nước thành viên trướcnăm 1991, sau Chiến tranh lạnh đến nay ASEAN đã được mở rộng bao gồmtất cả các nước Đông Nam Á (trừ Đông Timor)

Tháng 1/1992, tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ tư ởSingapore, lãnh đạo các nước ASEAN đã quyết định thành lập Khu vựcThương mại Tự do ASEAN (AFTA), xúc tiến một tiến trình đối thoại với cácnước bên ngoài cũng như các nước ASEAN với nhau về hợp tác an ninh đểtăng cường khu vực Các cuộc đối thoại này dự định được tiến hành trên cơ sởcác diễn đàn ASEAN đã có, đặc biệt là cơ chế hội nghị sau Hội nghị Ngoạitrưởng ASEAN (AMM-PMC) Tháng 7/1992, Việt Nam và Lào đã ký Hiệpước Bali, trở thành quan sát viên của ASEAN

Trên cơ sở quyết định đó, tháng 7/1993, tại Hội nghị Ngoại trưởngASEAN lần thứ 26 ở Singapore, các nước ASEAN đã chính thức tuyên bố sẽthiết lập ARF để bàn về hợp tác chính trị và an ninh ở khu vực Châu Á- TháiBình Dương Diễn đàn này bao gồm 18 nước thành viên là 6 nước ASEAN, 7

Trang 25

bên đối thoại (Mỹ, Nhật, Canada, EU, Austraylia, New Zealand, Hàn Quốc),

3 nước quan sát viên (Việt Nam Lào, Papua New Guinea) và 2 nước hiệpthương (Nga và Trung Quốc) Ngày 27/7/1994, cuộc họp đầu tiên của ARFcấp bộ trưởng ngoại giao đã diễn ra tại Bangkok, chính thức mở đầu cho mộthướng mới trong diễn đàn ASEAN: đối ngoại để tăng cường an ninh khu vực.Hội nghị đã thoả thuận để tiến hành họp ARF cấp bộ trưởng hàng năm về nộidung có thể bàn những vấn đề như: xây dựng lòng tin, ngoại giao phòng ngừa

và không phổ biến hạt nhân, vũ khí giết người hàng loạt … Diễn đàn nàychưa được thể chế hoá như kiểu Hội nghị An ninh Hợp tác châu Âu (CSCE)

mà chỉ mang tính tư vấn

Ngày 28/7/1995, tại Hội nghị AMM 28 ở Brunei, Việt Nam chính thứcgia nhập ASEAN, trở thành thành viên chính thức thứ 7 của tổ chức này Đóbước ngoặt quan trọng của ASEAN, mở ra khả năng hiện thực tiến đếnASEAN 10 Tháng 12/1995, tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN 5 họp tạiBangkok (Thái Lan), lần đầu tiên trong lịch sử khu vực Đông Nam Á, tất cả

10 nhà lãnh đạo đã gặp gỡ, ký kết các văn kiện quan trọng trong đó quantrọng nhất là Hiệp ước Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân(ASEANWFZ) Năm 1997, tuy cơn bão khủng hoảng kinh tế tài chính ập đếnĐông Nam Á nhưng ASEAN vẫn kết nạp Lào và Mianma (7/1997) và thôngqua Tầm nhìn chiến lược 2020 Đây là quãng thời gian các nước ASEAN đivào hợp tác thực chất và có hiệu quả hơn

Tháng 12/1998, Việt Nam đã tổ chức thành công Hội nghị Thượng đỉnhASEAN lần thứ 6, thông qua Chương trình hành động Hà Nội và Tuyên bố

Hà Nội, xây dựng ASEAN phát triển bền vững và đồng đều, rút ngắn khoảngcách giữa các thành viên, đồng thời mở đầu hợp tác ASEAN+3 (Nhật Bản,Trung Quốc, Hàn Quốc) Ngày 30/4/1999, tại Hà Nội, ASEAN đã kết nạpCampuchia là thành viên thứ 10, đánh dấu sự trưởng thành của Hiệp hội

Trang 26

Như vậy, sau hơn 1 thập kỷ Chiến tranh lạnh kết thúc, Đông Nam Á đãđạt được những mục tiêu về khu vực hoà bình, tự do, trung lập và không có

vũ khí hạt nhân, Đồng thời ASEAN còn đề xướng và lãnh đạo một cơ chế anninh tập thể là ARF quy tụ tất cả các cường quốc Châu Á - Thái Bình Dươngtham gia Lợi dụng xu thế vừa hoà hoãn, vừa cạnh tranh giữa các siêu cường,ASEAN đã trở thành người khởi xướng, dẫn dắt và điều phối một diễn đàn

mở về hợp tác an ninh chính trị lớn nhất trên thế giới Đây là một điểm độcđáo, biểu hiện sự trưởng thành của ASEAN và tính mềm dẻo, khôn khéo của

tổ chức này, điều mà thường được nói đến như “bản sắc ASEAN” ASEANcũng mở rộng khuôn khổ hợp tác với Đông Á (ASEAN+3, EAS), với châu

Âu (ASEM), với châu Á - Thái Bình Dương (APEC) Bên cạnh đó, tại Hộinghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 9 tại Bali (10/2003), các nhà lãnh đạoASEAN đã ký Tuyên bố Hoà hợp ASEAN II (ASEAN Concord II) vào năm

2020 (thực hiện Tầm nhìn 2020), Cộng đồng ASEAN dựa trên 3 trụ cột làCộng đồng An ninh (ASC), Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) và Cộng đồngVăn hoá - Xã hội ASEAN (ASCC)…

Sự kiện nổi bật nhất đánh dấu sự trưởng thành của Hiệp hội là việcHiến chương ASEAN chính thức có hiệu lực vào ngày 15/12/2008 Đây làmột văn kiện lịch sử cam kết các nước thành viên ASEAN sẽ củng cố dânchủ, tăng cường quản trị tốt, pháp trị, thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền cũngnhư các quyền tự do cơ bản; yêu cầu các nước thành viên không sở hữu vũkhí hạt nhân, giảm nghèo, bảo vệ môi trường và thúc đẩy hội nhập thị trường;duy trì nguyên tắc đồng thuận, không can thiệp vào công việc nội bộ củanhau, đặc biệt không cho phép bất kỳ quốc gia nào sử dụng lãnh thổ của mộtnước thành viên để chống lại nước thành viên khác

Như vậy, từ sau Chiến tranh lạnh đến nay, ASEAN đã trở thành mộtthực thể chính trị - kinh tế gắn kết, được đánh giá là một tổ chức khu vực

Trang 27

thành công nhất của các nước đang phát triển có tốc độ tăng trưởng kinh tếcao so với các nước, các khu vực khác trên thế giới, đóng vai trò quan trọngkhông chỉ ở Đông Nam Á mà cả khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Sự thay đổi liên tục của bối cảnh lịch sử thế giới và khu vực đã đặt racho mỗi quốc gia trên thế giới vấn đề phải có cách nhận thức đúng và kịp thời

để hoạch định một chính sách đối ngoại đúng đắn, thích hợp với sự biến đổicủa hoàn cảnh quốc tế và phù hợp với trào lưu chung của thế giới, đồng thờinâng cao vị thế của quốc gia mình trên trường khu vực và thế giới Thi hànhmột chính sách đối ngoại độc lập và tích cực trở thành sự lựa chọn của rấtnhiều quốc gia, trong đó có Indonesia

1.2 Tình hình Indonesia từ năm 1991 đến 2012

1.2.1 Tình hình kinh tế

Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, bước sang thập niên 90 của thế kỷ

XX, Indonesia tiếp tục thực hiện các kế hoạch 5 năm lần thứ 5 (1989 - 1994),lần thứ 6 (1995 - 1999)

Ở kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, với việc mở rộng quá trình tư nhân hoá,năm 1991, các công ty tư nhân trong nước đã kiểm soát một một thị phầnquan trọng trong nền kinh tế quốc dân: khoảng 80% sản lượng thuốc lá, 70%sản lượng giấy, 50% sản lượng mỳ chính… Chính phủ tiếp tục thực hiệnchính sách đa dạng hoá các ngành sản xuất nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vàonghành công nghiệp dầu mỏ, điều chỉnh sự bất hợp lý trong cơ cấu kinh tế Về

cơ bản, những chỉ tiêu kế hoạch 5 năm lần thứ năm đã đạt được mức đề ra:Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) tăng gấp 7 lần, giá trị xuất khẩu tăng gầngấp đôi, chương trình nông nghiệp và phát triển nông thôn được triển khairộng rãi với số vốn đầu tư của nhà nước là 618 triệu USD [50; tr.533]

Từ năm 1995, Indonesia bắt đầu thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ sáu(1995 - 1999) với mục tiêu là duy trì sự ổn định về kinh tế - chính trị, tập

Trang 28

trung phát triển các nghành công nghiệp đòi hỏi kỹ thuật cao có khả năngcạnh tranh trên thị trường, đồng thời tiếp tục điều chỉnh cơ cấu kinh tế Tuynhiên, những khó khăn đã xuất hiện ngày càng nhiều từ năm 1996 Chươngtrình điều chỉnh cơ cấu kinh tế của Chính phủ tuy có góp phần ổn định kinh tế

vĩ mô nhưng không giải quyết được vấn đề phát triển mất cân đối Tình trạngchênh lệch giữa các vùng miền và tình trạng nghèo khổ ở nông thôn vẫn phổbiến Đặc biệt, nợ nước ngoài và thâm hụt cán cân thương mại tăng rất nhanh

đã làm các nhà đầu tư và ngân hàng nước ngoài hết sức lo ngại về khả năngthanh toán thương mại của Indonesia Năm 1995, tổng số nợ nước ngoài củaIndonesia đã lên tới 116,5 tỉ USD, đến cuối năm 1997 đã lên tới 125 tỉ USD(chiếm 67% GDP và lớn hơn 200% giá trị xuất khẩu [50; tr.533]

Cuộc khủng hoẳng kinh tế tài chính - tiền tệ bùng phát ở Indonesia từtháng 8/1997 đã gây ra những tác động nặng nề về kinh tế, đồng thời còn dẫntới khủng hoẳng kinh tế - xã hội kéo dài Đồng Rupiah bị mất giá trên 80%,tăng trưởng kinh tế liên tục giảm sút từ -7,89% trong 6 tháng đầu năm 1998xuống -12,23% trong 6 tháng cuối năm 1998 Hơn 80% tổng số công ty, xínghiệp trong nước bị phá sản, số người thất nghiệp lên tới 12 triệu người(chiếm 22% lực lượng lao động cả nước) Tình trạng kinh tế khó khăn cùngvới điều kiện thời tiết không thuận lợi, hạn hán kéo dài đã làm khoảng 15triệu người thiếu đói So với các nước ASEAN, Indonesia là quốc gia chịu tácđộng của cuộc khủng hoẳng tài chính - tiền tệ nặng nề nhất trên tất cả các lĩnhvực kinh tế, chính trị - xã hội

1.2.2 Tình hình chính trị - xã hội

Những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, tình hình chính trị củaIndonesia về cơ bản là ổn định Chính quyền của Tổng thống Suharto tiếp tụcgiành thắng lợi trong cuộc bầu cử Quốc hội năm 1992 So với cuộc bầu cửQuốc hội năm 1987,các đảng phái đối lập đã giành thêm được 17 ghế nhưng

Trang 29

đảng Goldkar vẫn giành thắng lợi áp đảo Trong cuộc bầu cử Tổng thống năm

1993, Suharto lại đắc cử Tổng thống và tiếp tục cầm quyền ở Indonesia

Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á bắt đầu bùng nổ ở TháiLan năm 1997 đã tạo nên một thời kỳ bất ổn định về chính trị tồi tệ nhất tronglịch sử Indonesia với sự bùng nổ các cuộc bạo động trên khắp đất nước, tácđộng tiêu cực, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế Indonesia và khiếnchính trường của nước này chao đảo

Trong cuộc bầu cử Tổng thống vào tháng 3/1998, Tổng thống Suhartotiếp tục đắc cử Tổng thống nhiệm kỳ thứ 7 trong tình trạng đất nước hỗn loạn.Tháng 5/1998, Chính phủ thực hiện hàng loạt các biện pháp hà khắc như tănggiá các mặt hàng thiết yếu như xăng, điện, cước phí vận chuyển… tiến tớitừng bước xoá bỏ bao cấp về giá theo thoả thuận đã ký với IMF Chính sáchnày đã làm bùng lên làn sóng đấu tranh mạnh mẽ của người dân, đặc biệt làtầng lớp thanh niên, sinh viên Phong trào đấu tranh lên cao vào gữa tháng5/1998 và lan rộng từ Jakarta đến các thành phố khác của Indonesia Tìnhhình hết sức nghiêm trọng buộc Chính phủ phải tuyên bố giảm giá nhiên liệu

và huỷ bỏ kế hoạch tăng giá điện song cũng không cứu vãn được tình thế

Gắn liền với cuộc khủng hoẳng về kinh tế, hệ thống chính trị củaIndonesia bị rạn nứt nghiêm trọng, những mâu thuẫn vốn đã tồn tại âm ỉ trongnội các Chính phủ nay bắt đầu bùng phát Tình trạng tham nhũng và gia đìnhtrị của Tổng thống Suharto gây ra tình trạng bất bình cho các tầng lớp trong

xã hội Lực lượng quân sự vốn là trụ cột của Chính phủ đã quay lưng chốnglại Tổng thống Các đảng phải Hồi giáo và các đảng chính trị đối lập khác đãkích động phong trào đấu tranh của quần chúng đòi Tổng thống Suharto phải

từ chức

Kết cục là ngày 21/5/1998, Tổng thống Suharto buộc phải từ chức sauhơn 3 thập kỷ cầm quyền vì tình trạng bất lực của Chính phủ trong việc đối

Trang 30

phó với khủng hoảng đã làm xói mòn nghiêm trọng sự ủng hộ ông của nhândân Indonesia Phó Tổng thống B.J Habibie tuyên thệ nhậm chức Tổngthống Lịch sử Indonesia bước sang một thời kỳ mới.

Ngay sau khi phó Tổng thống B.J.Habibie lến nắm quyền, Indonesia đãnhanh chóng tiến hành “cải tổ” với việc giảm vai trò của quân đội trong chínhtrường, thực hiện những cuộc cải cách kinh tế và chính trị lớn mà nổi bật nhất

là việc ban hành luật để tổ chức cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên của Indonesiasau 34 năm diễn ra vào ngày 7/6/1999 Tuy nhiên, sau đó một thời gian ngắn(1999-2001), Tổng thống B.J.Habibie và người kế nhiệm là AbdrrahmanWahid - một giáo sỹ Hồi giáo cũng lần lượt bị hạ bệ do không đủ năng lựcvực dậy nền kinh tế

Năm 2001, Megawati Soekarnoputri trở thành Tổng thống thứ ba củaIndonesia trong vòng ba năm thời “hậu Suharto”, cam kết giải quyết vấn đềtham nhũng lan tràn và quản lý nhà nước yếu kém

Trong khi đó, tình hình an ninh Indonesia rơi vào tình trạng nguy hiểmsau khi hai vụ đánh bom khủng bố lớn trên đảo Bali và trung tâm Jakarta năm

2002 - 2003 làm hơn 200 người thiệt mạng Các vụ tấn công này được cho là

có liên quan đến một số tổ chức Hồi giáo vũ trang cực đoan tại đây Indonesia

đã trở thành một trong những trọng tâm trong cuộc chiến chống khủng bốquốc tế ở khu vực Đông Nam Á

Tại cuộc bầu cử Quốc hội tháng 4/2004, Tổng thống Megawati bị thấtsủng.Tiến sỹ Sulilo Bam Bang Yudhoyono (SBY) từ Đảng Dân chủ theo chủnghĩa dân tộc thế tục đắc cử và trở thành Tổng thống được bầu trực tiếp đầutiên ở Indonesia

Từ khi ông SBY lên nắm quyền qua hai nhiệm kỳ liên tiếp từ năm 2004đến nay, ông đã công bố và thực hiện nhiều kế hoạch cải cách kinh tế, baogồm sự tham gia tích cực hơn vào ASEAN và WTO Kế hoạch bao gồm cácbiện pháp cải cách cải thiện môi trường kinh doanh, cải thiện luật lao động, tự

Trang 31

do hóa thương mại, tấn công vào tham nhũng và giảm thuế, vận dụng sự hợptác nhà nước - tư nhân trong đầu tư cơ sở hạ tầng và giải quyết đói nghèo…Quá trình triển khai các chính sách, kế hoạch của Tổng thống SBY đã manglại những kết quả to lớn Indonesia liên tục đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế khábất chấp suy thoái kinh tế thế giới: GDP năm 2007 tăng 6,3%, năm 2009 tăng4,5% và năm 2010 tăng 6,2%; dự trữ ngoại tệ đạt 100 tỉ USD và sức cạnhtranh kinh tế vươn từ thứ 139 lên thứ 44 của thế giới Năm 2010,Indonesiacông bố quy hoạch phát triển kinh tế 15 năm với mục tiêu đạt tốc độ tăngtrưởng bình quân hàng năm từ 7% - 8%, nhằm mục tiêu “tới năm 2025 đưaIndonesia trở thành một trong 10 cường quốc kinh tế thế giới, tới năm 2050trở thành một trong 6 cường quốc kinh tế thế giới”… [55]

1.3 Khái quát chính sách đối ngoại của Cộng hoà Indonesia từ

- Indonesia là một quốc gia lớn nhất trong khu vực Đông Nam Á

Indonesia là một quốc gia quần đảo lớn nhất thế giới với trên 17.500hòn đảo lớn nhỏ, với diện tích nếu tính cả vùng hải phận rộng gần 5 triệukm2, trong đó diện tích đất liền là 1.919.440 km2 Với vị trí nằm cạnh đườngxích đạo, Indonesia có chiều dài từ Tây sang Đông là 8.110 km, chiều rộng từBắc xuống Nam là 1.888 km Xét về diện tích, Indonesia là quốc gia lớn thứ

13 trên thế giới và là quốc gia lớn nhất Đông Nam Á

Tính đến năm 2012, dân số Indonesia là khoảng hơn 248 triệu người,xếp thứ tư trên thế giới sau Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ và là quốc gia có số dân

Trang 32

đông nhất Đông Nam Á Đây cũng là quốc gia đa dân tộc với trên 150 dân tộckhác nhau Ngoài ra, Indonesia còn có các cộng đồng dân nhập cư của nhữngngười gốc Ấn Độ, Trung Quốc, Ả Rập… Indonesia là quốc gia đa tôn giáo,trong đó Hồi Giáo chiếm vị trí trọng yếu và được xem là quốc giáo, chiếm87% dân số Ngoài ra, còn có Thiên Chúa giáo, Ấn Độ giáo, Phật giáo…

-Indonesia là một quốc gia có vị trí chiến lược quan trọng và giàu tài nguyên thiên nhiên.

Indonesia là quốc gia nằm giữa lục địa châu Á và châu Đại Dương, ánngữ con đường vận chuyển dầu mỏ nối liền Ấn Độ dương và Thái Bìnhdương Trải dài từ vĩ độ 6 độ 8 phút Bắc đến 11 độ 15 phút Nam, từ Kinh độ

94 độ 45 phút đến 141 độ 5 phút Đông Indonesia được ví như một “chuỗingọc bích quấn quanh đường xích đạo”

Không chỉ có vị trí chiến lược quan trọng, Indonesia còn được xếp vàohàng những quốc gia giàu có về tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là một số tàinguyên chiến lược.Indonesia xếp thứ 7 trên thế giới về trữ lượng đầu mỏ vàdẫn đầu Đông Nam Á về sản lượng dầu khai thác Bên cạnh đó, đất nước này

có trữ lượng khí thiên nhiên đứng hàng thứ hai trên thế giới với sản lượngkhai thác vào khoảng 10.000 m3/năm Indonesia còn có sản lượng thiếc, gỗxuất khẩu, dừa … đứng thứ hai thế giới Hàng năm, Indonesia còn xuất khẩumột khối lượng lớn dầu cọ, chè, cà phê, than đá, quặng bô xít, niken, đồng…

Là quốc gia có vị trí địa chiến lược, diện tích và dân số lớn nhất khuvực, lại có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, nguồn nhân lực dồi dào.Chính sách đối ngoại mà các nhà lãnh đạo Indonesia thực hiện không chỉ phảixứng đáng với vị trí của quốc gia mà còn phải thể hiện những ảnh hưởng củaquốc gia tới khu vực và trên thế giới

-Indonesia - một đất nước tồn tại nhờ ý thức độc lập dân tộc, thống nhất.

Ngay từ thế kỷ XVI, Indonesia đã trở thành đối tượng xâm chiếm vàtranh giành của các nước tư bản phương Tây Sau hàng loạt những cuộc chiến

Trang 33

tranh, xung đột và thoả thuận, Hà Lan đã chiếm được phần lớn lãnh thổIndonesia nhưng đến năm 1811, người Anh đã tấn công và chiếm được hầuhết các vị trí của Hà Lan ở Indonesia Tròn 1 thế kỷ sau, năm 1911, Hà Lan đãhoàn thành quá trình thuộc địa hoá và đặt ách thống trị ở Indonesia kéo dàisuốt hơn 3 thế kỷ.

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Indonesia phải đương đầu với một

đế quốc xâm lược đến từ Đông Á là Nhật Bản Tuy nhiên, khi chiến tranh kếtthúc với sự thất bại của chủ nghĩa phát xít, Nhật Bản đã buộc phải từ bỏIndonesia cũng như nhiều thuộc địa ở châu Á - Thái Bình dương Hà Lannhanh chóng quay lại thiết lập chế độ thuộc địa với sự ủng hộ đắc lực củaAnh, Mỹ trong vai trò đồng minh của Hà Lan…

Cũng như nhiều quốc gia và dân tộc khác trên thế giới, trước khi thứctỉnh và đấu tranh giành độc lập, đất nước Indonesia phải sống trong cảnh nô lệvới máu và nước mắt của thực dân phương Tây trong nhiều thế kỷ Với một vịtrí đại lý quan trọng cùng nguồn tài nguyên dồi dào, Indonesia là vùng đất mànhiều nước đế quốc thực dân đều muốn có và không dễ gì từ bỏ Chính bởivậy, cuộc đấu tranh của nhân dân Indonesia đã phải trải qua một quá trình lâudài, khó khăn và đầy gian khổ đã đứng lên đấu tranh giành độc lập ngay từnhững ngày đầu khi thực dân phương Tây đặt chân lên xâm lược

Song, ý nguyện về một quốc gia độc lập và thống nhất, niềm tự tôn dântộc như một mạch ngầm sức mạnh đã nuôi dưỡng ý chí đấu tranh cho nhândân Indonesia Ý thức về một đất nước, một dân tộc độc lập, thống nhất, ýthức của một quốc gia tự ý thức về vai trò và vị trí của mình đã bao hàm vàxuyên suốt lịch sử đấu tranh của nhân dân Indonesia

Trải qua hơn 3 thế kỷ đưới ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân và cuộcđấu tranh cho thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ kéo dài hơn một thập kỷ, dântộc Indonesia hiểu hơn ai hết sự quý giá của độc lập và tự chủ Bởi vậy, trong

Trang 34

các chính sách của mình, Indonesia luôn nêu cao tinh thần độc lập, ý thức tựcường quốc gia, tự cường khu vực và đa dạng hoá quan hệ Từ một xứ “Ấn độthuộc Hà Lan”, Indonesia đã khẳng định vị thế của mình và ngày càng khẳngđịnh vị trí đó trên bản đồ khu vực và thế giới.

Giống như bất kỳ một quốc gia nào khác trên thế giới, chính sách đốingoại của Indonesia về cơ bản cũng phải bắt nguồn từ nhiệm vụ cụ thể củaquốc gia, dân tộc và chịu ảnh hưởng từ những yếu tố lịch sử Đất nướcIndonesia được tạo thành từ hàng vạn hòn đảo và với một số dân tạo thành từnhiều tiểu quốc Hồi giáo và bản địa, với sự đa dạng và phong phú của các nềnvăn hoá Bởi vậy, tư tưởng về một quốc gia, một dân tộc độc lập và thôngnhất là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ các chính sách đối nội và đối ngoại củaIndonesia

1.3.1.2 Cơ sở thực tiễn

Cùng với sự chi phối về ý thức của một dân tộc, một đất nước thốngnhất, chính sách đối ngoại của Indonesia còn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ củanhững vấn đề thực tiễn của đất nước đang đặt ra

Trong hơn 2 thập kỷ cầm quyền (1945 -1967), Tổng thống Sukarno đãthi hành những chính sách đối nội, đối ngoại nhằm củng cố nền độc lập củađất nước cũng như bước đầu khẳng định vị trí của Indonesia trên trường quốc

tế Tuy nhiên, những thành công bước đầu này không đủ sức ngăn cản nhữngrạn nứt trong nội bộ cũng như sự suy sụp của nền kinh tế Chính sách đốingoại của Chính phủ từ giữa thập niên 50 đã chi phối mạnh mẽ các vấn đề đốinội đến mức tới đầu thập niên 60 đã quyết định diễn biến chính trị trong nước

và dẫn tới hàng loạt những biến động lớn với kết quả là sự ra đi của Tổngthống Sukarno

Những yếu tố cực đoan và phiêu lưu trong chính sách đối ngoại củaSukarno đã ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh của Indonesia không chỉ khu vực

Trang 35

mà cả trên trường quốc tế Bởi vậy, vấn đề đặt ra cho Chính phủ Tổng thốngSuharto sau khi lên cầm quyền là phải thi hành chính sách đối ngoại phù hợp

để không chỉ khôi phục mà còn nâng cao hơn nữa hình ảnh Indonesia trongcái nhìn của khu vực và quốc tế Chính sách đối ngoại mà Indonesia thực hiệnphải dung hoà được các mối quan hệ với các nước lớn ở Đông Nam Á nếumuốn xây dựng Indonesia trở thành một quốc gia lãnh đạo trong khu vực và

có tiếng nói quan trọng trên trường quốc tế

Bên cạnh đó, sau khi lên nắm quyền, thách thức lớn nhất của Suhartophải đối mặt là đưa đất nước ra khỏi khủng hoẳng kinh tế và phá sản màChính phủ tiền nhiệm đã để lại thông qua những chính sách tiêu xài hoangphí Những nỗ lực của Chính phủ mới nhằm đối phó với nạn lạm phát, thấtnghiệp leo thang và thiếu vốn nghiêm trọng kèm theo đó là món nợ nướcngoài lên tới 1,7 tỉ USD Chính sách đối ngoại mà Chính phủ Suharto lựachọn không chỉ nhằm củng cố hay lấy lại vị thế cho Indonesia mà nó còn có ýnghĩa cứu quốc gia trước bờ vực của sự phá sản

Có thể thấy, những kinh nghiệm đối ngoại trong thời kỳ nắm quyềncủa Tổng thống Sukarno đã ảnh hưởng không nhỏ đến định hướng đối ngoạicủa Tổng thống Suharto và những Tổng thống kế tiếp Nhu cầu phát triển đấtnước đòi hỏi chính sách đối ngoại phải nâng cao tính hiện thực, thực dụng

và tính linh hoạt Mặt khác, việc tiến hành chính sách đối ngoại phải dựatrên sức mạnh nội lực của nền kinh tế và ổn định về chính trị Hai giá trị cốtlõi của quốc gia đó là phát triển kinh tế và ổn định về chính trị chỉ có thể đạtđược bằng cách theo đuổi một chính sách độc lập và linh hoạt trong chínhsách đối ngoại

Một vấn đề khác cũng ảnh hưởng không nhỏ đối với chính sách đốingoại của Indonesia đó là sự lớn mạnh của cộng đồng Hồi giáo Dưới thờiTông thống Sukarno, cộng đồng Hồi giáo chưa trở thành một thế lực chính trị

Trang 36

lớn mạnh và có những ảnh hưởng lớn đến quốc gia nên không khó để lý giải

vì sao Hồi giáo lại vắng mặt trong những xem xét về chính sách đối ngoại củaSukarno Đến thời của các Tổng thống tiếp theo, Hồi giáo thậm chí đã trởthành một trong số các lực lượng quan trọng tham gia vào công việc chính trịcủa đất nước

Như vậy, xuất phát từ tình hình cụ thể của quốc gia, để đối phó với sựchia rẽ trong nội bộ cũng như sự bất đồng tư tưởng ngày càng tăng trong nềnchính trị đối với việc định hướng chính sách đối ngoại, từ năm 1974, nhữngngười lãnh đạo Indonesia buộc phải đưa ra một hệ tư tưởng mang tính quốcgia có sức cuốn hút đông đảo các tầng lớp trong xã hội và hạn chế đến mứctối đa những chia rẽ trong hệ thống chính trị Trong bối cảnh đó, nhữngnguyên tắc cụ thể của tư tưởng Pancasila đã được nêu cao và được coi nhưnguyên tắc tư tưởng chính thức duy nhất ở Indonesia Bất cứ ai chống lạiPancasila đều bị quy là Cộng sản hay Hồi giáo cực đoan

1.3.1.3 Cơ sở tư tưởng và pháp lý

- Nền tảng tư tưởng Pancasila

Pancasila (nghĩa là “Năm viên đá quý”) là 5 nguyên tắc xây dựng đấtnước được Tổng thống Sukarno nêu lên trong bài diễn văn đọc trước Uỷ bantrù bị cho độc lập của Indonesia ngày 1/6/1945 Năm nguyên tắc này được coi

là cơ sở tư tưởng cho nền độc lập tương lai của Indonesia cũng như sau nàytrở thành cơ sở pháp lý quốc gia của nước Cộng hoà Indonesia Tổng thốngSukarno đã giải thích 5 nguyên tắc đó như sau:

+ Chủ nghĩa dân tộc thống nhất trên lãnh thổ Indonesia Quốc giaIndonesia không phải của bất kỳ một cá nhân hay tổ chức nào mà là một quốcgia “tất cả cho tất cả” Điều này được Tổng thống Sukarno khẳng định trongbài diễn văn kỷ niệm thành lập tổ chức Liên Hợp Quốc ngày 24/10/1951:

“Nếu không có chủ nghĩa dân tộc thì không thể có chủ nghĩa nhân đạo… Bất

Trang 37

luận trong nội bộ chúng tôi có bao nhiêu điều trái ngược nhau, nhưng trêntrường quốc tế, về phương diện chung, chúng tôi cần tỏ rõ mặt đoàn kết, nhấttrí” [65; tr.11].

+ Chủ nghĩa quốc tế hay chủ nghĩa nhân văn, tức là từ bỏ chủ nghĩa sôvanh để đoàn kết hữu nghị với tất cả các dân tộc Tổng thống Sukarno nói:

“Vị trí địa lý của nước chúng tôi nằm giữa bốn đại dương khiến chúng tôi cótinh thần quốc tế… Dân tộc Indonesia chúng tôi đã tự do và trao đổi mộtcách khảng khái với các nước láng giềng theo nguyên tắc tôn trọng lẫnnhau” [65; tr.11]

+ Mufakat hay nền dân chủ phù hợp với những truyền thống của xã hộiIndonesia Muốn có một cơ sở vĩnh viễn cho một quốc gia, cần có một chínhphủ đại diện, một chính phủ trong đó nhân dân có quyền tiếng nói trong tất cảcác lĩnh vực hoạt động của quốc gia

+ Xã hội thịnh vượng: Mọi người đều có cuộc sống hạnh phúc, tự do vàkhông nghèo khổ Indonesia đã phải trải qua hơn 3 thế kỷ dưới ách thống trịcủa chủ nghĩa thực dân Tuy tài nguyên giàu có nhưng đời sống nhân dân cònnghèo khổ Vì vậy, xây dựng xã hội thịnh vượng là một trong những nhiệm

vụ mà chính phủ phải đảm đương và thực hiện

+ Niềm tin vào Thượng đế, nghĩa là mỗi người đều có quyền tôn thờ vịthần của mình Điều đó có nghĩa rằng, nhân dân Indonesia đều có quyền tintưởng vào vị Thượng đế riêng của mình, nghĩa là được quyền tự do tínngưỡng như đã nêu trong Hiến chương Liên Hợp Quốc

Có thể thấy một điều rất rõ ràng rằng, mặc dù cùng sử dụng Pancasilatrong định hướng các chính sách đối nội, đối ngoại, mặc dù những địnhhướng trong chính sách đối ngoại của Tổng thống Suharto hoàn toàn khác biệt

so với thời Tổng thống Sukarno, nhưng những chính sách tổng quát củanguyên tắc Pancasila như vũ khí đắc lực trong việc hạn chế một cách tối đa sự

Trang 38

chia rẽ tư tưởng trong xã hội Indonesia Đồng thời, nó tạo ra một sự đồngthuận nhất định trong việc xây dựng các chính sách quốc gia mà chính sáchđối ngoại là một trong những bộ phận đó.

Pancasila trên thực tế đã trở thành cơ sở nền tảng cho việc hoạch địnhnhững chính sách đối nội, đối ngoại của Indonesia của hầu hết những ngườilãnh đạo của đất nước Cộng hoà Indonesia

- Cơ sở pháp lý : Hiến pháp năm 1945

Hiến pháp năm 1945 của Indonesia được ban hành ngay sau khiIndonesia tuyên bố độc lập, được xây dựng trên cơ sở triết lý của 5 nguyên tắcdựng nước Pancasila tập trung vào những điểm chủ yếu sau:

- Bảo đảm sự tăng cường và củng cố chính quyền của nước Cộng hoàIndonesia dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tổng thống Theo quy định của Hiếnpháp, Tổng thống có quyền lực rất lớn, là người đứng đầu Chính phủ, đồngthời là Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang

- Bảo đảm thực hiện các nguyên tắc dân chủ

- Tổ chức hướng dẫn việc phát trtiển một hệ thống kinh tế nhằm xâydựng một xã hội công bằng và phồn thịnh

Tháng 8/1959, Tổng thống Sukarno đã công bố một Tuyên ngôn chínhtrị mang tính chất cương lĩnh (maniplo) thể hiện tư tưởng xây dựng một “nềndân chủ có chỉ đạo” của mình và ra sắc lệnh quyết định Hiến pháp năm 1945

là Hiến pháp của nước Cộng hoà Indonesia độc lập và thống nhất Hiến phápnăm 1945 đã trở thành cơ sở pháp lý cho công cuộc cải cách và xây dựng đấtnước Indonesia

Như vậy, cùng với Pancasila, Hiến pháp năm 1945 đã trở thành cơ sở

tư tưởng và pháp lý cho công cuộc xây dựng đất nước Indonesia Nhữngđường lối, chủ trương, chính sách của Chính phủ nhằm xây dựng mộtIndonesia độc lập, thống nhất và phát triển đều dựa trên những cơ sở này

Trang 39

1.3.2 Những nét cơ bản trong chính sách đối ngoại của Cộng hoà Indonesia từ 1945 - 1991

Từ 1945 - 1950: hình thành nền móng nguyên tắc chính sách đối ngoại

của Indonesia

Từ 1950 - 1959: củng cố sự ổn định chính trị theo kiểu dân chủ nghị trường

Từ 1960 - 1980: thời kỳ đối đầu căng thẳng giữa hai hệ thống xã hội

thế giới - xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa

Từ 1980 - 1989: tiếp tục các hoạt động đối ngoại để lấy lại hìnhảnh Indonesia đã bị mờ nhạt do sự kiện Indonesia chiếm lãnh thổ Đông

“Mendajung Antara Nua Karang” (Chèo thuyền giữa hai dải san hô ngầm),Mohamad Hatta đã xác lập những nguyên tắc cơ bản đầu tiên trong chínhsách đối ngoại của Indonesia, đó là độc lập và ích cực Những nguyên tắc nàysau đó đã trở thành nền tảng chính sách ngoại giao của Indonesia

Sau khi lên cầm quyền, Chính phủ của Tổng thống Suharto vẫn tiếp tụcduy trì việc thực hiện các nguyên tắc này, đồng thời nhấn mạnh tính thực tế

và thực dụng trong chính sách đối ngoại Trong bài diễn văn tại Nghị việnngày 17/8/1967, Tổng thống Suharto giải thích: “Thực tế có nghĩa là, chú ýđến thực tại trong sự tập hợp quốc tế hiện nay Thực dụng tức là các chính

Trang 40

sách quyết định có hiệu quả và có lợi cho quyền lợi của dân tộc Indonesia vàtinh thần Pancasila” [94; tr.120].

Dựa trên nền tảng cơ bản là độc lập và tích cực, để phù hợp với nhữngthay đổi của tình hình thế giới cũng như những điều kiện cụ thể của đất nước,Chính phủ của Tổng thống Suharto đã cụ thể hoá những nguyên tắc của chínhsách đối ngoại Tháng 3/1978, Hội đồng tư vấn nhân dân đã họp và tuyên bốnhững nguyên tắc cơ bản về đường lối đối ngoại của Indonesia, đó là:

- Tiến hành chính sách đối ngoại độc lập và tích cực nhằm phục vụ chonhững lợi ích dân tộc và trước hết là lợi ích phát triển Nhiệm vụ chủ yếu củachính sách đối ngoại là phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước

- Tiếp tục tăng cường củng cố sự ổn định và hợp tác trong khu vựcĐông Nam Á và Tây Nam Thái Bình Dương cũng như trong khuôn khổ cácnước ASEAN nhằm mục đích củng cố sự bền vững và ổn định của khu vực

- Nâng cao vai trò của Indonesia trên trường quốc tế với mục đích củng

cố và phát triển tình hữu nghị giữa các dân tộc

- Củng cố sự đoàn kết, thống nhất và hợp tác với các nước đang pháttriển để thúc đẩy nhanh việc tạo lập ra một trật tự kinh tế thế giới mới

- Phát triển sự hợp tác giữa các quốc gia vì lợi ích hoà bình và thịnhvượng của nhân loại trên cơ sở tôn trọng những nguyên tắc độc lập và côngbằng xã hội” [17; tr.204]

Những nguyên tắc trên là sự kế thừa những nguyên tắc đối ngoại màThủ tướng Hatta đã xây dựng trong những năm đầu độc lập, đồng thời nhữngnguyên tắc này cũng là sự phù hợp với bản sắc và triết lý của quốc gia như đãđược ngụ ý trong Pancasila

Với việc đưa ra những nguyên tắc này, chính sách ngoại giao củaIndonesia sẽ giúp quốc gia độc lập và linh hoạt trong việc giải quyết các vấn

đề quốc tế Indonesia không đối đầu với các thế lực trên thế giới, không trở

Ngày đăng: 08/11/2015, 19:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Lê Văn Anh (2009), Quan hệ Mỹ - ASEAN (1967-1997), Lịch sử và triển vọng, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Mỹ - ASEAN (1967-1997), Lịch sử và triển vọng
Tác giả: Lê Văn Anh
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa
Năm: 2009
[2]. ASEAN - Hôm nay và ngày mai (Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế tổ chức tại Hà Nội thắng 9/1997, Tập 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ASEAN - Hôm nay và ngày mai
[3]. ASEAN: 40 năm nhìn lại và hướng tới, Hội thảo quốc tế do Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức, tháng 7/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ASEAN: 40 năm nhìn lại và hướng tới
[4]. Báo cáo kinh tế năm 2004 của Ngân hàng trung ương Indonesia, http://www.bi.go.id/web/en/Publikasi/Laporan+Tahunam/Laporan+Perekonomian+Indonesia/Ipi2004.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kinh tế năm 2004 của Ngân hàng trung ương Indonesia
[5]. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Mười năm sau cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á: tiềm ẩn nhiều nỗi lo, ngày 2 tháng 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mười năm sau cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á: tiềm ẩn nhiều nỗi lo
Tác giả: Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2007
[9]. Ngô Xuân Bình (1999), Quan hệ Nhật Bản - ASEAN, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Nhật Bản - ASEAN
Tác giả: Ngô Xuân Bình
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1999
[10]. Nguyễn Phương Bình (1996), Hiệp định an ninh Indonesia - Australia và an ninh ở Đông Nam Á sau Chiến trạnh lạnh, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 12, tháng 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp định an ninh Indonesia - Australia và an ninh ở Đông Nam Á sau Chiến trạnh lạnh
Tác giả: Nguyễn Phương Bình
Năm: 1996
[11]. Nguyễn Phương Bình (1996), Hiệp định an ninh Indonesia - Australia và an ninh ở Đông Nam Á sau chiến tranh lạnh, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 12, tháng 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp định an ninh Indonesia - Australia và an ninh ở Đông Nam Á sau chiến tranh lạnh
Tác giả: Nguyễn Phương Bình
Năm: 1996
[12]. Nguyễn Hữu Cát, Nguyễn Thuý Hà (1997), Cơ hội và những vấn đề đặt ra khi mở rộng ASEAN ra toàn khu vực Đông Nam Á, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á 6, tr.47, tr.50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ hội và những vấn đề đặt ra khi mở rộng ASEAN ra toàn khu vực Đông Nam Á
Tác giả: Nguyễn Hữu Cát, Nguyễn Thuý Hà
Năm: 1997
[13]. Chiến tranh lạnh và di sản của nó (2002), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh lạnh và di sản của nó
Tác giả: Chiến tranh lạnh và di sản của nó
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
[14]. Cộng đồng ASEAN trong bối cảnh mới, Hội thảo quốc tế do Viện Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức, Hà Nội, tháng 8/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cộng đồng ASEAN trong bối cảnh mới
[15]. Cao Cường (2006), Vụ khủng bố tại thủ đô Jakarta Indonesia và những thách thức đối với an ninh Đông Nam Á, Tạp chí Đông Nam Á, số 9, tr.5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vụ khủng bố tại thủ đô Jakarta Indonesia và những thách thức đối với an ninh Đông Nam Á
Tác giả: Cao Cường
Năm: 2006
[16]. Ngô Văn Doanh (1993), Indonesia - Đất nước, con người, Nxb Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Indonesia - Đất nước, con người
Tác giả: Ngô Văn Doanh
Nhà XB: Nxb Thông tin
Năm: 1993
[17]. Ngô Văn Doanh (1995), Indonesia - Những chặng đường lịch sử, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Indonesia - Những chặng đường lịch sử
Tác giả: Ngô Văn Doanh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
[18]. Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (2007), ASEAN - 40 năm nhìn lại và hướng tới, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ASEAN - 40 năm nhìn lại và hướng tới
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
[19]. Trần Văn Đào, Phan Doãn Nam (2001), Lịch sử quan hệ quốc tế 1945 - 1990, Nxb Chính trị Quốc gia, tr.182, 183, 184 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử quan hệ quốc tế 1945 - 1990
Tác giả: Trần Văn Đào, Phan Doãn Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
[20]. Lưu Vĩnh Đoạn (1999), Kinh tế châu Á bước vào thế kỷ XXI, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế châu Á bước vào thế kỷ XXI
Tác giả: Lưu Vĩnh Đoạn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
[21]. Danh Đức (2001), Vấn đề sắc tộc tôn giáo tại Indonesia, Tạp chí Việt Nam và Đông Nam Á ngày nay, số 7, tr.14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề sắc tộc tôn giáo tại Indonesia
Tác giả: Danh Đức
Năm: 2001
[22]. Bùi Trường Giang (1999), Căn nguyên khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Indonesia, Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, số 1 (58) Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Căn nguyên khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Indonesia
Tác giả: Bùi Trường Giang
Năm: 1999
[23]. Nguyễn Hoàng Giáp, Nguyễn Hữu Cát, Nguyễn Thị Quế (2008), Hợp tác liên kết ASEAN hôm nay và sự tham gia của Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: kết ASEAN hôm nay và sự tham gia của Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hoàng Giáp, Nguyễn Hữu Cát, Nguyễn Thị Quế
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w