cảnh đó, thái độ của Chính phủ Ấn Độ - một nước lớn ở Châu Á - quốc gia đứng đầu phong trào không liên kết đối với vấn đề Campuchia đã có tác động tích cực đến cách nhìn nhận của cộng đồ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ MAI DUNG
Trang 2NGHỆ AN - 2013
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ MAI DUNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học:
TS LÊ THẾ CƯỜNG
Trang 4NGHỆ AN - 2013
Trang 5A M Ở ĐẦ 7U
1 Lí do chọn đề tài 7
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn 12
4 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn: 12
5 Nguồn tài liệu, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 13
6 Đóng góp của đề tài 14
7 Bố cục của đề tài 15
B N I DUNGỘ 16
Chương 1 C S HÌNH THÀNH CH NH SÁCH C A CH NH PH N Ơ Ở Í Ủ Í Ủ Ấ ĐỘ I V I V N CAMPUCHIA (1979 - 1991) ĐỐ Ớ Ấ ĐỀ 16
1.1 Bối cảnh quốc tế, khu vực 16
1.2 Khái quát tình hình kinh tế, chính trị và chính sách đối ngoại của Ấn Độ trước năm 1991 18
1.3 Khái quát về lịch sử Campuchia và quan hệ Ấn Độ - Campuchia trước năm 1979 24
1.3.1 Khái quát v l ch s Campuchia sau n m 1945ề ị ử ă 24
1.3.2 Quan h n ệ Ấ Độ - Campuchia tr c n m 1979ướ ă 34
1.4 Sự bùng nổ vấn đề Campuchia và thái độ của các nước lớn 40
Tiểu kết 45
Chương 2 NH NG CHUY N BI N V CH NH SÁCH C A CH NH PH N Ữ Ể Ế Ề Í Ủ Í Ủ Ấ ĐỘ I V I V N CAMPUCHIA T 1979 N 1991 ĐỐ Ớ Ấ ĐỀ Ừ ĐẾ 47
2.1 Chính sách Chính phủ liên minh Jatana đối với vấn đề Campuchia từ 1979 đến1980 47
2.2 Chính sách của Chính phủ I.Gandhi đối với vấn đề Campuchia từ 1980 đến1984 55
Trang 62.3 Chính sách của Chính phủ Ấn Độ đối với vấn đề Campuchia từ
Chính phủ CHND Campuchia và giải quyết vấn đề Campuchia
(1979 - 1991) 73
3.2 Tác động từ chính sách của Chính phủ Ấn Độ đối với việc tái
thiết và phát triển của Campuchia từ 1980 đến 1991 79
K T LU NẾ Ậ 85TÀI LI U THAM KH OỆ Ả 88
PHỤ LỤC
Trang 7A MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Cuộc khủng hoảng toàn diện đầu thập niên 70 tác động sâu sắc đến hầu hết các quốc gia trên thế giới, dẫn tới một trào lưu cải cách sâu rộng tạo nên
sự chuyển biến mạnh mẽ bộ mặt thế giới trong suốt 3 thập niên cuối của thế
kỷ XX Trào lưu này cũng làm thay đổi căn bản nhận thức trong quan hệ quốc
tế, thúc đẩy xu thế đối đầu chuyển dần sang đối thoại, chạy đua về chính trị quân sự dần nhường chỗ cho việc lấy lợi ích kinh tế làm trọng tâm
Dù xu thế hoà dịu xuất hiện khá rõ trong quan hệ quốc tế những năm
70, nhưng những điểm nóng không vì thế mà nhanh chóng chấm dứt Việc
Mỹ rút quân khỏi miền Nam Việt Nam sau Hiệp định Pari năm 1973 đã kéo theo sự sụp đổ không thể tránh khỏi của chính quyền Sài Gòn tháng 4/1975
Sự kiện quân tình nguyện Việt Nam tiến sang Campuchia giúp nhân dân Campuchia tiêu diệt chế độ diệt chủng Khmer đỏ (1/1979) và Liên Xô đưa quân vào Afghanistan (12/1979) vô hình dung tạo nên thế gọng kìm trên bàn
cờ chiến lược Đông - Nam Á Vấn đề Campuchia và Afghanistan kéo dài liên tục hơn 10 năm (1979 - 1989) lôi cuốn toàn khu vực vào vòng xoáy của nó Chính sách của Ấn Độ với tư cách là một nước lớn có tác động không nhỏ đối với tình hình khu vực và thế giới, đặc biệt là vấn đề Campuchia
Ngày 17/04/1975, Pol Pot lật đổ chế độ Lon Non, thành lập nước
“Campuchia Dân chủ” và thực hiện chế độ diệt chủng tàn khốc nhất trong lịch
sử Campuchia Vào cuối năm 1978, quân tình nguyện Việt Nam sang giúp đỡ nhân dân Campuchia tiêu diệt chế độ diệt chủng Khmer đỏ, thành lập nước Cộng hoà Nhân dân Campuchia Sự kiện này thổi bùng lên làn sóng phản đối của nhiều quốc gia Bản chất của vấn đề Campuchia bị bóp méo và ảnh hưởng nghiêm trọng đến quan hệ giữa Việt Nam và các nước trên thế giới Trong bối
Trang 8cảnh đó, thái độ của Chính phủ Ấn Độ - một nước lớn ở Châu Á - quốc gia đứng đầu phong trào không liên kết đối với vấn đề Campuchia đã có tác động tích cực đến cách nhìn nhận của cộng đồng quốc tế về vấn đề Campuchia.
Ấn Độ là nơi khơi nguồn của tư tưởng không liên kết và là một trong những quốc gia đi đầu trong việc áp dụng, vận động thành lập và lãnh đạo phong trào không liên kết Nhận thức về chính sách đối ngoại của Ấn Độ với một vấn đề quốc tế như vấn đề Campuchia đòi hỏi phải phân tích, tìm hiểu nhiều khía cạnh khách quan và chủ quan khác nhau, trong đó lợi ích dân tộc luôn là nhân tố được xem xét đầu tiên trong chiến lược ngoại giao của các nước lớn
Tìm hiểu thái độ, chính sách của Chính phủ Ấn Độ đối với vấn đề Campuchia nhằm làm sáng tỏ những chuyển biến về chính sách của một nước lớn đối với vấn đề quốc tế có ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam Qua đó, bước đầu gợi mở một số suy nghĩ về vai trò, tiếng nói của các nước lớn trên diễn đàn Quốc tế trong việc giải quyết các điểm nóng, xung đột liên quan đến chủ quyền của nước ta hiện nay
Xuất phát từ ý nghĩa khoa học và thực tiễn nói trên, tôi đã mạnh dạn
chọn vấn đề: “Chính sách của Chính phủ Ấn Độ đối với vấn đề Campuchia
từ năm 1979 đến năm 1991” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
Công trình Continuity and change in India’s Cambodia policy, của học
giả Ấn Độ Alice Jose xuất bản năm 1993, thuộc Trung tâm Nghiên cứu Quan
Trang 9hệ quốc tế, Đại học Mahatma Gandhi trình bày về sự bền vững và những chuyển biến trong chính sách của Ấn Độ đối với Campuchia từ 1947 đến đầu những năm 90 Vai trò của Ấn Độ với vấn đề Campuchia được đề cập dưới góc độ là quốc gia trung gian trong các giải pháp giải quyết vấn đề Campuchia Công trình có giá trị tư liệu và tạo cơ sở quan trọng cho tác giả trong quá trình nghiên cứu
Công trình India and Cambodia, Perspective of Cooperation, 1954 -
1991 của học giả C.R Reddy, xuất bản năm 2009 trình bày khái quát quan
điểm của Ấn Độ đối với các vấn đề trên bán đảo Đông Dương nói riêng và quan hệ Ấn Độ - Campuchia từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai
Ngoài ra còn có một số công trình, bài viết, tài liệu đề cập đến vấn đề
này như: H Ray, 1989, The Enduring friendship: Soviet - Indian relations in
Mrs.Gandhi’s days, Abhinav Publications, New Delhi, India; India Lok
Sabha, Debates, Vol.XXII, No.4, 22/2/1979; Ministry of Foreign Affairs,
Thailand, Documents on the Kampuchean Problem 1979-85, Bangkok; Tridib
Chakraborti, 1980, India - Kampuchea 1979-81: A Phase in Their Relations,
Calcutta, India … Đây là những công trình cung cấp nguồn tư liệu quan trọng cho quá trình nghiên cứu
2.2 Ở Việt Nam, lịch sử và chính sách đối ngoại của Ấn Độ đã được nghiên cứu trên nhiều góc độ Tuy nhiên, nghiên cứu sâu về chính sách của
Ấn Độ đối với vấn đề Campuchia chưa nhiều
Học giả Nguyễn Cảnh Huệ đã có hai bài nghiên cứu về vấn đề này:
Tìm hiểu quan điểm của Chính phủ nước Cộng hòa Ấn Độ trong việc giải quyết vấn đề Campuchia (1979-1991), Nghiên cứu Lịch sử, số 1 năm 2001;
và bài Nhìn lại việc Ấn Độ công nhận Chính phủ Cộng hòa Nhân dân
Campuchia, Nghiên cứu Lịch sử, số 3 năm 2003 Đây là hai bài viết chủ yếu
nhấn mạnh đến sự kiện Chính phủ Ấn Độ công nhận Cộng hòa Nhân dân
Trang 10Campuchia, là tài liệu tham khảo quan trọng cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu
Chính sách của Ấn Độ đối với vấn đề Campuchia được đề cập phân tán trong các công trình nghiên cứu về Ấn Độ như công trình của tác giả Nguyễn
Thừa Hỷ (1987), Ấn Độ qua các thời đại; Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (1987), Ấn Độ xưa và nay; Đinh Trung Kiên (1995), Ấn Độ hôm qua và hôm
nay; Trần Thị Lý chủ biên (2002), Sự điều chỉnh chính sách của Cộng hoà Ấn
Độ từ 1991 đến 2000; … Các công trình này có đề cập đến chính sách đối
ngoại của Ấn Độ và thái độ của nước này đối với một số vấn đề quốc tế, là cơ
sở để nghiên cứu cho vấn đề luận văn quan tâm
Công trình Lịch sử Ấn Độ (1995) do GS Vũ Dương Ninh chủ biên là
công trình có giá trị, toàn diện nhất về lịch sử Ấn Độ cho đến nay, trong đó chính sách đối ngoại của Ấn Độ và quan hệ Ấn Độ - Việt Nam được đề cập tương đối khái quát
Vấn đề này cũng được đề cập đến trong các bài viết trên các tạp chí
chuyên ngành như của tác giả Nguyễn Công Khanh, J Nehru và chủ nghĩa xã
hội, Thông báo khoa học các ngành KHXH, số 4, 1992; Ngô Minh Oanh, Tư tưởng Không liên kết từ J Nehru đến I Gandhi, Nghiên cứu Lịch sử, số 2,
2005; Nguyễn Thu Hương, Về vị trí của Ấn Độ trên trường quốc tế (1947 -
1997), Nghiên cứu Đông Nam Á, số 6, 2001; Nguyễn Cảnh Huệ, Tìm hiểu tư tưởng hoà bình trong chính sách đối ngoại của nước Cộng hoà Ấn Độ,
Nghiên cứu Lịch sử, số 3, 1998; …
Từ Thông tấn xã Việt Nam, nguồn tài liệu gốc và tài liệu tham khảo cũng một số lượng khá phong phú đề cập đến vấn đề Campuchia và một số thông tin về chính sách của Ấn Độ với vấn đề Campuchia
Trước hết về tài liệu gốc gồm có: Các nội dung bàn và thống nhất tại
Hội nghị các Bộ trưởng Bộ ngoại giao Campuchia, Lào và Việt Nam; Những
Trang 11cuộc gặp gỡ cấp cao của 2 nước Việt Nam - Campuchia; Tuyên bố và Thông cáo của Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam - Lào - Campuchia (họp tại Phnom Penh ngày 13-14/6/1981; 1982); Thông cáo chung của Campuchia -
Ấn Độ về tăng cường hữu nghị, hợp tác giữa 2 nước
Bên cạnh đó, còn có nhiều tài liệu tham khảo đặc biệt đề cập đến các
nội dung như vấn đề “Việt Nam rút quân khỏi Campuchia”; các bài viết về
“bọn phản động Pol Pot vu cáo Việt Nam”; về việc đi đến 1 giải pháp cho vấn
đề Campuchia; dư luận của Mỹ, Phương Tây và một số nước Đông Nam Á về vấn đề Campuchia; Hội nghị Pari và tương lai của đất nước Campuchia
Nghiên cứu về vấn đề Campuchia còn có một số luận văn Thạc sỹ tại
Học viện Ngoại giao đã đề cập đến những nội dung cơ bản như: “Cơ sở pháp
lý Quốc tế của giải pháp cho vấn đề Campuchia” của Phạm Sỹ Công (1989);
“Chính sách của các nước ASEAN đối với cái gọi là vấn đề Campuchia từ
năm 1979 đến nay” của Phạm Ngọc Tâm,(1985); “Chính sách đối ngoại của Campuchia đối với ASEAN từ 1979 đến nay” của Đỗ Văn Dũng (1988) Đây
là những tài liệu cung cấp góc nhìn đa diện về vấn đề Campuchia và là nguồn tài liệu quan trọng đối với vấn đề nghiên cứu
Điểm lại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước mà tác giả tập hợp, hệ thống được, có thể rút ra một số nhận xét sau:
Thứ nhất, ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về quan
hệ Ấn Độ - Campuchia từ 1979 đến 1991 còn phân tán Việc hệ thống và tái hiện lại mối quan hệ này trở nên cần thiết và bổ ích
Thứ hai, đối với các nhà sử học nước ngoài, đã có nhiều công trình, bài
viết nghiên cứu về quan hệ Ấn Độ - Campuchia nhưng chủ yếu nhìn nhận vấn
đề này từ góc độ quan hệ của hai chính phủ Việc đưa ra quan điểm từ một quốc gia “trong cuộc” như Việt Nam về vai trò của Ấn Độ đối với vấn đề Campuchia có ý nghĩa lịch sử quan trọng
Trang 12Thứ ba, nhiều công trình nghiên cứu, nhấn mạnh vai trò của Ấn Độ và
Việt Nam tác động đến sự phát triển của quan hệ Ấn Độ - Campuchia, mà chưa thấy được sự vận động khách quan của mối quan hệ này là xuất phát từ lợi ích chiến lược của cả hai phía
Chính vì những lý do nêu trên, nên việc chọn đề tài “Chính sách của
Chính phủ Ấn Độ đối với vấn đề Campuchia từ năm 1979 đến năm 1991”
nhằm đánh giá khách quan về vấn đề này là điều hết sức cần thiết
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Đối tượng nghiên cứu: “Chính sách của Chính phủ Ấn Độ đối với
vấn đề Campuchia từ năm 1979 đến năm 1991”, trong đó chính sách của
Chính phủ Ấn Độ là chủ thể nghiên cứu
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Về thời gian, luận văn nghiên cứu các chính sách đối ngoại của Chính phủ Ấn Độ từ khi bùng nổ vấn đề Campuchia tháng 1/1979 đến khi kết thúc Hội nghị Pari về vấn đề Campuchia năm 1991
Về nội dung, luận văn nghiên cứu chính sách của Chính phủ Ấn Độ đối với vấn đề Campuchia qua 3 giai đoạn: Chính phủ Jatana (1979 - 1980), Chính phủ I.Gandhi (1980 - 1984), Chính phủ Rajiv Gandhi và các chính phủ quá độ (1984 - 1991), trong đó đi sâu vào nghiên cứu các khía cạnh:
- Sự công nhận Chính phủ CHND Campuchia của Chính phủ Ấn Độ;
- Thái độ và chính sách của Chính phủ Ấn Độ đối với các bên liên quan;
- Chính sách thúc đẩy hoà giải, giải quyết vấn đề Campuchia của Ấn
Độ cũng như vai trò và tác động của nó
Ngoài đối tượng nghiên cứu, giới hạn và nội dung nêu trên, những vấn
đề khác không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài
4 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn:
Trang 13Mục đích của luận văn là nghiên cứu có hệ thống về chính sách của Chính phủ Ấn Độ đối với vấn đề Campuchia thời kỳ từ 1979 - 1991 từ góc độ của nhà nghiên cứu Việt Nam, góp phần lý giải những chính sách, quan điểm, thái độ của Ấn Độ, đồng thời thúc đẩy thêm quan hệ hữu nghị, đoàn kết giữa Việt Nam và Ấn Độ.
Luận văn xác định nhiệm vụ:
- Trình bày những nhân tố tác động đến quan hệ Ấn Độ - Campuchia trước những năm 1979; bối cảnh quốc tế và khu vực, sự phát triển nội tại và mục tiêu phát triển quan hệ giữa hai quốc gia Từ đó, luận văn xác định vị trí của từng nhân tố tạo cơ sở hình thành chính sách của Ấn Độ đối với vấn đề Campuchia và tác động của nó với Việt Nam
- Trình bày toàn diện và có hệ thống về chính sách của Chính phủ Ấn
Độ đối với vấn đề Campuchia
- Bước đầu nêu lên một số nhận xét về các chính sách, thái độ, vai trò của Chính phủ Ấn Độ đối với vấn đề Campuchia và tác động của nó đối với
sự phát triển của mỗi nước; với Quốc tế và khu vực, với phong trào Không liên kết, với Việt Nam
5 Nguồn tài liệu, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu:
Đề tài tiến hành nghiên cứu trên cơ sở các nguồn tài liệu tin cậy đã được công bố trong và ngoài nước:
- Các diễn văn, bài phát biểu, văn kiện ký kết nhân các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao hai nước; tài liệu hồi ký của lãnh đạo cấp cao hai nước
- Các văn kiện, tuyên bố về đường lối đối ngoại của Ấn Độ, Campuchia
và Việt Nam; Liên hợp quốc và một số quốc gia
- Các công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước đã công bố thành sách chuyên khảo, các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành ở
Trang 14Việt Nam như: Nghiên cứu Lịch sử, Nghiên cứu Đông Nam Á, Nghiên cứu
Quốc tế; Tài liệu tham khảo tại Thông tấn xã Việt Nam; các luận văn thạc sĩ,
luận án Tiến sĩ
5.2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về các vấn
đề Quốc tế, về đường lối đối ngoại
Luận văn sử dụng các phương pháp chuyên ngành, chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lôgic và các phương pháp bộ môn nhằm tái hiện một cách khách quan, khoa học về các chính sách của Chính phủ Ấn Độ đối với vấn đề Campuchia từ năm 1979 đến 1991
Luận văn cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế nhằm xem xét chính sách của Ấn Độ với vấn đề Campuchia dưới góc độ tổng quan tương tác lợi ích địa chiến lược và địa chính trị trong khu vực Bên cạnh đó, các phương pháp liên ngành khác như: tổng hợp, thống kê, phân tích, đối chiếu, so sánh và suy luận… cũng được sử dụng để giải quyết những vấn đề khoa học đặt ra
- Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống về chính sách của Ấn
Độ đối với vấn đề Campuchia thời kỳ 1979 - 1991 từ góc độ của nhà nghiên
Trang 15cứu Việt Nam, phục dựng bức tranh toàn cảnh về các chính sách của nước lớn trong bối cảnh phức tạp của quan hệ quốc tế thời kỳ Chiến tranh lạnh.
- Trên cơ sở những cứ liệu lịch sử, luận văn góp phần lý giải những đặc trưng, vai trò và tác động của mối quan hệ Ấn Độ - Campuchia đối với sự phát triển của mỗi nước, với quốc tế và khu vực, đối với phong trào không liên kết, với Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh lạnh
-Việc xem xét một cách toàn diện với cách tiếp cận tổng thể về quan hệ hai nước, luận văn góp phần làm rõ thêm một số vấn đề về chính sách không liên kết, về vị trí của lợi ích dân tộc nước lớn trong thời kỳ chiến tranh lạnh
Trang 16B NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH PHỦ ẤN ĐỘ
ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ CAMPUCHIA (1979 - 1991)
1.1 Bối cảnh quốc tế, khu vực
Cuộc khủng hoảng toàn diện đầu thập niên 70 tác động sâu sắc đến hầu hết các quốc gia trên thế giới, dẫn tới một trào lưu cải cách sâu rộng tạo nên
sự chuyển biến mạnh mẽ bộ mặt thế giới trong suốt 3 thập niên cuối của thế
kỷ XX Trào lưu này cũng làm thay đổi căn bản nhận thức trong quan hệ quốc
tế, thúc đẩy xu thế đối đầu chuyển dần sang đối thoại, chạy đua về chính trị quân sự dần nhường chỗ cho việc lấy lợi ích kinh tế làm trọng tâm Bên cạnh
đó, sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học kỹ thuật, sự trỗi dậy của nhiều nền kinh tế trẻ tuổi… cũng tạo nên những chuyển biến lớn trên bàn cờ kinh tế, chính trị thế giới Bối cảnh ấy đặt Ấn Độ trước những thách thức to lớn nhằm ổn định tình hình kinh tế, chính trị, đồng thời có những thay đổi chiến lược phát triển phù hợp với tình hình mới
Sau hàng loạt các bước thăm dò và cải thiện quan hệ, tháng 2/1972, Tổng thống Mỹ R Nixon sang thăm Trung Quốc Hai nước đã ra Thông cáo Thượng Hải, chấm dứt thời kỳ đối đầu căng thẳng kéo dài, mở ra thời kỳ bình thường hóa quan hệ Trung - Mỹ Trung Quốc gia nhập Liên hợp quốc (1971), xác lập vị trí trong HĐBA, tạo bước tiến quan trọng về vị trí của nước này trên bàn cờ châu Á và thế giới Sự thay đổi trong quan hệ Mỹ - Trung không những khoét sâu vào mâu thuẫn giữa hai quốc gia cộng sản lớn ở châu Á, thách thức nghiêm trọng đến vị thế của Ấn Độ trên bàn cờ chiến lược châu Á
và thế giới
Sau hơn 20 năm gồng mình chạy đua vũ trang, Mỹ và Liên Xô ý thức
rõ những thiệt hại mà cả hai phải gánh chịu, trong khi thế giới TBCN, đặc
Trang 17biệt là Tây Âu và Nhật Bản phát triển như vũ bão thách thức vị trí của hai siêu cường Tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, xu thế hoà bình ổn định và hợp tác sau cuộc khủng hoảng nửa đầu những năm 70, những khó khăn trong nội bộ Mỹ và Liên Xô…đã làm thay đổi nhận thức của lãnh đạo hai siêu cường về các vấn đề quốc tế Sự thay đổi ấy tạo điều kiện để giải quyết hàng loạt các vấn đề trong quan hệ Đông - Tây, đi đầu là các cuộc đàm phán về hạn chế vũ khí hạt nhân chiến lược với những bước
tiến lớn như sự ký kết “Hiệp ước về hạn chế hệ thống phòng chống tên lửa
(ABM)”(5/1972), “Hiệp định tạm thời về một số biện pháp trong lĩnh vực hạn chế vũ khí tiến công chiến lược (SALT - 1)” (5/1972), “Hiệp định SALT
- 2” (6/1979)… Đầu những năm 80, xu thế hoà dịu tạm thời nhường chỗ cho
động thái chạy đua vũ trang mới thời R Reagan Tuy nhiên, xu thế đối thoại lại tiếp tục thắng thế khi M Gorbachev lên cầm quyền ở Liên Xô năm 1985 Hai nước tiến hành hàng loạt các cuộc gặp gỡ cấp cao với nhiều văn kiện ký kết, đỉnh cao là trong cuộc gặp gỡ không chính thức giữa G Bush và M Gorbachev ở Manta tháng 12/1989, Liên Xô và Mỹ chính thức tuyên bố chấm dứt Chiến tranh lạnh Qua đó, nhiều điểm nóng quốc tế được giải quyết như vấn đề thống nhất nước Đức; vấn đề Afghanistan; vấn đề Campuchia… Những biến động chính trị dẫn tới sụp đổ của CNXH ở Liên
Xô và Đông Âu năm 1991 đã chấm dứt hơn 40 năm tồn tại của Trật tự hai cực và kết thúc thời kỳ Chiến tranh lạnh
Dù xu thế hoà dịu xuất hiện khá rõ trong quan hệ quốc tế những năm
70, nhưng những điểm nóng không vì thế mà nhanh chóng chấm dứt Việc
Mỹ rút quân khỏi miền Nam Việt Nam sau Hiệp định Pari năm 1973 đã kéo theo sự sụp đổ không thể tránh khỏi của chính quyền Sài Gòn tháng 4/1975
Sự thất bại của Mỹ ở chiến trường miền Nam Việt Nam làm dấy lên lo ngại của các nước Đông Nam Á về “những nguy cơ làn sóng cộng sản” lan tràn ra toàn khu vực
Trang 18Trong bối cảnh quan hệ Xô - Trung đang căng thẳng, Liên Xô và Việt Nam đã thúc đẩy quan hệ hai nước lên một tầm cao mới, đỉnh cao là việc ký kết Hiệp ước Hòa bình, Hữu nghị và Hợp tác Liên Xô - Việt Nam (11/1978) Ngay sau đó, Việt Nam đưa quân tình nguyện sang Campuchia Những diễn tiến này tiếp tục ảnh hưởng sâu rộng đến tình hình khu vực và tác động lớn đến cách nhìn của các nước lớn như Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ….đối với vấn
đề Campuchia
Sự kiện quân tình nguyện Việt Nam tiến sang Campuchia giúp nhân dân Campuchia tiêu diệt chế độ diệt chủng Khmer đỏ (1/1979) và Liên Xô đưa quân vào Afghanistan (12/1979) vô hình dung tạo nên thế gọng kìm đỏ trên bàn cờ chiến lược Đông - Nam Á Những chuyển biến mạnh mẽ này đòi hỏi các nước lớn như Trung Quốc, Mỹ và các nước phương Tây có cách nhìn nhận thiên về phương diện nguy cơ bành trướng của Liên Xô hơn là bản chất của vấn đề diệt chủng ở Campuchia hay chính sách thù địch của Khmer đỏ với Việt Nam
Trong bối cảnh đó, phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ phá vỡ căn bản hệ thống thuộc địa của CNTD phương Tây Các nước thuộc thế giới thứ ba ngày càng vững mạnh và tập trung lại trong Phong trào Không liên kết, có tiếng nói khá quan trọng trong các diễn đàn quốc tế Ấn Độ với tư cách
là quốc gia sáng lập tiếp tục khẳng định được vị thế dẫn đầu trong tổ chức này
Những biến động liên tục ấy một mặt đòi hỏi Ấn Độ phải hoạch định chính sách đối ngoại phù hợp với tình hình quốc tế mới
1.2 Khái quát tình hình kinh tế, chính trị và chính sách đối ngoại của Ấn Độ trước năm 1991
Sau khi tuyên bố giành quyền tự trị, Ấn Độ bước vào phải vật lộn để thoát khỏi sự lệ thuộc vào các cường quốc tư bản phương Tây, xây dựng một nền kinh tế, chính trị, xã hội độc lập, tự chủ và ổn định từ 1947 đến 1971
Trang 19Ngày 15/8/1947, kế hoạch Mountbatten được Nghị viện Anh và Quốc hội Ấn Độ thông qua, đánh dấu sự ra đời nước Cộng hoà Ấn Độ tự trị Từ
1947 đến 1950, Ấn Độ tiếp tục cuộc đấu tranh từ tự trị đến độc lập hoàn toàn Sau một quá trình đấu tranh, Ấn Độ đã hoàn thành quá trình Ấn Độ hoá bộ máy hành chính, lực lượng vũ trang và bộ máy ngoại giao, thống nhất lãnh thổ, tạo nên những điều kiện cần thiết của một quốc gia độc lập Sau nhiều cuộc đàm phán, Anh buộc phải ký Tuyên ngôn London ngày 27/4/1949 thừa nhận Ấn Độ là nước Cộng hòa có chủ quyền, độc lập về chính trị với Vương Quốc Anh, vẫn ở trong khối Liên hiệp và công nhận ngôi vua Anh như là biểu tượng của khối Liên hiệp mà Ấn Độ là thành viên Ngày 26/11/1949, Quốc hội lập pháp thông qua Hiến pháp mới, bắt đầu có hiệu lực từ 26/1/1950 đánh dấu sự ra đời của nước Cộng hoà Ấn Độ độc lập
Từ 1950 đến 1964, Ấn Độ bước vào giai đoạn phát triển mới với vai trò
to lớn của Thủ tướng J Nehru, người kiến tạo và lãnh đạo Ấn Độ đi theo con đường không liên kết Ấn Độ xây dựng nền kinh tế TBCN có sự hoà trộn các yếu tố của mô hình XHCN, tư bản nhà nước nắm vai trò chủ đạo, áp dụng mô hình kế hoạch hoá Mục tiêu của Ấn Độ là xây dựng nền kinh tế dân tộc, từng bước thoát khỏi sự lệ thuộc vào bên ngoài Từ năm 1950 đến 1965, Ấn Độ thực hiện 3 kế hoạch 5 năm đạt được những thành tựu đáng kể Nếu như trong
10 năm 1937 - 1947, công nghiệp Ấn Độ chỉ tăng 0,6%/năm thì kế hoạch 5 năm lần 1 (1951 - 1956) với mục tiêu cải tạo nền công nghiệp đã tăng 6,5%/năm; lần II (1956 - 1961) với mục tiêu điện khí hoá, công nghiệp đã tăng 7,3%/năm và lần III (1961 - 1966) dù ảnh hưởng chiến tranh Trung - Ấn, nền công nghiệp vẫn tăng 4,7%/năm Trong nông nghiệp, chính sách cải cách ruộng đất, mở rộng canh tác theo hình thức quảng canh đã nâng cao sản lượng lương thực Tuy nhiên, do tỉ lệ tăng dân số cao, Ấn Độ phải nhập khẩu lương thực với số lượng lớn từ 4,7 triệu tấn năm 1951 tăng lên 6,2 triệu tấn năm
1964, nền kinh tế nhìn chung vẫn còn nhiều khó khăn [43; tr.146]
Trang 20Sau khi J Nehru mất (27/5/1964), L B Shastri lên làm Thủ tướng trong bối cảnh Ấn Độ lâm vào cuộc khủng hoảng sâu sắc Ngày 19/1/1966, Indira Gandhi - con gái của J Nehru được bầu làm Thủ tướng Ấn Độ khi Shastri mất Chính phủ I Gandhi thực hiện nhiều chính sách nhằm khôi phục
và phát triển kinh tế, tăng vốn cho kinh tế nhà nước, phá giá đồng Rupee (Rs), cứu trợ lương thực… Với biện pháp táo bạo, Ấn Độ đạt được bước tiến đáng
kể về kinh tế và xã hội [43; tr.155]
Trong bối cảnh thế giới có nhiều chuyển biến sâu rộng, Ấn Độ bước vào thập niên 70 với nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn và thách thức
Ở Ấn Độ, tháng 3/1971, Đảng Quốc đại cánh tả và trung tả cầm quyền tiếp tục thắng cử trong cuộc bầu cử trước thời hạn với 2/3 ghế trong Quốc hội
và 76% ghế ở các bang, thành lập chính phủ ở 15/21 bang ở Ấn Độ [43; tr.155] Thắng lợi này đảm bảo cho I Gandhi tiếp tục nhiệm kỳ thứ ba với chính phủ mạnh, đủ sức đương đầu với những thách thức nghiêm trọng đang đặt ra cho Ấn Độ Từ 1971 đến 1975, tình hình chính trị - xã hội Ấn Độ phát triển tương đối ổn định, an ninh quốc phòng đảm bảo Thắng lợi trong cuộc chiến tranh Bangladesh (1971), sự gia nhập của Sikkim vào Liên bang Ấn Độ (1974), việc thử thành công hạt nhân (1974)… đã nâng cao vị thế của Ấn Độ trên trường quốc tế
Tuy nhiên, từ nửa sau những năm 70, cuộc khủng hoảng thế giới cùng những khó khăn trong nước tác động sâu sắc đến Ấn Độ Đảng Quốc đại bị phân hoá nghiêm trọng, các thế lực đối lập nổi dậy, đòi giải tán chính phủ, biểu tình, bạo loạn, khủng bố diễn ra liên tục… Trước tình hình đó, ngày 27/6/1975, I Gandhi ban bố tình trạng khẩn cấp với khẩu hiệu “thống nhất và
kỷ luật”, Ấn Độ từng bước khắc phục khủng hoảng và ổn định trở lại Dù vậy,
sự phân hoá trong Đảng Quốc đại và phái Quốc đại cầm quyền đưa đến thất
Trang 21bại của I Gandhi trong cuộc bầu cử tháng 3/1977 Chính phủ rơi vào tay Liên minh Jatana - Liên minh giữa phái Quốc đại cánh hữu và trung hữu và Đảng
Xã hội, do M Desai làm Thủ tướng Sau hai năm cầm quyền của M.Desai (1977 - 1979), Ấn Độ tiếp tục lún sâu vào khủng hoảng
Trước tình hình đó, năm 1979, I Gandhi đứng ra thành lập Đảng Quốc đại Indira Gandhi, gọi tắt là Đảng Quốc đại (I), gồm những nghị sỹ cánh tả và trung tả thân cận đi theo đường lối của gia đình J Nehru Với biện pháp tranh
cử táo bạo, Đảng Quốc đại (I) đã thắng cử tháng 1/1980, I Gandhi trở lại làm Thủ tướng Từ 1980 đến 1984, Chính phủ Gandhi thực hiện nhiều biện pháp cải cách, bước đầu tự do hoá kinh tế, củng cố đoàn kết dân tộc và nâng cao vị thế của Ấn Độ bằng chính sách đối ngoại tích cực Tuy nhiên, các thế lực phản động không để cho Bà thực hiện trọn vẹn kế hoạch xây dựng đất nước Ngày 31/10/1984, I Gandhi bị ám sát, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho nhân dân Ấn Độ và thế giới
Sau khi I Gandhi qua đời, từ 1984 đến 1989, con trai Bà là Rajiv Gandhi trở thành Thủ tướng Ấn Độ Ông đẩy mạnh quá trình tự do hoá kinh
tế, giảm dần chiến lược thay thế nhập khẩu bằng khuyến khích xuất khẩu, đề cao vai trò của kinh tế thị trường và phát triển kinh tế tư nhân,… Cuộc cải cách diễn ra khi Ấn Độ vẫn chưa ổn định, Đảng Quốc đại (I) bị phân hoá nên thất bại trong bầu cử quốc hội tháng 8/1989 Từ 9/1989 đến 4/1991, Ấn Độ rơi vào khủng hoảng chính trị với hai chính phủ cầm quyền liên tiếp sụp đổ: Chính phủ Liên minh Mặt trận quốc gia (8/1989 đến 12/1990) và Chính phủ Đảng Nhân dân XHCN (1/1991 đến 4/1991) Tháng 5/1991, R Gandhi bị sát hại, chấm dứt gần nửa thế kỷ lãnh đạo đất nước Ấn Độ của gia đình J Nehru Tháng 6/1991, Narasimha Rao - Chủ tịch Đảng Quốc đại (I) giành quyền thành lập chính phủ, thực hiện cải cách rộng rãi, đưa Ấn Độ vào giai đoạn phát triển mới
Trang 22Nhìn chung, tình hình chính trị xã hội Ấn Độ từ 1947 đến 1991 có nhiều biến động khá phức tạp, nhưng cơ bản vẫn dưới quyền lãnh đạo của gia đình J Nehru Tuy còn khó khăn, nhưng Ấn Độ đã giành được những thành tựu đáng khích lệ Cuộc “Cách mạng Xanh” cuối những năm 60 biến Ấn Độ
từ chỗ là nước thường xuyên phải nhập khẩu lương thực trở thành nước xuất khẩu gạo thứ hai trên thế giới (1995) Cuộc “Cách mạng Trắng” trong chăn nuôi cũng tạo nên những bước đột phá lớn với đàn gia súc năm 1989 lên tới
195 triệu con trâu bò, 55 triệu con cừu, sản lượng sữa tăng mạnh với trên 60 triệu tấn/năm [43; tr.160] Chiến lược công nghiệp hoá đưa Ấn Độ trở thành nước đứng thứ 10 trong các nước có nền công nghiệp phát triển với tốc độ trung bình hàng năm là 5% [43; tr.161] Về khoa học - kỹ thuật, Ấn Độ đứng thứ ba thế giới về đội ngũ các nhà khoa học có trình độ cao đào tạo trong nước (sau Mỹ, Nga) Quốc gia này đã thử hạt nhân thành công vào tháng 5/1974, phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên 4/1975 Trên cơ sở đó, Ấn Độ thành công trong thực hiện chính sách đối ngoại năng động, đặc biệt là trong vai trò Chủ tịch Phong trào Không liên kết (1983 - 1986) Có thể nói, vượt qua những khó khăn, Ấn Độ xác lập được vị thế nước lớn trong khu vực về kinh
tế, chính trị và đối ngoại trong giai đoạn 1971 - 1991
Về đối ngoại, xuất phát từ những đặc trưng về truyền thống lịch sử, văn hoá, triết lý phát triển và lợi ích dân tộc của Ấn Độ, đặc biệt trong là bối cảnh quốc tế sau năm 1945, Ấn Độ đã sớm khẳng định đường lối đối ngoại hoà bình và không liên kết Ngày 7/9/1946, trong bài phát biểu trên Đài phát
thanh Delhi, J Nehru đã khẳng định rằng: Ấn Độ sẽ tách khỏi các nhóm quốc
gia chống đối nhau, từ chối không tham gia vào bất cứ khối quân sự nào, nỗ lực thiết lập quan hệ đối ngoại với tất cả các nước trên cơ sở bình đẳng, thực hiện chính sách đối ngoại năng động [37; tr.357] Chính sách đối ngoại Ấn
Độ được thể chế hóa vào Hiến pháp Ấn Độ với 4 nguyên tắc chỉ đạo công tác
Trang 23đối ngoại nổi tiếng: Nhà nước phải nỗ lực đẩy mạnh hòa bình và ổn định thế
giới; Duy trì các mối quan hệ hữu nghị thân thiết giữa các dân tộc; Tôn trọng luật pháp và các quy định quốc tế; Khuyến khích giải quyết tranh chấp bằng hòa bình và thương lượng Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn chính sách đối
ngoại của Ấn Độ, Giáo sư H.Mukejee, nhà hoạt động nổi tiếng của Đảng
Cộng sản Ấn Độ cho rằng xương sống của chính sách đối ngoại Ấn Độ là:
“chống CNTD, bình đẳng hoàn toàn giữa các chủng tộc, không liên kết,
công nhận châu Á, châu Phi như một nhân tố quan trọng xuất hiện trong chính trị thế giới, giảm bớt căng thẳng quốc tế và giải quyết tranh chấp không có bạo lực” [27; tr.63] Bên cạnh yếu tố được các học giả phương Tây
gọi là “chủ nghĩa ngoại giao lý tưởng” - nguyên tắc chung sống hoà bình,
mục tiêu cơ bản đường lối đối ngoại Ấn Độ còn nhằm khẳng định vị thế nước lớn, đứng đầu thế giới thứ ba trong bối cảnh xung đột giữa các siêu
cường Có thể nói, sự thống nhất và điều hoà linh hoạt giữa lợi ích dân tộc
và lý tưởng hoà bình, không liên kết là nét chủ đạo xuyên suốt trong đường lối đối ngoại của Ấn Độ
Trên cơ sở đó, Ấn Độ vẫn giữ vững lập trường độc lập, không liên kết, hợp tác hữu nghị với tất cả các nước trên thế giới, gắn bó, ủng hộ và giúp đỡ tích cực phong trào giải phóng dân tộc Từ 6/1954, Ấn Độ và Trung Quốc đưa
ra “Năm nguyên tắc chung sống hoà bình” nổi tiếng, không chỉ đặt cơ sở cho quan hệ Ấn - Trung mà còn phát triển thành “Mười nguyên tắc Băng Đung”
tạo cơ sở cho sự ra đời Phong trào Không liên kết (1961), trở thành những nguyên tắc căn bản trong quan hệ quốc tế hiện đại Trên cơ sở đó, Thủ tướng
J Nehru đã cùng với Tổng thống Indonesia Sukarno, Tổng thống Nam Tư J Tito, Tổng thống Ai Cập G Naser, Tổng thống Ghana K Nkrumah đã vận động thành lập Phong trào Không liên kết - tổ chức đại diện cho tiếng nói của thế giới thứ ba trong thời kỳ Chiến tranh lạnh Với nhiều hoạt động đối ngoại
Trang 24tích cực, Ấn Độ trở thành quốc gia có vai trò và vị trí quan trọng bậc nhất trong thế giới thứ ba và Phong trào Không liên kết
Có thể nói, sau khi giành được độc lập, Ấn Độ đã đạt được một số thành tựu đáng kể về kinh tế, chính trị và khẳng định được vị thế nước lớn trên trường quốc tế Tuy nhiên, những khó khăn thách thức về kinh tế - xã hội, sự bất ổn trong quan hệ với các nước láng giềng Pakistan và Trung Quốc, những tính toán địa - chiến lược, nhu cầu xác định địa vị nước lớn trong khu vực và thế giới đòi hỏi Ấn Độ phải tìm kiếm một chính sách hợp lý với các nước trong khu vực, trong đó có Campuchia
1.3 Khái quát về lịch sử Campuchia và quan hệ Ấn Độ - Campuchia trước năm 1979
1.3.1 Khái quát về lịch sử Campuchia sau năm 1945
Tháng 8/1945, khi nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào nổi dậy giành chính quyền về tay mình thì ở Campuchia, tuy phong trào cách mạng có lên cao nhưng không dẫn tới sự bùng nổ cách mạng Chính quyền phản động Sơn Ngọc Thành, tay sai của phát xít Nhật vẫn tiếp tục tồn tại
Ngày 9/10/1945, Pháp tấn công vào Phnôm Pênh, Chính phủ thân Nhật của Sơn Ngọc Thành bị lật đổ và Sihanouk ký vào bản hiệp định tạm thời ngày 7/7/1946 với thực dân Pháp, chấp nhận quyền “bảo hộ” của thực dân Pháp một lần nữa Tuy nhiên, những người yêu nước Campuchia vẫn tiếp tục tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược: ở Batđomboong, Xiêm Riệp đã xây dựng được lực lượng Khmer - Ixrắc từ 1946 Đến đầu
1948, Uỷ ban giải phóng Đông Nam Campuchia và Hội Ixrắc ra đời, ở Tây Nam Campuchia đã xuất hiện Quân khu Tây Nam gồm 4 tỉnh Tà keo, Campốt, KôngpôngXpê, Kôngpông Chơ Năng do Sơn Ngọc Minh lãnh đạo
Từ 1948, Uỷ ban giải phóng ở các khu ra đời Uỷ ban đóng vai trò như tổ chức chímh quyền ở khu vực giải phóng và chỉ đạo cuộc chiến tranh du kích
Trang 25Đến cuối 1949, đầu 1950, lực lượng vũ trang ở các khu giải phóng đã khá lớn mạnh, đủ sức chống trả các cuộc càn quét của thực dân Pháp ở cấp tiểu đoàn Yêu cầu thống nhất tất cả các lực lượng cách mạng trong cả nước được đặt ra
ở đây Từ ngày 17 đến ngày 19/4/1950, những người kháng chiến Campuchia
đã tiến hành Đại hội quốc dân Đại hội quy tụ 200 đại biểu đại diện cho toàn quốc nhất trí đề ra đường lối kháng chiến: trường kỳ, tự lực cánh sinh, vừa kháng chiến vừa kiến quốc, thành lập và củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất, củng cố Liên minh Việt Nam, Campuchia, Lào Đại hội đã bầu ra Uỷ ban dân tộc Trung ương tức Uỷ ban kháng chiến Campuchia do Sơn Ngọc Minh làm chủ tịch; Đại hội cũng đã thành lập mặt trận Khmer Ixrắc Ngày 19/4/1950, Chủ tịch Sơn Ngọc Minh trịnh trọng đọc Bản tuyên ngôn độc lập, kêu gọi toàn dân đoàn kết chống kẻ thù giành độc lập cho tổ quốc và hạnh phúc cho nhân dân Sự kiện này đã đưa cuộc kháng chiến của nhân dân Campuchia phát triển lên một trình độ mới
Trước sự phát triển của phong trào kháng chiến do nhân dân Campuchia tiến hành, thực dân Pháp quay sang thủ đoạn mới: “Dùng người Khmer đánh người Khmer” và chia rẽ lực lượng dân tộc Campuchia bằng cách phê chuẩn “Hiệp ước Ôriôn - Mênipông” ký tháng 11/1949 với nội dung công nhận “nền độc lập” của Campuchia nằm trong khối Liên hiệp Pháp vào ngày 29/11/1950
Nhận thức rõ âm mưu của Pháp và bọn tay sai, lực lượng kháng chiến Campuchia vẫn tích cực đấu tranh và nhanh chóng phát triển Ngày 19/6/1951, trên cơ sở thống nhất các lực lượng vũ trang trong toàn quốc, quân đội cách mạng chính thức thành lập lấy tên là Quân đội Ixrắc Tháng 7.1951, Hội nghị đại biểu các tổ chức Cộng sản toàn Campuchia đã quyết định thành lập Đảng của mình lấy tên là Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia
Cuối năm 1952, tình hình chính trị quân sự và tài chính của thực dân Pháp trong cuộc chiến tranh Đông Dương hết sức nguy kịch Trong bối cảnh
Trang 26đó, từ tháng 6.1952, Sihanouk đã tiến hành cuộc vận động ngoại giao (còn gọi
là cuộc thập tự chinh của quốc vương vì nền độc lập của Campuchia) buộc Chính Phủ pháp phải ký hiệp ước “trao trả độc lập cho Campuchia” vào ngày 9/1/1953 Tuy nhiên, Hiệp ước lại quy định quân đội Pháp vẫn tiếp tục chiếm đóng Campuchia và Campuchia vẫn nằm trong khối Liên hiệp Pháp
Từ 1952, phong trào chiến tranh du kích ở Campuchia đã phát triển mạnh mẽ, thắng lợi nhiều trận lớn ở Bácđomboong, Campốt Đến cuối 1953, đầu 1954, lực lượng vũ trang Khmer Ixrắc đã trưởng thành với tư cách là quân đội chính quy Đông Xuân 1953,1954, khu giải phóng của lực lượng kháng chiến đã được mở rộng tới 40.000 km2 với hàng vạn dân Lực lượng Khmer Ixrắc đã phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ và chiến trường Lào đẩy mạnh đánh địch trên tất cả các mặt trận, giải phóng thị xã Xuôn Nai, tiêu diệt hàng ngàn tên địch và mở rộng căn cứ du kích
Sau thất bại ở Điện Biên Phủ 1954, thực dân Pháp buộc phải ký kết Hiệp định Giơnevơ, công nhận nền độc lập, chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ ở Campuchia và Lào, Việt Nam Hiệp định cũng quy định tất các lực lượng quân đội Pháp rút khỏi lãnh thổ Campuchia, vĩnh viễn chấm dứt chế độ thống trị của thực dân Pháp ở Campuchia
Ngày 6/8/1954, thực hiện Hiệp định Giơnevơ, Campuchia đình chiến Những người kháng chhiến Campuchia trở về sống hợp pháp trong cộng đồng dân tộc Ngày 20/7/1954, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia được quốc tế công nhận trong bản tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Giơnevơ về vấn đề Đông Dương
Campuchia dưới sự dẫn dắt của Sihanouk lựa chọn con đường hoà bình, trung lập, không tham gia bất cứ liên minh chính trị huặc quân sự nào, tiếp nhận viện trợ tự mọi phía, miễn là không có điều kiện ràng buộc
Ngày 2/3/1955, Sihanouk nhường ngôi cho cha là Norodom Suramarit
và đứng ra thành lập Cộng đồng xã hội bình dân gọi tắt là Sakun Đây là một
Trang 27hình thức tập hợp nhiều đảng phái, nhiều lực lượng chính trị nhằm phục vụ cho đường lối hoà bình trung lập của đất nước Đảng Nhân dân Campuchia lúc này chuyển hướng sang đấu tranh chính trị và tham gia vào Sangkun Đây
là con đường phù hợp với lợi ích của dân tộc và được toàn dân ủng hộ
Từ ngày 21 đến 23/4/1956, Đại hội Nhân dân toàn quốc lần thứ III với hơn 5000 đại biểu là hình ảnh của khối đoàn kết rộng rãi bên trong của Campuchia, phản ánh ý chí của toàn dân về một nền độc lập thực sự Đại hội Nhân dân Campuchia toàn quốc lần thứ III đã quyết định:
- Kiên quyết theo đuổi chính sách hoà bình trung lập
- Hữu nghị với tất cả những nước nào tôn trọng độc lập, chủ quyền của Campuchia
- Nhận viện trợ của tất cả các nước, miễn là những món viện trợ đó không kèm theo điều kiện ràng buộc nào
Đến ngày 12/01/1957, Đại hội Nhân dân toàn quốc lần thứ IV của Campuchia khai mạc ở Phnôm Pênh, Thái tử Sihanouk đã trình bày trước Đại hội một đạo luật về nền trung lập của Campuchia Đại hội nhất trí thông qua đạo luật này và xác nhận:
- Campuchia là một nước trung lập
- Campuchia tuyệt đối không tham gia bất kỳ liên minh quân sự hoặc liên minh về chủ nghĩa nào(liên minh chính trị) cới các nước ngoài
- Campuchia thực hiện chính sách không xâm lược bất kỳ nước nào Trong trường hợp bị xâm lược, Campuchia sẽ tự vệ bằng vũ trang và kêu gọi Liên Hiệp Quốc hoặc kêu gọi các nước bạn đến giúp đỡ
Với mục tiêu chủ yếu của chính sách bao gồm bảo vệ nền độc lập mới giành được và bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước Bằng việc
“tham gia vào tổ chức Liên Hiệp Quốc” để tìm kiếm viện trợ quốc tế nhằm phát triển đất nước
Trang 28Đường lối hoà bình trung lập cùng với các chính sách hoà bình và hoà hợp dân tộc đã tạo điều kiện cho nhân dân Campuchia xây dựng và phát triển đất nước Trong thời gian này, Campuchia càng ngày càng có quan hệ chặt chẽ với các nước xã hội chủ nghĩa Đối với cách mạng Việt Nam, chính phủ Campuchia cũng có thái độ tích cực: lập quan hệ đối ngoại với Việt Nam dân chủ cộng hoà, công nhận đại diện của Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam… Nền trung lập Campuchia đứng vững và phát triển không ngừng, điều này đạt được nhờ những yếu tố thuận lợi từ khách quan và chủ quan.
Về yếu tố khách quan, sau chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, hệ thống XHCN lớn mạnh với sự hỗ trợ của Liên Xô, gió “Đông ngày càng thổi bạt gió Tây” Đây là chỗ dựa vững chắc cho những nước theo chủ nghĩa dân tộc để bảo vệ nền độc lập, chủ quyền của mình chống lại những sự đe doạ, chèn ép của thế lực đế quốc do Mỹ cầm đầu
Cũng trong giai đoạn này, Mỹ thiết lập Khối phòng thủ chung Đông Nam Á (SEATO), kêu gọi các nước Đông Nam Á trong đó có Campuchia tham gia vào khối này Trên thực tế, tham gia SEATO cũng có nghĩa là thủ tiêu nền trung lập và không liên kết của Campuchia Campuchia đã thể hiện
rõ lập trường độc lập và không liên kết, không tham gia vào các khối quân sự
do Mỹ thành lập
Về yếu tố chủ quan, nhân dân Campuchia bị áp bức trong một thời gian dài và đã từng cầm vũ khí kháng chiến chống xâm lược, nhân dân Campuchia không chịu bị đưa trở lại vào vùng áp bức ngoại quốc dưới bất kỳ hình thức nào Nhiều năm qua từ ngày hoà bình lập lại, nhân dân Campuchia đã thấy rõ đâu là kẻ thù của nền độc lập dân tộc Chiêu bài” chống cộng” cũng như miếng mồi “viện trợ” đã không lừa dối được nhân dân Campuchia giàu lòng yêu nước Tuy nhiên, với đặc thù là một chính thể quốc gia được hình thành trên nhiều đảng phái, lực lượng chính trị khác nhau, con đường đi theo CNXH
Trang 29cũng không phải là sự lựa chọn phù hợp với chính họ Do vậy, Campuchia đã đoàn kết một lòng đi theo chính sách hoà bình trung lập và không liên kết, là chính sách đúng đắn để bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng một nước Campuchia giàu mạnh, xứng đáng với một lịch sử vẻ vang của nước này.
Lo sợ trước một “Campuchia hoá đỏ”, ngày 18/3/1970, Mỹ đã xúi dục
và hậu thuẫn cho các thế lực tay sai của Mỹ ở Campuchia do Lonnon đứng đầu, tiến hành đảo chính lật đổ Sihanouk, phá hoại nền hoà bình trung lập và đưa Campuchia vào quỹ đạo cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ trên bán đảo Đông Dương Cuộc đảo chính ngày 18/3/1970 ở Phnom Penh là kết quả tác động mạnh mẽ của quan hệ quốc tế “lưỡng cực” và quan hệ khu vực mà Chính phủ Sihanouk muốn né tránh Đối với nhân dân Campuchia, cuộc đảo chính tạo ra một cục diện mới, lực lượng cách mạng và phản cách mạng được sắp xếp lại Mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Campuchia với đế quốc Mỹ và
bè lũ tay sai phản động đã nổi lên hàng đầu
Ngay sau cuộc đảo chính, với sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam, cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Campuchia đã phát triển nhanh chóng Đặc biệt từ sau Hội nghị cấp cao của 3 nước Đông Dương tháng 4/1970, lực lượng kháng chiến ở Campuchia càng phát triển mạnh mẽ, vùng giải phóng được mở rộng ở các miền của đất nước Ngày 23/3/1970, Mặt trận thống nhất dân tộc Campuchia ra đời Ngày 4/5/1970, Chính phủ vương quốc đoàn kết dân tộc Campuchia được thành lập do Sihanouk làm quốc trưởng, lực lượng vũ tranh cách mạng Campuchia cũng được thành lập
Để đối phó với cách mạng Campuchia, Mỹ đã chủ trương tiến hành
“Khmer hoá chiến tranh”, tăng cường viện trợ cho chính phủ tay sai Tuy nhiên, Chính phủ Lonnon ngày càng rơi vào thế bế tắc, nội bộ chia rẽ thành
ba phái Từ năm 1970 đến năm 1972, chính quyền Lonnon đã phải trải qua 7 lần khủng hoảng trầm trọng và phải cải tổ nội các
Trang 30Sau những thắng lợi chiến lược đánh bại cuộc hành quân “Chenla I” (9
- 12.1970) và “ChenlaII” (tháng 4 đến tháng 12/1971), quân và dân Campuchia dồn dập tấn công địch trong cả nước Sau hiệp định Pari về Đông Dương được ký kết, việc Mỹ rút quân dần khỏi Campuchia và Việt Nam khiến chế độ Lon Non nhanh chóng suy yếu
Từ tháng 9/1973, lực lượng vũ trang Campuchia chuyển dần sang tấn công, bao vây thủ đo Phnom Penh và các thành phố Bacđomboong, Uđông, Campốt… Đến đầu năm 1975, cách mạng Campuchia đã vươn lên thế áp đảo quân thù Ngày 1/4/1975, thị trấn Niếc Lương - một vị trí cố thủ lớn của địch
bị thất bại Sau đó một ngày, sứ quán Mỹ cùng tất cả cố vấn quân sự, dân sự
Mỹ phải tháo chạy Đúng 0h30 phút ngày 17/4/1975, quân giải phóng đã chiếm Bộ Quốc phòng quân Nguỵ Lonnon, giải phóng Phnom Penh Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Campuchia kết thúc thắng lợi
Ngay sau khi giành chiến thắng, những lãnh đạo của Đảng Nhân dân Campuchia là Pol Pot, Ieng Sary, Nuon Chea, và Son Sen lên nắm quyền lực,
mở ra một giai đoạn diệt chủng tàn khốc đối với nhân dân Campuchia
Về đối nội, tháng 1/1976, Hiến pháp mới ban hành xác định hình thành một nước Campuchia Dân chủ nhân dân, quốc hội gồm 250 thành viên đại diện cho Nhân dân Campuchia (PRA) Ngày 4/4/1976, Hoàng thân Sihanouk
từ chức nguyên thủ quốc gia Thành viên chính phủ gồm 15 người do Pol Pot làm Thủ tướng Chính phủ mới tìm cách tái cơ cấu hoàn toàn lại xã hội Campuchia Những tàn tích của xã hội cũ bị xoá bỏ và tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo và Thiên chúa giáo bị đàn áp Nông nghiệp được hợp tác hóa, công nghiệp dưới quyền kiểm soát của nhà nước Campuchia không có hệ thống tiền tệ cũng như hệ thống ngân hàng
Ngay sau khi giành chiến thắng, CPK ra lệnh sơ tán dân ra khỏi tất cả các thành phố và thị trấn, đưa những người dân thành thị tới những vùng nông
Trang 31thôn để làm việc trong các trại tập trung theo mô hình xã hội tự quản mà Pol Pot đang thai nghén Hàng ngàn người chết vì bệnh tật, thiếu lương thực, dụng cụ lao động và chăm sóc y tế Đa số các lãnh đạo quân sự và dân sự của chế độ cũ, những người không thể che giấu được nhân thân của mình đã bị hành quyết Những doanh nghiệp và các quan chức thời trước bị săn đuổi một cách tàn nhẫn và bị giết chết cùng toàn bộ gia đình họ Theo học giả Francois Ponchaud vào cuối năm 1975, nguồn tin ngoại giao không chính thức đưa ra con số 800,000 người chết; Đại sứ quán Mỹ đưa ra con số 1.200.000 còn các
cơ quan phúc lợi xã hội được cài đặt tại Bangkok cho rằng 1.400.000 Agence France Press (AFP) cho khoảng hai triệu USD Học giả John Barron và Anthony Paul cho rằng hơn 12,00,000 nam giới, phụ nữ và trẻ em đã chết từ năm 1975 đến năm 1977 do bệnh tật, đói khát, tàn sát [75; tr.206] Theo ước tính của CIA, có chừng 50.000 - 100.000 người đã bị hành quyết, cùng với khoảng 1,2 triệu người bị chết từ năm 1975 đến năm 1979 [84] Chưa có những ước tính chính xác về số lượng người đã chết trong giai đoạn 1975 và
1979, nhưng ước tính về số người chết nằm trong khoảng từ 1 đến 3 triệu người, trong tổng số dân năm 1975 của nước này là 7,3 triệu
Họ đã thực hiện chính sách đóng cửa với thế giới bên ngoài để bưng bít tình hình ở Campuchia và để có thể xây dựng Campuchia thành một xã hội
“chưa từng có trong lịch sử nhân loại” Kênh ngoại giao chính thức được chính quyền Pol Pot thắt chặt là với Trung Quốc Trung Quốc thiết lập quan
hệ chiến lược và viện trợ lớn cho Campuchia trong giai đoạn này Nhân dân Nhật báo khẳng định:
“Nhân dân Trung Quốc và nhân dân Campuchia là anh em đồng chí,
là thành viên của trong một gia đình Trong những năm dài của cách mạng chống đế quốc, tình hữu nghị mang tính cách mạng sâu sắc và tình đoàn kết chiến đấu chặt chẽ giữa nhân dân hai nước Tình bạn của chúng tôi là thử
Trang 32nghiệm lâu dài và bền vững Người dân Trung Quốc sẽ luôn luôn ủng hộ nhân dân Campuchia và kiên quyết ủng hộ của họ Chúng ta sẽ luôn được thống nhất, chiến đấu cạnh nhau và giành chiến thắng cùng với nhân dân Campuchia anh em” [77; tr.4].
Bên cạnh đó, ngay sau khi dành chính quyền trong cả nước, Pon Pot đã tiến hành những cuộc tấn công xâm chiếm lãnh thổ đối với các nước láng giềng như: Việt Nam, Lào và Thái Lan
Trước sự phản bội của tập đoàn Pol Pot, nhân dân Campuchia lại tiếp tục đứng lên Từ tháng 5/1978, phong trào đấu tranh đã diễn ra mạnh mẽ ở nhiều nơi, đặc biệt là Miền Đông Campuchia Ngày 2/12/1978, những người cách mạng Campuchia đã thành lập Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia
Dưới sự lãnh đạo của mặt trận đó và sự giúp đỡ của Quân tình nguyện Việt Nam, các cuộc nổi dậy của nhân dân Campuchia diễn ra khắp nơi Ngày 7/1/1979, Thủ đô Phnômpênh được giải phóng, chế độ Pol Pot bị lật đổ Dân tộc Campuchia bước vào thời kỳ hồi sinh, tiến hành xây dựng đất nước Tháng 1/1979, Đại hội III của Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia đã lãnh đạo nhân dân vừa phải thực hiện công cuộc hồi sinh, xây dựng lại đất nước bị tàn phá, vừa phải tiến hành cuộc chiến tranh kéo dài chống lại các thế lực đối lập liên kết với nhau chống phá cách mạng
Trong giai đoạn 1979 - 1991, Hội đồng nhân dân cách mạng - cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hoà Nhân dân Campuchia - đã đề ra mục tiêu “xây dựng thành công một nước Campuchia hoà bình, độc lập, dân chủ, trung lập, không liên kết và tiến lên chủ nghĩa xã hội” Ngay sau khi đánh đổ tập đoàn Pol Pot, chính quyền mới bắt tay vào việc đưa cuộc sống xã hội trở lại nề nếp bình thường: Mở lại các chợ, phát hành tiền tệ, mở trường học, bệnh viện, chùa chiền, giúp các gia đình ổn định lại cuộc sống, ổn định sản
Trang 33xuất Nhờ vậy, ngay trong năm 1979 nạn đói đã được đẩy lùi và đến năm
1980 đã được khắc phục về cơ bản Hơn 60 xí nghiệp, nhà máy nhanh chóng được khôi phục và đi vào sản xuất Nhờ sự nỗ lực của toàn thể dân tộc và sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, các nước dân chủ hòa bình, nền kinh
tế Campuchia ngày càng ổn định
Về chính trị,ngày 1-5-1981 nhân dân Campuchia đã tiến hành Tổng tuyển cử, chính quyền được hợp pháp hoá Ngày 25-6-1981, Hiến pháp được thông qua khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội Đến tháng 4-1982, Hiến pháp có sửa đổi, đổi tên nước từ Cộng hoà Nhân dân Campuchia thành Nhà nước Campuchia, và quy định “Campuchia là một nước độc lập, có chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, hoà bình, dân chủ, trung lập và không liên kết”
Đặc điểm nổi bật của tình hình Campuchia ở giai đoạn này là sự tồn tại của hai vùng kiểm soát và ba lực lượng với sự hậu thuãn từ bên ngoài: Chính quyền do Đảng Nhân dân cách mạng lãnh đạo; Mặt trận thống nhất dân tộc của Sihanouk; tàn quân Khmer đỏ Pol Pot Tình hình này đã dẫn đến sự mất
ổn định kéo dài ở Campuchia cũng như của các nước trong khu vực
Để thúc đẩy việc tiến tới một giải pháp chính trị cho vấn đề Campuchia, tháng 9/1989, quân tình nguyện Việt Nam đã chủ động và đơn phương rút khỏi Campuchia Sau nhiều năm thương lượng, các bên Campuchia đã đi đến thoả thuận thành lập Hội đồng dân tộc tối cao Campuchia (SNC) do Sihanouk làm Chủ tịch Ngày 23/10/1991, tại Hội nghị quốc tế về Campuchia, tổ chức ở Paris, Hiệp định về một giải pháp chính trị toàn diện cho cuộc xung đột Campuchia đã được ký kết
Căn cứ vào Hiệp định Pari về vấn đề Campuchia, dưới sự giám sát của Liên Hợp Quốc, từ ngày 23 đến ngày 27/5/1993, cuộc bầu cử Quốc hội lập hiến được tiến hành ở Campuchia Ngày 21/9/1993, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp mới, thiết lập nền quân chủ lập hiến Sihanouk trở lại ngai vàng
Trang 34sau 38 năm từ bỏ Hunxen (Đảng Nhân dân Campuchia) và N.RanaRiddh (Mặt trận thống nhất dân tộc vì một nước Campuchia độc lập, trung lập, hoà bình và hợp tác, viết tắt là FUNCINFEC) làm đồng Thủ tướng Khmer đỏ tự mình loại khỏi quá trình hoà giải dân tộc và đi đến chỗ diệt vong Nhân dân Campuchia bước vào một thời kỳ mới với nhiều thử thách mới.
1.3.2 Quan hệ Ấn Độ - Campuchia trước năm 1979
Ấn Độ và Campuchia là hai quốc gia có mối quan hệ lịch sử - văn hóa
từ lâu đời
Từ thời cổ đại, Campuchia đã chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi lịch sử văn hóa Ấn Độ Và quốc gia nằm trên con đường giao lưu sang phía Đông, thông qua các hoạt động thương mại, sự giao lưu và tiếp biến văn hóa giữa hai quốc gia đã diễn ra liên tục qua nhiều thế kỷ Các thủy thủ và thương gia Ấn Độ
đã đóng vai trò to lớn đối với quá trình truyền bá văn hóa Ấn Độ đến Đông Nam Á, trong đó có Cămphuchia Ảnh hưởng sâu sắc nhất của văn hóa Ấn Độ đến Campuchia là sự thâm nhập của tôn giáo, đặc biệt là Ấn Độ giáo và Phật giáo Triết học, văn học, nghệ thuật và tổ chức chính trị xã hội Campuchia cũng mang đậm dấu ấn của văn hóa Ấn Độ Phong cách kiến trúc của các ngôi đền của Campuchia với đền thờ ở Nam Ấn Độ khá nổi bật Điều này đã góp phần tạo nên một nền văn hóa Ăngco phát triển rực rỡ thời cổ trung đại, thậm chí còn được gọi là một trong những quốc gia “Ấn Độ hóa” tiêu biểu
Sau khi tuyên bố độc lập tháng 1/1950, Ấn Độ quan tâm nhiều hơn đến tình hình Đông Dương và Campuchia Cũng vào thời điểm này, cuộc đấu tranh của nhân dân 3 nước Đông Dương bị cuốn vào vòng xoáy và trở thành điểm nóng trong thời kỳ Chiến tranh lạnh theo đúng nội hàm của nó Cùng Liên Xô, Ấn Độ đã cho rằng cần tổ chức một hội nghị hòa bình để giải quyết vấn đề Đông Dương Từ ngày 25/1 đến 18/2/1954, trong Hội nghị Tứ cường
Mỹ, Anh, Pháp, Liên Xô tại Beclin, Ngoại trưởng Liên Xô M Molotov đề
Trang 35nghị họp 5 nước lớn (gồm cả Trung Quốc) tại Geneva vào ngày 26/4/1954 nhằm bàn giải pháp hoà bình ở Triều Tiên và chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương Ngay sau đó, ngày 20/2/1954, Thủ tướng Ấn Độ tuyên bố ủng hộ Liên Xô, kêu gọi ngừng bắn để tạo điều kiện thuận lợi cho thảo luận vấn đề Đông Dương, Ấn Độ tỏ ý sẵn sàng làm trung gian hoà giải Ngày 24/4/1954, Thủ tướng J Nehru đưa ra giải pháp hoà bình 6 điểm về Đông Dương, đề nghị ngừng bắn, đàm phán trực tiếp và các cường quốc không can thiệp vào công việc nội bộ của khu vực này [29; tr.25]
Khi Hội nghị Geneva về Đông Dương tổ chức (7/1954), vai trò trung gian của Ấn Độ được thể hiện rõ, đặc biệt là những hoạt động hành lang của K.Menon trong điều hoà quan điểm giữa các bên về ranh giới quân sự giữa hai miền Ấn Độ làm Chủ tịch Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát việc thi hành Hiệp định cùng với Ba Lan và Canada Ủy ban này thể hiện sự cân bằng lực lượng trong chiến tranh lạnh: có đại diện của khối TBCN, có đại diện của khối XHCN và Ấn Độ là đại diện cho khối trung lập giữ vai trò Chủ tịch Với cương vị này, Ấn Độ tỏ ra khá thận trọng, duy trì sự cân bằng quan hệ với hai miền Việt Nam, giữ vững lập trường không liên kết trong
vấn đề Đông Dương nhằm thực hiện “vai trò bắc cầu giữa phương Đông và
phương Tây…” [29; tr.28].
Cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Đông Dương kết thúc sau khi Hiệp định Genever được ký kết Theo Hiệp định này, Campuchia được công nhận là một quốc gia độc lập ICSC do Ấn Độ là Chủ tịch đã đóng vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng một chính quyền độc lập và trung lập
ở Campuchia Ủy ban theo dõi chặt chẽ các trưng cầu dân ý được tổ chức vào tháng 9/1955 với mục đích không có bất kỳ sự can thiệp nào của các lực lượng bên ngoài, trong đó có Việt Minh vào công việc nội bộ của Campuchia ICSC cũng phản đối ý đồ lập Liên minh quân sự của Mỹ đối với Campuchia
Trang 36vào tháng 5/1955 và ủng hộ Chính phủ hoàng gia Campuchia duy trì tính trung lập trước ảnh hưởng của hai phe trong chiến tranh lạnh đối với tình hình chính trị nước này Vai trò của Ấn Độ trong ICSC tại Campuchia từ 1956 đến
1958 đã giúp làm giảm căng thẳng biên giới giữa Campuchia với Nam Việt Nam và Thái Lan
Sau khi hội nghị Geneva, chính sách Ấn Độ đối với Đông Dương đã được điều chỉnh bởi mục tiêu rộng lớn hơn của việc tạo ra "một khu vực hòa bình " tại Đông Nam Á không có sự can thiệp từ bên ngoài Ấn Độ phản đối
sự hình thành các liên minh quân sự trong khu vực này và cùng với Trung Quốc đưa ra Năm nguyên tắc của Panchsheel: Tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của nhau, chủ quyền; không xâm lược; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; bình đẳng và cùng có lợi và chung sống hòa bình
Trước khi Hội nghị Á - Phi khai mạc tại tại Bandung tại Indonesia, tháng 3/1955, Hoàng thân Sihanouk đã đến thăm Ấn Độ Chuyến thăm thể hiện tình hữu nghị và thiện chí của Campuchia đối với Ấn Độ Mục tiêu của Sihanouk là tiếp cận đường lối không liên kết và mong muốn Nehru ủng hộ trong nước và quốc tế để Campuchia lựa chọn con đường trung lập Sihanouk
tuyên bố: "Đường lối trung lập của chúng tôi không phải là một học thuyết,
nó là chủ nghĩa hiện thực, thái độ quyết định bởi tình hình thực tế" [72; tr.8]
Có thể nói, việc Campuchia lựa chọn đường lối phát triển đất nước theo chính sách trung lập và không liên kết có mang dấu ấn của Ấn Độ
Tại Bandung, Nehru đã thành công trong việc sắp xếp cuộc gặp giữa các nhà lãnh đạo của Trung Quốc và Campuchia Thông qua các cuộc họp này, Nehru đã tìm cách loại bỏ những nghi ngờ về Trung Quốc Campuchia
đã thông qua Ấn Độ xác lập đường lối đối ngoại trung lập và Panchsheel Tháng 2/1956, Sihanouk thăm Trung Quốc đã chính thức tuyên bố trung lập
và lấy Panchsheel làm cơ sở cho mối quan hệ giữa Trung Quốc và
Trang 37Campuchia, bác bỏ lời kêu gọi gia nhập Khối Phòng thủ chung Đông Nam Á (SEATO) Campuchia thiết lập quan hệ với Trung Quốc và Bắc Việt Nam trên cơ sở thân thiện và hợp tác Tháng 8/1958, Sihanouk tiếp tục sang thăm
Ấn Độ lần thứ hai nhằm thúc đẩy quan hệ hai nước và mong muốn Ấn Độ giúp đỡ nước này có một vị thế quốc tế cao hơn trong thế giới thứ ba Tuy nhiên, chuyến đi được đánh giá mang tính hình thức hơn là các kết quả cụ thể Quan hệ hai nước không có nhiều chuyển biến
Một trong những khó khăn của Ấn Độ là ủng hộ Campuchia giữ vững lập trường trung lập giữa Mỹ và Bắc Việt Nam Từ năm 1966, I Gandhi lên làm Thủ tướng Ấn Độ đã có lập trường gần hơn với cuộc kháng chiến chống
Mỹ của Việt Nam Đây cũng là thời điểm Mỹ tham chiến trực tiếp và leo thang ở chiến trường Việt Nam, ảnh hưởng nghiêm trọng đến thái độ của Campuchia Sihanouk cố gắng để duy trì chính sách cân bằng giữa Việt Nam
và Mỹ Tuy nhiên, Hoa Kỳ không hài lòng với Sihanouk và tìm cách làm suy yếu vị trí của Sihanouk Một trong những nguyên nhân làm cho mối quan hệ Mỹ - Campuchia rạn nứt là sự hình thành con đường huyết mạch Hồ Chí Minh từ Bắc Việt Nam qua Đông Lào và Đông Campuchia vào miền Nam Việt Nam Tháng 3/1970, được sự hậu thuẫn của Mỹ, Lon Nol lật đổChính phủ hoàng gia Sihanouk và phát động một cuộc tấn công lớn vào Campuchia với mục tiêu cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh Trong bối cảnh nội bộ quốc hội Ấn Độ bị chia rẽ nghiêm trọng giữa hai quan điểm ủng hộ
Mỹ hay cuộc kháng chiến của Campuchia, I.Gandhi kêu gọi tất cả các bên
có liên quan tổ chức đàm phán hòa bình thay cho giải pháp quân sự Mục tiêu của I.Gandhi là tổ chức một cuộc đàm phán giữa các phe phái ở Campuchia và chính quyền thân Mỹ Tuyên bố trước quốc hội ngày 04/5/1970, Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ Dinesh Singh kêu gọi các phe phái đình chiến và tổ chức đàm phán theo nguyên tắc được đề ra từ Hiệp định
Trang 38Geneva Dù vậy, nỗ lực này đã không có kết quả Với quan điểm ủng hộ
"không can thiệp vào công việc nội bộ của Campuchia”, Ấn Độ vẫn duy trì quan hệ ngoại giao với chế độ Lon Nol đến tháng 3/1974 Cuộc kháng chiến
ở Campuchia đã hòa chung vào dòng chảy cách mạng Đông Dương với thắng lợi của nhân dân Campuchia vào mùa xuân Năm 1975 Tháng 4/1975, Chính quyền Khmer Đỏ được thành lập
Khi các lực lượng Khmer Đỏ lên nắm quyền ở Phnom Penh, tình hình chính trị ở Ấn Độ có những biến động lớn buộc Chính phủ Indira Gandhi tuyên bố tình trạng khẩn cấp quốc gia vào tháng 6/1975 Bối cảnh đó tác động sâu sắc đến chính sách đối ngoại của Ấn Độ, nước này gần như không có điều kiện để quan tâm đến những vấn đề bên ngoài Ấn Độ đã không có bất kỳ quan hệ ngoại giao nào với chế độ Pol Pot Campuchia cũng không quan tâm đến Ấn Độ bởi nước này không nằm trong danh sách 26 quốc gia đủ tiêu chuẩn quy định để thiết lập quan hệ của của chế độ Campuchia Dân chủ Hơn nữa, chế độ Pol Pot là một chế độ tự quản, dựa vào sức mạnh riêng của mình
và không muốn quan hệ với bất cứ ai Họ từ chối tất cả các hình thức trợ giúp nước ngoài vì họ coi nó như là một sự can thiệp vào công việc nội bộ của họ Pol Pot cũng xem nhận viện trợ là một sự sỉ nhục cho độc lập và chủ quyền của đất nước Đây chính là nguyên nhân dẫn đến chính sách tự cô lập của Campuchia với cộng đồng quốc tế
Quá trình không có bất cứ mối liên hệ nào giữa hai nước kéo dài đến giữa năm 1977 Hai nước thực tế không thiết lập quan hệ ngoại giao trong giai đoạn này Thực tế, I.Gandhi dành mọi sự quan tâm đến tình hình chính trị trong nước ở Ấn Độ Mặc dù vậy, những tin tức về chế độ diệt chủng ở Campuchia vẫn được báo cáo tương đối đầy đủ Tuy nhiên, trong bối ảnh Ấn
Độ đang bị cộng đồng quốc tế lên án về quyền con người liên quan đến tình trạng khẩn cấp, I.Gandhi không muốn chỉ trích các nước khác
Trang 39Mặt khác, trong thời gian 1975 - 1976, Ấn Độ đang cố gắng cải thiện quan hệ với Trung Quốc, kết thúc 14 năm căng thẳng giữa hai nước bằng việc lập đại sứ quán tại mỗi nước vào tháng 4/1976 Do vậy, Ấn Độ không muốn chỉ trích vi phạm nhân quyền của chế độ Pol Pot - đồng minh thân cận của Trung Quốc
Như vậy, đến hết năm 1977, việc Ấn Độ gần như chưa có thái độ gì với chế độ diệt chủng ở Campuchia xuất phát từ nhiều nguyên nhân Đây cũng là điều hiếm gặp trong chính sách đối ngoại của nước này bởi Ấn Độ với tư cách
là nước đứng đầu thế giới thứ ba luôn có tiếng nói đặc biệt quan trọng đối với vấn đề nhân quyền và sắc tộc
Có thể nói, lịch sử Campuchia đến trước năm 1993 có nhiều diễn biến phức tạp Một trong những yêu cầu cấp thiết của lịch sử Campuchia trong giai đoạn 1979 đến 1993 là tìm kiếm sự ủng hộ rộng rãi của cộng đồng quốc tế đối với Chính phủ của Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia, đồng thời giúp đỡ giải quyết những khó khăn về kinh tế - xã hội trong nước Mặt khác, giải quyết hòa bình vấn đề Campuchia cũng là một nhu cầu bức thiết để nhân dân Campuchia hòa hợp dân tộc và lựa chọn con đường phát triển phù hợp
Lịch sử Ấn Độ và Campuchia có một số điểm tương đồng tạo nên sự hiểu biết lẫn nhau, là cơ sở cho chính sách của Ấn Độ đối với Campuchia Hai nước cùng nằm trong khu vực Đông - Nam châu Á, nằm trong vòng xoáy cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn và cũng đang trong quá trình xác lập một chỗ đứng riêng, một con đường riêng là trung lập và không liên kết Sự tương đồng về lịch sử - văn hóa, về con đường phát triển tạo điều kiện cho Ấn
Độ có chính sách phù hợp với lịch sử Campuchia từ 1979 đến 1993
Bên cạnh đó, sự bùng nổ vấn đề Campuchia dẫn tới sự xáo trộn trong cán quân quyền lực khu vực Sự ủng hộ của Trung Quốc đối với chế độ Pol Pot đặt Ấn Độ trước mộ sự lựa chọn chính sách phù hợp với vị trí địa chính trị
Trang 40của mình trong khu vực Cơ sở thực tiễn trong chính sách của Ấn Độ là sự hiện diện của một chế độ diệt chủng không thể chối cãi ở Campuchia Ấn Độ với vai trò là một nước lớn, một quốc gia đứng đầu của phong trào không liên kết đã có vai trò, tiếng nói quan trọng đối với việc nhìn nhận và giải quyết đúng thực chất vấn đề Campuchia.
1.4 Sự bùng nổ vấn đề Campuchia và thái độ của các nước lớn
Cuộc chiến tranh trên bán đảo Đông Dương vừa kết thúc (1975) thì khu vực này lại xuất hiện nhân tố bất ổn mới Chính quyền Campuchia Dân chủ
do Pol Pot đứng đầu (còn gọi là Khmer Rouge hay Khmer Đỏ) đã thực thi hàng loạt các biện pháp diệt chủng về đối nội và bành trướng về đối ngoại
nhằm phục hồi, phát triển lãnh thổ “huy hoàng hơn thời đại Angkor” mà đối
tượng trực tiếp là Việt Nam
Việc chuẩn bị phát động cuộc chiến tranh xâm lược trên quy mô lớn ở biên giới Tây Nam Việt Nam được thực hiện từng bước Với khẩu hiệu “Tất
cả cho tiền tuyến để đánh Việt Nam, bất cứ làm việc gì cũng để đánh Việt Nam”, xung đột quân sự khởi đầu bằng sự kiện tập đoàn Pol Pot tấn công đảo Phú Quốc (4/5/1975), đảo Thổ Chu (10/5/1975) và bị Việt Nam phản công giành lại
Cuối năm 1975, quân đội Khmer đỏ lại tiến hành những vụ lấn chiếm lãnh thổ thuộc các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc Đồng thời với hành động xâm phạm biên giới, Pol Pot tiến hành chiến dịch tàn sát và đuổi Việt Kiều về nước Rõ ràng, mục tiêu xâm lược Việt Nam được Pol Pot toan tính và thực hiện ngay sau khi chúng được nắm quyền kiểm soát trên cả nước
Tháng 1/1977, Campuchia tấn công các khu dân cư trong 6 tỉnh biên giới Việt Nam và tiến sâu vào địa giới tỉnh Long An khoảng 4km Việt Nam phản công chiếm lại, hai bên thành lập Ủy ban biên giới nhằm giải quyết xung đột hòa bình Trong năm 1977, chính quyền Khmer Đỏ liên tục mở các