Ý nghĩa khoa học Nghiên cứu quan hệ hợp tác trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục và y tế giữacác tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay của Lào với Nghệ An của Việt Nam từnăm 1976 đến năm 2012 không
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGÔ THỊ THU HIỀN
HỢP TÁC VĂN HÓA GIÁO DỤC VÀ Y TẾ GIỮA CÁC TĨNH XIÊNG KHOẢNG, BÔLYKHĂMXAY CỦA LÀO
VỚI NGHỆ AN CỦA VIỆT NAM TỪ NĂM
1976 ĐẾN NĂM 2012
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
NGHỆ AN - 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGÔ THỊ THU HIỀN
HỢP TÁC VĂN HÓA GIÁO DỤC VÀ Y TẾ GIỮA CÁC TĨNH XIÊNG KHOẢNG, BÔLYKHĂMXAY CỦA LÀO
VỚI NGHỆ AN CỦA VIỆT NAM TỪ NĂM
1976 ĐẾN NĂM 2012
Chuyên ngành: Lịch sử thế giới
Mã số: 60.22.50
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học:
TS BÙI VĂN HÀO
NGHỆ AN - 2013
Trang 3Xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc TS Bùi Văn Hào, người
đã trực tiếp hướng dẫn khoa học tác giả trong quá trình thực hiện luận văn.
Xin tỏ lòng biết ơn các thầy, cô giáo trong khoa Lịch sử, khoa Đào tạo Sau đại học và cán bộ Trung tâm Thông tin - Thư viện Nguyễn Thúc Hào, trường Đại học Vinh đã nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập.
Xin chân thành cảm ơn cán bộ Phòng Chính trị, Phòng Lưu trữ UBND tỉnh Nghệ An và Sở Ngoại vụ, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Giáo dục
và Đào tạo tỉnh Nghệ An đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình khai thác tư liệu.
Xin gửi tới người thân và bạn bè lòng biết ơn sâu sắc vì đã hết lòng động viên, chia sẽ cho tác giả trong suốt quá trình học tập.
Nghệ An, tháng 10 năm 2013
Tác giả
Ngô Thị Thu Hiền
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Đóng góp của luận văn 10
7 Cấu trúc của luận văn 10
Chương 1 CƠ SỞ HỢP TÁC VĂN HÓA, GIÁO DỤC VÀ Y TẾ GIỮA CÁC TỈNH XIÊNG KHOẢNG, BÔLYKHĂMXAY CỦA LÀO VỚI NGHỆ AN CỦA VIỆT NAM 11
1.1 Cơ sở địa - chính trị, kinh tế và văn hoá 11
1.1.1 Cơ sở địa - chính trị, kinh tế 11
1.1.2 Cơ sở văn hoá 16
1.2 Truyền thống lịch sử 21
1.2.1 Quan hệ giữa hai khu vực trước năm 1945 21
1.2.2 Quan hệ giữa hai khu vực từ năm 1945 đến năm 1975 24
Tiểu kết chương 1 32
Chương 2 HỢP TÁC VĂN HÓA, GIÁO DỤC VÀ Y TẾ GIỮA CÁC TỈNH XIÊNG KHOẢNG, BÔLYKHĂMXAY VỚI NGHỆ AN TỪ NĂM 1976 ĐẾN NĂM 2012 34
2.1 Quan hệ hợp tác văn hóa, giáo dục và y tế giữa các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay với Nghệ Tĩnh từ năm 1976 đến năm 1990 34
2.1.1 Bối cảnh và đặc điểm tình hình 34
2.1.2 Hợp tác trong lĩnh vực văn hóa 37
2.1.3 Hợp tác trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo 40
2.1.4 Hợp tác trong lĩnh vực y tế và công tác xã hội nhân đạo 46
Trang 5Bôlykhămxay với Nghệ An từ năm 1991 đến năm 2012 51
2.2.1 Những nhân tố mới tác động đến quan hệ hợp tác văn hóa, giáo dục, y tế giữa hai khu vực 51
2.2.2 Hợp tác trong lĩnh vực văn hoá 54
2.2.3 Hợp tác trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo 57
2.2.4 Hợp tác trong lĩnh vực y tế và công tác xã hội nhân đạo 60
Tiểu kết chương 2 65
Chương 3 NHẬN XÉT VỀ HỢP TÁC VĂN HÓA, GIÁO DỤC VÀ Y TẾ GIỮA CÁC TỈNH XIÊNG KHOẢNG, BÔLYKHĂMXAY CỦA LÀO VỚI NGHỆ AN CỦA VIỆT NAM TỪ NĂM 1976 ĐẾN NĂM 2012 66
3.1 Những thành tựu, hạn chế 66
3.1.1 Những thành tựu nổi bật 66
3.1.2 Một số tồn tại và hạn chế 71
3.2 Phương thức và đặc điểm của quan hệ giữa hai khu vực từ năm 1976 đến năm 2012 74
3.2.1 Phương thức 74
3.2.2 Đặc điểm 76
3.3 Những khó khăn, triển vọng và bài học kinh nghiệm 81
3.3.1 Những khó khăn, thách thức và triển vọng 81
3.3.2 Một số bài học kinh nghiệm 85
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 PHỤ LỤC
Trang 6BCHTƯ : Ban chấp hành Trung ương
CHDCND : Cộng hòa dân chủ nhân dân
CHXHCN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
ĐVBQ : Đơn vị bảo quản
KHXH : Khoa học Xã hội
UBCQ : Ủy ban chính quyền
UBND : Ủy ban nhân dân
UBKHXH : Ủy ban Khoa học Xã hội
UBKHXHQG : Ủy ban Khoa học xã hội Quốc gia
VIETTEL : Tập đoàn Viễn thông quân đội
VNPT : Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam
Trang 7I BẢN ĐỒ VÀ TRANH ẢNH MINH HỌA
1 Bản đồ hành chính các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay của Lào và tỉnhNghệ An của Việt Nam
2 Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An Phan Đình Trạc và Bí thư kiêm Tỉnh trưởngtỉnh Bôlykhămxay Khampane Phivavong cùng Đoàn đại biểu tỉnh Nghệ
5 Lễ trao Huân chương của Nhà nước Lào tặng các cựu quân tình nguyện
và chuyên gia Nghệ An giúp cách mạng Lào 1945 - 1975
6 Sinh viên Lào đang học tập tại trường Đại học Vinh - Nghệ An
II MỘT SỐ TƯ LIỆU LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG CỦA LUẬN ÁN
1 Biên bản ghi nhớ kết quả làm việc giữa Đoàn đại biểu Sở Du lịch tỉnhXiêng Khoảng - CHDCND Lào và Đoàn đại biểu Sở Văn hóa, Thể thao
và Du lịch tỉnh Nghệ An - CHXHCN Việt Nam, ngày 13/7/2011
2 Nghị quyết của Ban thường vụ Tỉnh ủy về phát triển du lịch Nghệ An giai
đoạn 2011 - 2020
3 Đề án Tổ chức giao lưu văn hóa, thể thao và du lịch vùng biên giới Việt Lào năm 2012 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Trang 9-MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trải qua quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước, mối quan hệ giữa Lào
và Việt Nam ngày càng gắn bó, cho đến nay, nó đã trở thành di sản quí báucủa hai dân tộc, biểu tượng mẫu mực về quan hệ giữa hai nước láng giềng
Cùng với sự phát triển của quan hệ giữa Lào với Việt Nam qua cácthời kỳ lịch sử, các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay và Nghệ An khôngngừng đẩy mạnh quan hệ hợp tác về mọi mặt Từ quan hệ “láng giềng thânthiện” trong buổi đầu lịch sử, “tình đoàn kết đặc biệt, liên minh chiến đấu”trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, “quan hệhữu nghị và hợp tác” trong những năm đầu của sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc, hai bên không ngừng tăng cường “quan hệ hữu nghị đặc biệt,hợp tác toàn diện” trên tất cả các lĩnh vực, từ chính trị, quốc phòng - anninh, kinh tế cho đến văn hóa, giáo dục và y tế trong thời kỳ hai nước xâydựng và bảo vệ Tổ quốc
Các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay của Lào và Nghệ An của ViệtNam gần gũi nhau về địa lý, có nhiều điểm tương đồng về tự nhiên, văn hoá -
xã hội Trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm cũng như trong sự nghiệpxây dựng, bảo vệ Tổ quốc, quan hệ giữa hai bên luôn giữ vị trí quan trọng và
có tác động to lớn đến tình hình của Việt Nam, Lào cũng như quan hệ giữa hainước Từ khi Việt Nam và Lào hòa bình, độc lập và thống nhất, song song vớiviệc tăng cường quan hệ trong lĩnh vực chính trị, quốc phòng - an ninh, kinh tế,các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay và Nghệ An đã chú trọng đẩy mạnh hợptác văn hóa, giáo dục và y tế Những thành tựu hợp tác giữa hai bên trong lĩnhvực này đã góp phần quan trọng nâng cao đời sống tinh thần và sức khỏe củangười dân và góp phần thúc đẩy quan hệ đặc biệt giữa hai nước phát triển
Trang 10Hiện nay, trong bối cảnh tình hình thế giới cũng như hai nước có nhiềubiến đổi; quá trình toàn cầu hoá diễn ra ngày càng sâu sắc; Lào - Việt Nam đã
và đang giành được những thắng lợi quan trọng trong sự nghiệp đổi mới; quan
hệ hợp tác giữa hai nước không ngừng được củng cố và tăng cường về mọimặt, hợp tác văn hóa, giáo dục và y tế giữa các tỉnh Xiêng Khoảng,Bôlykhămxay với Nghệ An đang có nhiều cơ hội và thuận lợi Tuy nhiên, quan
hệ giữa hai bên cũng đang phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức Vìvậy, đi sâu nghiên cứu cơ sở, thực trạng cũng như những thành tựu và hạn chếtrong quan hệ hợp tác văn hóa, giáo dục và y tế giữa các tỉnh Xiêng Khoảng,Bôlykhămxay của Lào với Nghệ An của Việt Nam trong thời kỳ hai nước xâydựng và bảo vệ Tổ quốc, để trên cơ sở đó rút ra những bài học kinh nghiệmnhằm góp phần tăng cường quan hệ giữa hai bên trong các giai đoạn tiếp theo,
là yêu cầu cần thiết cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn
1.1 Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu quan hệ hợp tác trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục và y tế giữacác tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay của Lào với Nghệ An của Việt Nam từnăm 1976 đến năm 2012 không chỉ góp phần làm sáng tỏ những nội dung quantrọng trong quan hệ hợp tác giữa hai bên, mà còn bổ sung thêm những tư liệumới về quan hệ hợp tác giữa hai nước trong giai đoạn cách mạng mới
1.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đi sâu tìm hiểu quan hệ hợp tác trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục và y
tế giữa các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay của Lào với tỉnh Nghệ An củaViệt Nam từ năm 1976 đến năm 2012 góp phần “giúp các tầng lớp nhân dân,nhất là thế hệ trẻ, nhận thức sâu sắc về mối quan hệ đoàn kết đặc biệt và sựhợp tác toàn diện giữa hai nước”, qua đó, khẳng định sự cần thiết và ý nghĩa
to lớn của việc củng cố, tăng cường quan hệ hợp tác về mọi mặt giữa hai bêntrong giai đoạn hiện nay cũng như các giai đoạn tiếp theo
Trang 11Lãnh đạo các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay của Lào và Nghệ Ancủa Việt Nam có thể tham khảo tư liệu và các kết luận của đề tài để hoạchđịnh chiến lược hợp tác văn hóa, giáo dục và y tế giữa các tỉnh trong các giaiđoạn tiếp theo
Các nhà nghiên cứu, giáo viên và học sinh, sinh viên có thể khai thác tưliệu trong đề tài để nghiên cứu, giảng dạy và học tập lịch sử địa phương
Xuất phát từ ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn nêu trên, chúng tôi
chọn vấn đề “Hợp tác văn hóa, giáo dục và y tế giữa các tỉnh Xiêng
Khoảng, Bôlykhămxay của Lào với Nghệ An của Việt Nam từ năm 1976 đến năm 2012” làm đề tài luận văn.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quan hệ hợp tác văn hóa, giáo dục và y tế giữa các tỉnh Xiêng Khoảng,Bôlykhămxay của Lào với Nghệ An của Việt Nam trong những năm từ 1976đến 2012, đã được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu và bài viết
về quan hệ giữa hai nước cũng như hai khu vực
2.1 Các công trình nghiên cứu, bài viết về quan hệ giữa hai nước đề cập đến hợp tác văn hóa, giáo dục và y tế của các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay của Lào với Nghệ An của Việt Nam
Quan hệ Lào - Việt, Việt - Lào là vấn đề được các nhà lãnh đạo, cáctướng lĩnh tiền bối cũng như hiện nay của Lào và Việt Nam hết sức quan tâm
Trong các tác phẩm: “25 năm chiến đấu và thắng lợi của Đảng Nhân
dân Cách mạng Lào”, Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản đã đề cập nhiều vấn đề
liên quan đến quan hệ Lào - Việt trong cách mạng dân tộc dân chủ và trongnhững năm đầu của công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, qua đó khẳng định
từ quan hệ chính trị, an ninh - quốc phòng, kinh tế, văn hóa Lào - Việt là mộttrong những yếu tố quan trọng để cách mạng hai nước đi từ thắng lợi này đếnthắng lợi khác
Trang 12Từ thực tiễn cách mạng của hai nước qua các thời kỳ lịch sử, Chủ tịch
Khămtày Xiphănđon đã có bài: “Tình đoàn kết đặc biệt, sự hợp tác toàn diện
và liên minh chiến đấu Lào - Việt Nam trong thời kỳ cách mạng mới” [57].
Bài viết chỉ ra rằng, tình đoàn kết đặc biệt, sự hợp tác toàn diện Lào - ViệtNam là tài sản quí báu của hai dân tộc và là nhân tố quan trọng làm nênnhững thắng lợi của hai nước trong sự nghiệp giải phóng dân tộc cũng nhưtrong công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước
Bài viết “Mãi mãi trân trọng mối quan hệ chí cốt có ý nghĩa chiến lược
Việt - Lào” [62; tr3 - 5] của Tổng Bí thư Đỗ Mười đã phân tích ý nghĩa, tầm
quan trọng của quan hệ đặc biệt Việt - Lào trong sự nghiệp giải phóng dân tộccũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong thời kỳhai nước đang tiến hành sự nghiệp đổi mới
Các bài viết đăng trong Đặc san Việt Nam - Thế giới (Số đặc biệt kỷniệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao và 35 năm quan hệ hữu nghị, hợp
tác toàn diện giữa hai nước Việt nam - Lào): “Tăng cường hợp tác toàn diện,
đưa quan hệ Việt - Lào lên tầm cao mới” của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh
Hùng; “Nâng cao chất lượng trong mỗi chương trình hợp tác” của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân; “Hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật
ngày càng đạt kết quả cao” của Phó thủ tướng Lào Somsavad Lengsavad;
“Việt Nam: Địa chỉ đào tạo tin cậy của Lào” của Bộ trưởng Bộ Giáo dục Lào
Somkot Mangnomek, sau khi điểm lại những thành tựu cơ bản của quan hệhợp tác toàn diện giữa hai nước, đã nêu lên phương hướng và một số biệnpháp nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác văn hóa, giáo dục và y tế giữa Lào vớiViệt Nam cũng như các địa phương của hai nước
Quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện Lào - Việt Nam từ năm 1976 đếnnay đã được trình bày và phân tích khá toàn diện trong các công trình nghiên
cứu: “Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào (1930 - 2007)”[1] của Ban chỉ
Trang 13đạo nghiên cứu biên soạn lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam Lào (1930 2007) và Ban chỉ đạo nghiên cứu biên tập lịch sử quan hệ đặc biệt Lào - Việt
-Nam (1930 - 2007); “Quan hệ đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt -Nam - Lào
trong giai đoạn 1954 2000” của Lê Đình Chỉnh [34]; “Quan hệ Việt Nam Lào từ 1975 đến 2005” của Nguyễn Thị Phương Nam [63] và một số bài viết
-khác Trong khi phân tích quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước, các tác giả
đã ít nhiều đề cập đến quan hệ hợp tác về văn hóa, giáo dục và y tế giữa cáctỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay của Lào với Nghệ An của Việt Nam
Bên cạnh các công trình và bài viết đã được công bố trong các sách,báo, tạp chí, nhiều cuộc hội thảo khoa học về quan hệ Lào - Viêt, Việt - Lào
đã được tổ chức
Các hội thảo khoa học: “Quan hệ Việt - Lào, Lào - Việt” do trường Đại học Tổng Hợp Hà Nội chủ trì năm 1991 và năm 1993 [69]; “Tình đoàn kết
đặc biệt Việt - Lào” do Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam tổ chức năm 1995
[121]; Hội thảo khoa học Quốc gia “40 năm quan hệ Việt Nam - Lào: Nhìn
lại và Triển vọng” do Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia
phối hợp với UBND tỉnh Nghệ An tổ chức tại Thành phố Vinh, tháng 8
-2002 [88] và Hội thảo Quốc tế “Tình đoàn kết đặc biệt, liên minh chiến đấu
và sự hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Lào” do UBKHXH Việt Nam và
UBKHXHQG Lào tổ chức tại Thủ đô Viêng Chăn, tháng 6 - 2007 [119]không những góp phần làm nổi rõ những thành tựu cũng như hạn chế trongquan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước từ năm 1976 đến nay, mà còn đi sâuphân tích tác động của tình hình thế giới và khu vực Đông Nam Á đối vớiquan hệ giữa hai nước cũng như giữa các địa phương của hai nước Nhiều bàiviết đã đưa ra các giải pháp nhằm củng cố và tăng cường quan hệ hai bêntrong các giai đoạn tiếp theo
Tại Hội thảo khoa học “40 năm quan hệ Việt Nam - Lào: Nhìn lại và
Triển vọng”, các báo cáo của Phạm Nguyên Long, Khămkeung Kanhavong,
Trang 14Vũ Công Quí… đã đề cập đến quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước; cácbáo cáo của Ananay Vilaihang, Trương Duy Hòa, Phạm Đức Dương, Trương
Sĩ Hùng, Nguyễn Lệ Thi… đã đi sâu tìm hiểu quan hệ văn hóa, giáo dục - đàotạo và các lĩnh vực khác giữa hai nước cũng như các địa phương của hai nước
Các báo cáo của Trần Đức Cường, Hiêm Phôm Mạ Chăn, Trương DuyHòa - Nguyễn Hào Hùng, Bua Ban Vo Lạ Khủn, Ly Tu Bua Pao, On Kẹo
Phôm Mạ Kon… trong phần II của Hội thảo Quốc tế “Tình đoàn kết đặc biệt,
liên minh chiến đấu và sự hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Lào” [119] đã
đi sâu phân tích quan hệ hợp tác văn hóa, giáo dục giữa hai nước và một sốđịa phương của hai nước
2.2 Các bài viết, công trình nghiên cứu đề cập trực tiếp đến hợp tác văn hóa, giáo dục và y tế giữa các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay của Lào với Nghệ An của Việt Nam
Đề cập trực tiếp đến quan hệ hợp tác văn hóa, giáo dục và y tế giữa các
tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay của Lào với Nghệ An của Việt Nam cómột số công trình nghiên cứu và một số bài viết đăng trên các báo, tạp chí và
kỷ yếu của các cuộc hội thảo khoa học Lào - Việt, Việt - Lào
Về mối quan hệ giữa hai khu vực trong thời kỳ cổ trung đại, có các bài
viết: “Những di tích ở Nghệ An Hà Tĩnh liên quan đến quan hệ Việt Nam
-Lào” của Nguyễn Quế Phương [88]; “Mối quan hệ Việt Nam - Lào ở vùng biên giới Việt - Lào qua nghề dệt thổ cẩm truyền thống của người Thái ở phía Tây Nghệ An” của Nguyễn Lệ Thi [88] Thông qua tìm hiểu các di tích lịch
sử, ngành nghề truyền thống, phong tục tập quán sinh hoạt còn được lưu giữtrong nhân dân, các tác giả khẳng định sự tiếp thu và chịu ảnh hưởng lẫn nhaugiữa cư dân của hai khu vực diễn ra từ rất sớm và liên tục
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954), quan
hệ giữa hai khu vực được đề cập trong: “Mối quan hệ giữa Thanh Nghệ
Tĩnh với Lào trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945
Trang 15-1954)” của Ngô Đăng Tri [85] Mặc dù chủ yếu đi sâu tìm hiểu sự phối hợp
chiến đấu, song tác giả đã bước đầu đề cập đến quan hệ kinh tế, văn hoá, giáodục giữa hai khu vực
Quan hệ song phương giữa các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay củaLào với Nghệ An của Việt Nam trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốcđược đề cập đến trong một số bài viết của các vị lãnh đạo các tỉnh thuộc haikhu vực
Trên cơ sở phân tích những thành tựu nổi bật của quan hệ hợp tác giữatỉnh Nghệ An với một số tỉnh của Lào trong hai cuộc kháng chiến chống ngoạixâm và trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, Phan Đình Trạc trong bài
viết “Nghệ An kề vai sát cánh với các địa phương Lào” [123; tr142 - 144] đã
khẳng định: “Cùng với nhân dân cả nước, nhân dân Nghệ An tự hào đã và đanggóp phần đáng kể vào mối quan hệ hữu nghị đặc biệt, tình đoàn kết chiến đấu
và sự hợp tác toàn diện giữa nhân dân hai nước Việt Nam - Lào”
Thông qua phân tích đặc điểm tình hình và những thành tựu, hạn chế củaquan hệ hợp tác giữa tỉnh Bôlykhămxay với Nghệ An trong thời kỳ đổi mới, tác
giả Khampane Phivavông trong bài viết: “Có nhiều tiềm năng để hợp tác” [123;
tr146 - 147] đã kết luận: “Tuy quan hệ giữa Bôlykhămxay và Nghệ An thời gianqua đã đạt được những kết quả khả quan, song hai bên cần quan tâm hơn nữa vềphương pháp, hình thức và cơ chế hợp tác Đặc biệt, hợp tác kinh tế, văn hóa vàgiáo dục còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng của hai bên”
Bài viết của Nguyễn Văn Hành: “Quan hệ giữa tỉnh Nghệ An của Việt
Nam với một số tỉnh của Lào là bằng chứng sinh động nhằm phát triển tình đoàn kết và sự hợp tác toàn diện giữa hai nước” [119; tr436 - 448] đã điểm
lại những thành tựu quan trọng trong quan hệ hợp tác giữa Nghệ An với một
số tỉnh của Lào trong thời kỳ đổi mới, đồng thời đi sâu phân tích những điềukiện chủ quan và khách quan để hai bên tiếp tục đẩy mạnh quan hệ hợp táctrong các giai đoạn tiếp theo
Trang 16Đề cập trực tiếp đến quan hệ song phương giữa các tỉnh Xiêng Khoảng,Bôlykhămxay của Lào với Nghệ An của Việt Nam là các công trình và bài
viết của tác giả Bùi Văn Hào Trong luận án Tiến sĩ: “Quan hệ giữa các tỉnh
Hủa phăn, Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay, Khăm Muộn với Nghệ An, Hà Tĩnh của Việt Nam từ năm 1976 đến năm 2007” [46], cũng như trong Đề tài cấp
Bộ “Quan hệ hợp tác giữa Nghệ An với một số tỉnh của Lào từ năm 1986 đến
năm 2009” [48] và một số bài viết đăng trên Nghiên cứu Đông Nam Á, tác
giả đã đề cập khá nhiều đến thành tựu và hạn chế trong quan hệ văn hóa, giáodục và y tế giữa Nghệ An với các tỉnh của Lào
Nhìn chung, các tác giả đều cho rằng tuy trong quá trình thực hiện hợptác còn có một số hạn chế, nhưng quan hệ song phương giữa các tỉnh thuộchai khu vực đã đạt được nhiều thành tựu có ý nghĩa, vừa tạo điều kiện để pháttriển văn hoá, giáo dục, y tế của hai bên, vừa góp phần vào việc củng cố vàtăng cường quan hệ hai nước Hầu hết các tác giả đều khẳng định quan hệ hợptác văn hóa, giáo dục và y tế giữa hai bên là nhu cầu khách quan và phù hợpvới qui luật phát triển của thời đại
Ngoài ra, đề cập đến quan hệ song phương giữa các tỉnh thuộc hai khu
vực còn có các công trình: “Lịch sử Đảng bộ Nghệ An” của Ban nghiên cứu
lịch sử Đảng tỉnh Nghệ An [58]; “Biên niên sự kiện Hợp tác và Hữu nghịNghệ An - Xiêng Khoảng” của Trần Kim Đôn [43], …
Như vậy, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàndiện, có hệ thống cơ sở, thực trạng, những thành tựu, hạn chế và bài học kinhnghiệm mối quan hệ hợp tác văn hóa, giáo dục và y tế giữa các tỉnh XiêngKhoảng, Bôlykhămxay của Lào với Nghệ An của Việt Nam trong những năm
từ 1976 đến 2012 Để góp phần làm rõ những nội dung trên, chúng tôi chọn
vấn đề " Hợp tác văn hóa, giáo dục và y tế giữa các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay của Lào với Nghệ An của Việt Nam từ năm từ 1976 đến năm
2012" làm đề tài luận văn.
Trang 173 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quan hệ hợp tác trong lĩnh vựcvăn hóa, giáo dục và y tế giữa các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay của Làovới Nghệ An của Việt Nam từ năm 1976 đến năm 2012
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu quan hệ giữa hai khu vực từ
năm 1976 đến năm 2012 (Tức là kể từ khi Lào và Việt Nam ký Hiệp ướcHữu nghị và Hợp tác toàn diện Lào - Việt Nam đến Kỷ niệm 50 năm ngày hainước thiết lập quan hệ ngoại giao và 35 năm ngày ký Hiệp ước Hữu nghị vàHợp tác toàn diện)
- Không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu quan hệ giữa 2 tỉnh của
Lào là Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay (đây là hai tỉnh vừa tiếp giáp, vừa cóquan hệ khăng khít với Nghệ An) với 1 tỉnh của Việt Nam là Nghệ An
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn tập trung phân tích cơ sở hợp tác văn hóa, giáo dục và y tếgiữa các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay của Lào với Nghệ An của ViệtNam, đồng thời làm nổi bật những nội dung quan trọng nhất, những khía cạnhsâu sắc nhất của quá trình hợp tác giữa hai bên trong lĩnh vực này từ năm
1976 đến năm 2012, từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm nhằm góp phầntăng cường quan hệ giữa hai khu vực cũng như hai nước trong các giai đoạntiếp theo
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích cơ sở hợp tác văn hóa, giáo dục và y tế giữa các tỉnh XiêngKhoảng, Bôlykhămxay của Lào với Nghệ An của Việt Nam
- Hệ thống hoá thực trạng quan hệ hợp tác văn hóa, giáo dục và y tếgiữa hai khu vực từ năm 1976 đến năm 2012
Trang 18- Đánh giá những thành tựu, hạn chế và rút ra những bài học kinh
nghiệm nhằm tăng cường hợp tác văn hóa, giáo dục và y tế giữa các tỉnhXiêng Khoảng, Bôlykhămxay của Lào với Nghệ An của Việt Nam trong cácgiai đoạn tiếp theo
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic,kết hợp với một số phương pháp khác như: thống kê, so sánh, phân tích, tổnghợp, điền dã … để giải quyết các vấn đề liên quan đến nội dung đề tài
6 Đóng góp của luận văn
- Luận văn bước đầu hệ thống hoá quan hệ hợp tác trong lĩnh vực vănhóa, giáo dục và y tế giữa các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay với tỉnhNghệ An từ năm 1976 đến năm 2012
- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp thêm tư liệu về mối quan hệ đặcbiệt Lào - Việt Nam trong thời kỳ hai nước thực hiện đường lối đổi mới
- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp thêm những cơ
sở thực tiễn và có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc hoạch địnhđường lối chiến lược hợp tác giữa hai khu vực trong các giai đoạn tiếp theo
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung
của luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở hợp tác văn hóa, giáo dục và y tế giữa các tỉnh Xiêng
Khoảng, Bôlykhămxay của Lào với Nghệ An của Việt Nam
Chương 2: Hợp tác văn hóa, giáo dục và y tế giữa các tỉnh Xiêng
Khoảng, Bôlykhămxay của Lào với Nghệ An của Việt Nam từ năm 1976 đếnnăm 2012
Chương 3: Nhận xét về hợp tác văn hóa, giáo dục và y tế giữa các tỉnh
Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay của Lào với Nghệ An của Việt Nam
Trang 19Chương 1
CƠ SỞ HỢP TÁC VĂN HÓA, GIÁO DỤC VÀ Y TẾ
GIỮA CÁC TỈNH XIÊNG KHOẢNG, BÔLYKHĂMXAY CỦA LÀO
VỚI NGHỆ AN CỦA VIỆT NAM
1.1 Cơ sở địa - chính trị, kinh tế và văn hoá
1.1.1 Cơ sở địa - chính trị, kinh tế
Các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay của Lào có vị trí địa lý liền kềvới Nghệ An của Việt Nam Giữa hai khu vực có chung 419 km đường biêngiới (chiếm gần 1/5 chiều dài đường biên giới Lào - Việt Nam)
Tỉnh Xiêng Khoảng thuộc khu vực Đông - Bắc Lào, phía Tây giáp tỉnhLuông Phrabăng, phía Tây - Nam giáp Viêng Chăn, phía Nam giáp tỉnhBôlykhămxay, phía Đông giáp Nghệ An của Việt Nam (có chung 136 kmđường biên giới với Nghệ An) Tỉnh Xiêng Khoảng có 9 huyện thị: NoọngHét (Nonghed), Mường Khăm (Kham), Mường Pẹc (Pek), Phu Cút(Phookood), Mường Khun (Khoune), Mường Moọc (Morkmay), Phạ Xay(Phaxay), Tha Nôm (Thanoom) và thị xã Phôn Xa Vẳn (Phongsavand) Tổngdiện tích đất tự nhiên của tỉnh Xiêng Khoảng là 16.050,5 km2, trong đó đồinúi chiếm 90%, chỉ có khoảng 12.000 ha ruộng nước So với mặt nước biển,
độ cao bình quân của tỉnh Xiêng Khoảng từ 1.500 m đến 1.800m (cao nhất làđỉnh núi Phu Bia với 2.820 m)
Tiếp giáp phía Nam tỉnh Xiêng Khoảng là Bôlykhămxay TỉnhBôlykhămxay được thành lập năm 1983 (trên cơ sở nhập một phần của tỉnhViêng Chăn với một phần của tỉnh Khăm Muộn) Tỉnh Bôlykhămxay thuộckhu vực Bắc - Trung Lào, phía Nam giáp Khăm Muộn, phía Tây - Bắc giápViêng Chăn, phía Tây - Nam giáp tỉnh Nakhonphanôm của Thái Lan và phíaĐông giáp Nghệ An, Hà Tĩnh của Việt Nam Tỉnh Bôlykhămxay có 6 huyện
Trang 20thị: Bô Ly Khăm (Bolikhanh); Khăm Cớt (Khamkheuth); Pạc Xế (Paksane);Pạc Ka Dinh (Pakkading); Tham Ma Sat (Thapabath) và Viêng Thoong(Viengthong) Trong tổng số 14.863 km2 đất tự nhiên của tỉnh Bôlykhămxay,núi và trung du chiếm hơn 2/3 diện tích Địa hình tỉnh Bôlykhămxay nghiêngdần theo hướng từ Đông sang Tây, từ dãy Phu Luông (giáp Nghệ An và HàTĩnh của Việt Nam) thấp dần xuống lưu vực sông Mê Công, từ độ cao từ
3000m giảm dần xuống 700m Bôlykhămxay là một trong những tỉnh của Lào
có đồng bằng tương đối rộng lớn, khá thuận lợi cho việc phát triển kinh tếnông nghiệp
Nghệ An thuộc khu vực Bắc Trung bộ của Việt Nam, là láng giềng gầngũi với các tỉnh Hủa Phăn, Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay của Lào
Tỉnh Nghệ An nằm ở toạ độ từ 180 50’ 00’’đến 190 25’ 00” vĩ độ Bắc và
từ 1020 52’ 53’’ đến 1050 45’ 50’’ kinh độ Đông, phía Bắc giáp Thanh Hoá, phíaNam giáp Hà Tĩnh, phía Đông giáp biển Đông và phía Tây giáp 3 tỉnh củaLào là Hủa Phăn, Xiêng Khoảng và Bôlykhămxay Tỉnh Nghệ An có 20huyện thị: Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Quế Phong, Quì Châu, QuìHợp, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Anh Sơn, Đô Lương, Thanh Chương, Nghi Lộc,Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu, Nam Đàn, Hưng Nguyên, thị xã Cửa Lò,thị xã Thái Hoà, thị xã Hoàng Mai và thành phố Vinh Nghệ An là một trongnhững tỉnh có địa hình đa dạng, bị chia cắt bởi nhiều núi, đồi, sông, suối,nghiêng từ Tây - Bắc xuống Đông - Nam Trong tổng số 16.487 km2 đất tựnhiên, núi và trung du chiếm 83% diện tích của tỉnh
Nếu như ví phía Bắc của dãy Trường Sơn là một nóc nhà, thì mái phíaTây là địa phận các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay của Lào, còn mái phíaĐông là địa phận Nghệ An của Việt Nam Không chỉ gần gũi về địa lý, haikhu vực trên còn có một số điểm tương đồng về tự nhiên Phần lớn diện tíchđất tự nhiên của hai khu vực là núi và trung du Núi và trung du chiếm khoảng
Trang 2190% diện tích các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay và hơn 80% diện tíchđất tự nhiên của Nghệ An Hai khu vực đều nằm trong vành đai khí hậu nhiệtđới, có nhiệt độ trung bình và độ ẩm tương đối cao Nhiệt độ trung bình hàngnăm của hai khu vực từ 24oC đến 36oC, độ ẩm khoảng 83% đến 85% Lượngmưa trung bình hàng năm khá lớn, của các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay
là 1.450mm, của Nghệ An là từ 1.800 đến 2.400mm Với khí hậu nóng lắm, mưanhiều kết hợp với địa hình đồi núi có độ dốc cao, hai khu vực có điều kiệnthuận lợi để phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp, nhưng đồng thời phải thườngxuyên đối mặt với thiên tai như hạn hán, bão, lụt và lũ quét… Các tỉnh XiêngKhoảng, Bôlykhămxay của Lào và miền Tây Nghệ An đều nằm trong dãy đấtbadan hoá, rất thuận lợi để phát triển các loại cây công nghiệp dài ngày như
cà phê, cao su, chè, đồng thời có nhiều khu sinh thái để phát triển du lịch
Sự gần gũi về địa lý kết hợp với những điểm tương đồng về địa hình,khí hậu, đất đai giữa hai khu vực là tiền đề để nhân dân các tỉnh XiêngKhoảng, Bôlykhămxay của Lào và Nghệ An của Việt Nam sớm xác lập mốiquan hệ “láng giềng thân thiện” trong lao động sản xuất cũng như trong sinhhoạt tinh thần
Các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay của Lào và Nghệ An của ViệtNam là những khu vực có nhiều tiềm năng để phát triển văn hóa và du lịch.Cánh đồng Chum (tỉnh Xiêng Khoảng) vừa là một di tích lịch sử - văn hoá cógiái trị, vừa là khu vực có vị trí chiến lược trong các cuộc đấu tranh bảo vệnền độc lập của nhân dân Lào Cánh đồng Chum được ví như “nóc nhà củaLào” Người Lào cho rằng ai làm chủ Cánh đồng Chum thì coi như người ấy
đã cưỡi lên bành voi và làm chủ được nước Lào [43; tr87]
Tỉnh Nghệ An được ví như “điểm giữa của chiếc đòn gánh”, gánh haiđầu đất nước Việt Nam Đây là khu vực đất rộng, người đông Từ Nghệ An cóthể thông thương, đi lại với các tỉnh thành khác của Việt Nam và các nước
Trang 22trên thế giới bằng đường bộ (Quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh), đường sắt(đường sắt Bắc - Nam), đường hàng không (Cảng hàng không Vinh), đườngthuỷ (cảng biển Cửa Lò) Với các nước trong khu vực Đông Nam Á lục địa,nhất là với Lào, từ Nghệ An có thể theo Quốc lộ 7A sang tỉnh Xiêng Khoảngqua cửa khẩu Quốc tế Nậm Cắn (huyện Noọng Hét) - Nậm Cắn (huyện KỳSơn), Quốc lộ 8A sang tỉnh Bôlykhămxay qua cửa khẩu Quốc tế Nậm Phao(huyện Khăm Cớt) - Cầu Treo (huyện Hương Sơn), hoặc các tuyến đường 46,
48 qua các cửa khẩu Quốc gia: Nậm On (huyện Khăm Cớt) - Thanh Thuỷ(Thanh Chương); Ta Đo (huyện Noọng Hét) - Ta Đo (huyện Kỳ Sơn); SốpPèn (huyện Sầm Tớ) - Thông Thụ (huyện Quế Phong)… và hàng chục conđường mòn do nhân dân dọc hai bên biên giới tự mở Mạng lưới giao thôngnối liền hai bên đã khắc phục hạn chế do địa hình tạo ra, góp phần tạo điềukiện cho sự giao lưu kinh tế cũng như văn hóa và du lịch giữa hai khu vực
Không chỉ có vị trí địa lý, các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay củaLào và Nghệ An của Việt Nam còn là những khu vực có nhiều tiềm năng, thếmạnh để phát triển kinh tế, văn hóa và du lịch
Mặc dù núi và trung du chiếm khoảng 90% diện tích đất tự nhiên,không thuận lợi trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp, nhưng các tỉnhXiêng Khoảng, Bôlykhămxay của Lào lại có nguồn tài nguyên, khoáng sảnrất phong phú và tiềm năng lớn về thuỷ năng, du lịch Các tỉnh này có nhữngcánh rừng bạt ngàn với nhiều loại gỗ quí như đinh hương, pơ mu, sa mu, lim,
…có thể khai thác hàng triệu m3 gỗ/năm để phục vụ sản xuất, đời sống vàxuất khẩu; có nhiều loại động vật quí hiếm như voi, hổ, sao la… và nhiều loạidược liệu quí hiếm để chế biến đông dược
Không chỉ giàu tài nguyên rừng, khu vực này còn có nguồn tài nguyênkhoáng sản rất phong phú Các mỏ vàng, thiếc, chì… ở Cánh đồng Chum(tỉnh Xiêng Khoảng), sắt, bô xít, thạch cao, kaly… ở các huyện Tham Ma sát,
Trang 23Khăm Cớt (tỉnh Bôlykhămxay), Hỉn Bun, Bua La Pha (tỉnh Khăm Muộn) lànhững tiềm năng to lớn để các tỉnh của Lào phát triển ngành công nghiệp khaikhoáng Ngoài ra, khu vực này với hệ thống núi đá vôi đã để lại nhiều hangđộng có giá trị du lịch
Hệ thống sông, suối ngắn và dốc của các tỉnh các tỉnh Xiêng Khoảng,Bôlykhămxay thường gây ra những trận lũ quét nguy hiểm, nhưng mặt kháclại tạo cho khu vực này tiềm năng lớn để xây dựng các công trình thuỷ điện
và phát triển du lịch Thượng nguồn sông Cả (tỉnh Xiêng Khoảng) hay cáccon sông Nậm Ngạt, Nậm Ngừm, Nậm Mộ đều có các thác nước với độ dốccao, có thể xây dựng các công trình thuỷ điện vừa và nhỏ để sản xuất điệnnăng phục vụ sản xuất, đời sống và xuất khẩu
Ngoài ra, còn phải kể tới tiềm năng khác để phát triển du lịch tại cáctỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay Suối nước nóng Bò Nhảy (suối lớn) và BòNọi (suối bé) ở Mường Moọc, di tích Thẩm Piu (huyện Mường Khăm), cácngôi chùa, tháp cổ ở huyện Mường Khun và nhất là Cánh đồng Chum của tỉnhXiêng Khoảng là những điểm du lịch có giá trị Cánh đồng Chum (ThoongHay Hín) không chỉ là khu di tích lịch sử - văn hoá nổi tiếng mà còn trở thànhhuyền thoại của đất nước Lào Nơi đây hàng năm đã thu hút hàng vạn lượt dukhách trong và ngoài nước [88, tr.265]
Cũng như các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay của Lào, Nghệ An củaViệt Nam không chỉ có tiềm năng để phát triển kinh tế, mà còn có nhiều điềukiện để phát triển văn hóa, giáo dục và y tế
Tuy không có khoảng không gian rộng lớn như đồng bằng Bắc bộ hayNam bộ, nhưng vùng duyên hải Nghệ An cũng có điều kiện thuận lợi để canhtác các loại cây lương thực như lúa, ngô, khoai và nhiều loại cây công nghiệpngắn ngày như lạc, đậu, vừng Còn khu vực miền Tây có điều kiện để pháttriển các loại cây công nghiệp dài ngày như cà phê, cao su, chè
Trang 24Với hơn 80 km bờ biển, Nghệ An có thế mạnh để phát triển ngành vậntải biển, đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản, phát triển nghề muối và đặc biệt là dulịch với các bãi biển như Hòn Câu, Diễn Thành, Bãi Lữ và Cửa Lò.
Theo số liệu điều tra dân số năm 2009, tỉnh Nghệ An có 3,2 triệungười, trong đó có 1,8 triệu người đang trong tuổi lao động Nghệ An nằmtrong số những tỉnh của Việt Nam có nguồn nhân lực dồi dào và số cán bộ cótrình độ kỹ thuật đông đảo
Những tiềm năng sẵn có của các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxaycũng như những thế mạnh của Nghệ An là điều kiện thuận lợi để hai bên đẩymạnh hợp tác không chỉ trong lĩnh kinh tế, mà cả văn hóa, giáo dục và y tế
1.1.2 Cơ sở văn hoá
Mối quan hệ giữa các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay của Lào vớiNghệ An của Việt Nam không chỉ bắt nguồn từ sự gần gũi về địa lý, nhữngnét tương đồng về điều kiện tự nhiên, mà còn xuất phát từ những điểm tươngđồng về văn hóa - xã hội
Trên địa bàn các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay của Lào và Nghệ Ancủa Việt Nam có nhiều tộc người chung sống Tuy khác nhau về nguồn gốc vàlịch sử cư trú, nhưng thông qua lao động sản xuất, trao đổi sản phẩm và giaolưu văn hóa, giữa các tộc người dần dần có mối quan hệ gần gũi, thân thiết
Các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay của Lào là địa bàn cư trú củangười Lào Lùm (cư dân nói tiếng Thái, chủ yếu sống ở vùng đồng bằng vàven sông suối), Lào Thơng (cư dân bản địa, chủ yếu sống ở vùng trung du) vàLào Xủng (cư dân nói tiếng H’Mông - Dao, chủ yếu sống trên vùng núi cao).Ngoài ra, ở đây còn có một số kiều bào, chủ yếu là Việt kiều và Hoa kiều(chiếm khoảng 0,5% dân số) Theo số liệu điều tra năm 2010, tỉnh XiêngKhoảng có 228.882 người (trong đó người Lào Lùm chiếm 57%, người LàoXủng chiếm 34%, người Lào Thơng chiếm 8,5%); tỉnh Bôlykhămxay có
Trang 25214.900 người (trong đó có 78% người Lào Lùm, 13,5% người Lào Xủng và8% người Lào Thơng) Quá trình định cư của các tộc người tại khu vực nàydiễn ra không đồng nhất Người Lào Thơng là cư dân bản địa, chủ nhân củavăn hoá Cánh đồng Chum Người Lào Lùm có mặt muộn hơn, từ khoảng thế
kỷ VIII đến thế kỷ XIII, XIV Người Lào Xủng có mặt vào khoảng cuối thế
kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, muộn hơn rất nhiều so với người Lào Thơng vàngười Lào Lùm Còn Việt kiều và Hoa kiều có mặt ở khu vực này với nhiều
lý do và bằng nhiều con đường khác nhau
Ở Nghệ An, người Việt (Kinh) chiếm đa số với hơn 90% dân số Cùngchung sống với người Việt có các tộc người Thái, Thổ, Mường, Ơ Đu, Tày,Khơ Mú, H’Mông … Người Việt chủ yếu định cư vùng đồng bằng ven biển,còn các tộc người thiểu số định cư ở vùng núi và trung du (thuộc miền TâyNghệ An) Cũng giống như tại các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay củaLào, quá trình định cư của các tộc người ở Nghệ An của Việt Nam diễn rakhông đồng nhất Trong khi người Việt, chủ nhân của nền văn minh VănLang - Âu Lạc, có mặt ở đây từ rất sớm, thì các tộc người khác lại có mặtmuộn hơn nhiều Mặc dù vậy, thông qua lao động sản xuất, sinh hoạt tinhthần và nhất là thông qua các cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung, các tộcngười ở khu vực này đã sớm đoàn kết gắn bó với nhau
Trong số các tộc người cùng chung sống tại các tỉnh Xiêng Khoảng,Bôlykhămxay của Lào và Nghệ An của Việt Nam có một số tộc người là đồngtộc như người Thái, người H’Mông Có thể là “do nhu cầu đi tìm những vùngđất mới để định cư; sự trốn chạy ách áp bức nặng nề; tập quán sống du canh
du cư; sự tranh chấp giữa các tập đoàn thống trị”, cũng có thể là “do giặc giã”[69; tr179], nên từ vùng Tây - Nam Trung Quốc người Thái đã di cư thànhtừng đợt xuống khu vực Đông Nam Á lục địa Hiện nay, trong số gần 600nghìn dân tại các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay của Lào có khoảng hơn
Trang 26400 nghìn người Thái (Lào Thay hay Lào Lùm), chiếm hơn 2/3 dân số của cảkhu vực Trong tổng số hơn 1,5 triệu người Thái sống trên đất Việt Nam, cókhoảng 300 nghìn người định cư tại miền Tây Nghệ An [69; tr224] Yếu tốđồng tộc cùng với việc bảo lưu những giá trị văn hoá truyền thống của ngườiThái là sợi dây vô hình kết nối người Lào Thay ở các tỉnh Xiêng Khoảng,Bôlykhămxay với người Thái ở tỉnh Nghệ An Cũng giống như người Thái,yếu tố dòng họ chi phối cuộc sống và sinh hoạt của người H’Mông rất sâu sắc.
Dù ở bên này hay biên kia biên giới, họ vẫn duy trì quan hệ chặt chẽ với nhau.Người H’Mông ở Nghệ An vẫn coi Noọng Hét (tỉnh Xiêng Khoảng) là quêhương bản quán của mình
Trong hoạt động kinh tế, hầu hết các tộc người của hai khu vực đều lấynông nghiệp làm ngành kinh tế chính Dựa vào đặc điểm địa hình của khuvực, người Lào ở các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay và người Việt, ngườiThái ở Nghệ An chủ yếu canh tác lúa nước Từ rất sớm, người Lào và ngườiViệt đều đã biết sản xuất nông nghiệp bằng cày, bừa, cấy, hái và đã biết xâydựng hệ thống thuỷ lợi để phục vụ tưới tiêu, như đắp đập (phai) để giữ nướchoặc làm mương để dẫn nước vào đồng ruộng Các tộc người thiểu số chủ yếucanh tác trên nương rẫy Họ duy trì khá lâu dài lối sống du canh du cư vớiphương thức hoả canh là chính Cùng với hoạt động sản xuất nông nghiệp,các tộc người ở hai khu vực đã sớm phát triển một số nghề thủ công như đanlát, mộc, rèn, quay tơ, dệt vải… Họ sớm biết khai thác các nguồn lâm sảnnhư gỗ, song, mây, tre để làm nhà cửa, sản xuất dụng cụ lao động và đồ dùngsinh hoạt gia đình, săn bắn các loài thú để làm thực phẩm, khai thác các loạidược liệu để chữa bệnh, trồng bông, trồng dâu nuôi tằm để quay tơ, dệt vải…
Về văn hoá vật chất, kiến trúc nhà cửa và trang phục (nhất là của nữgiới) của một số tộc người ở hai khu vực có nhiều nét tương đồng Nhà sàn làmột trong những đặc trưng của văn hoá kiến trúc khu vực Đông Nam Á Đây
Trang 27cũng là loại hình kiến trúc nhà cửa truyền thống của một số tộc người thiểu số
ở hai khu vực này Theo một số nhà nghiên cứu, ngôi nhà sàn của người Thái
ở Nghệ An có nhiều nét khác biệt so với ngôi nhà sàn của người Thái ở TâyBắc Việt Nam, nhưng lại có nhiều điểm giống với ngôi nhà sàn của người Lào
ở Xiêng Khoảng: “Người Thái ở Tây Bắc thích trang trí hai đầu hồi của nócnhà các kiểu “khâu cút” (sừng cụt), còn một số địa phương của Nghệ Tĩnh,người Thái có cách trang trí gần giống với người Phù Thay ở Lào, được gọi là
“huống chạng” (vòi voi)” [69; tr175] Nhà sàn thường được lợp bằng các loại
lá cọ hay cỏ tranh, vách thưng bằng tre, nứa hay ván gỗ, hướng nhà thườngngoảnh ra các cánh đồng hoặc khe suối, mặt sau tựa vào núi Hình dáng ngôinhà sàn của người Thái ở Nghệ An cho ta liên tưởng tới hình bóng của mộtcon trâu, là con vật có vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp của cáctộc người ở khu vực này [69; tr175]
Một số tộc người, nhất là người Lào Thay ở tỉnh Xiêng Khoảng vàngười Thái ở Nghệ An không chỉ có trang phục giống nhau, mà ngay cả nghệthuật trang trí trên sản phẩm dệt của họ cũng có nhiều nét tương đồng Phụ nữThái có thói quen mặc váy với nhiều kiểu dáng Đó là những sản phẩm dochính bàn tay họ làm ra, từ khâu trồng bông, trồng dâu nuôi tằm, cán bông,bật bông, kéo sợi, quay tơ, dệt vải cho đến hấp nhuộm Một số nghệ thuậttrang trí trên sản phẩm dệt hiện nay của người Thái ở Nghệ An, được tiếp thu
từ nghệ thuật trang trí của người Lào như cách trang trí các tấm “khít” (chănLào), cạp váy, chân váy, cũng như các loại túi thổ cẩm… Có thể nói “rất khóphân biệt một cách rành mạch trong số những sản phẩm này đâu là của ngườiThái, đâu là của người Lào, bởi vì từ xa xưa hai nền văn hoá này đã có sựgiao lưu và tiếp thu ảnh hưởng của nhau một cách sâu sắc” [69; tr164]
Trong lĩnh vực văn hoá tinh thần, cư dân các tỉnh Xiêng Khoảng,Bôlykhămxay của Lào và Nghệ An của Việt Nam có mối liên hệ khá bền
Trang 28chặt Phong tục tập quán trong các dịp lễ, tết hay cưới hỏi, ma chay vẫn đượcbảo lưu các yếu tố truyền thống, đồng thời có sự tiếp thu và chịu ảnh hưởngcủa các tộc người xung quanh Một người đi săn được một con thú cả bảncùng được hưởng, một nhà có việc vui hay buồn cả bản cùng chung tay loliệu Đó là những nét đẹp văn hoá luôn được các tộc người của hai khu vựcduy trì Ngay cả một số tập tục lạc hậu, như chữa bệnh bằng cách mời thầy
mo về làm lễ đuổi tà ma, hay tục “bắt vợ”, “ở rể” hiện vẫn được nhiều tộcngười của hai khu vực, nhất là các tộc người định cư dọc hai bên biên giớiduy trì Người bên này hay bên kia biên giới sang thăm viếng lẫn nhau, cùngchung vui trong các ngày lễ hội, cùng xẻ chia công việc trong những lúc tanggia, hoạn nạn, hay dựng vợ gả chồng Ngay cả hiện nay, khi đường biên giớigiữa hai nước đã được hoạch định, cắm mốc Quốc giới, việc qua lại thăm thângiữa các tộc người vẫn diễn ra khá phổ biến Một số trò chơi dân gian, một sốlàn điệu dân ca vốn là của một tộc người bên này hay bên kia biên giới, dầndần đã trở thành các trò chơi, các làn điệu được nhiều tộc người ưa thích Tínngưỡng của các tộc người ở khu vực giáp biên có nhiều điểm tương đồng.Cùng với việc lưu giữ các tín ngưỡng dân gian như thờ cúng Trời, Đất, Thầnlinh, các tộc người ở đây đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của Phật giáo, họ sốngchân thành, mộc mạc, thương yêu và đùm bọc lẫn nhau, sẵn sàng giúp đỡnhau, tạo điều kiện cho nhau trong cuộc sống cũng như trong sinh hoạt
Văn hoá tinh thần là món ăn không thể thiếu của mỗi con người cũngnhư của cả một tộc người Tiếp thu và chịu ảnh hưởng về văn hoá tinh thầngiữa các tộc người là qui luật tất yếu nhằm làm giàu văn hoá dân tộc mình Sựgiao lưu, tiếp thu văn hoá giữa các tộc người ở các tỉnh Xiêng Khoảng,Bôlykhămxay của Lào và Nghệ An của Việt Nam chính là sợi dây vô hình kếtnối họ với nhau, giúp họ đoàn kết gắn bó cùng nhau trong lao động sản xuất,sinh hoạt cũng như trong các cuộc đấu tranh để bảo vệ quê hương đất nước
Trang 29qua các thời kỳ lịch sử Đây cũng là cơ sở quan trọng để hai bên củng cố vàtăng cường quan hệ hợp tác trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục và y tế, nhằmkhông ngừng đáp ứng nhu cầu sinh hoạt ngày càng cao của nhân dân.
1.2 Truyền thống lịch sử
1.2.1 Quan hệ giữa hai khu vực trước năm 1945
Theo ghi chép của các thư tịch cổ, ngay từ thời kỳ Bắc thuộc, mối quan
hệ kinh tế, văn hoá và quân sự giữa cư dân hai khu vực đã hình thành và phát
triển [90; tr34] Trong thời kỳ này, nhiều thủ lĩnh của các cuộc khởi nghĩa đã
dựa vào sự giúp đỡ của nhân dân Ai Lao để lập căn cứ chống giặc hoặc muasắm lương thực, thực phẩm và vũ khí Năm 550, Lý Thiên Bảo (anh trai của
Lý Nam đế) dựa vào người Ai Lao lập căn cứ ở Dã Năng để chống lại quânxâm lược nhà Lương Năm 712, Mai Thúc Loan nhận được sự ủng hộ và giúp
đỡ tích cực của nhân dân Vạn Tượng trong cuộc khởi nghĩa Hoan Châu chốnglại ách đô hộ của nhà Đường
Trong thời kỳ trung đại, Nghệ An được coi là khu vực phên dậu phíaTây - Nam của nhà nước phong kiến Đại Việt Vùng đất này tuy không cónhiều dấu ấn trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược phương Bắcnhưng có thể coi là tấm gương phản chiếu quan hệ thăng trầm của Đại Việt đốivới Vương quốc Lan Xang qua các thời kỳ lịch sử Ngoài mối quan hệ giao lưutrao đổi thường nhật của cư dân dọc hai bên biên giới, vùng đất này còn để lạinhiều dấu ấn về sự nương tựa, giúp đỡ lẫn nhau của cộng đồng cư dân hai bên.Nhiều thủ lĩnh của các cuộc khởi nghĩa đã dựa vào địa thế hiểm trở vùng giápranh giữa các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay của Lào và Nghệ An để xâydựng và phát triển lực lượng Trong buổi đầu của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn(thế kỷ XV), Lê Lợi dựa vào nhân dân Thanh Hoá, Nghệ An và nhân dân Lào(dọc biên giới với khu vực Thanh - Nghệ) để đảm bảo công tác hậu cần Năm
1696, khi triều đình Lan Xang có biến, Hoàng tử Triều Phúc đã cùng triều thần
Trang 30đến lánh nạn ở miền Tây Thanh - Nghệ Đầu thế kỷ XIX, không cam chịu ách
đô hộ của phong kiến Xiêm, Chậu A Nụ đã tập hợp lực lượng đứng lên khởinghĩa Mỗi khi thất thế, ông đều rút quân về vùng Trấn Ninh - Trịnh Cao - QuiHợp (miền Tây Nghệ An) để bảo tồn và củng cố lực lượng Có thể nói, ngay từthời kỳ cổ trung đại, trong con mắt của người Lào cũng như người Việt, cáctỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay của Lào và Nghệ An của Việt Nam là nhữngkhu vực có địa thế hết sức quan trọng để mưu nghiệp lớn
Bên cạnh những ghi chép về quan hệ quân sự - chính trị, một số thưtịch cổ của Việt Nam cũng đã ít nhiều phản ánh quan hệ kinh tế, văn hoá - xãhội giữa cư dân các tỉnh của Lào với cư dân Nghệ An Theo ghi chép của LêQuí Đôn, phía Tây trấn Nghệ An là nơi người Lào thường mang trâu, bò vàcác sản vật đến để bán, đổi cho người Việt để lấy đồ sắt và các vật dụng khác
Từ cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp lần lượt tiến hành xâm lược ViệtNam, Cămpuchia và Lào, lập ra Đông Dương thuộc Pháp Từ đây, nhân dân
ba nước Đông Dương cùng chung một kẻ thù Chính sách cai trị và bóc lột tànbạo của thực dân Pháp đã làm cho nhân dân Đông Dương bị bần cùng hoánặng nề, kinh tế - xã hội biến đổi sâu sắc, nhưng vô hình trung đã tạo điềukiện cho họ xích lại gần nhau hơn
Hòa trong phong trào chống xâm lược, giải phóng dân tộc của nhân dânĐông Dương, mối quan hệ giữa nhân dân các tỉnh Xiêng Khoảng,Bôlykhămxay của Lào với Nghệ An của Việt Nam tiếp tục phát triển
Ngay sau khi thực dân Pháp bình định xong Việt Nam, phong trào CầnVương đã rầm rộ diễn ra Tuy nhiên, các cuộc khởi nghĩa trong phong tràoCần Vương đã lần lượt bị thất bại Trước tình trạng bế tắc về đường lối cứunước, một số sĩ phu văn thân có tinh thần yêu nước chủ trương cứu nước, giảiphóng dân tộc theo con đường dân chủ tư sản Tiêu biểu cho xu hướng mớitrong phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX là Phan Bội Châu với “xu hướng
Trang 31bạo động” và Phan Chu Trinh với “xu hướng cải lương” Đi theo xu hướngbạo động của Phan Bội Châu, nhiều thanh niên yêu nước Nghệ An đã bí mậtvượt biên sang Lào, rồi từ đó sang Thái Lan, Trung Quốc để hoạt động: “Đốivới phong trào Phan Bội Châu, con đường sang Lào có một vai trò đặc biệtquan trọng” [63; tr106] Tiếp sau phong trào xuất dương tìm đường cứu nướctheo tư tưởng của Phan Bội Châu, nhiều thanh niên yêu nước khác ở Nghệ Antiếp tục chọn con đường vượt biên sang Lào để tìm đường cứu nước theo tưtưởng của Nguyễn Ái Quốc Trong quá trình hoạt động tại Lào, họ đã đượcnhân dân Lào đùm bọc, che chở
Sự ra đời Đảng Cộng sản Đông Dương (năm 1930) đã tạo ra bướcngoặt trong lịch sử cách mạng ba nước Việt Nam, Lào và Cămpuchia Ngaysau khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời, ngọn lửa Xô viết Nghệ Tĩnh đãbùng lên mạnh mẽ, có tác động to lớn đối với sự nghiệp giải phóng dân tộccủa ba nước Đông Dương Sau khi Xô viết Nghệ Tĩnh bị thất bại, để tránh sựkhủng bố của thực dân Pháp và tiếp tục hoạt động cách mạng, nhiều người đãtrốn sang các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay Tại đây, họ được nhân dânLào hết lòng giúp đỡ Trong thời kỳ Mặt trận dân chủ Đông Dương (1936 -1939), nhân dân thị xã Phônxavẳn (tỉnh Xiêng Khoảng) đã tiến hành nhiềucuộc mít tinh, biểu tình và bãi công Tham gia các cuộc đấu tranh đó có nhiềuđảng viên cộng sản và công nhân người Việt Nam đang làm việc ở Lào SauHội nghị BCHTƯ Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ VIII (tháng 5 - 1941),cùng với sự ra đời của “Việt Nam độc lập Đồng minh hội”, “Cao Miên độclập Đồng minh hội”, “Ai Lao độc lập Đồng minh hội” đã được thành lập.Nhiều người Nghệ An đang sinh sống và làm việc tại các tỉnh Xiêng Khoảng,Bôlykhămxay đã tham gia tổ chức này
Sau khi phát xít Nhật đầu hàng quân Đồng minh không điều kiện (15
-8 - 1945), nhân dân Việt Nam đã chớp thời cơ, tiến hành cuộc Tổng khởi
Trang 32nghĩa tháng Tám thắng lợi, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà vào ngày
2 - 9 - 1945 Cũng trong thời gian này, nhân dân Lào đã vùng lên khởi nghĩa.Ngày 12 - 10 - 1945, Chính phủ Lào Ixala đã tuyên bố độc lập Trong cuộckhởi nghĩa giành chính quyền ở Lào, các chiến sĩ cách mạng người Việt đanghoạt động trên đất Lào và một số bà con Việt kiều đã tích cực tham gia, nhất
là tại các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay
1.2.2 Quan hệ giữa hai khu vực từ năm 1945 đến năm 1975
1.2.2.1 Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954)
Trong 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược,quân và dân Nghệ An vừa phối hợp chặt chẽ với quân và dân Xiêng Khoảng,Bôlykhămxay trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, vừa tạo điều kiện cho các
cơ quan, đơn vị của Pathét Lào hoạt động trong thời gian đóng trên đất Nghệ
An và giúp đỡ nhân dân Lào sơ tán
Sự phối hợp chiến đấu, phục vụ chiến đấu của quân và dân hai khu vựcdiễn ra ngay sau khi Cách mạng tháng Tám ở Việt Nam và Khởi nghĩa giànhchính quyền ở Lào giành thắng lợi Trong khi nhân dân hai khu vực đang hânhoan mừng thắng lợi của cách mạng, số tàn quân Pháp đã đánh chiếm các vịtrí quan trọng án ngữ trên các trục đường giao thông nối liền hai khu vực,nhằm làm bàn đạp để tiến về phía Tây lẫn phía Đông Mặc dù còn rất nhiềukhó khăn, gian khổ, nhưng quân và dân Nghệ An đã phối hợp chặt chẽ vớiquân và dân các tỉnh Xiêng Khoảng, Khăm Muộn để chặn đánh địch Chi độiquân giải phóng Đội Cung tỉnh Nghệ An cùng lực lượng tự vệ các huyệnThanh Chương, Anh Sơn, Con Cuông phối hợp với quân và dân tỉnh XiêngKhoảng tập kích quân Pháp ở đồn Noọng Hét
Năm 1947, các địa phương miền Tây tỉnh Nghệ An đã tích cực chuẩn
bị hậu cứ cho các cơ quan đảng, chính quyền, quân đội các cấp của PathétLào hoạt động, đồng thời, tạo điều kiện cho nhân dân các tỉnh Xiêng
Trang 33Khoảng, Khăm Muộn sơ tán sang tránh giặc Với sự giúp đỡ của chínhquyền và nhân dân Nghệ An, Pathét Lào tổ chức thành công Đại hội thànhlập Uỷ ban vận động độc lập Lào phương Đông (Uỷ ban giải phóng ĐôngLào) tại huyện Kỳ Sơn.
Năm 1948, tỉnh Nghệ An tiếp tục cử thêm nhiều đội vũ trang sang hoạtđộng, gây dựng cơ sở tại Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay Cũng trong giai đoạnnày, trên cơ sở huy động nhân lực và vật lực tại Thanh Hóa, Nghệ An, HàTĩnh, Ban cán sự Đảng và Trung đoàn Trung Lào được thành lập Trung đoànnày đã nhanh chóng trở thành lực lượng nòng cốt trong các cuộc chiến đấutrên chiến trường Lào
Tháng 5 - 1950, Liên khu uỷ IV đã tổ chức hội nghị bàn các biện pháptăng cường giúp đỡ cách mạng Lào Hội nghị đã thống nhất tập trung lựclượng khống chế các đường giao thông nối liền hai nước, tích cực chuẩn bị vềmọi mặt cho bộ đội chủ lực đi sâu vào hoạt động tại các tỉnh của Lào, khẩntrương đào tạo cán bộ và phát triển các cơ sở Đảng tại Lào [85; tr88] Vớiphương châm “chính trị và quân sự đi đôi với nhau”, tỉnh Nghệ An được giaonhiệm vụ huy động nhân lực, vật lực cho các đơn vị chủ lực sang hoạt động
và chiến đấu tại Xiêng Khoảng, Khăm Muộn, đồng thời tạo mọi điều kiệngiúp đỡ Uỷ ban Đông Lào xây dựng và củng cố chính quyền các cấp từ tỉnh(khét), huyện (coóng) đến các xã, bản (tàxẻng)
Lo sợ trước sự lớn mạnh của lực lượng kháng chiến Lào và Việt Nam,thực dân Pháp đã tập trung lực lượng để phòng thủ Thượng Lào Âm mưu củathực dân Pháp là “biến Thượng Lào thành một cứ điểm quân sự mạnh để vừangăn chặn sự phối hợp hoạt động giữa Việt Nam và Lào, khống chế cuộckháng chiến của nhân dân Lào, vừa tạo thế uy hiếp thường xuyên vùng phía
Tây của khu vực hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh” [85; tr90] Thực hiện âm
mưu đó, thực dân Pháp đã xây dựng Sầm Nưa thành một cứ điểm mạnh Để
Trang 34đập tan âm mưu của thực dân Pháp, đưa cuộc kháng chiến của hai nước điđến thắng lợi, Trung ương Đảng và Chính phủ Việt Nam quyết định phối hợpcùng quân giải phóng Pathét Lào mở chiến dịch Thượng Lào Công tác hậucần cho chiến dịch “Trung ương giao cho Thanh Hoá, Nghệ An và một số
tỉnh khác như Hoà Bình, Sơn La chịu trách nhiệm” [85, tr.91].
Sau thắng lợi của chiến dịch Thượng Lào, Quân uỷ Trung ương ViệtNam quyết định phối hợp với Pathét Lào tiếp tục mở chiến dịch Trung và HạLào Tỉnh Nghệ An tiếp tục được giao nhiệm vụ làm công tác hậu cần cho Đạiđoàn 304 và Đại đoàn 325 Tháng 1 - 1954, tỉnh Nghệ An kết hợp với HàTĩnh và vùng giải phóng của Quảng Bình huy động 4 đợt dân công hỏa tuyếnvới 63.200 lượt người, 1.429 chiếc thuyền, 2.217 xe đạp thồ, 9 xe ô tô vận tải
để vận chuyển 3.409 tấn gạo, 154 tấn muối, 2.102 con trâu bò phục vụ chiếndịch [85; tr94] Để đảm bảo bí mật đến phút chót, Bộ chỉ huy chiến dịch quyếtđịnh không lập các kho trung chuyển, nên công tác hậu cần hết sức khó khănvất vả Các lực lượng làm công tác hậu cần đã khắc phục mọi khó khăn cungcấp đầy đủ lương thực, thực phẩm, thuốc men, đạn dược cho các chiến sĩ trênchiến trường Những chiến thắng quan trọng ở Khăm He, Banaphào, Đèo MụGiạ, Xavănakhét trong chiến dịch Trung và Hạ Lào có phần đóng góp lớncủa quân và dân Nghệ An
Thắng lợi của chiến dịch Trung và Hạ Lào đã góp phần quan trọng làmphá sản kế hoạch Nava, đưa cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 -
1954 đi đến thắng lợi cuối cùng bằng trận quyết chiến chiến lược Điện BiênPhủ, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, công nhận độc lập vàtoàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Cămpuchia
1.2.2.2 Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược (1954 1975)
Trang 35-Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, các tỉnh Xiêng Khoảng,Bôlykhămxay của Lào và Nghệ An của Việt Nam tiếp tục phối hợp chẽ tronglĩnh vực chính trị - quân sự, đồng thời bước đầu hợp tác và giúp đỡ lẫn nhautrong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, nhất là giúp đỡ vùng giải phóng của Làokhôi phục, hàn gắn vết thương chiến tranh để ổn định sản xuất và đời sốngcho nhân dân.
Nhận thức vị trí quan trọng của các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay
và Nghệ An trên cục diện chiến trường Đông Dương, Mỹ đã chỉ đạo chínhquyền Sài Gòn và chính quyền Viêng Chăn tổ chức các hoạt động gián điệp,biệt kích quấy phá vùng giáp biên giữa hai khu vực Giữa năm 1955, lợi dụngđịa hình hiểm trở, trình độ dân trí của nhân dân còn hạn chế, quân đội SàiGòn và quân đội Viêng Chăn đã bí mật vượt biên giới vào tỉnh Nghệ An, gâybạo loạn ở một số khu vực như Keng Đu, Mường Lống, Nà Ngòi (huyện KỳSơn), A Chốc (huyện Quế Phong) Mặt khác, Mỹ và tay sai nuôi dưỡng cácnhóm phỉ của Lê Văn Giáo, “Liên bang Thái tự trị” của Lò Văn Thi nhằm gâychia rẽ giữa các tộc người, nhất là giữa người Việt với người Lào Trước tìnhhình đó, Tỉnh uỷ Nghệ An đã phối hợp với Bộ Tư lệnh Quân khu IV triểnkhai lực lượng chốt giữ các cửa khẩu sang Lào và tấn công tiêu diệt bọn thổphỉ Hành động khẩn trương, kiên quyết của quân và dân Nghệ An đã nhanhchóng ổn định được tình hình biên giới phía Tây, tạo điều kiện cho bà con yêntâm lao động sản xuất, giữ vững khối đoàn kết các dân tộc
Từ năm 1965 trở đi, đồng thời với việc thực hiện chiến lược “Chiếntranh đặc biệt” ở Lào, đế quốc Mỹ đã tiến hành cuộc chiến tranh phá hoạimiền Bắc Việt Nam bằng không quân và hải quân Dưới mưa bom, bão đạncủa kẻ thù, quân và dân Nghệ An vừa tiếp tục đẩy mạnh sản xuất, vừa sẵnsàng chiến đấu, làm hậu phương cho chiến trường miền Nam và làm nghĩa vụquốc tế tại chiến trường Lào
Trang 36Từ năm 1969, đế quốc Mỹ tiếp tục thực hiện chiến lược “Chiến tranhđặc biệt tăng cường” nhằm giành lại thế chủ động trên chiến trường Lào Đểthực hiện chiến lược này, Mỹ đã tăng cường viện trợ cho Vàng Pao vũ khí,tiền bạc xây dựng căn cứ kiên cố ở Mường Moọc (tỉnh Xiêng Khoảng) Căn
cứ của Vàng Pao không những cắt đứt thế liên hoàn của vùng giải phóng Bắc
và Trung Lào, mà còn uy hiếp trực tiếp miền Tây Nghệ An Chính vì vậy,Quân uỷ Trung ương đã giao cho lực lượng vũ trang Quân khu IV và Tỉnh độiNghệ An phối hợp tấn công tiêu diệt căn cứ này Để thực hiện nhiệm vụ, Tỉnhđội Nghệ An đã huy động Tiểu đoàn 42 và Đại đội 211 của huyện TươngDương tham gia chiến đấu Ngày 16 - 2 - 1969, hai căn cứ quan trọng củaVàng Pao ở Mường Ngát và Tham Tạt đã bị xoá sổ Ngay sau thắng lợi này,lực lượng vũ trang Nghệ An tiếp tục tấn công vào Nâm Mộ, cửa ngõ vàotrung tâm Mường Moọc Để giành lại thế chủ động trên chiến trường Lào,tháng 7 - 1969, Mỹ và lực lượng thân Mỹ đã tập trung binh lực mở chiến dịch
“Cù Kiệt” đánh vào cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng Tỉnh Nghệ An đượcgiao nhiệm vụ tổ chức sơ tán cho hơn 2 vạn dân Xiêng Khoảng sang tránhđịch Chiến dịch “Cù Kiệt” diễn ra hết sức quyết liệt, nhưng với sự phối hợpchặt chẽ và đồng bộ của liên quân Lào - Việt nên đã giành thắng lợi
Sau khi buộc phải ký Hiệp định Pari về Việt Nam (ngày 27 - 1 - 1973),ngày 2 - 2 - 1973, Mỹ đã phải chấp nhận ký Hiệp định Viêng Chăn Sau Hiệpđịnh Viêng Chăn, nước Lào tạm thời chia làm ba vùng do ba lực lượng kiểmsoát Hình thái đấu tranh cách mạng ở Lào lúc này đã thay đổi, lực lượng cáchmạng Lào tập trung vào cuộc đấu tranh trong Chính phủ liên hiệp, vì vậy, lựclượng vũ trang Quân khu IV đã được lệnh rút về phía sau làm hậu thuẫn, giúpnhân dân vùng giải phóng của Lào khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triểnkinh tế, văn hóa
Trang 37Ngày 30 tháng 4 năm 1975, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử kết thúcthắng lợi, miền Nam Việt Nam hoàn toàn được giải phóng Thắng lợi củacách mạng Việt Nam đã cổ vũ và tạo điều kiện cho cách mạng Lào giànhthắng lợi cuối cùng Bộ chính trị Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã phátđộng toàn dân đứng dậy khởi nghĩa giành chính quyền Lực lượng vũ trangQuân khu IV đã khẩn trương triển khai kế hoạch hỗ trợ các địa phương Làonổi dậy đập tan chính quyền phản động, giành chính quyền về tay nhân dân.Trong cuộc khởi nghĩa tháng 5 - 1975, lực lượng vũ trang Quân khu IV đãphối hợp cùng lực lượng vũ trang Lào tiến hành đánh chiếm Sảm Thông -Long Chẹng (thủ phủ của Vàng Pao); giúp đỡ nhân dân Pạc Xế, Thà Khẹc nổidậy giành chính quyền; truy kích địch bỏ chạy dọc Đường 13… Thắng lợi củacuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Lào đã mở đường cho sự ra đời nướcCộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào (2 - 12 -1975) và đưa nước Lào bước vào
kỷ nguyên mới
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Lào thắng lợi,trước hết là nhờ vào sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Nhân dân Cáchmạng Lào, Mặt trận Lào yêu nước và tinh thần chiến đấu ngoan cường, dũngcảm của quân và dân Lào Đó cũng là thắng lợi của tình đoàn kết đặc biệt,liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung của nhân dân hai nước Việt - Lào.Trong thắng lợi vẻ vang đó, có một phần đóng góp không nhỏ cả về sứcngười lẫn sức của của quân và dân Nghệ An
Song song với sự phối hợp chiến đấu và phục vụ chiến đấu trên cácchiến trường, các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay của Lào với Nghệ Ancủa Việt Nam đã bước đầu hợp tác trong các lĩnh vực khác Tỉnh Nghệ An đãtích cực hỗ trợ, giúp đỡ vùng giải phóng các tỉnh Xiêng Khoảng,Bôlykhămxay khôi phục và phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế
Trang 38Hội nghị công tác miền Tây Thanh - Nghệ - Tĩnh (tháng 6 - 1958) tạithành phố Vinh (Nghệ An) do Đại tướng Võ Nguyên Giáp chủ trì không chỉtập trung bàn biện pháp xây dựng Đảng, chính quyền, lực lượng vũ trang điđôi với việc phát triển văn hoá, mở mang giao thông, xây dựng mạng lưới vậntải và thông tin liên lạc, nhằm mục tiêu xây dựng Thanh - Nghệ - Tĩnh thànhcăn cứ địa trực tiếp của miền Nam và Lào, mà còn “đề ra phương hướng, kếhoạch cụ thể để triển khai công tác viện trợ và giúp vùng giải phóng Lào khôi
phục, phát triển kinh tế, văn hoá” [43; tr112] Trên tinh thần của Hội nghị,
tỉnh Nghệ An vừa viện trợ lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm, vừa cử cácchuyên gia sang giúp đỡ nhân dân vùng giải phóng của Lào ổn định đời sống,phát triển sản xuất
Từ năm 1960 đến năm 1965, mặc dù đang ra sức phấn đấu cùng nhândân miền Bắc thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965) và làmnhiệm vụ hậu phương cho chiến trường miền Nam Việt Nam, tỉnh Nghệ An
ưu tiên chi viện và giúp vùng giải phóng của Lào Ngành nông nghiệp Nghệ
An đã cử các chuyên gia sang giúp nhân dân vùng giải phóng Xiêng Khoảngphát triển sản xuất lúa, ngô và các loại hoa màu để giải quyết khó khăn vềlương thực
Từ năm 1965 trở đi, sau khi chính phủ kháng chiến Lào đã chuyển vềSầm Nưa, vùng giải phóng Lào ngày càng được mở rộng, Đảng Nhân dân Làoquyết định xây dựng khu giải phóng theo mô hình của một quốc gia thu nhỏ,Nghệ An và một số tỉnh khác của Việt Nam đã cử các chuyên gia nôngnghiệp, lâm nghiệp, thuỷ lợi, văn hoá, giáo dục và y tế sang giúp đỡ kịp thời.Tháng 3 - 1967, Tỉnh uỷ Nghệ An đã quyết định thành lập Ban C (Ban miềnTây) với nhiệm vụ “tham mưu cho Tỉnh uỷ, Ủy ban Hành chính tỉnh các chủtrương, biện pháp vun đắp tình hữu nghị và hợp tác giữa Nghệ An với các
tỉnh của Lào, trước hết là tỉnh Xiêng Khoảng” [43; tr119]
Trang 39Tháng 12 - 1968, Đoàn đại biểu tỉnh Xiêng Khoảng do đồng chí Tỉnhtrưởng Xẩm Váng dẫn đầu đã sang thăm và làm việc với Tỉnh uỷ, Uỷ banHành chính tỉnh Nghệ An Trong chuyến thăm và làm việc này, hai bên đãlàm lễ kết nghĩa anh em và thống nhất phương án hợp tác, giúp đỡ nhautrong thời gian tới: “Nghệ An sẽ giúp Xiêng Khoảng các mặt nông nghiệp,thuỷ lợi, giao thông vận tải, thương nghiệp, y tế, văn hoá giáo dục, bằnghình thức cử cán bộ chuyên gia và một khối lượng giống, vật tư, thiết bị, kỹthuật… tạo điều kiện cho Xiêng Khoảng phát triển ở vùng căn cứ và vùnggiải phóng” [43; tr121].
Trong những năm từ 1969 đến 1975, quan hệ kinh tế, văn hóa, giáo dụcgiữa các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay với Nghệ An ngày càng đượctăng cường Tỉnh Nghệ An đã cử 12 đợt chuyên gia, viện trợ hơn 40 triệuđồng bằng hiện vật (lương thực, mắm muối, đường, sữa, xăng dầu, nông cụ vàchăn, màn, quần áo) giúp nhân dân tỉnh Xiêng Khoảng ổn định sản xuất vàđời sống [43; tr126] Đây cũng là giai đoạn hợp tác đào tạo giữa hai bên đượctriển khai thực hiện nhằm kịp thời đáp ứng yêu cầu cán bộ cho các tỉnh củaLào Bên cạnh việc bồi dưỡng cấp tốc cán bộ quản lý vùng giải phóng, tỉnhNghệ An đã nhận hàng trăm học sinh Lào sang học tập tại các trường dân tộcnội trú của tỉnh Dù chưa thể đáp ứng đầy đủ yêu cầu về giáo dục - đào tạo,nhưng tỉnh Nghệ An đã góp phần quan trọng giúp Xiêng Khoảng,Bôlykhămxay của Lào kịp thời giải quyết tình trạng thiếu cán bộ quản lý vàcán bộ chuyên môn cho các vùng giải phóng
Ngoài ra, để động viên các chiến sĩ quân tình nguyện, chuyên gia đanglàm nhiệm vụ quốc tế trên đất nước Lào, đồng thời để tăng cường giao lưu,trao đổi văn hoá giữa hai bên, các đoàn văn công của Nghệ An và Đoàn Văncông Quân khu IV đã sang giao lưu, biểu diễn tại các vùng giải phóng củaLào Với tinh thần “tiếng hát át tiếng bom”, các nghệ sĩ không quản ngại hy
Trang 40sinh, vất vả đã đem tiếng hát đến tận các chiến hào động viên các chiến sĩquân tình nguyện, chuyên gia Việt Nam và quân, dân các tỉnh của Lào
Với sự hợp tác và giúp đỡ của Nghệ An, kinh tế, văn hoá vùng giảiphóng các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay của Lào từng bước được phụchồi và phát triển, nhân dân dần dần ổn định sản xuất và đời sống Sự phấn đấu
và vươn lên của các vùng giải phóng làm động lực cho cách mạng Lào giànhthắng lợi liên tiếp trên chiến trường, đồng thời là cơ sở cho nhân dân Làobước vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc
Sự phối hợp chiến đấu và phục vụ chiến đấu trên chiến trường cũngnhư sự hợp tác, giúp đỡ về kinh tế, văn hoá - giáo dục của Nghệ An dành chocác tỉnh của Lào trong những năm chiến tranh là sự tiếp nối truyền thốngđoàn kết gắn bó lâu đời giữa hai khu vực, đó là những biểu hiện cụ thể của
“tình đoàn kết đặc biệt, liên minh chiến đấu” trong cuộc đấu tranh chống kẻthù chung, đồng thời là cơ sở quan trọng để hai bên hợp tác toàn diện trongcông cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Tiểu kết chương 1
Cùng tựa lưng vào dãy Trường Sơn, cùng chung tuyến biên giới dài
419 km, các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay của Lào và Nghệ An của ViệtNam có mối quan hệ gắn bó từ lâu đời Dù có những lúc thăng lúc trầm,nhưng nhìn chung mối quan hệ giữa hai khu vực vẫn không ngừng được củng
Sau khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời (năm 1930), cùng với quân
và dân hai nước, các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay của Lào và Nghệ An