1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kinh tế của tỉnh Nghệ An được phản ánh qua báo Nghệ An từ năm 1991 đến năm 2005

103 281 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 32,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo “Nghệ An” đã phản ánh những chủtrương, chính sách về phát triển kinh tế của Đảng và chính quyền đến nhân dânmột cách hiệu quả nhất; phản ánh sự phát triển của các ngành nghề, các mô

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN QUỲNH TRANG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN QUỲNH TRANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học:

TS TRẦN VŨ TÀI

VINH - 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên,tôi muốn được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Trần Vũ Tài

- người thầy trách nhiệm đã tận tình hướng dẫn và có nhiều hướng gợi mở mới

mẻ, độc đáo giúp tôi phát huy khả năng sáng tạo trong công trình nghiên cứunày Đây là công trình khoa học quan trọng nhất ghi dấu kết thúc khóa học đồngthời là kết quả bước đầu trên con đường nghiên cứu khoa học của tôi

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử, khoa Sauđại học trường Đại Học Vinh; Ban tuyên giáo tỉnh ủy Nghệ An; Thư viện tỉnhNghệ An; Thư viện Đại học Vinh; Báo Nghệ An, Cục thống kê tỉnh Nghệ An…

Đã cung cấp các tài liệu liên quan, giúp tôi hoàn thành luận văn

Bên cạnh các nguồn động viên giúp đỡ trên, tôi cũng luôn nhận được sựđộng viên, khích lệ của gia đình, bạn bè, những người thân đã quan tâm giúp đỡtôi trong suốt thời gian nghiên cứu và biên soạn luận văn

Cuối cùng, rất mong muốn được lắng nghe những ý kiến đóng góp quýbáu của Quý Thầy Cô và các bạn để luận văn của tôi được hoàn thiện hơn nữa!

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Trang 4

MỤC LỤC

1

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hồ Chí Minh đã nói "Báo chí ta không phải để cho một số ít người xem,

mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối chính sách củaĐảng và Chính phủ"[26]

Báo chí xuất hiện ở nước ta muộn so với thế giới, nhưng có những bước

đi rất nhanh, có một lịch sử phong phú, có sắc thái riêng biệt, gắn chặt vàonhững biến thiên lịch sử dân tộc Trong những năm tháng chiến tranh, báo chínhư thắp lên ngọn lửa cho lớp lớp thanh niên và toàn dân chiến đấu giải phóngdân tộc Trong công cuộc đổi mới, trong sự nghiệp cách mạng hiện nay, báo chíđang đứng trước những thách thức mới Đất nước trong giai đoạn đầu của quátrình xây dựng, phát triển và hội nhập Kẻ thù chĩa mũi nhọn vào mặt trận vănhóa tư tưởng với ý đồ làm giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng và chế độ Báochí phản ánh một cuộc sống không ngừng phát triển và phản ánh một cách cụ thểđầy đủ công cuộc đổi mới của đất nước, phản ánh các chính sách phát huy quyềndân chủ của nhân dân

Báo “Nghệ An” là một trong 5 tờ báo hàng đầu của 63 tờ báo Đảng địa

phương trong cả nước Cùng song song với những tờ báo trung ương, báo “NghệAn” đã làm tốt nhiệm vụ của báo chí trong cách mạng, đó là tuyên tuyền, cổ vũ,phản ánh tinh thần cách mạng của nhân dân tỉnh nhà Đặc biệt trong thời kỳ hòabình, báo chí Nghệ An đã làm tốt nhiệm vụ tuyên truyền những chính sách củaĐảng, Nhà nước và địa phương; phản ánh xã hội, đời sống vật chất, sinh hoạt

Trang 6

văn hóa tinh thần của nhân dân trong tỉnh; nêu cao nhưng tấm gương tiêu biểu;cùng hòa mình vào công cuộc đổi mới của đất nước.

Trong công cuộc đổi mới, kinh tế là một trong những mặt được ưu tiên và

có tác động trực tiếp đến tình hình trong tỉnh và đời sống nhân dân Vì vậy báo

“Nghệ An” đã phản ánh kịp thời, sinh động và cụ thể những thành tựu đổi mớitrong lĩnh vực kinh tế của tỉnh nhà Báo “Nghệ An” đã phản ánh những chủtrương, chính sách về phát triển kinh tế của Đảng và chính quyền đến nhân dânmột cách hiệu quả nhất; phản ánh sự phát triển của các ngành nghề, các mô hìnhkinh tế; các cách làm kinh tế giỏi; làm nổi bật lên tinh thần cần cù, sáng tạo củangười lao động trong phát triển kinh tế chung của tỉnh nhà

Vì vậy, bằng những tài liệu mà tôi đã tìm hiểu được, qua đề tài nghiêncứu này tôi mong muốn sẽ trình bày một cách hệ thống công cuộc đổi mới củatỉnh nhà thông qua báo “Nghệ An” Từ đó góp phần tích cực vào sự phát triểncủa báo chí Nghệ An và một phần trong việc nghiên cứu kinh tế tỉnh Nghệ Antrong công cuộc đổi mới thông qua phản ánh của báo chí Từ những lý do trên

tôi chọn đề tài “Kinh tế của tỉnh Nghệ An được phản ánh qua báo “Nghệ

An” từ năm 1991 đến năm 2005’’ làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ lịch sử.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Công cuộc đổi mới của Đảng ta là một trong những nhiệm vụ quan trọng,gắn liền với quá trình xây dựng và phát triển đất nước Chính vì vậy, đây là mộtvấn đề được các cấp chính quyền, cơ quan quan tâm Liên quan đến đề tài Báo

“Nghệ An” trong công cuộc đổi mới của tỉnh nhà có một số tài liệu đã đề cập:Báo cáo của các kỳ đại hội tỉnh Nghệ An; lịch sử hình thành phát triển của Báo

“Nghệ An”; lịch sử tỉnh Nghệ An…

Trang 7

Trước hết, nhóm công trình nghiên cứu lịch sử báo chí nói chung nổi bậtcó:

Năm 2000, Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương đã phát hành cuốn

sách Lịch sử báo Đảng bộ các tỉnh và thành phố (Sơ thảo) Công trình này đã

thống kê về các tờ báo cách mạng của các địa phương trong đó có báo “NghệAn” Qua cuốn sách này, người đọc biết về tờ báo “Nghệ An” trên các mặt:năm ra đời, số lượng phát hành, năm đổi tên báo khi sáp nhập với báo HàTĩnh…còn những nội của dung cụ thể mà báo “Nghệ An” đã phản ảnh khôngđược đề cập rõ

Năm 2010, tập thể các nhà nghiên cứu do Đào Duy Quát, Đỗ Quang

Hưng, Vũ Duy Thông (Đồng chủ biên) đã xuất bản công trình Tổng quan lịch sử

báo chí cách mạng Việt Nam (1925 – 2010) Công trình này cung cấp cho người

đọc tổng thể bức tranh báo chí cách mạng của nước ta, trong đó có nhắc đến tên

tờ báo “Nghệ An” dưới góc độ là - Cơ quan ngôn luận của Đảng bộ tỉnh NghệAn

Năm 2011, công trình Lịch sử báo “Nghệ An” (1961-2011) đã được xuất

bản Công trình này đã giới thiệu về sự ra đời và phát triển của báo “Nghệ An”

từ ngày thành lập đến năm 2011 Công trình đã giới thiệu về nội dung cơ bản màbáo “Nghệ An” phản ánh trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và anninh – quốc phòng của địa phương nói chung Nếu đi sâu tìm hiểu về công cuộcđổi mới về kinh tế báo “Nghệ An” phản ánh, công trình này chưa tập trung đisâu vào từng lĩnh vực cụ thể

Thứ hai, các công trình Lịch sử Đảng bộ địa phương được xuất bản trongnhững năm gần đây:

Trang 8

Năm 2010, công trình Lịch sử Đảng bộ Nghệ An tập 3 (1975 – 2005) đã

được xuất bản Công trình này đã khái quát những chính sách, chủ trương củaĐảng bộ tỉnh Nghệ An về các mặt kinh tế, xã hội, giáo dục, văn hóa, an ninh –quốc phòng thông qua các Nghị quyết của các kỳ đại hội Tuy nhiên, cuốn sáchnày chưa đề cập cụ thể đến sự phát triển kinh tế và thành tựu về kinh tế của tỉnhnhà trong công cuộc đổi mới

Bên cạnh đó, công cuộc đổi mới của tỉnh Nghệ An cũng được phản ánhqua nhiều tờ báo địa phương khác: báo Nhân dân, Tạp chí văn hóa và xã hội, báoCông An Nghệ An…

Trong đề tài này, tôi tiếp tục nghiên cứu về báo “Nghệ An” trong côngcuộc đổi mới về kinh tế của tỉnh Nghệ An trong giai đoạn 1991 – 2005 Qua đềtài, tôi tổng hợp những thành tựu đổi mới mà tỉnh nhà đạt được trên lĩnh vựckinh tế thông qua phương tiện phản ánh là báo “Nghệ An”

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là kinh tế tỉnh Nghệ An thông qua phản ánh của tờBáo “Nghệ An” – Cơ quan ngôn luận của Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam,tiếng nói của Đảng, chính quyền và nhân dân Nghệ An

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài đã xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

- Thực trạng của kinh tế Nghệ An từ năm 1991 đến năm 2005

Trang 9

- Kinh tế Nghệ An thông qua phản ánh của báo “Nghệ An” bao gồm: chínhsách phát triển kinh tế, thành tựu kinh tế, các gương điển hình và các môhình tiên tiến.

- Đưa ra những nhận xét, đánh giá, rút ra những bài học kinh nghiệm vềcông tác báo chí nhằm phản ánh trung thực, sinh động hơn nữa thực tếcuộc sống, góp phần thúc đẩy công cuộc phát triển kinh tế ở Nghệ An,

3.3 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian: Địa bàn tỉnh Nghệ An

- Thời gian: Từ năm 1991 đến năm 2005

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu

Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài, tôi đã khai thác triệt để cácnguồn tài liệu về báo “Nghệ An”, về công cuộc đổi mới của tỉnh Nghệ An từ

1991 đến 2005, tuy nhiên chú trọng vào các tài liệu sau đây:

- Tài liệu gốc: Các số báo của báo “Nghệ An” trong giai đoạn 1991 – 2005,Văn kiện, Nghị quyết của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong các kỳ Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Báocáo chính trị, nghị quyết của tỉnh ủy Nghệ An trong các kỳ đại hội thời kỳ

1991 – 2005

- Tài liệu tham khảo: Các công trình đã công bố, báo chí và các phương tiệntruyền thông phản ánh về công cuộc đổi mới ở Nghệ An nói riêng và cảnước nói chung

Trang 10

- Tài liệu điền dã: Thực địa một số cơ sở thể hiện rõ nét thành tựu về kinh tếNghệ An trong thời kỳ đổi mới.

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng nhiều công trình nghiên cứu luận văn củacác thạc sỹ đã được công bố

4.2 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp luận nghiên cứu là sử học Mác- xít, quan điểm của Đảng và

tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề báo chí

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu là phương pháp chuyênngành bao gồm phương pháp lôgíc và phương pháp lịch sử Ngoài ra, chúng tôicòn sử dụng các phương pháp liên ngành để hỗ trợ cho việc thực hiện đề tài nhưđiền dã dân tộc học, điều tra xã hội học, phóng vấn báo chí… để rút ra các nhậnxét khoa học phù hợp

5 Đóng góp của luận văn

Luận văn đã trình bày một cách hệ thống và đầy đủ những thành tựu và

hạn chế trong công cuộc đổi mới về mặt kinh tế của tỉnh Nghệ An thông qua hệthống truyền thông báo chí

Luận văn có thể sử dụng để làm tài liệu tham khảo về lịch sử tỉnh Nghệ

An, cũng như lịch sử báo chí Nghệ An

Luận văn cũng bước đầu nên lên những đánh giá, rút ra những bài họckinh nghiệm trong đổi mới công tác báo chí, nhằm phản ánh sinh động thực tếcông cuộc đổi mới, góp phần đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước

6 Bố cục của luận văn

Trang 11

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Nội dungchính của luận văn kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Kinh tế Nghệ An qua phản ánh của báo “Nghệ An” giai đoạn 1991-2000

Chương 2: Sự phát triển của kinh tế Nghệ An qua phản ánh của báo “Nghệ An”giai đoạn 2001 - 2005

Chương 3: Một số đánh giá, nhận xét và bài học kinh nghiệm

Trang 12

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: KINH TẾ NGHỆ AN QUA PHẢN ÁNH CỦA BÁO “NGHỆ

AN” GIAI ĐOẠN 1991 – 2000 1.1 Vài nét về thực trạng kinh tế Nghệ An và tờ báo “Nghệ An’ giai đoạn

1991 – 2000

1.1.1 Tình hình kinh tế tỉnh Nghệ An.

Nghệ An là một tỉnh thuộc vùng thuộc duyên hải miền Trung nằm ở vị trítrung tâm vùng Bắc Trung Bộ, trên tuyến giao thông kinh tế xã hội Bắc -Nam,với diện tích đất tự nhiên là 1.648.729 ha, dân số gần 3 triệu người [38], có bavùng kinh tế là đồng bằng ven biển, trung du và miền núi là điều kiện rất thuậnlợi cho việc phát triển kinh tế toàn diện Nghệ An hội nhập đủ các tuyến đườnggiao thông: đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường không và đường biển Nằmtrên tuyến giao lưu Bắc - Nam, với chiều dài biên giới 419 km và 82 km bờ biển,

có quốc lộ 1A dài 80 km và đường mòn Hồ Chí Minh, sân bay Vinh, có cảngCửa Lò [38] đã tạo cho Nghệ An có một vị trí rất thuận lợi cho việc giao lưukinh tế - xã hội với cả nước và quốc tế nhất là Lào, Camphuchia…

Trong 10 năm đổi mới thời kỳ 1991 – 2001, kinh tế Nghệ An có bước pháttriển khá Tốc độ tăng trưởng bình quân GDP (1991 – 2000) là 8%, trong đó giaiđoạn 1991 – 1995 là 8,73%, giai đoạn 1996 – 2000 là 7,27% Năm 2001: tăng9,2%, năm 2002: 11%, năm 2003 tăng 11,53% Giai đoạn 1996 – 2000 tốc độphát triển bình quân của tỉnh Nghệ An cao hơn tốc độ phát triển bình quân của

cả nước (6,7%) Tổng GDP (giá 1994) tăng từ 2926,6 tỷ đồng, năm 1990 lên

Trang 13

6318 tỷ đồng, năm 2000 tăng 6902 tỷ đồng, năm 2001, 7654 tỷ đồng, năm 2002

và 8536 tỷ đồng, năm 2003 [19]

Thu nhập bình quân đầu người (theo giá thực tế) tăng từ 2,72 triệu đồngnăm 2000 lên 3,05 triệu đồng năm 2001; tăng 3,63 triệu đồng năm 2002 và 3,63triệu đồng năm 2003 Đã rút ngắn khoảng cách tụt hậu về kinh tế so với cả nước

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng: tỷ trọng nông – lâm – ngưnghiệp giảm từ 60,9% năm 1990 xuống 44,27% (2000); 42,5% (2001); 41,01%(2002) và 38,4% (2003); tỷ trọng công nghiệp – xây dựng tăng từ 12,2% (1990)lên 18,62% năm 2000; 20,5% (2001); 23,75% (2002) và 25,2% (2003); tỷ trọngdịch vụ tăng từ 26,9% năm 1990 lên 37,1% năm 2000; 37% (2001); 35,64%(2002) và 36,4% (2003) [19]

Về nông nghiệp và nông thôn đã có bước phát triển toàn diện Nét nổi bậttrong thời gian qua là đã khuyến khích phát triển sản xuất, mở rộng diện tíchgiống lai để tăng năng suất; xây dựng các vùng chuyên canh tập trung để đápứng yêu cầu về cung ứng nguyên liệu cho cây công nghiệp chế biến: mía, chè,dứa, sắn… Chuyển các diện tích cấy cưỡng sang trồng ngô và cây công nghiệp

có giá trị kinh tế cao hơn Thực hiện các chính sách: đồn điền đổi thửa, khoán 10cùng với việc áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất làm tăng năng suất vàgiảm sức lao động

Tổng sản lượng lương thực tăng nhanh, an ninh lương thực được đảm bảo.Năm 2000 đạt 83,2 vạn tấn tăng gấp 1,7 lần so với năm 1990; năm 2001 đạt 87,1vạn tấn, năm 2002 đạt 93,7 vạn tấn; năm 2003 đạt 94 vạn tấn Bình quân lươngthực tăng từ 192 kg/ người; năm 1990 lên 286 kg/người; năm 2000 và 317 kg/người năm 2003 Bình quân giá trị sản xuất năm 2002 đạt 15,5 triệu đồng/ha;năm 2004 đạt 18 triệu đồng/ha [19]

Trang 14

Cây công nghiệp đã được hình thành nhiều vùng sản xuất, cây nguyên liệutập trung gắn với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ Tạo khối lượngnông, lâm sản hàng hoá lớn cho nội tiêu và xuất khẩu

Chăn nuôi phát triển khá: Tốc độ tăng bình quân 10 năm: đàn trâu tăng2,5%; đàn bò: 3,05%; đàn lợn: 3,5% Năm 2003, tổng đàn trâu 289 ngàn con,tổng đàn bò 304 ngàn con, tổng đàn lợn 1.207 ngàn con [37]

Trồng rừng, chăm sóc, bảo vệ rừng có hiệu quả: đến năm 2002 tổng diệntích trồng rừng tập trung có trên 65.000 ha; khoanh nuôi bảo vệ trên 56 vạn ha

Tỷ lệ che phủ của rừng đạt 43,6% [37] Đã thực hiện tốt công tác xã hội hoánghề rừng, giao đất khoán rừng cho người dân

Nuôi trồng và khai thác thuỷ sản được chú trọng phát triển và liên tục tăngtrưởng trong nhiều năm Sản lượng thuỷ sản năm 2002 đạt 43 ngàn tấn Trong đókhai thác 32 ngàn tấn, nuôi trồng 11 ngàn tấn; năm 2003 đạt 49 ngàn tấn [37]

Cơ sở hạ tầng phục vụ nghề cá được nâng cấp

Kinh tế hộ gia đình và kinh tế trang trại phát triển: năm 2002 có 1255 cơ

sở kinh tế trang trại trong các lĩnh vực sản xuất nông, lâm, thuỷ sản và thành lậpđược 7 tổng đội thanh niên xung phong phát triển kinh tế, khai thác tiềm năngđất đồi ở các huyện miền núi

Sản xuất công nghiệp phát triển và tăng trưởng khá: tốc độ tăng trưởngbình quân giai đoạn 1996 – 2000 là 15,3% Năm 2001 là 20,8%, năm 2002 tăng30,2%, năm 2003 tăng 31,9% [19]

Các cơ sở, nhà máy công nghiệp cũng được xây dựng: nhà máy phân visinh (Tân Kỳ) công suất 50.000 tấn/năm; 4 cơ sở chế biên bột cá công suất

Trang 15

15.000 tấn/năm, 2 nhà máy chế biến tinh bột sắn công suất mỗi nhà máy 50 tấnbột/ngày.

Các khu công nghiệp đã và đang phát triển: khu công nghiệp Bắc Vinh đãlấp đầy trên 70% diện tích của đợt đầu giai đoạn I Hiện có 8 cơ sở sản xuất côngnghiệp hoạt động; khu công nghiệp Nạm Cấm và Cửa Lò đã có 10 doanh nghiệpngoài tỉnh đăng ký đầu tư phát triển Tiểu thủ công nghiệp và làng nghề pháttriển, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng nhanh (đường kính, bia, ximăng)…

Thương mại dịch vụ phát triển đa dạng, tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch

vụ năm 2000 đạt 5.317 tỷ đồng, tăng gấp 2,2 lần so với năm 1995 Năm 2001 đạt5.585 tỷ đồng, tăng 268 tỷ đồng so với năm 2000 Năm 2002 đạt 6.020 tỷ đồng,tăng 435 tỷ đồng so với năm 2001 Năm 2003 đạt 6.303 tỷ đồng [38]

Giá trị xuất khẩu tăng từ 8,2 triệu USD năm 1990 lên 21 triệu USD năm

1995, 29,5 triệu USD năm 2000, 51 triệu USD năm 2002 và 61,06 triệu USDnăm 2003 [38]

Số lượng khách du lịch và doanh thu du lịch trong nhiều năm gần đây tăngtrưởng khá Số lượng khách tăng bình quân hàng năm 15%, doanh thu tăng 20%[38] Hệ thống khách sản nhà nghỉ được đầu tư phát triển khá

Tuy nhiên, nền kinh tế của tỉnh Nghệ An còn nhiều hạn chế, ảnh hưởngđến sự phát triển của kinh tế tỉnh nhà Chất lượng và tính bền vững của tốc độtăng trưởng chưa cao (GDP bình quân đầu người mới đạt 4,8 triệu đồng/ người/năm, bằng 64% so với cả nước) Một số dự án đầu tư hiệu quả còn thấp Môitường sinh thái nhiều nơi xuống cấp Tốc độ tăng trưởng dịch vụ đạt thấp thua sovới mục tiêu kế hoạch (8,74/ MT 11-12%) Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm và

Trang 16

chưa vững chắc, trong 4 năm từ 2001 - 2004, tỉ trọng giá trị gia tăng công nghiệp

và dịch vụ tăng 6,28% (tỉ trọng công nghiệp tăng 7,38%, dịch vụ không tăng)[38] Cơ cấu chi và tổng thu ngân sách chưa ổn định bền vững Hoạt độngthương mại dịch vụ chưa phát triển Quản lý và phát triển doanh nghiệp còn hạnchế

1.1.2 Tình hình Báo “Nghệ An” trong những năm 1991 – 2000.

Báo chí là công cụ truyền thông nhanh chóng, hiệu quả và xác thực nhất,trong mỗi giai đoạn lịch sử của đất nước, báo chí đã kịp thời đưa tin, phản ánhnhững chủ trương, chính sách, tình hình các mặt của xã hội đến người dân Báo

“Nghệ An” là một tờ báo địa phương cũng đã làm tốt nhiệm vụ đó Trong giaiđoạn 1991 – 2001, Báo “Nghệ An” đã luôn bám sát tình hình, cùng với Đảng,chính quyền và nhân dân tỉnh nhà khắc phục khó khăn, tổ chức tuyên truyền toàndiện nhằm mục đích đưa tỉnh Nghệ An thoát khỏi trì trệ, phát triển về kinh tế

Số báo “Nghệ An” đầu tiên ra đời vào ngày 12 tháng 9 năm 1961 với têngọi "Nhân dân Nghệ An" Tuy nhiên, đến ngày 10 tháng 11 năm 1961, Ban Chấphành Tỉnh ủy mới ra Nghị quyết số 175 thành lập Tòa soạn Báo Nhân dân Nghệ

An Kể từ đó, tòa soạn báo Nhân dân Nghệ An, nay là Báo “Nghệ An”, đã gánhvác nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng

và Nhà nước, phản ánh, nêu gương những tập thể, cá nhân điển hình trên mặttrận sản xuất, xây dựng, củng cố quốc phòng - an ninh, văn hóa, giáo dục, chăm

lo sức khỏe, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nêu kinh nghiệm công tácĐảng đoàn thể trong thời kỳ mới Năm thứ nhất, báo "Nhân dân Nghệ An" inđen trắng, phát hành 1 tuần 2 kỳ vào ngày thứ 4 và thứ 7 Các số báo đầu tiên đã

kịp thời đưa tin thời sự trong tỉnh: Tích cực hưởng ứng đợt thi đua chào mừng

Đại hội lần thứ 22 của Đảng cộng sản Liên Xô; nêu những tấm gương lao động

Trang 17

giỏi: Trai, gái Đại Phong; Công nhân Duyên Hải Bên cạnh đó, báo có những chuyên mục mới để hấp dẫn bạn đọc: Trả lời bạn đọc, To nhỏ bảo nhau, Theo

dòng thời sự, Tin tức thế giới, Bạn cần biết, Kỹ thuật nông nghiệp Đặc biệt,

các thể loại điều tra, đúc rút nguyên nhân thành công và chưa thành công tronghoạt động sản xuất, kinh doanh, trong công tác xã hội, công tác Xây dựng Đảng

đã được coi trọng và đăng tải đều đặn trên các số báo Ngay từ năm đầu tiên, sốlượng mỗi kỳ đạt xấp xỉ 2000 tờ/kỳ Báo “Nghệ An” ra đời đã đáp ứng được nhucầu truyền tải thông tin của nhân dân trong tỉnh Vì vậy, cùng với những phóngviên chính của tòa soạn, Báo “Nghệ An” đã thu hút hàng trăm cộng tác viên ởcác vùng miền khác nhau Điều này đã tạo điều kiện cho tờ báo phát triển vớinhững tin bài hấp dẫn, bám sát thực tiễn

Báo “Nghệ An” giai đoạn 1991 – 2001, tiếp tục phát huy truyền thống củangành, theo sát sự phát triển của tỉnh nhà trong giai đoạn khắc phục, từng bướcphát triển kinh tế, hoàn thành công cuộc đổi mới mà Đảng đề ra

Cuối tháng 8 năm 1991, sau khi có chủ trương của Bộ Chính trị, Quốc hội

và Chính phủ cho phép tỉnh Nghệ An chia thành 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh Vìvậy, Báo Nghệ Tĩnh cũng khẩn trương tổ chức xuất bản số báo cuối cùng, rồitiến hành chia tách tòa soạn Do có những điều kiện thuận lợi hơn, nên Báo

“Nghệ An” đã sớm đi vào ổn định và đến ngày 2 tháng 9 năm 1991 đã cho xuấtbản số báo đầu tiên của Báo “Nghệ An” Từ số báo đầu tiên sau ngày chia tỉnhđến năm 1995, Báo “Nghệ An” phát hành vào thứ ba và thứ sáu hàng tuần Từtháng 12 năm 1996 tăng lên 3 số (thứ 3, thứ 5, thứ 7) Tờ thứ 7 mang tính vănnghệ, in màu cùng khổ lớn như báo in hằng ngày Đầu năm 1998, để đáp ứng đủnhu cầu cho bạn đọc báo lên tuần 4 số (thứ 2, thứ 4, thứ 6 và chủ nhật) Từ quýbốn năm 1999, Báo “Nghệ An” chuyển sang in “Nghệ An cuối tuần”, gộp hai số

Trang 18

thứ 7 và chủ nhật thành một số, in màu, khổ nhỏ hơn [30, tr.47] Báo càng thuhút được đông đảo bạn đọc trong và ngoài tỉnh, góp phần nâng tổng số phát hành

từ 3 nghìn bản/ một số lên 5 nghìn bản (khi ấn hành một tuần 3 số) rồi lên 6nghìn (khi có báo chủ nhật) và trên 18 nghìn bản khi có Báo “Nghệ An” cuốituần Số đặc biệt, số Tết cổ truyền lượng phát hành xấp xỉ 1,2 vạn – 1,4 vạntờ/kỳ Số báo đặc biệt in hai màu, khổ 27,3 cm x 39 cm, 8 trang, tên Báo “NghệAn” in thẳng, dưới tên Báo là dòng chữ “Cơ quan của Đảng bộ Đảng Cộng sảnViệt Nam tỉnh Nghệ An” Sau đó Báo “Nghệ An” in khổ rộng như Báo NhânDân với 4 trang.[30, tr.56]

Là cơ quan ngôn luận chính của Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Nghệ

An, Báo “Nghệ An” tập trung thể hiện các chủ đề trên các số báo thường kỳ vàđặc biệt là: phản ánh tổng kết phong trào thi đua của cán bộ Đảng viên, nhân dântỉnh nhà, phấn đấu ổn định và phát triển kinh tế, bảo đảm các hoạt động xã hội,giữ vửng ổn định chính trị, tăng cường trật tự xã hội, đưa Nghệ An thoát dầnkhỏi tình trạng trì trệ và có bước phát triển Chủ đề cụ thể là nêu bài học, nêuđiển hình những tập thể, cơ sở, địa phương, ngành có phong trào đẩy mạnh sảnxuất để ổn định đời sống, phát triển kinh tế hàng hóa Vừa sản xuất tại chổ vừalưu thông giải quyết tốt vấn đề lương thực, thực phẩm, tăng nhanh xuất khầu,phấn đấu tự cân đối nhu cầu chi thường xuyên và có tích lũy để đầu tư xây dựng

cơ sở vật chất cho sản xuất

Những vấn đề của Đảng, xây dựng Đảng, Nhà nước đã được báo “Nghệ

An” kịp thời đăng tải với nhiều bài viết tiêu biểu: Khai mạc trọng thể đại hội đại

biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII; Triển khai thực hiện luật bảo vệ và phát triển rừng, chỉ thị 90 của HĐBT; Huyện Nam Đàn tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo cán bộ làm công tác Đảng…[30, tr.68] Bên cạnh đó, Báo “Nghệ An” thời kỳ

Trang 19

này mở thêm chuyên mục: Ý kiến nhân dân, báo đã nhận được nhiều đơn thư và

có nhiều bài viết trả lời được in trên báo: Tiêu cực ở trại tâm thần Tân Kỳ; Vi

phạm quy chế dân chủ, tham ô tài sản tập thể ở hợp tác xã Quang Sơn; Tham ô tiền cứu trợ bão lụt ở UBMTTQ thành phố Vinh…[30, tr.73]

Công tác đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, nhất là sản xuấtnông nghiệp, đồng thời chú trọng công nghiệp địa phương và thủ công nghiệp,giao thông vận tải áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Đặc biệt,trong nông nghiệp thì tập trung sản xuất các mặt hàng có giá trị hàng hóa cao;trong công nghiệp thì đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư nước ngoài, đẩy mạnh cácmặt hàng xuất khẩu có ưu thế Báo cố gắng thực hiện chức năng phản biện xãhội, phát hiện những khó khăn, vướng mắc, đề xuất biện pháp tháo gỡ Một số

bài viết tiêu biểu như: Chương trình phát triển đàn bò sữa – quyết tâm cao –

hiệu quả thấp; Mắt khâu chủ yếu cần tác động để công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn; Nâng cao trách nhiệm tập thể và vai trò cá nhân trong lãnh đạo, chỉ đạo…[30, tr.76]

Từ năm 2001, Báo “Nghệ An” có mục Thời sự Quốc tế ổn định ở trang 4.Chuyên mục này giúp bạn đọc, nhất là địa bàn nông thôn, miền núi có điều kiệnhiểu biết sâu và đúng đắn tình hình thế giới Báo còn cho xuất bản thêm phụtrang Miền núi – Dân tộc và năm 2001, báo được xuất bản hàng ngày Và cũngtrong 2 năm này, tham gia Hội Báo Xuân toàn quốc, Báo “Nghệ An” liên tục đạtgiải A về nội dung và hình thức trình bày báo Báo được Tỉnh ủy, UBND tỉnh vàHội Nhà báo Việt Nam tặng bằng khen cho tập thể cán bộ, phóng viên của Báo

Về văn hóa, giáo dục, Báo phản ánh việc đẩy mạnh nâng cao chất lượnggiáo viên và cán bộ quản lý giáo dục; đẩy mạnh hóa giáo dục; phê bình, khennhững tấm gương tốt trong học tập và giảng dạy Báo tập trung tuyên truyền về

Trang 20

bản sắc văn hóa xứ Nghệ, kế thừa phát huy truyền thống văn hóa trong sự nghiệpđổi mới, phát hiện, nêu gương các nhân tố mới, điển hình tiên tiến trong cáccuộc vận động “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”

Về chủ đề An ninh – Quốc phòng, chỉ tính riêng năm 2001, Báo có hơn

200 tin, bài về đề tài này Có các bài tiêu biểu như: Bộ đội biên phòng đưa con

chữ đến vùng cao; Gương chiến đấu hi sinh của Và – Bá Giải…[30, tr.84]

Như vậy, trước công cuộc đổi mới và phát triển của tỉnh nhà, Báo “NghệAn” đã phát huy cao nhất chức năng là cơ quan ngôn luận, đã tuyên truyền, cổđộng và tổ chức của mình góp phần làm cho toàn Đảng, toàn dân thực hiệnthắng lợi các nhiệm vụ của Trung ương, của Tỉnh đề ra Làm cho toàn Đảng,toàn dân thông suốt, nắm vững và tuyệt đối tin tưởng ở đường lối, chính sách vàquan điểm cách mạng của Đảng Báo “Nghệ An” đã kịp thời phổ biến các chínhsách của Đảng về các mặt trong đời sống xã hội đến với đông đảo nhân dân Đẩymạnh phong trào phát triển kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, lâm và ngưnghiệp, xây dựng nền kinh tế mới; đưa khoa học đến quần chúng nhân dân,hướng dẫn cách áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất để tăng năng suất và thunhập Nêu gương, cổ vũ những tấm gương điển hình trên mọi lĩnh vực; phảnánh, phê phán những tệ nạn, những thói quen xấu, góp phần xây dựng đời sốngdân cư lành mạnh và an toàn Xây dựng con người mới, có tư tưởng và tình cảmcách mạng, có tinh thần yêu nước và trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa, nângcao tinh thần làm chủ tập thể nước nhà, làm chủ tập thể xí nghiệp, công trường,nông trường, hợp tác xã, cơ quan văn hoá và xã hội, cơ quan của Nhà nước và củađoàn thể mình

1.2 Kinh tế Nghệ An qua phản ánh của báo “Nghệ An”

Trang 21

1.2.1 Báo “Nghệ An” phản ánh chính sách phát triển kinh tế của Đảng bộ, chính quyền tỉnh Nghệ An

Ngày 16 – 08 - 1991, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ Tĩnh đã ra Nghịquyết số 26 về việc lãnh đạo tổ chức thực hiện công tác chia tách tỉnh TheoNghị quyết này, tỉnh Nghệ Tĩnh sẽ được tách thành hai tỉnh: Nghệ An và HàTĩnh Trong qua trình từng bước hoàn thành công tác chia tách tỉnh, tỉnh Nghệ

An tiếp tục ra sức củng cố, xây dựng và phát triển nền kinh tế, khắc phục nhữngkhó khăn bước đầu của 1 tỉnh mới Để khôi phục nền kinh tế, Đảng bộ, UBNDtỉnh Nghệ An đã tổ chức nhiều hội nghị để bàn về các chính sách phát triển kinh

tế, phù hợp với điều kiện của tỉnh nhà Trên những thuận lợi về vị trí địa lý, tàinguyên thiên nhiên và nguồn lực con người, tỉnh ta đã đưa ra nhiều chiến lượckinh tế như: sản xuất nông nghiệp, lâm, ngư nghiệp có tính hàng hóa cao, pháttriển sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và côngnghiệp nhẹ Đây là những ngành tận dụng được những lợi thế của tỉnh nhà, ítvốn, thu hồi vốn nhanh cũng là điều mà tỉnh nhà quan tâm Thực hiện tốt nhiệm

vụ của mình, Báo “Nghệ An” số 1283, thứ 3 ngày 1 – 10 – 1991, đã đăng tin

Hội nghị bàn giải quyết cho sản xuất cây công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng

với nội dung như sau: “Tập trung đầu tư cho các ngành mũi nhọn như sản xuấtthiếc, bia, nước ngọt; vùng nguyên liệu mía đường, nâng cao chất lượng ép dầu”.Báo còn viết “ Đối với các xí nghiệp làm ăn thua lỗ, cùng với việc tổ chức, thayđổi quản lý, yêu cầu ngân hàng cho vay thêm vốn để họ có điều kiện tiếp tục sảnxuất và trả nợ Phải tìm thị trường để tiêu thụ sản phẩm Hàng xuất ra ngoại tỉnhphải đảm bảo tinh xảo, hàng tiêu dùng nội địa phải bền và rẻ” Tiếp theo đó, trên

số 1285, thứ 3 ngày 8 – 10 – 1991, Báo “Nghệ An” tiếp tục đăng bài Bàn biện

pháp phát triển kinh tế xã hội miền núi và dân tộc đã viết “ Miền núi và dân tộc

Trang 22

tỉnh ta đất rộng, người đông, có nhiều tiềm năng phong phú và giữ vai trò quantrọng trong chính sách bảo vệ an ninh, quốc phòng Xây dựng phát triển kinh tếvùng này chủ yếu dựa vào lầm nghiệp, trông và chăm sóc rừng Tuyên truyền,giáo dục người dân bỏ tập quan du canh du cư, định cư để ổn định sản xuất”

Ngày 28 – 2 – 1992, Đại hội đại biểu Đảng bộ Nghệ An lần thứ XIII được

tổ chức tại thành phố Vinh với 367 đại biểu, đại diện cho 120.000 đảng viêntrong toàn Đảng bộ Đại hội đã đề ra mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnhgiai đoạn 1992 – 1996 là: “Khai thác thế mạnh tài nguyên về khoáng sản, đấtđai, rừng, biển, đồng bằng, nguồn lao động dồi dào, với ý chí tự lực tự cường,tinh thần đoàn kết nhất trí, quán triệt và đưa Nghị quyết Đại hội lần thứ VII củaĐảng đi vào cuộc sống, 5 năm tới, Nghệ An phấn đấu: ổn định và phát triển kinh

tế, đảm bảo các hoạt động xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường trật tự

an toàn xã hội, đưa Nghệ An thoát khỏi tình trạng trì trệ và có bước phát triển”

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XIII là một sự kiện quantrọng trong hoạt động chính trị của tỉnh nhà Báo “Nghệ An” đã kịp thời đưa tinnhững hoạt động chính và bên lề đại hội đều được Báo cập nhật là đăng lên trangnhất của tờ báo Trên trang số báo 1326, thứ bảy, ngày 28 – 2 – 1992, đã đăng

tin về Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An với tiêu đề Khai mạc trọng thể đại

hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII (vòng 2), trong bài Báo có đề cập đến các

chỉ tiêu lớn về phát triển kinh tế mà Đại hội đề ra “Các chỉ tiêu lớn đến 1995 củatỉnh ta là:

Tốc độ tăng bình quân hàng năm:

- Giá trị sản lượng nông nghiệp tăng 4 -5 % ( đến năm 1995 đạt 62,65 vạntấn lương thực)

Trang 23

- Giá trị sản lượng công nghiệp tăng 8 -10%

- Giá trị tổng sản phẩm xã hội tăng 4 - 4,5%

- Giá trị hàng hóa xuất khẩu bằng 1,8 – 2 lần so với năm 1990

- Thu nhập quốc dân tăng 4 - 4,5% ”

Về nhiệm vụ và giải pháp về kinh tế được Đại hội đề ra cụ thể theo từngngành Báo “Nghệ An” cũng đã đề cập đến nội dụng này:

“Cơ cấu kinh tế trong 5 năm tới là: nông, lâm, ngư - công nghiệp và dịchvụ; phấn đấu tăng dần tỷ trọng giá trị sản lượng công nghiệp trong nền kinh tếcủa tỉnh Do đó, phải tập trung phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hànghóa, gắn liền với công nghiệp chế biến nông, lâm, hải sản, tập trung khai tháckhoáng sản, nhất là thiếc, đá quý và xi măng; coi trọng sản xuất hàng tiêu dùng

và hàng xuất khẩu, phát triển từng bước thương mại, dịch vụ và du lịch, cơ cấukinh tế tổng hợp

- Về nông nghiệp: (bao gồm cả lâm ngư nghiệp)

Về trồng trọt: Tiếp tục đổi mới cơ cấu cây trồng và mùa vụ theo hướng tậndụng điều kiện thuân lợi của thiên nhiên và né tránh thời tiết bất lợi Trên diệntích hai vụ lúa ổn định cần tập trung đầu tư đồng bộ để thâm canh tăng năngsuất, phát triển vụ hè thu và vụ đông toàn diện để nâng nhanh sản phẩm hànghóa…

Về chăn nuôi: cần phát triển mạnh mẽ toàn diện và vững chắc đàn gia súc,gia cầm vì còn nhiều tiềm năng lớn và sinh trưởng nhanh Đưa tiến bộ về giống

và công tác thú y để tăng nhanh cả số lượng và chất lượng trâu, bò, lợn, hươu,dê…tạo nguyên liệu cho chế biến và xuất khẩu

Trang 24

Về lâm nghiệp, nhiệm vụ hàng đầu là bảo vệ khoanh nuôi để tái sinh rừng,đặc biệt coi trọng bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, tăng nhanh diện tíchtrồng rừng, hạn chế khai thác Tăng cường khâu xử lý, chế biến gỗ tận dụng; sửdụng rộng rãi bếp cải tiến và các loại năng lượng khác, hạn chế khai thác củi.Tìm loại giống cây thích hợp để phủ xanh đất trống đồi trọc, phục hồi dân môitrường sinh thái Thực hiện triệt để giao đất, giao rừng để mỗi khu rừng đều cóchủ Phát động phong trào trồng cây từ gia đình, trường học đến cơ quan xínghiệp.

Về thủy sản: Đổi mới công cụ, thiết bị và kỹ thuật để nâng cao hiệu quả vàsản lượng đánh bắt…”

Trong khoảng thời gian giữa các kỳ Đại hội, Tỉnh ủy và UBND tỉnhthường xuyên tổ chức các hội nghị mang tính chỉ đạo cụ thể từng nhiệm vụ, đisâu vào từng ngành Hội nghị thường phân tích sâu chi tiết các thế mạnh và khókhăn của từng vùng, từng ngành để đưa ra giải pháp tối ưu nhất phát triển kinh

tế Báo “Nghệ An” đã nhanh chóng nắm bắt thông tin thời sự và kịp thời đăng

tin Một số bài báo đưa tin về các cuộc hội nghị: hội nghị Triển khai thực hiện

luật bảo vệ và phát triển rừng, chỉ thị 90 của HĐBT (số 1347); hội nghị của Ban

thường vụ tỉnh ủy bàn kế hoạch triển khai kết luận của thủ tướng về nhiệm vụ

phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh ta năm 1993 với bài Phổ biến Nghị quyết

trung ương Đảng lần thứ IV (số 1434); hội nghị mở rộng của Ban chấp hành

Tỉnh ủy đã họp thông qua nội dung cơ bản dự thảo báo cáo của Ban chấp hành

Tỉnh ủy chuẩn bị trước đại hội XIV của Đảng bộ tỉnh với bài viết: Nhiệm vụ của

Đại hội XIII và hội nghị giữa nhiệm kỳ Đảng bộ tỉnh đã đề ra đã được hoàn thành về cơ bản (số 1719); Họp bàn về phát triển kinh tế xã hội miền núi, thông qua quy hoạch phát triển giao thông, nông nghiệp, thủy sản trong những năm

Trang 25

tới (số 1652); Xác định những giải pháp quản lý và phát triển ngành du lịch (số

1765); Bàn về cơ chế xuất nhập khẩu và phát triển tiểu thủ công nghiệp (số 1781); hội nghị Ban thường vụ Tỉnh ủy với bài viết Bàn phương hướng và giải

pháp tiếp tục thực hiện Nghị quyết “về nhiệm vụ phát triển kinh tế biển” đến năm 2000 (Số 1845); Ban thường vụ ban hành Nghị quyết về Chương trình hành động thực hiện NQ 12 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đổi mới tổ chức hoạt động thương nghiệp, phát triển thị trường theo hướng CNXH” (số 1847); Tiếp tục nâng cao hiệu quả thực hiện Nghị quyết 14 về phát triển kinh tế - xã hội miền núi, dân tộc; hoàn thiện hệ thống văn phòng cấp ủy; tăng cường xây dựng

cơ sở an toàn, làm chủ, sẵn sàng chiến đấu (số 1858); Thực hiện thắng lợi Nghị

quyết Đại hội VIII của Đảng, Thường vụ tỉnh ủy bàn chuyên đề phát triển giao

thông nông thôn và hạ tầng đô thị, khắc phục hậu quả bão lụt, đẩy mạnh sản xuất vụ đông và đông xuân (số 1866); UBND tỉnh họp phiên thường kỳ tháng 11

– 1996 với bài Bàn về kế hoạch triển khai thực hiện phương án, tổ chức, sắp xếp

lại các doanh nghiệp nhà nước (số 1871); hội nghị toàn quốc tổng kết 3 năm

thực hiện chương trình mía đường với bài viết Tập trung xây dựng vùng nguyên

liệu, khuyến khích nông dân trồng mía (số 2166); Thành lập ban nghiên cứu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An thời kỳ 2000 -2005 (số 1946); hội

nghị cán bộ chủ chốt toàn tỉnh “Bàn và thực hiện một số công tác quan trọng về

xây dựng Đảng, phát triển kinh tế - xã hội tỉnh ta những năm sắp tới (số 2603);

phiên họp thường kỳ tháng 8 năm 2000 của UBND tỉnh Đánh giá thực hiện

nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2000, xác định phương hướng nhiệm vụ năm 2001

(số 2594)…

Từ ngày 8 tháng 5 đến ngày 11 - 5 - 1996, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnhNghệ An lần thứ XIV được tổ chức tại thành phố Vinh gồm 347 đại biểu đại

Trang 26

diện cho gần 120.000 đảng viên của toàn Đảng bộ Với sự kiện chính trị quantrọng này, những phóng viên Báo “Nghệ An” đã có mặt và kịp thời đưa tin với

những bài viết Khai mạc Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XIV tại

thành phố Vinh; Báo cáo của ban bí thư về phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ

An trong 5 năm qua; Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XIV bế mạc

và thành công tốt đẹp…

Đại hội đã đề ra mục tiêu phấn đấu của giai đoạn 1996 – 2000 là “Huyđộng mọi tiềm năng trong tỉnh, kết hợp với mọi nguồn lực từ bên ngoài để xâydựng kết cấu hạ tầng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tếtheo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giải quyết tốt các vấn đề xã hội,không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, đưa Nghệ

An sớm ra khỏi tỉnh nghèo và tạo điều kiện vững chắc cho bước phát triểnnhững năm tiếp theo”

Báo “Nghệ An” tiếp tục đưa tin về những nhiệm vụ và giải pháp mà đạihội đề ra như sau:

“- GDP bình quân đầu người tăng gấp 2 – 2,2 lần so với năm 1995

- Tốc độ tăng tưởng GDP bình quân hằng năm 16 - 17% (bình quân cảnước tăng từ 9 – 10%)

- Tỷ trọng trong các ngành GDP: nông nghiệp 30%, công nghiệp 21%,thuơng mại và dịch vụ 49%.”

Trong bài đăng tin, Báo cũng đề cập đến các nhiệm vụ cụ thể: trong nôngnghiệp thì phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, kết hợp phát triển song songcác ngành nông – lâm – ngư, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ để đưa lạinăng suất cao Trong công nghiệp, đẩy mạnh sắp xếp các doanh nghiệp nhà

Trang 27

nước, phát triển công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến và công nghiệp vật liệuxây dựng Bên cạnh đó, cũng không bỏ qua nhiệm vụ phát triển kinh tế miền núi,vùng cao, nâng cao đời sống đồng bào dân tộc, tăng cường bảo vệ quốc phòng,

an ninh

1.2.2 Phản ánh những thành tựu về phát triển kinh tế

Trong thời kỳ 1991 – 2000, thực hiện nhiệm vụ của các kỳ Đại hội đạibiểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XIII, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ Anlần thứ XIV, các cấp chính quyền và nhân dân Nghệ An đã đạt được một sốthành tựu trong thời kỳ đầu của công cuộc đổi mới Nền kinh tế dần đi vào ổnđịnh và có bước chuyển biến tích cực trên các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp,công nghiệp, thủ công nghiệp và dịch vụ Từ năm 1991 – 2000, kinh tế Nghệ Antừng bước phát triển và chuyển dịch đúng hướng, trong đó xuất hiện nhiều nhân

tố mới Báo “Nghệ An” luôn giành những trang tin cố định để đăng tải nhữngthành tựu đạt được về kinh tế trên các mặt

1.2.2.1 Kinh tế nông – lâm – ngư nghiệp

Tiếp tục thực hiện ba chương trình kinh tế, bước vào thời kỳ đẩy mạnhcông cuộc đổi mới, mục tiêu phát triển kinh tế nông nghiệp ở Nghệ An là chútrọng phát triển nông nghiệp theo hướng toàn diện, lấy hiệu quả hàng hóa trongsản phẩm nông nghiệp

Chuyển biến rõ nhất trong sản xuất lương thực của Nghệ An ở thời kỳ này

là tập trung đầu tư kỹ thuật, thâm canh trồng lúa trên diện tích đã có Việc làmnày đã thu lại nhiều kết quả lớn, các vụ mùa của các bà con nông dân toàn tỉnhđều thắng lớn, trên cùng một đơn vị diện tích đã thu lại hiệu quả cao hơn trước.Diện tích thâm canh trồng lúa vụ hè thu từ 38 ngàn hecta năm 1991 lên 50 ngàn

Trang 28

hecta năm 1999, năng suất từ 24 tạ/ha lên 40 tạ/ha Năng suất lúa chiêm xuân từ26,4 tạ/hecta lên 46 tạ/ha Trên số báo 1352, thứ 6 ngày 29 – 5 – 1992 đã đưa tin

về thắng lợi vụ mùa đông xuân các huyện trong tỉnh với bài viết: Nông dân cả

tỉnh gặt rộ lúa xuân, báo viết: “Năng suất bình quân toàn tỉnh đạt 27,8 tạ/ha,

tổng sản lượng thóc tăng 12,239 tấn so với vụ xuân năm ngoái Hưng Nguyêndẫn đầu toàn tỉnh với năng suất lúa với 37,5 tạ/ha Yên Thành chiếm 20% tổngsản lượng thóc toàn tỉnh” Một bài báo khác đưa tin phản ánh về việc gieo trồng

vụ hè thu của các huyện như sau: “Đến cuối tháng 6, toàn tỉnh đã gieo cấy45.000 hecta lúa, đạt 100% chỉ tiêu kế hoạch Toàn tỉnh đã gieo cấy 21.500 hectalúa mùa, trong đó có 15.000 hecta lúa rẫy, tăng 4.500 hecta so với cùng kỳ nămngoái”

Trong nông nghiệp, tỉnh ta còn áp dụng khoa học công nghệ, đưa cácgiống lúa lai có năng suất cao vào trồng ở các vùng trọng điểm lúa như DiễnChâu, Yên Thành, Quỳnh Lưu, Đô Lương, Nam Đàn và Hưng Nguyên, NghiLộc Một số địa phương đã thí nghiệm thành công các giống lúa lai và thu được

hiệu quả cao Số Báo 1635, ngày 14 – 2 – 1993 đã đăng bài Vì một vụ chiêm

xuân nhiều sản phẩm hàng hóa nêu lên những thành công với giống lúa lai ở

huyện Diễn Châu Báo đã viết “Với thành công đưa lúa lai Trung Quốc vào 20%diện tích, hai vụ qua sản lượng chiếm 34% sản lượng thóc vụ đông xuân Vụnày, Diễn Châu quy vùng gieo cấy 2.000 ha loại cũ, còn 3.900 ha bố trí giốngCR230 Trong 2.500 ha xuân sớm có cơ cấu giống DT10 và 13/2 Về lúa lai,huyện đã có tổ chức tập huấn kỹ thuật thâm canh cho xóm trường, bí thư chi bộ,trích ngân sách hỗ trợ toàn bộ tiền lãi vay vốn ngân hàng mua vốn cho nôngdân” Yên Thành cũng là một huyện điễn hình đạt năng suất cao nhờ áp dụngkhoa học kỹ thuật, đưa giống lúa lai vào sản xuất “Cụ thể với giống lúa lai, năm

Trang 29

1992 mới đưa vào sản xuất thử Năm 1993, đạt 1,55% diện tích Năm 1996 đãtăng lên 25,6% Nhờ cơ cấu cấy trồng thay đổi mạnh nên năng suất đông xuânkhông ngừng tăng Năm 1991, năng suất đạt 29,1 tạ/ha, năm 1993 đạt 38,27tạ/ha và đông xuân năm 1995 là 43,2 tạ/ha Riêng vụ đông xuân năm 1996 mặc

dù gặp rét ngay từ đầu vụ, một số diện tích phải gieo trồng lại nhưng năng suất

có khả năng tăng hơn năm 1995, dự kiến là 45 tạ/ha”, Báo “Nghệ An” số 1798

đã đưa tin

Từ năm 1992, tỉnh ta đã đưa nhiều giống lúa lai có nguồn gốc từ TrungQuốc vào sản xuất Áp dụng giống lúa lai và gieo mạ đã giảm lượng thóc giống,năng suất lúa tăng lên rất đáng kể Chính vì thế, cùng với việc duy trì tăng diệntích giống lúa lai Trung Quốc trong các mùa vụ, tỉnh ta còn áp dụng những công

nghệ mới trong sản xuất lúa: “Công nghệ sản xuất lúa Nhật Bản – một tiến bộ kỹ

thuật đang được mở rộng ở tỉnh ta”

Tiếp tục thắng lợi trong việc đưa các giống lúa lai và sản xuất, nông dân

tỉnh Nghệ An liên tục được mùa lớn Trong bài viết: Nhìn lại kết quả sản xuất vụ

Đông Xuân 1997 – 1998 đã viết: “Các huyện vùng đồng bằng đạt năng suất 45

tạ/ha Có 2 huyện: Yên Thành, Đô Lương đạt trên 50 tạ/ha Có 3 huyện: DiễnChâu, Quỳnh Lưu, Nam Đàn đạt năng suất 45 -50 tạ/ha Lúa lai đạt gần 60 tạ/ha;13/2 đạt 46 tạ/ha; lúa thuần Trung Quốc đạt 42 tạ/ha, IR1820 đạt 40 tạ/ha; IR352đạt 39,85 tạ/ha”

Những vụ mùa bội thu ở các vùng, các huyện trong tỉnh vẫn được Báo

“Nghệ An” liên tục đưa tin trên các số báo với các bài viết như: Nghi Vạn được

mùa lúa hè thu (số 1285); Được mùa vụ Hè thu, Diễn Châu phấn đấu làm một

vụ Đông có giá trị hàng hóa cao (số 1288); Kết quả sản xuất hạt lúa lai F1 vụ xuân 1996 tại trại giống lúa Nghi Văn (số 1856); Giống lúa lai trong sản xuất

Trang 30

vụ mùa Hè thu (số 1931); Niềm tin từ vụ mùa Hè thu mới (số 1958); Sản xuất vụ xuân ở Nam Đàn (số 2031); Xuân Sơn – một vùng quê no ấm (số 2559); 5 năm thực hiện dự án “Cấp I hóa giống lúa” (số 2623); Tổng kết sản xuất vụ Đông xuân 1999 – 2000 (số 2587); Lúa lai ở vùng cao (số 2587).

Một nhân tố quan trọng góp phần tạo nên sự chuyển biến của nông nghiệpNghệ An trong thời gian này là sự đổi mới hợp tác xã nông nghiệp Các hợp tác

xã trong tỉnh được chỉ đạo đổi mới phù hợp với xu hướng thị trường và đa dạnghóa các hình thức hợp tác kinh tế ở nông thôn Số báo 1720 đã đăng quyết định

của UBND tỉnh về: Phát triển đa dạng các loại hình thức kinh tế hợp tác xã ở

nông thôn, đã quy định về phương thức, loại hình hoạt động của các hợp tác xã

nông thôn Những thay đổi của các hợp tác xã đã tạo nên bộ mặt mới cho hợp tác

xã ở nông thôn Nhiều hợp tác xã đã thực hiện thành công mô hình mới, đưa

kinh tế các hội viên của hợp tác xã phát triển Số báo 1716 có bài viết về: Hợp

tác xã kiểu mới ở Thanh Lương, đã nêu lên những kết quả mà hợp tác xã này đạt

được sau khi thực hiện chuyển đổi hợp tác xã nông nghiệp theo cơ chế mới: “Kếtquả sản lượng lương thực của xã đã tăng lên rõ rệt từ 800 tấn năm 1995 lên đến

1200 tấn năm 1996 và 1400 tấn năm 1997 Nạn đói đã đi vào quá khứ Lươngthực đủ ăn, các xã viên có điều kiện chăn nuôi, đưa tổng số trâu bò cày kéo từ

260 con lên tới 1300 con và đàn lợn nái của xã viên có 1500 con” Kết quả của 1

hợp tác xã được ghi nhận nữa được đăng trên số báo 2571: Hợp tác xã kiểu mới

Thọ Thành, với những thành tựu đã đạt được: “Tổng sản lượng lương thực bằng

thóc của hợp tác xã năm 1997 đạt 5483,5 tấn, đạt bình quân 722kg/người/năm,năm 1999 năng suất lúa đạt 12,5 tấn/ha, tổng sản lượng thóc của hợp tác xã đạt

6467 tấn, bình quân 835kg/người/năm Vụ sản xuất đông xuân năm 1999 – 2000với 503 ha đã đạt năng suất lúa 66 tạ/ha Sản xuất phát triển, vốn, tài sản cố định

Trang 31

từ 660.000.000 đồng (năm 1997) tăng lên 1.745.000.000 đồng (năm 1999) Hợptác xã đã xây dựng được 15 km đường giao thông rải nhựa và bê tông, 12 kmkênh mương thủy lợi được kiên cố hóa 100% gia đình có điện thắp sáng”.

Bên cạnh trồng lúa, nông nghiệp tỉnh nhà còn mở rộng diện tích trồngngô Cây ngô tăng nhanh về cả diện tích và sản lượng Năm 1991, diện tích trồngngô cả tỉnh là 17 ngàn hecta, năm 1995 tăng lên đến 24 ngàn hecta và đến năm

2000 là hơn 37 ngàn hecta, năng suất từ 12 tạ/ha lên 21,5 tạ/ha Trong số báo

1691, Báo “Nghệ An” đã có bài viết: Bước phát triển mới trong sản xuất, thâm

canh ngô ở tỉnh ta, “Thời kỳ phát triển mới của cây ngô ở tỉnh ta bắt đầu từ năm

1993 lại nay Bên cạnh chọn dùng giống ngô thuần Q2 là giống chủ lực, ta mởnhanh việc ứng dụng ưu thế vào sản xuất thâm canh Gần 3 năm phát triển ngôlai, kêt quả thu được tuy chưa thật cao nhưng đã mở ra triển vọng mới trong việcđầu tư thâm canh tăng năng suất ngô Năm 1993, diện tích ngô toàn tỉnh đạt17,466 ha, diện tích ngô lai 650 ha, năng suất toàn tỉnh đạt 11,84 tạ/ha Năm

1994, diện tích ngô toàn tỉnh đạt 20,019 ha, diện tích ngô lai 9166 ha, năng suấttoàn tỉnh đạt 18,1 tạ/ha Năm 1994, năng suất các giống lúa lai đạt 27,8 tạ/ha.Đông xuân 1994 -1995, năng suất ngô toàn tỉnh đạt cao nhất từ trước đến nay,tăng 26% so với năm 1994 và tăng gần 60% so với mức năng suất trung bình củanhiều năm trước” Tiếp tục đưa tin về việc tăng diện tích cây ngô ở các huyện,

Báo “Nghệ An” số 1838 đã đăng bài: Ngô, cây trồng chủ lực trong vụ đông ở

tỉnh ta, đã viết: “Năm 1996, toàn tỉnh gieo trồng 41 ngàn ha cây các loại, đạt 82

ngàn tấn lương thực quy thóc Riêng cây ngô gieo trồng 15 ngàn ha, năng suất

30 tạ/ha, sản lượng 45 ngàn tấn, diện tích ngô lai lên đến 12 ngàn ha (chiếm60%)”

Trang 32

Trong thời kỳ 1991 - 1995, ngô được trồng tập trung chủ yếu ở các huyệnmiền núi như Thanh Chương, Anh Sơn, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ những từ năm 1995– 2000, diện tích trồng ngô ở các huyện Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Nam Đàn tăngnhanh hơn Hầu hết các huyện trong tỉnh đều có cây ngô trong sản xuất vụ đông.Báo “Nghệ An” số 1635 đã đề cập đến diện tích trồng ngô ở Diễn Châu như sau:

“Diễn Châu bố trí gieo trồng 900 ha ngô lai MSB 49.9670 trên đất màu”

Cây công nghiệp phục vụ cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu được mởrộng về diện tích Từ năm 1995, các vùng nguyên liệu tập trung dần dần đượchình thành đáp ứng nguyên liệu cho các nhà máy và cho xuất khẩu Tỉnh tậptrung chỉ đạo mở rộng diện tích trồng mía ở các huyện Tân Kỳ, Nghĩa Đàn, QuỳHợp, Anh Sơn, cung cấp đủ nguyên liệu cho các nhà máy đường hoạt động Bêncạnh mở rộng diện tích, đẩy nhanh tiến độ trồng mía, Nghệ An còn chủ trươngđưa các giống mía mới vào sản xuất như Tân Đại Đường, ROC 1, ROC 10, nângnăng suất từ 51,4 tấn/ha (năm 1995) lên 60 tấn/ha (năm 1998) Sản lượng míanăm 1997 đạt 230 ngàn tấn

Chè là cây công nghiệp chủ lực, đứng đầu trong các loại cây công nghiệpdài ngày ở Nghệ An Chè là cây trồng có giá trị kinh tế cao, tạo sản phẩm hànghóa đa dạng và có thị trường xuất khẩu rộng Cây chè là một cây trồng có hiệuquả kinh tế cao “Cây chè trên đồi – hiệu quả kinh tế trên 1 ha chè trên đồi caogấp 6 lần 1 ha ruộng lúa nước” Diện tích, sản lượng chè ở tỉnh ta được phản ánh

qua số báo 1685 với bài viết: Sự phát triển cây chè ở tỉnh ta như sau: “ Đến cuối

năm 1994 tỉnh ta mới có gần 2.000 ha chè công nghiệp, sản lượng đạt 1.200 tấn

và xuất khẩu đạt được 1.000 tấn Năm 1995, toàn tỉnh có 27 ngàn ha trồng chè,năm 1998 có 49 ngàn ha, tăng gấp đôi, trong đó, diện tích kinh doanh là hơn 27ngàn ha” Chè được trồng tập trung ở các huyện Thanh Chương, Anh Sơn, Con

Trang 33

Cuông, Quỳ Hợp Số báo 2166 đã có một bài viết về một xí nghiệp chuyên môn

hóa trồng chè với bài viết: Ngọt chát cây chè Ngọc Lâm, “Xí nghiệp dịch vụ chế

biến chè Ngọc Lâm đã có tới 345 ha chè công nghiệp, trong đó có 165 ha chèkinh doanh, 180 ha chè đang trong thời kỳ xây dựng cơ bản, hàng năm thu háitrên 1000 tấn búp chè tươi”

Những giống chè mới như chè PH1, TRI 777 trung du lá nhỏ được đưavào sản xuất cho năng suất cao từ 9 đên 10 tấn búp tươi/ha Cuối năm 1998, tỉnh

ta bắt đầu nhân giống chè tuyết San ở vùng cao Kỳ Sơn, Thanh Chương, ConCuông, dần dần xây dựng những vùng này trở thành vùng trồng chè trọng điểmcủa tỉnh

Bên cạnh cây chè, lạc cũng là cây trồng đạt hiệu quả cao, có giá trị hànghóa lớn, là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh ta Trong những năm 1991 –

2001, diện tích lạc trên toàn tỉnh được mở rộng, thâm canh tăng vụ Nhiều huyện

trong tỉnh đã đạt được năng suất cao như: Nam Thịnh – Điển hình thâm canh lạc

của Diễn Châu đã viết: “Năm 1990, đạt 21 tạ/ha Năm 1991, đạt 23 tạ/ha Nhiều

gia đình thâm canh lạc đạt năng suất cao như anh Năng, anh Phúc, anh Tam đội

12, anh Bính đội 13, ông Cường đội 15 đạt 130 – 170kg/sào Vụ lạc xuân năm

1991 Nam Thịnh được mùa nhất từ trước đến nay, có 30% số hộ đạt năng suất từ

120 – 150kg/sào” Nghi Long – được mùa lạc “ sản lượng lạc hàng hóa ở đây có

từ 250 – 270 tấn Bình quân toàn xã đạt năng suất 2 tấn/ha Một số hộ thuộc diệnlàm ăn giỏi, thu hoạch 1 ha được 3 tấn lạc”, số báo 2158 đã đưa tin Sản phẩmlạc hàng hóa của Nghệ An không chỉ phục vụ nhu cầu trong tỉnh mà còn xuất

khẩu với tin bài: Xuất khẩu hơn 23 nghìn tấn lạc (số 1832); Lạc Nghệ An đến

với thị trường Nhật Bản (số 2005).

Trang 34

Cây ăn quả phát triển rộng khắp trong vườn các gia đình khi kinh tế hộ giađình được khuyến khích, đáp ứng như cầu trong, ngoài tỉnh và xuất khẩu Cây ănquả được trồng với nhiều chủng loại: cam (Phủ Quỳ), chanh, hồng (Nam Đàn),chuối (Anh Sơn), vải, nhãn (Thanh Chương, Tân Kỳ) Số báo 2096 với bài viết:

Phát triển cây ăn quả ở tỉnh ta, viết: “Theo số liệu chưa đẩy đủ, tỉnh ta đã cải tạo

2.241 ha vườn tạp, xây dựng 664 ha vườn mới, trồng 80 vạn cây ăn quả các loại,góp phần vào công việc xóa đói, giảm nghèo ở từng địa phương, thôn bản Đãhình thành những địa bàn trồng cây ăn quả, vừa thử nghiệm vừa có hiệu quả:cam Xã Đoài ở Nghi Diên, Hưng Trung; chanh ở Nghi Vạn, Khánh Sơn, HưngYên; quýt các loại ở nông trường 19 -5, 22 -12; hồng ở Nam Xuân, Nam Anh vàmột vài ở Tân Kỳ; dừa ở Diễn Yên, Diễn Hồng; nhãn, vải ở Giang Sơn, Bài Sơn,

nông trường 3 -2, lầm trường Con Cuông” Số báo 2106 với bài viết: Phát triển

cây ăn quả từ vườn nhà ra vườn đồi tiếp tục đưa tin: “Năm 1995, toàn tỉnh ta

diện tích trồng cây ăn quả là 12.675 ha trong đó vùng trung du, núi thấp là5628,9 ha, vùng đồng bằng 5357,2 ha, vùng đồng bằng ven biển 3125,3 ha Năm

1997, toàn tỉnh trồng được 14.141 ha, trong đó các nông trường là 1551 ha”

Phát triển cây ăn quả trên đất vườn nhà đã thu lại hiệu quả kinh tế cao cho

nhiều hộ gia đình, Báo “Nghệ An” số 1862 đã có bài viết: Lợi thế cây ăn quả ở

Tân Kỳ, “Trong vườn của người dân Tân Kỳ ngoài các loại cây trồng lâu năm

như cam, chanh, hồng, hiện nay đã có thêm một số cây có giá trị như Bưởi PhúcTrạch, xoài Nam Bộ, nhãn vải Hà Bắc, Hưng Yên cho thu nhập cao Hiện tại có

5000 gốc xoài đang phát triển, có nhiều hộ 1 gốc xoài cho thêm thu nhập bằng 1tấn thóc Hiện nay mỗi năm nếu tính sơ bộ riêng cây ăn quả trong vườn củangười dân Tân Kỳ, giá trị thu không ít hơn 800 triệu đồng” Số báo 2106 tiếptục: “Một số vườn hộ trồng chanh Xã Đoài thu nhập từ 10 - 15 triệu đồng/năm

Trang 35

Vùng chanh ven đồi Khánh Sơn, Nam Đàn có hộ thu hoạch 1 năm từ 15 – 25triệu đồng, hồng ở Nam Đàn có hộ trồng 14 - 20 cây, thu hoạch từ 10 đến 14triệu đồng”

Cuối năm 1998, Nghệ An bắt đầu tiến hành quy hoạch các vùng trồng một

số loại cây ăn quả chủ lực tập trung nhằm tạo nên khối lượng hàng hóa lớn như:vùng trồng hồng, chanh (Nam Đàn, Nghi Lộc), vùng trồng cam (Nghĩa Đàn, TânKỳ), vùng trồng nhãn, vải (Tân Kỳ, Đô Lương), vùng trồng xiêm, na, cam (Vinh,Của Lò, Hưng Nguyên)

Thông qua Chương trình trồng rừng 327, với phương châm nhà nước vànhân dân cùng làm, cây quê được đưa vào trồng và đầu tư phát triển ở vùng TâyBắc Nghệ An Số báo 1312 ngày 10 -1 -1992 cũng đã có bài viết về vấn đề này:

Làm tốt việc giao đất trồng quế, trồng rừng, “ Năm 1991, lâm trường Quế Phong

đã bắt đầu triển khai thực hiện chương trình này, đã trồng 20 ha quế Nhiều hộ

đã trồng từ 890 đến 1000 ha rừng quế Phấn đấu đến năm 1995 sẽ trồng 1200 harừng quế, đảm bảo thu nhập 1 công nhân đạt từ 1,5 triệu đồng đến 2 triệu đồng/tháng” Vì có chính sách khuyến khích giao đất, giao rừng để phát triển cây quế,diện tích trồng quế ở Quế Phong, Quỳ Châu và Quỳ Hợp đang tăng khá mạnh,cuối năm 1999 đạt trên 6 ngàn ha

Ngoài việc phát triển trồng quế, cây cà phê và cao su cũng được mở rộngdiện tích Cao su và cà phê được trồng nhiều trên vùng đất đỏ badan ở NghĩaĐàn, Quỳ Hợp Số báo 1352 đã đưa tin “Trồng mới 3 vạn ha cao su, cà phê ở

trung du và miền núi” Trong bài: Phát triển cây cao su tạo nền nông nghiệp bền

vững ở Nghệ An đăng trên số 1922 đã viết: “Hiện nay tỉnh ta có khoảng 4200 ha

cao su, trong đó có 1640 ha đang thu hoạch” “Trồng mới 1 ha cao su cầnkhoảng 6,5 triệu đồng mỗi năm; trồng 2000ha cần có 78 tỷ đồng Việc chăm sóc

Trang 36

cây cao su cho đến lúc khai thác mỗi ha cần có 18 triệu đồng” Vì thế, để pháttriển, nâng cao chất lượng của cây cao su và cà phê người nông dân trồng cà phê

và cao su còn được chính quyền địa phương hỗ trợ về vốn, giống cây trồng và kỹ

thuật chăm nuôi, thu hoạch Số 1439, Thực hiện chương trình phát triển kinh tế

trung du: Đầu tư 1.456 triệu đồng cho 339 hộ trồng cà phê có điều kiện thâm

canh tăng năng suất cây trồng

Về chăn nuôi, từ năm 1991 đến năm 2000, ngành chăn nuôi ở tỉnh ta cũng

có bước phát triển về số lượng và nâng cao dần chất lượng Số báo 1424 đã phảnánh thành tựu của chăn nuôi “Nhiều nơi đã phát động các hoạt động chăn nuôi.Nhiều hộ nuôi thêm lợn, gà, trâu, bò Những nơi có vốn đã phát triển đàn hươucao Số liệu thống kê: đàn trâu toàn tỉnh đạt 221.919 con, tăng 35% so với cùng

kỳ năm ngoái, đàn bò đạt 212.166 con, tăng 5,1% so với cùng kỳ năm ngoái.Đàn lợn đạt 623.097 con, tăng 6,25% so với cùng kỳ năm ngoái Riêng đàn lợnnái đã đạt được 74.877 con, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm ngoái Đàn gia cầmtoàn tỉnh đạt 3.915.000 con Đàn hươu cao đạt 7.400 con, tăng 1.600 con so vớicùng kỳ năm ngoái” Chương trình sind hóa đàn bò do trung ương đầu tư đượctriển khai và kết thúc trong 3 năm (1995 – 1998) Ngành nông nghiệp tập trungnâng cao chất lượng giống lợn lai theo hướng đạt tỷ lệ nạc cao và phát triểnnhanh chăn nuôi lợn ngoại, phát triển thức ăn công nghiệp giàu chất đạm đểnhanh chóng nâng cao chất lượng thịt cung cấp cho đời sống và xuất khẩu.Khuyến khích nông dân đầu tư nuôi các vật nuôi đặc sản như: hươu, nai, dê,nhím…

Về lâm nghiệp, thời kỳ này cũng có sự chuyển biến theo hướng xã hội hóangành nghề, tăng cường chăm sóc, bảo vệ và trồng rừng gắn với công tác địnhcanh định cư, giảm dần sản lượng khai thác Thực hiện theo chỉ thị 22, bằng các

Trang 37

cơ chế, chính sách khuyến khích người trồng rừng: kéo dài thời gian sử dụng đến

50 năm, ưu tiên các hộ bỏ vốn ra kỳ đầu tiên được hưởng 100% lợi nhuận rừngtrồng và rừng tự nhiên, 80% nguồn lợi khác từ rừng Nhờ các biện pháp này,diện tích giao rừng ngày càng tăng Trên số báo 1328 đã phản ánh: “Chỉ trongvòng 8 năm, toàn tỉnh đã giao được 64.555 ha rừng và đất rừng cho 90.089 hộgia đình Từ một vùng đất trống, rừng không chủ nay đã có chủ bảo vệ, pháttriển đúng với ý nghĩa ích nước lợi nhà Bình quân mỗi năm tỉnh ta đã phủ xanh

2000 - 3000 ha đất trống, trồng hàng chục triệu cây phân tán” Trong bài viết:

Kết quả bước đầu trong công tác xây dựng và phát triển vốn rừng, có viết: “Cho

đến năm 1993, đã giao thêm tiếp 2.195 ha rừng cho 1179 hộ giai đình và 1 hợptác xã, khoanh, nuôi dưỡng được 1000 ha rừng ở vùng trung du, miền núikhoanh được 2195 ha nương rẫy để canh tác nông nghiệp” Hình thành nhiềukhu rừng phòng hộ và đặc dụng như : sông Cấm, Vực Mấu, núi Chung… gópphần làm đẹp cảnh quan và bảo vệ môi trường sinh thái

Từ năm 1991 đến năm 1999, Nghệ An thu hút và thực hiệu có hiệu quảvốn đầu tư cho lâm nghiệp, các dự án PAM 4304 Báo “Nghệ An” cũng đã có

bài viết: Phát triển chương trình trồng rừng 4304, trên số báo 1323: “Chương

trình 4304 được tổ chức lương thực thế giới đầu tư vốn gần 15 ha rừng phòng hộven đê và các hồ đập lớn Các huyện Nghi Lộc, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, YênThành, Hưng Nguyên và Nam Đàn trồng 12 ngàn 500 ha Các huyện ThanhChương, Tân Kỳ, Anh Sơn, Nghĩa Đàn trồng 2500 ha” Chương trình 327 cũng

đã đạt được một số thành tựu đáng kể Một số ví dụ điển hình như ở lâm trườngNghi Lộc, sau 2 năm thực hiện chương trình 327 “Năm đầu tiên thực hiện dự án,lâm trường có ngày biện pháp khôi phục 64 ha rừng trồng trước đây vô chủ, bịphá hoại, nay có chủ đã xanh tươi, ươm 32 vạn cây giống các loại và mở ngay

Trang 38

chiến dịch trồng rừng vào vụ thu năm ấy, trong đó trồng mới 25 ha thông, thuhoạch 1,5 tấn hạt giống thông, khai thác 67 tấn nhựa với doanh thu 160 triệuđồng và tham gia chương trình trồng cây phòng hộ sông Cấm, trồng cây chắncát, cây cảnh, cây ăn quả cho nhân dân trong huyện…Bước vào năm 1994, đượcnhận thêm 300 triệu tiền vốn của dự án, lâm trường đã giao và khoán 1.4000 harừng cho 77 hộ quản lý, bảo vệ, động viên các gia đình phát triển chăn nuôi trâu,

bò, dê, cá và trồng cây ăn quả; cấp 19 triệu đồng cho 45 hộ di dân vào vùng dựán”, tin đăng trên số báo 1642

Nhờ đổi mới cơ chế quản lý, tổ chức lại sản xuất và tăng cường đầu tư nêntốc độ phát triển trong sản xuất lâm nghiệp Nghệ An tăng nhanh từ 77% vàonăm 1991 lên đến 102,6% Việc giao đất, khoán rừng đã làm hạn chế đáng kểviệc đốt rừng làm nương rẫy, chặt phá rừng

Về ngư nghiệp, thực hiện các Nghị quyết của Đảng về đổi mới cơ chếquản lý, ngành hải sản đã chỉ đạo các đơn vị quốc doanh, tập thể tổ chức lại sảnxuất, khuyến khích được các thành phần kinh tế đầu tư vốn mua sắm phương

tiện, nâng cao sản lượng đánh bắt Nghề cá nhân dân – sau đổi mới cơ cấu nghề

nghiệp, số 1379 đã viết: “Ở huyện Yên Thành, đến giữa năm 1992, tổng số

phương tiện khai thác có gắn máy loại 12CV trở lên là 2474 chiếc với tổng côngsuất 26281CV Trong đó có 1634 chiếc thuyền võ gỗ lắp 1 và 2 máy 12CV, cònlại lắp máy từ 16CV đến 82CV…Vùng Cửa Lò (Nghi Lộc) thuyền lắp máy33CV trang bị nghề vô khơi kiêm nghề câu mực, dạ cá, dạ tôm, loại thuyền trang

bị 45CV trở lên trang bị nghề vây rút chì, rê khơi, câu mực, dạ cá, dạ tôm”.Khuyến khích ngư dân đầu tư vốn, sắm thêm thuyền, trang thiết bị hiện đại, đổimới khoa học kỹ thuật đã thu lại nhiều hiệu quả Trên số báo 1279 cũng đã nêu

lên hiệu quả từ Mô hình của nghề cả nhân dân như sau: “Giá trị xuất khẩu đạt

Trang 39

12,5 triệu đô la, trong đó, thuộc khu vực quốc doanh chiếm 1,2 triệu đô Thuế đãnộp 188 triệu đồng, giá trị tài sản cố định hiện có 21 tỷ đồng” Một số bài báokhác cũng đề cập đến những hiệu quả việc đổi mới cơ chế trong khai thác thủy

sản như: Nghề cá ở Diễn Ngọc (số 1655); Một năm phát triển của ngành thủy

sản (số 1726); Quỳnh Lưu khai thác hiệu quả thế mạnh kinh tế biển (số 2125);

Ba năm triển khai chương trình đánh bắt xa bờ (số 2555); Cửa Lò – phát triển kinh tế biển (số 2555).

Cùng từ năm 1991, nghề nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh chủ yếu gắnliền với kinh tế hộ gia đình Năm 1995, diện tích nuôi trồng là 9.000ha, chỉ trong

2 năm đã tăng lên 12.000 ha Sản lượng nuôi tăng từ 5.700 tấn vào năm 1995 lên6.900 tấn vào năm 1997 Năm 2000, giá trị nuôi trồng thủy sản đạt 104.569 triệu

đồng, chiếm 1/3 tổng giá trị sản xuất thủy sản trong toàn tỉnh Trong bài: Đổi

thay từ những đồng tôm số 2033 đã viết: “Nguồn thu từ nuôi tôm đã cuốn hút cả

xã nỗ lực hơn Năm 1991, chuyển thêm 64 ha đất làm muối sang nuôi tôm Năm

1995, chuyển tiếp 44 ha nữa 9 tổ hợp nhận thầu diện tích trên, thu hút trên 100lao động vào sản xuất Tổ hợp ông Hồ Đặng Trình là lớn nhất Mỗi năm tổ hợpnày nộp cho xã 175 triệu đồng Nhờ áp dụng kỹ thuật vào nuôi thâm canh, nênnăng suất đạt cao, con tôm đạt chất lượng xuất khẩu” Tiếp tục đưa tin, số báo

2614 với bài: Nghề nuôi tôm sú phát triển mạnh ở Quỳnh Lưu, “ Đến tháng 8

năm 2000, ở Quỳnh Lưu có gần 100 hộ nuôi tôm với diện tích 1000 ha, trong đó,

có 66 hộ nuôi tôm quảng canh với diện tích 800 ha, 21 hộ nuôi tôm thâm canh

với diện tích 30 ha” Nghề nuôi trồng thủy sản ở Quỳnh Lưu, số báo 2547 viết: “

Từ 4 năm trở lại đây (từ năm 1996), Quỳnh Lưu đã có 600 hộ khai thác 850 hanước lợ nuôi tôm: Quỳnh Bảng 230 ha, Quỳnh Dị 66 ha, Quỳnh Liên 56 ha vàmột số xã khác như Quỳnh Yên, Quỳnh Lộc, Quỳnh Xuân…Với 2.600 ao hồ của

Trang 40

hàng ngàn hộ dân xã vùng nông giang đã khai thác 800 ha nước ngọt nuôi cácloại cá và 40 ha nước sông hồ tự nhiên ở Quỳnh Phương, Quỳnh Thọ nuôi ngao.

Từ năm 1998 đến nay có hơn 4 tỷ đồng đầu tư vào nghề nuôi trồng thủy sản.Trong đó, 2,5 tỷ giành riêng cho con tôm…Trong 3 năm từ năm 1997 – 1999,sản lượng tôm tăng từ 3,6 lần, sản lượng này đã góp phần tăng kim ngạch xuấtkhẩu thủy sản huyện từ 3 – 4,5 triệu USD/năm” Một số huyện trong tỉnh cũngtăng diện tích nuôi trồng thủy sản như: Nghi Lộc, Diễn Châu, Cửa Lò…

1.2.2.2 Kinh tế công – thương nghiệp

Công nghiệp Nghệ An những ngày đầu mới tách tỉnh gặp rất nhiều khókhăn, bộc lộ nhiều yếu kém Trên cơ sở đó, Đảng bộ và chính quyền tỉnh đã cónhiều biện pháp thay đổi cơ chế quản lý, kêu gọi đầu tư, đưa ra các chính sách

ưu tiên để phát triển công nghiệp tỉnh nhà Một trong những chuyển biến mớitrong công nghiệp đó là tập trung phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn:ngành chế biến nông sản thực phẩm và ngành sản xuất vật liệu xây dựng Trongvòng 10 năm, từ năm 1991 – 2000, tốc độ tăng trưởng của công nghiệp Nghệ Anbình quân tăng 12,7%/năm

Công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm có tốc độ tăng trưởng bìnhquân từ 15 - 16%, chiếm tỷ trọng từ 32 – 35% trong công nghiệp Nét nổi bậtcủa công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm thời gian này là chú ý gắn kết vớicác vùng nguyên liệu Trên địa bàn tỉnh đã có nhiều nhà máy chế biến gắn liềnkhu nguyên liệu: nhà máy đường Tate & Lye với vùng nguyên liệu ở Phủ Quỳ

Trên số 1708 Báo “Nghệ An” cũng đã đưa tin về sự kiện này: Tập đoàn Tate &

Lye đầu tư xây dựng nhà máy đường 600 tấn mía/ngày tại Phủ Quỳ Đây là cơ

hội để tỉnh ta phát triển hơn nữa vùng nguyên liệu, cũng như giải quyết đượcviệc làm cho hàng trăm công nhân ở địa phương Nhà máy đường Sông Con

Ngày đăng: 08/11/2015, 17:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2.Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương (2000), Sơ thảo lịch sử báo Đảng bộ các tỉnh, thành phố, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ thảo lịch sử báo Đảng bộcác tỉnh, thành phố
Tác giả: Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2000
3. Cơ quan ngôn luận của Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, chính quyền và nhân dân Nghệ An, Báo Nghệ An (1991), (1266 – 1274) lưu tại thư viện Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Nghệ An
Tác giả: Cơ quan ngôn luận của Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, chính quyền và nhân dân Nghệ An, Báo Nghệ An
Năm: 1991
4. Cơ quan ngôn luận của Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, chính quyền và nhân dân Nghệ An, Báo Nghệ An (1991), (1277 – 1289) lưu tại thư viện Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Nghệ An
Tác giả: Cơ quan ngôn luận của Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, chính quyền và nhân dân Nghệ An, Báo Nghệ An
Năm: 1991
5.Cơ quan ngôn luận của Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, chính quyền và nhân dân Nghệ An, Báo Nghệ An (1992), (1293– Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Nghệ An
Tác giả: Cơ quan ngôn luận của Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, chính quyền và nhân dân Nghệ An, Báo Nghệ An
Năm: 1992
6. Cơ quan ngôn luận của Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, chính quyền và nhân dân Nghệ An, Báo Nghệ An (1993), (1352 – 1421) lưu tại thư viện Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Nghệ An
Tác giả: Cơ quan ngôn luận của Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, chính quyền và nhân dân Nghệ An, Báo Nghệ An
Năm: 1993
7.Cơ quan ngôn luận của Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, chính quyền và nhân dân Nghệ An, Báo Nghệ An (1994), (1432 – 1495) lưu tại thư viện Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Nghệ An
Tác giả: Cơ quan ngôn luận của Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, chính quyền và nhân dân Nghệ An, Báo Nghệ An
Năm: 1994
8. Cơ quan ngôn luận của Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, chính quyền và nhân dân Nghệ An, Báo Nghệ An (1995), (1512 – 1697) lưu tại thư viện Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Nghệ An
Tác giả: Cơ quan ngôn luận của Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, chính quyền và nhân dân Nghệ An, Báo Nghệ An
Năm: 1995
9. Cơ quan ngôn luận của Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, chính quyền và nhân dân Nghệ An, Báo Nghệ An (1996), (1697 – 1797) lưu tại thư viện Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Nghệ An
Tác giả: Cơ quan ngôn luận của Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, chính quyền và nhân dân Nghệ An, Báo Nghệ An
Năm: 1996
10. Cơ quan ngôn luận của Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, chính quyền và nhân dân Nghệ An, Báo Nghệ An (1997), (1802 – 1879) lưu tại thư viện Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Nghệ An
Tác giả: Cơ quan ngôn luận của Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, chính quyền và nhân dân Nghệ An, Báo Nghệ An
Năm: 1997
11. Cơ quan ngôn luận của Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, chính quyền và nhân dân Nghệ An, Báo Nghệ An (1998), (1896 – 1968) lưu tại thư viện Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Nghệ An
Tác giả: Cơ quan ngôn luận của Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, chính quyền và nhân dân Nghệ An, Báo Nghệ An
Năm: 1998
12. Cơ quan ngôn luận của Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, chính quyền và nhân dân Nghệ An, Báo Nghệ An (1999), (2067– Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Nghệ An
Tác giả: Cơ quan ngôn luận của Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, chính quyền và nhân dân Nghệ An, Báo Nghệ An
Năm: 1999
14. Cơ quan ngôn luận của Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, chính quyền và nhân dân Nghệ An, Báo Nghệ An (2001), (2230 – 2378) lưu tại thư viện Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Nghệ An
Tác giả: Cơ quan ngôn luận của Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, chính quyền và nhân dân Nghệ An, Báo Nghệ An
Năm: 2001
15. Cơ quan ngôn luận của Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, chính quyền và nhân dân Nghệ An, Báo Nghệ An (2002), (2646– Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Nghệ An
Tác giả: Cơ quan ngôn luận của Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, chính quyền và nhân dân Nghệ An, Báo Nghệ An
Năm: 2002
16. Cơ quan ngôn luận của Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, chính quyền và nhân dân Nghệ An, Báo Nghệ An (2003), (2793 – 2889) lưu tại thư viện Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Nghệ An
Tác giả: Cơ quan ngôn luận của Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, chính quyền và nhân dân Nghệ An, Báo Nghệ An
Năm: 2003
17. Cơ quan ngôn luận của Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, chính quyền và nhân dân Nghệ An, Báo Nghệ An (2004), (5021–6043) lưu tại thư viện Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Nghệ An
Tác giả: Cơ quan ngôn luận của Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, chính quyền và nhân dân Nghệ An, Báo Nghệ An
Năm: 2004
18. Cơ quan ngôn luận của Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, chính quyền và nhân dân Nghệ An, Báo Nghệ An (2005), (6045– Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Nghệ An
Tác giả: Cơ quan ngôn luận của Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, chính quyền và nhân dân Nghệ An, Báo Nghệ An
Năm: 2005
19. Cục thống kê Nghệ An, Tình hình kinh tế – xã hội Nghệ An sau 10 năm tách tỉnh 1991 – 2001, tháng 6/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình kinh tế – xã hội Nghệ An sau 10 nămtách tỉnh 1991 – 2001
21. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 53 (6/1993 - 12/1994), Nxb Chính Trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, "tập 53" (6/1993 -12/1994)
Nhà XB: Nxb Chính Trị Quốc gia
22. Đào Duy Quát, Đỗ Quang Hưng, Vũ Duy Thông - chủ biên (2010), Tổng quan lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam 1925 – 2010, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổngquan lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam 1925 – 2010
Tác giả: Đào Duy Quát, Đỗ Quang Hưng, Vũ Duy Thông - chủ biên
Nhà XB: Nxb Chính trị quốcgia
Năm: 2010
23. Đỗ Mười: Báo chí văn nghệ trong sự nghiệp đổi mới, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí văn nghệ trong sự nghiệp đổi mới
Nhà XB: Nxb. Sự thật

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w