Tổng sản phẩm trong nước, thường viết tắt là GDP, là "giá trị thị trường của tất cả các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất trong một quốc gia trong một thời gian nhất định." II
Trang 1Câu hỏi:Tìm hiểu về 4 chỉ số:GDP,chỉ số thất nghiệp.lạm phát và cán cân thanh toán.
Bài làm của nhóm 1
*Tìm hiểu về GDP
I)Định nghĩa về GDP(Gross domestic product)
II) Đo lường GDP
III)GDP danh nghĩa và thực tế
IV)Vai trò của GDP
V) Mở rộng: GDP xanh
I)GDP-Gross domestic product
Các nhà kinh tế học đo lường các số lượng bằng cách sử dụng khái niệm Tổng
sản phẩm trong nước (Gross Domestic Product) Tổng sản phẩm trong nước, thường viết tắt là GDP, là "giá trị thị trường của tất cả các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất trong một quốc gia trong một thời gian nhất định."
II) Đo lường GDP
Thu nhập và chi tiêu và luồng chu chuyển:
Trong điều kiện kinh tế giản đơn và hoàn toàn đóng với bên ngoài, GDP phản ánh đồng thời tổng thu nhập của mọi người trong nền kinh tế và tổng chi tiêu cho việc mua sắm toàn bộ hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế Mọi giao dịch trong nền kinh tế được tiến hành bởi hai bên, bên mua và bên bán; được phân ra làm hai luồng chi tiêu và thu nhập Khoản chi tiêu của người mua nào đó chính là khoản thu nhập của những người bán khác Hiển nhiên là nền kinh tế phức tạp hơn nhiều so với nền kinh tế giả định miêu tả ở trên Nó không chỉ bao gồm hai mà bốn tác nhân kinh tế: hộ gia đình, công ty, chính phủ
và nước ngoài, tuy nhiên xét cho cùng thì vẫn là giao dịch giữa bên bán và bên mua Bởi vậy, xét tổng thể nền kinh tế thì chi tiêu luôn bằng thu nhập
2) Các phương pháp đo lường GDP
Để phân tích sức khỏe của một nền kinh tế hoặc xác định sự tăng trưởng của nền kinh tế ấy, cần có một cách thức đo lường kích cỡ của nó Các nhà kinh tế học thường đo kích cỡ của một nền kinh tế bằng việc đếm những hàng hóa mà nền kinh tế đó sản xuất
ra
Phương pháp chi tiêu :
GDP = C + I + G +NX
C : Tiêu dùng
I: Đầu tư
Trang 2G: Chi tiêu chính phủ
NX: Xuất khẩu ròng
Phương pháp thu nhập:
GDP = W + R + i + Pr + Te + OI + Dep
W: Thù lao lao động
R: Thu nhập tù tiền chi thuê tài sản
i: Tiền lãi ròng
Pr: Lợi nhuận doanh nghiệp
Te: Thuế kinh doanh (thuế gián thu – người tiêu dùng chịu)
OI: Thu nhập của doanh nhân
Dep: Khấu hao
Phương pháp sản xuất:
GDP = =
VA: Giá trị gia tăng
GO: Tổng giá trị sản xuất
IC: Chi phí trung gian
III) GDP danh nghĩa và GDP thực tế
GDP danh nghĩa là giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ tính theo giá hiện hành hay
là tổng của lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trong 1 năm nhân với giá của các hàng hóa và dịch vụ ấy trong năm đó
GDPt
n=∑QtPt
Trong đó:
i: loại sản phẩm thứ i với i =1,2,3 ,n
t: thời kỳ tính toán
Q: số lượng sản phẩm ; Qi: số lượng sản phẩm loại i
P: giá của từng mặt hàng; Pi: giá của mặt hàng thứ i
GDP thực tế là giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ hiện hành của nền kinh tế được
đánh giá theo mức giá cố định của năm cơ sở hay là tổng của lượng hàng hóa được sản xuất ra trong 1 năm nhân với giá cố định của các hang hóa và dịch vụ ấy trong năm cơ sở
GDPt
n=∑QtP0
i
Với giả định t=0 ở năm cơ sở
GDP danh nghĩa không thể hiện được sự gia tăng của nó chủ yếu là do gia tăng về giá hay lượng của các hàng hóa dịch vụ được tạo ra trong nền kinh tế Còn GDP thực tế cho biết sản lượng hàng hóa và dịch vụ nói chung của nền kinh tế thay đổi như thế nào theo thời gian
GDP thực tế được đưa ra nhằm điều chỉnh lại của những sai lệch như sự mất giá của đồng tiền trong việc tính toán GDP danh nghĩa để có thể ước lượng chuẩn hơn số lượng
Trang 3thực sự của hàng hóa và dịch vụ tạo thành GDP GDP thứ nhất đôi khi được gọi là "GDP tiền tệ" trong khi GDP thứ hai được gọi là GDP "giá cố định" hay GDP "điều chỉnh lạm phát" hoặc "GDP theo giá năm gốc" (Năm gốc được chọn theo luật định)
Chỉ số GDP thường thay đổi theo đơn vị phần trăm (%) Số liệu GDP hàng quý được công bố đều đặn vào một thời điểm xác định nào đó GDP với vai trò là một trong những chỉ số cơ bản nhất để chúng ta nắm bắt được hiệu quả hoạt động của toàn bộ nền kinh tế Tuy nhiên, bạn cũng không nên xem GDP là chỉ số duy nhất phản ánh sức cạnh tranh của nền kinh tế của một quốc gia
IV) Vai trò của GDP
GDP là công cụ quan trọng phản ánh tình hình phát triển của nền kinh tế quốc dân Trước tiên, tỉ lệ tăng trưởng GDP là chỉ tiêu kinh tế quan trọng nhất mô tả tình hình tăng trưởng kinh tế
Thứ hai, GDP là chỉ tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng phản ánh quy mô kinh tế Thứ ba, GDP bình quân đầu người là chỉ tiêu quan trọng thể hiện trình độ phát triển kinh tế bình quân đầu người Trình độ phát triển bình quân đầu người ở mức độ nhất định phản ánh mức độ giàu có và sự cao thấp của đời sống nhân dân
Thứ tư, GDP là chỉ tiêu quan trọng thể hiện cơ cấu kinh tế, là căn căn cứ quan trọng để chế định cơ cấu kinh tế, điều chỉnh chiến lược và sách lược kinh tế
Thứ năm, GDP là chỉ tiêu quan trọng để phản ánh sự thay đổi của tổng mức giá Tuy nhiên, GDP không thể phản ánh một cách toàn diện về sự phát triển của nền kinh tế, tiến bộ xã hội, mức sống của nhân dân và những thay đổi của tài nguyên môi trường
V) Mở rộng: GDP xanh
Trước đây sự tăng trưởng thuần tuý về kinh tế là tiêu chuẩn duy nhất đánh giá thành tựu kinh tế
Ngày nay, tăng trưởng bền vững với sự phát triển trên ba cực: Kinh tế - Xã hội - Môi trường đang trở thành xu thế phổ biến của hầu hết các quốc gia trên thế giới Những nghiên cứu gần đây đều cho thấy có sự liên quan chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với vấn đề ô nhiễm môi trường và sử dụng tài nguyên Yếu tố tài nguyên và môi trường chính
là một trong những tiêu chí đánh giá tăng trưởng chất lượng Chính phủ Việt Nam đã nhận thức được tầm quan trọng của việc hình thành nền kinh tế theo hướng phát triển bền vững Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 43/2010/QĐ-TTg theo đó, “chỉ số GDP xanh” đã được đưa vào trong hệ thống chỉ tiêu kinh tế xã hội quốc gia đến năm 2014 GDP xanh sẽ đánh giá toàn diện các mặt tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo
vệ môi trường
GDP xanh = GDP - Chi phí để phục hồi lại môi trường như đầu kì kế toán (nói cách khác là toàn bộ các khoản chi phí nhằm tái tạo môi trường như trước khi bước vào chu kì sản xuất diễn ra)
Tuy nhiên, chỉ số này vừa được đưa ra, vẫn còn có một số trở ngại và tư tưởng như việc h
ạch toán môi trường quốc gia vẫn còn mới đối với các nhà hoạch định chính sách và các nhà thống kê, khó được một số lãnh đạo địa phương chấp nhận,… Chỉ số này tương đối mới và chưa phổ biến, phần trên chỉ mang tính chất giới thiệu sơ qua Đây có thể sẽ là chỉ số thông dụng cho 1 nền kinh tế phát triển bền vững trong tương lai Và biết đâu được, 1 vài trong số các bạn đây sẽ góp phần vào việc khắc phục hạn chế và hoàn thiện chỉ số này
Trang 4* Tìm hiểu về thất nghiệp
I) Thất nghiệp là gì? Đo lường thất nghiệp như thế nào?
II) Phân loại thất nghiệp
III) Đối tượng có tỉ lệ thất nghiệp cao
IV) Thực trạng thất nghiệp
V) Nguyên nhân
VI) Tác động
VII) Hướng giải quyết
I)Thất nghiêp là gì??Đo lường thất nghiệp như thế nào?
Mỗi người trưởng thành(từ 15 tuổi trở lên) trong các hộ gia đình điều tra về thất nghiệp được xếp vào 1 trong 3 nhóm sau đây:
-Một người được cọi là có việc làm:nếu người đó sử dụng hầu hết tuần trước điều tra để làm công việc được trả tiền lương
-Một người được coi là thấtt nghiệp nếu trong tuần lễ trước điêu tra người đó không có việc làm nhưng có nhu cầu và nổ lực tìm kiếm việc làm
-Người không nằm trong lực lượng lao đọng là những người không thuộc 2 loại
trên,chẳng hạn sinh viên hệ tập trung dài hạn,người nội trợ hoạc người nghỉ hưu…
Tỷ lệ thất nghiệp chính là tỉ lệ phần trăm của lực lượng lao động bị thất nghiêp:
Tỷ lệ thất nghiệp=(Số người thất nghiệp/ lực lượng lao động)*100
Trong đó:Lực lượng lao động=Số người có việc làm+Số người thất nghiệp
II)Phân loại thất nghiệp
Thất nghiệp thường được chia làm 2 dạng:Thất nghiệp tự nhiên và thất nghiệp chu kỳ 1.Thất nghiệp tự nhiên:biểu thị mức thất nghiệp bình thường mà nền kinh tế phải
chịu.Gồm thất nghiệp tạm thời phát sinh khi công nhân cần thời gian để tìm việc làm,thất nghiệp cơ cấu phát sinh khi không có sự ăn khớp giữa cơ cấu của cầu và cung lao động
và thất nghiệp theo lý thuyết cổ điển xảy ra khi tiền lươngđược chủ động duy trì cao hơn mức cân bằng thị trường
2.Thất nghiệp chu kỳ:biểu thị những dao động ngắn hạn của thất nghiệp xung quanh mức
tự nhiên
Trang 5III)Đối tương có tỉ lệ thất nghiệp cao:
http
:// doanhnhansaigon vn / online / dien - dan - doanh - nhan / thoi - su /
2011/08/1057165/ nguoi - tre - that - nghiep - nhieu - la - that - bai - cua - xa - hoi /
Theo thống kê hiện nay,tỉ lệ thất nghiệp cao tập trung phần lớn ở thanh niên
Hằng năm, cả nước có khoảng 1 triệu học sinh tốt nghiệp tú tài, cộng với số học sinh rớt đại học – cao đẳng các năm trước, như vậy tổng cộng gần 2 triệu lượt thí sinh tham dự tuyển sinh vào đại học – cao đẳng hằng năm nhưng chỉ khoảng 500.000 sinh viên đậu Mỗi năm cũng còn khoảng 800.000 học sinh không vào được ĐH-CĐ, bao nhiêu em kiên trì thi lại? Bao nhiêu em “bổ sung” vào đội quân thất nghiệp hằng năm? Ngay trong các sinh viên tốt nghiệp đại học, tỷ lệ thất nghiệp cũng không phải nhỏ Điều này trở thành nỗi ám ảnh của các tân cử nhân
Theo điều tra của Viện Nghiên cứu thanh niên, 70% sinh viên Việt Nam cho biết lo lắng hàng đầu hiện nay là việc làm Điều tra của Bộ GD-ĐT, cả nước có tới 63% sinh viên tốt nghiệp ĐH-CĐ ra trường không có việc làm, 37% có việc làm nhưng nhiều SV phải làm trái nghề hoặc phải qua đào tạo lại
IV)Thực trạng thất nghiệp
N2http :// www baomoi com / Nam -2010- ty - le - that - nghiep - cua - Viet - Nam - la -288/47/5475946 epi
Tỉ lệ
thất
nghiệ
p
http
:// vtv vn / article / get /6- thang - dau - nam - ty - le - that - nghiep - ca - nuoc - la -229- d 4 f 221 f 4 ff html
Tổng cục Thống kê vừa cho biết, sáu tháng đầu năm nay, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi là 2,29%.
V)Nguyên nhân :
-Tình trạng suy thoái kinh tế, lạm phát tăng nhanh
-Thời gian cần thiết để công nhân tìm được việc làm thích hợp với sở thích và kỹ năng của họ.Trợ cấp là chính sách của chính phủ có tác dụng ổn định thu nhập cho công nhân ,lại làm tăng thất nghiệp tạm thời
-Do có sự không ăn khớp giữa cung và cầu lao động trên các thị trường lao động cụ thể.Các chương trình đào tạo lại của chính phủ sẽ giúp công nhân dễ dàng chuyển đổi từ các ngành bị suy thoái sang các ngành đang mở rộng
- Luật tiền lương tối thiểu.Việc thông qua việc làm tăng tiền lương của công nhân không
có tay nghề và kinh nghiệm lên cao hơn mức cân bằng ,luật tiền lương tối thiểu làm tăng lượng cung lao động và làm giảm lượng cầu.Múc dư cung phát sinh biểu thị thất nghiệp
bổ sung
-Sức mạnh của công đoàn.Khi công đoan đẩy mạnh tiền lương trong các ngành có công đoàn lớn hơn mức cân bằng,họ tạo ra tình trạng dư cung về lao động
-Nguyên nhân của thất nghiệp cũng được lý thuyết tiền lương hiệu quả nêu ra.Theo lý thuyết này, doanh nghiệp hiểu rằng họ được lợi trong việc trả tiền lương cao hơn mức cân bằng.Tiền lương cao hơn có thể cải thiện sứ khỏe của công nhân,giảm sự luân chuyển công nhân,nâng cao nổ lực của công nhân và chất lượng của họ
VI)Tác động:
Thất nghiệp vừa có tác động về cả mặt tích cực lẫn tiêu cực:
-Tích cực:lợi ích cơ bản của tiêu cực là tạo diều kiện để xếp đúng người vào đúng việc
và làm tăng năng suất lao động:
Trong 1 chừng mực nào đó thất nghiệp tạm thời có thể là 1 điều tốt,người ta
Trang 6không chấp nhận công việc đầu tiên mà họ được yêu cầu.Quá rình tìm việc sẽ giúp người lao động kiếm được vệc làm tốt hơn,phù hợp hơn với nguyện vọng và năng lực của họ.Điều này còn có 1 lợi ích cho xã hội:làm cho việc phân bố các nguồn lực 1 cách hiệu quả hơn và do đó góp phần làm tăng sản lượng của nền kinh tế trong thời gian dài
Thất nghiệp cũng có nghĩa là 1 người có nhiều thời gian cho việc nghỉ ngơ hơn,bằng cách từ bỏ việc làm nhiều ngườ nhận ra rằng nghỉ ngơi them mang lại cho họ nhiều thứ hơn tiền lương và thu nhập mà lẽ ra họ có thể nhận nếu làm viêc
Một người thất nghiệp sẽ được nghĩ ngơi và thời gian nhàn rỗi này cũng có 1 giá trị nào đó dù phần lớn thời gian nhàn rỗi này là không tự nguyện và có giá trị nhỏ hơn so với phần thu nhập bị mất
-Tiêu cực:
+Đối với cá nhân:Thất nghiệp gây ra sự mất mát thu nhập và tổn thương về tâm lý
Thất nghiệp là mối lo của mọi người dân lao động bởi nó gắn liền với cả đời sống vật chất và tinh thần của họ
+Đối với xã hôi:
Thất nghiệp đang là một nỗi lo lớn, tình trạng thất nghiệp gây nhiều hệ lụy và trở thành gánh nặng cho xã hội Tác động của thất nghiệp vô cùng nguy hiểm cho an sinh xã hội và sự phát triển bền vững của một nền kinh tế
Tỷ lệ thất nghiệp cao đồng nghĩa với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thấp – các nguồn lực con người không được sử dụng, bỏ phí cơ hội sản xuất thêm sản phẩm và dịch vụ Thất nghiệp dẫn đến nhu cầu xã hội giảm Hàng hóa và dịch vụ không có người tiêu dùng, cơ hội kinh doanh ít ỏi, chất lượng sản phẩm và giá cả tụt giảm Hơn nữa, tình trạng thất nghiệp cao đưa đến nhu cầu tiêu dùng ít đi so với khi nhiều việc làm, do đó mà
cơ hội đầu tư cũng ít hơn
Thất nghiệp sẽ làm cho người lao đọng mất thu nhập,tổng cầu giảm trong khi tổng cung vẫn tăng theo mức bình thườngàđây cung là 1 trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng lam phát
Tình trang thất nghiệp,thiếu việc làm trong nước cũng khiến nhiều lao đông phải
ra nước ngoài tìm việc lám và hiện tượng chảy máu chất xám cũng sinh ra rừ đây
Nhiều tệ nạn xã hội cũng được hình thành và phát triển(chủ yếu là đối tương thanh niên) do nguyên nhân thất nghiêp
Ở Việt Nam, tỷ lệ thanh niên thất nghiệp và thiếu việc làm tăng cao, lại tỷ lệ thuận với con số các vụ án được xét xử do tòa án công bố: Số thanh niên phạm tội hình sự ngày càng tăng, số thống kê chưa đầy đủ cũng đã cho thấy trên 60% người phạm tội hình sự ở trong độ tuổi thanh niên từ 15-30 Hệ lụy nhãn tiền đã rõ!?
Thất nghiệp càng làm tăng khoảng cách giàu nghèo
VII)Hướng giải quyết:
Để giải quyết vấn đề thất nghiệp,chính phủ có thể thưc hiện 1 số biện pháp sau đây:
-Hỗ trợ của chính phủ đối với việc đào tạo và sắp xếp lại lao độngàgi£m th¥t nghiÇp t¡m thÝi
-Tăng tính linh hoạt cho thị trường lao độngàgiảm thất nghiệp theo lý thuyết cổ điển -Cải cách chương trình bảo hiểm thất nghiệp
-Các chính sách kinh tế vĩ mô ổn định sản lượng:àgiảm thất nghiệp chu kỳ,qua đó giảm thất nghiệp tự nhiên
(Tuy nhiên hiện nay thất nghiệp vẫn đang là mối quan tâm và lo ngại hang đầu của toàn
xã hôi,làm thế nào đẻ giải quyết tôt vấn đề thất nghiệp là 1 dấu hỏi lớn đặt ra,và để trả lời được câu hỏi này cần có sự hợp lực của chính phủ,các doanh nghiệp cung như mọị tầng lớp lao động trong xã hội,trong một thời gian dài.)
* Vấn đề lạm phát
Trang 7I) Định nghĩa lạm phát
II) Cách tính và các loại lạm phát
III) Nguyên nhân gây ra lạm phát
IV) Những tổn thất xã hội của lạm phát
I)Định nghĩa lạm phát:
Hằng ngày,trên các bản tin,các bài báo viết về kinh tế có nhắc đén thuật ngữ lạm phát rất nhiều.ví dụ như: lạm phát năm 2011 vẫn ở mức khá cao 18,12% hoặc các chuyên gia kinh tế dự báo lạm phát năm 2013 có thể dừng lại ở mức 7-8%.vậy thuật ngữ này được hiểu như thế nào?tôi xin trả lời rằng lạm phát là sự gia tăng liên tục của mức giá chung.Ngoài ra còn có cách hiểu khác đó là sự suy giảm sức mua của đồng tiền.tôi có thể lấy ví dụ minh hoạ cho cách hiểu thứ 2 này:năm 2010 10k mua được 4 quả trứng
gà,nhưng đến năm 2011 do lạm phát cao 10k chỉ mua được 3 quả.như vậy sức mua hay giá trị của 10k bị giảm đi một quả trứng gà
II)Cách tính và các loại lạm phát:
Mỗi khi chúng ta muốn tìm hiểu xem lạm phát của năm nay là bao nhiêu,tăng hay giảm so với các năm trước,chúng ta chỉ cần tính tỉ lệ % của sự chênh lệch mức giá giữa 2 năm liên tiếp chia cho giá của năm liền kề trước đó.Những kết quả tính ra 1con số người
ta gọi đó là lạm phát vừa phải,từ 2 đến 3 con số gọi là lạm phát phi mã.một khi kết quả tính được>3 con số thì đó là siêu lạm phát.Nhìn lại những năm về trước chúng ta dễ thấy lạm phát là chỉ số biến đổi bất ổn định.trong dài hạn,chúng ta không thể biết được lạm phát tăng giảm như thế nào hoặc bao giờ xảy ra siêu lạm phát.Vấn đề cần quan tâm ở đây
là :cốt lõi của lạm phát nằm ở đâu? Liệu có phải bản thân lạm phát được cấu thành bởi những nhân tố luôn vận động bất ổn định cho nên mới không thể dự báo lạm phát trong dài hạn? Lạm phát gây ra hững hậu quả gì cho xã hội và tại sao chúng ta chỉ có thể kiềm chế nó mà không phải loại bỏ nó?
III) Nguyên nhân gây ra lạm phát
Các nhà kinh tế học cho rằng có lí do cơ bản là cốt lõi của lạm phát đó là: lạm
lạm phát do cầu kéo, chi phí đẩy, lạm phát ỳ và tiền tệ
1)Trước tiên chúng ta xem xét về vấn đề cầu kéo
Nguyên nhân này có thể hiểu đơn giản, khái quát nhất đó là do một tác động nào
đó làm cho tổng cầu lớn hơn tổng cung, khi đó hệ quả sẽ là xuất hiện khan hiếm về hang hóa và dịch vụ cuối cùng sẽ dẫn tới mức giá chung tăng lên, tôi xin giải thích rõ hơn: Khi
mà lượng cầu về tiêu dùng trong nước (có thể là tiêu dùng của người dân hoặc là tiêu dùng của chính phủ) tăng lên trong một khoảng thời gian nào đó hoặc khi cầu ở nước ngoài tăng, lượng hàng hóa xuất khẩu của chúng ta tăng theo dẫn đến tình trạng khan hiếm lượng hàng hóa trong nước Lạm phát cũng phụ thuộc vào sự biến động của nhu cầu đầu tư khi mà các nhà đầu tư cảm thấy có lợi về một thị trường nào đó, họ sẽ tranh giành nhau để có được phần lợi nhuận thông qua việc đầu tư của mình Như vậy, nhu cầu đầu
tư tăng lên đã đẩy giá cả tăng theo
2)Lạm phát do chi phí đẩy
Nhân tố quan trọng không thể thiếu gây ra lạm phát đó là chi phí đẩy Chúng ta không thể khẳng định rằng trong 3 loại chi phí : tiền lương, giá nguyên liệu nhập khẩu và thuế giám thu, loại chi phí nào có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất tới lạm phát
Bởi nếu một nước bị phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu thì khi giá nguyên liệu tăng sẽ làm cho giá sản phẩm đầu ra tăng theo Thuế gián thu cũng là một chi phí dặc biệt quan trọng bởi nó tác động trực tiếp tới giá cả hàng hóa tương tự như chi phí sản xuất hay thuế gián thu khi mà tiền lương của công nhân tăng lên thì các nhà sản xuất cũng phải đồng loạt tăng giá sản phẩm
3) Lạm phát ỳ
Trang 8Sang đến” lạm phát ỳ” có thể coi đây là một yếu tố tự nhiên không cần đến các cú sốc gây biến đổi mạnh.Tỉ lệ cung và cầu gần như cân bằng nhau và chúng tăng cùng theo một tỉ lệ
4) Tiền tệ
Nguyên nhân cuối cùng cũng là nguyên nhân sâu xa của hiện tượng lạm phát đó
là tiền tệ Khi có quá nhiều tiền trong lưu thông sẽ dẫn đến tình trạng dư cầu Khi cung và cầu cân bằng đồng nghiã với lượng tiền trong lưu thông vừa đủ nhưng khi lượng tiền quá nhiều sẽ dẫn tới dư thừa Số tiền dư thừa này sẽ được dùng để mua hàng hóa và dịch vụ nhằm cân bằng thị trường tiền tệ Nhưng “lạm phat cung” lại được quy định bởi những nguồn lực khan hiếm, do đó xuất hiện dư cầu Có thể giải thích theo một cách khác bằng phương trình sau: m*v=p*y
Trong đó: m:cung tiền
V:tốc độ chu chuyển
P:mức giá
Y:sản lượng
Theo tôi được biết tốc độ chu chuyển thường không biến đổi nhiều, khi mà M tăng nhanh hơn Y thì mức giá P sẽ tăng, khi đó lạm phát sẽ xảy ra
Qua 4 nguyên nhân trên, tôi đã có thể trả lời cho câu hỏi thứ 2: Chúng ta không
thể loại bỏ nó Nếu chúng ta suy luận ngược lại sẽ thấy rõ hơn: Làm sao không có cầu được?Công nhân có quyền đòi tăng lương, không thể không có thời gian thu hoặc cắt giảm hoàn toàn nguyên liệu nhập khẩu… Bốn yếu tố tác động đến lạm phát nêu trên luôn luôn biến đổi không ngừng và bất ổn định cho nên sẽ làm cho lạm phát luôn biến động và chúng ta khó có thể dự đoán được lạm phát của một nền kinh tế trong dài hạn Hiện nay, mọi chính phủ đều đang cố gắng hết sức để giữ lạm phát ở mức vừa phải, nếu để lạm phát tăng cao sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng
IV) Những tổn thất xã hội của lạm phát
Đối với lạm phát ở mức thấp hay mức nằm trong tàm kiểm soát, dự đoán được chúng ta có thể hạn chế phần nào: Các biến danh nghĩa, các hợp đồng vốn vay đều được điểu chỉnh cho phù hợp với lạm phát Tuy nhiên nó cũng gây ra một số ảnh hưởng nhất định:
Thứ nhất, chúng ta có thể coi lạm phát là một loại thuế đánh vào những người đang nắm giữ tiền Nó làm mất đi một phần giá trị ban đầu của lượng tiền đó, đương nhiên người đó sẽ mất đi quyền lợi Lạm phát còn làm tăng lãi xuất danh nghĩa từ đó làm giảm cầu tiền
Lạm phát còn tạo ra một loại chi phí khac,đó là chi phí thực đơn:giá cả của hàng hóa tăng sẽ gây tón kém trong việc phát hành thực đơn mới.Gía tương đối của các giao dịch đã được niêm yêt từ trước cũng bị thay đổi khi xảy ra lạm phát.khi đó lãi suất danh nghĩa sẽ bị giam vì phải trừ đi lạm phát.lạm phát gây ra sự nhầm lẫn và bất tiên:khi giá cả thay đổi có thể tính sai khoản thu nhập doanh nghiệp,công việc tính toán sẽ phức tạp hơn
vì hầu hết lai xuát trong các giao dịch đã được niêm yết từ trước
Đôí với lạm phát không dự tính trước,sẽ gây tổn thất cho những người nhân thu nhập danh nghia cố định hoặc chậm được điều chỉnh theo lạm phát,và nó cũng làm phân phối lại thu nhập và của cải giữa các thành viên trong xã hội không theo nỗ lực,cống hiến
và nhu cầu của họ
* Cán cân thanh toán
I) Khái niệm
II) Cơ cấu, các bộ phận
III) Vai trò của cán cân thanh toán
IV) Một số công thức tính trong cán cân thanh toán
I-Khái niệm
Trang 9Cán cân thanh toán là một bảng cân đối ghi chép một cách hệ thống toàn bộ những giao dịch kinh tế giữa trong nước với thế giới bên ngoài trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)
Cán cân thanh toán được ghi chép giống như một tài khoản Các giao dịch mạng lại ngoại tệ cho đất nước như xuất khẩu hay bán tài sản ra nước ngoài được ghi là khoản mục
có Ngược lại những giao dịch dẫn đến việc thanh toán ngoại tệ cho thế giới bên ngoài như nhập khẩu hàng hóa hay mua các tài sản nước ngoài được ghi là khoản mục nợ
II-Cơ cấu, các bộ phận
Theo quy tắc về biên soạn biểu cán cân thanh toán do IMF đề ra năm 1993 cán cân thanh toán của một quốc gia sẽ bao gồm
-Tài khoản vãng lai: ghi lại các giao dịch về hàng hóa, dịch vụ và một số chuyển khoản -Tài khoản vốn: ghi lại các giao dịch về tài sản thực và tài sản tài chính
-Thay đổi dự trữ ngoại hối nhà nước
-Mục sai số
III-Vai trò của cán cân thanh toán
Thực chất cán cân thanh toán là một tài liệu thống kê, có mục đích cung cấp sự kê khai đầy đủ những quan hệ tài chính của một nước với nước ngoài Do đó cán cân thanh toán là một trong những công cụ quan trọng trong quản lý kinh tế vĩ mô Thông qua phân tích cán cân thanh toán, chính phủ của mỗi quốc gia có thể đối chiếu giữa những khoản tiền thu được từ nước ngoài với những khoản tiền chi ra nước ngoài để từ đó có thể đưa
ra các chnhs sách điều hành phù hợp
Ngoài ra cán cân thanh toán còn là công cụ để đánh giá tiềm năng kinh tế của một quốc gia, giúp các nhà hoạch định có một dịnh hướng đúng đắn Cán cân thanh toán bộc
lộ rõ ràng khả năng bền vững, điểm mạnh và khả năng về tình hình kinh tế xã hội bằng việc đo lường chính xác kết quả nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ của đất nước đó, dự trữ ngoại tệ cũng như cho biết quốc gia đó là chủ nợ hay con nợ so với phần còn lại của thế giới
Cán cân thanh toán còn dược sử dụng như một chỉ số về kinh tế và ổn định chính trị Mặt khác nó còn phản ánh độ mở cửa hội nhập của nền kinh tế quốc gia và nền kinh tế thế giới và địa vị của quốc gia đó trên trường quốc tế
IV) Một số công thức tính trong cán cân thanh toán
-Cán cân thanh toán là tổng của cán cân tài khoản vãng lai và cán cân tài khoản vốn và một số sai số
-Cán cân thương mại = xuất khẩu cộng nhập khẩu(ở đây xuất khẩu luôn mang dấu + và nhập khẩu luôn mang dấu -)
-Thu nhập từ đầu tư bằng Lượng nhận trừ Lượng trả
-Cán cân tài khoản vãng lai= cán cân tương mại+thu nhập từ đầu tư+chuyển khoản ròng Như đã nói ở trên các ghi chép các giao dịch sẽ có sự chênh lệch là sai số
* Mối liên hệ giữa GDP, lạm phát, thất
nghiệp và cán cân thanh toán
Lạm phát xảy ra sẽ khiến hàng hóa nội địa đắt đỏ hơn, người dân trong và ngoài nước sẽ chuyển sang dùng hàng nước ngoài, đẩy cung ngoại tệ xuống và cầu ngoại tệ tăng cao, dẫn đến đồng tiền việt nam mất giá Đồng tiền mất giá đến lượt nó lại làm tăng giá hàng hóa nhập khẩu, khuyến khích xuất khẩu và sử dụng hàng nội địa, cán cân thanh toán sẽ được giữ trở lại mức cân bằng
Tỷ giá có ảnh hưởng quan trọng đến nhiều biến số kinh tế vĩ mô trong một nền kinh tế
mở như lạm phát cán cân thương mại và tăng trưởng kinh tế.Các tổ chức kinh tế hàng đầu thế giới luôn khuyến nghị phá giá đông nội tệ khi gặp khó khăn về cán cân thanh toán quốc tế với lập luận cho rằng phá giá sẽ làm cho hàng hóa nhập khẩu tăng trên thị trường trong nước và giá hàng hóa xuất khẩu giảm trên thị trương quốc tế.Các nguồn lực sẽ được thu hút vào các ngành sản xuất nội địa mà giờ đây có thể cạnh tranh có hiệu quả hơn so với hàng nhập khẩu,và nguồn lực cũng sẽ được thu hút nào các ngành xuất khẩu.nếu như nền kinh tế chưa tận dụng tối đa nguồn lực thì đây chính là cơ hội tốt để các doanh
Trang 10nghiệp mở rộng sản xuất để đáp ứng nhu cầu cao hơn.KQ sản lượng tăng thất nghiệp giảm
Nhận thấy lạm phát và tỉ lệ thất nghiệp tỉ lệ nghịch với nhau.(điều này thông qua đường Philips).Đồng tiền mất giá làm tăng giá hàng hóa nhập khẩu,khuyến khích xuất khẩu và
sử dụng hàng nội địa.vậy cầu về mặt hàng trong nước tăng,cầu về nguồn nhân lực sản xuất tăng=>tỉ lệ thất nghiệp giảm,hàng hóa sản xuất ra nhiều sẽ làm GDP trong nước tăng cao.Nhưng đến một thời điểm nào đó cung vượt cầu thị nguồn nhân lực sẽ bị thanh lý 1 phần, lạm phát cũng sẽ giảm,gdp sẽ giảm theo