Nét đặc trưng nổi bật của thực trạng nền kinh tế khi có lạm phát, giá cả của hầu hết các hàng hoá đều tăng cao và sức mua của đồng tiền ngày càng giảm nhanh... Điều đó kh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Môn học :Kinh Tế Vĩ Mô II
GVHD: GV Trần Thị Bích Dung
Nhóm SVTH: Nhóm 1
1.Trần Thị Ánh Duyên NL01
2.Trần Thị Thanh Hậu NL02
3.Hồng Sơn Niê NL02
4 Hoàng Phú Tân NL02
5 Nguyễn Anh Vũ NL01
6 Bùi Thi Mỹ Vy NL02
Tp HCM,ngày 29 tháng 2 năm 2012
Trang 2Mục Lục 2
Lời nói đầu 3
I Cơ Sở Lý Thuyết và Khái Niệm Liên Quan 4
1 Định nghĩa và phân loại lạm phát 4
1.1 Định Nghĩa 4
1.2 Phân loại lạm phát 4
2 Biểu hiện và diễn biến của lạm phát 4
II Thực Trạng Lạm Phát Ở Việt Nam 6
III Nguyên Nhân Gây ra Lạm Phát 9
IV Tác Động Của Lạm Phát Đến Nền Kinh Tế 13
V Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát 15
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay lạm phát là một trong những vấn đề nhức nhối của nước ta nói riêng và toàn thế giới nói chung Nó đã trở thành mối quan tâm lớn của các nhà chính trị và công chúng Trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam, lạm phát nổi lên là một vấn đề đáng quan tâm về vai trò của nó đối với sự nghiệp phát triển kinh tế Càng ngày cùng với sự phát triển đa dạng và phong phú của nền kinh tế, và nguyên nhân của lạm phát cũng ngày càng phức tạp Lạm phát ảnh hưởng không nhỏ tới nền kinh tế Việt Nam đặc biệt trong bối cảnh nước ta đang trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế hiện nay Nhất là cho đến thời điểm này giá cả các mặt hàng thiết yếu trong và ngoài nước diễn ra rất phức tạp Giá hầu hết các mặt hàng nhập khẩu thiết yếu như: xăng dầu, sắt thép, chất dẻo, phân bón… đều tăng Đặc biệt trong thời gian gần đây khi giá vàng trong ngoài nước, tỷ giá ngoại hối đột ngột tăng cao
Hiện nay vấn đề lạm phát đã được nhiều người quan tâm, nghiên cứu và
đề xuất các phương án khắc phục Đã từ lâu tiền giấy xuất hiện và chẳng bao lâu sau đó diễn ra tình trạng giảm giá tiền và dẫn đến lạm phát Nét đặc trưng nổi bật của thực trạng nền kinh tế khi có lạm phát, giá cả của hầu hết các hàng hoá đều tăng cao và sức mua của đồng tiền ngày càng giảm nhanh
Mỗi giai đoạn khi lạm phát xuất hiện với hình thức và dáng vẻ khác nhau thì lại có nhiều câu hỏi tranh luận được đặt ra: bản chất của lạm phát là gì? Các hình thức biểu hiện biểu hiện của nó ra sao? Nó có tác động nghiêm trọng như thế nào đối với nền kinh tế? Thực trạng về vấn đề lạm phát ở Việt Nam hiện nay đang diễn biến như nào? Chúng ta cần phải làm gì để điều tiết nền kinh tế và kiềm chế lạm phát…? Vì thế lạm phát là một vấn đề kinh tế vĩ
mô mà nhóm chúng em thảo luận và nghiên cứu cho bài tiểu luận của nhóm
Trang 4I Cơ Sở Lý Thuyết vá Khái Niệm Liên Quan.
1/ Định nghĩa và phân loại lạm phát
1.1/ Định nghĩa
Lạm phát là hiện tượng tiền trong lưu thông vượt quá nhu cầu cần thiết làm cho chúng bị mất giá, giá cả của hầu hêt các loại hàng hoá tăng lên đồng loạt
Để tính mức độ lạm phát các nhà kinh tế sử dụng chỉ số giá Chỉ số giá thường được sử dụng là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Ngoài ra, người ta còn sử dụng những chỉ số giá khác như: chỉ số giá cả sản xuất, chỉ số giảm lạm phát GNP
1.2/ Phân loại lạm phát
Có nhiều cách để phân loại lạm phát nhưng hum nay muốn nói đền 3 loại mà mình hay gặp và nghe đến nhiều nhất
a) Lạm phát vừa phải: còn gọi là lạm phát một con số,có tỷ lệ lạm phát dưới 10% một năm
b) Lạm phát phi mã: lạm phát xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với
tỷ lệ 2 hoặc 3 con số một năm
c) Siêu lạm phát: xảy ra khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ cao vượt xa lạm phát phi mãm siêu lạm phát kéo dài trên một năm với tỷ lệ lạm phát trên 200%
2/ Biểu hiện và diễn biến của lạm phát
Biểu hiện của lạm phát là tiền giấy bị mất giá, giá cả hàng hóa tăng Lúc đầu giá vàng tăng, sau đó lan rộng ra đối với giá cả các hàng hóa khác, nhưng giá cả các loại hàng hóa tăng không giống nhau Đối với hàng tư liệu tiêu dùng thiết yếu (lương thực, thực phẩm, hàng may mặc), giá cả tăng cao so với các hàng tiêu dùng khác Đối với tư liệu sản xuất thì giá cả tăng nhanh nhất lsf những vật tư nguyên liệu quan trọng (sắt, thép, kim loại…) Giá cả hàng hóa tăng lên làm cho đời sống người lao động ngày càng khó khăn, vì vậy cơ cấu tiêu dùng của người lao động sẽ bị thay đổi theo chiều hướng giảm tiêu dùng xa xỉ, lâu dài, tập trung cho tiêu dùng trước mắt Điều đó khiến cho chỉ số lạm phát của từng nhóm mặt hàng có thể không giống nha, thậm chí có những mặt hàng giảm giá, nhưng chỉ số giá chung thì vẫn tăng Ngoài những biểu hiện nói trên, lạm phát còn biểu hiện là tỷ giá
Trang 5ngoại tệ tăng liên tục, tức là tiền trong nước bị giảm giá còn ngoại tệ thì tăng giá
Thông thường trong nước có lạm phát, tiền giấy bị mất giá so với vàng, giá vàng trong nước tăng thì nó cũng sẽ làm tỷ giá ngoại tệ tăng Điều này đối với nước có lạm phát cũng có lợi thế là có thể đẩy mạnh được xuất khẩu hàng hóa
Cần chý ý là vì biểu hiện trực tiếp của lạm phát là sự tăng liên tục của giá cả hàng hóa, nên người ta thường đồng nhất lạm phát và tăng giá, và vì vậy người ta lấy chỉ số tăng gủa giá cả hàng hóa (nói chung) làm chỉ số lạm phát Thực ra chỉ số lạm phát và chỉ số tăng giá không hoàn toàn giống nhau Nói cách khác tỷ lệ tăng tiền (tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ hay tố độ tăng tiền) và
tỷ lệ mất giá của tiền giấy(chỉ số tăng giá-tỷ lệ lạm phát) không phải là hai khái niệm đồng nhất
Tại Việt Nam, từ năm 1990 trở về trước, tỷ lệ tăng giá (lạm phát) cao hơn tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ, chứng tỏ lạm phát rất nghiêm trọng
Từ sự phân biệt nói trên người ta đánh giá tình trạng của lạm phát qua việc so sánh hai chỉ tiêu là tỷ lệ tăng giá (tỷ lệ lạm phát) và tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ Từ đó cho rằng lạm phát diễn biến qua hai giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất: ở giai đoạn này tỷ lệ lạm phát (tỷ lệ tăng giá) nhỏ
hơn tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ, nói cách khác tốc độ mất giá của tiền giấy chậm hơn tốc độ tăng tiền Tình trạng này xảy ra ở Mỹ từ năm 1982 đến nay, còn ở Việt Nam, bắt đầu từ năm 1991 tỷ lệ tăng giá thấp hơn tỷ lệ tăng tiền
Theo các nhà nghiên cứu khi tỷ lệ lạm phát (tăng giá) nhỏ hơn tỷ lệ tăng tiền thì có nghĩa là lạm phát đang ở trong tình trạng có thể chấp nhận được và thậm chí người ta còn cho rằng với điều kiện đó lại là liều thuốc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Giai đoạn thứ hai: đấy là bước phát triển nguy hiểm hơn của lạm phát.
Tỷ lệ lạm phát (tăng giá) cao hơn tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ, nói cách khác tốc
độ mất giá tiền giấy lớn hơn, nhanh hơn tốc độ tăng tiền tình trạng này xảy ra
ở Việt Nam từ năm 1990 trử về trước Tại Mỹ từ năm 1971 đến năm 1981 đã xảy ra tình trạng này
Khi tố độ tăng giá lớn hơn tốc độ tăng tiền nghĩa là tiền tăng thêm ít mà giá cả tăng lên tì nhiều Trong trường hợp này, lạm phát không còn là hiện tượng của tiền tệ nữa, và vì vậy chứng tỏ một tình trạng nguy hiểm và bi đát của nền kinh tế tài chính.Lạm phát như vậy là lạm phát nguy hiểm và trầm
Trang 6trọng vô cùng Ở đó, người ta thấy sự mất giá của tiền giấy diễn ra nhanh
chóng như một cổ xe xuống dốc mất thắng
Đánh giá mức độ lạm phát bằng cách so sánh nó với tỷ lệ tăng trưởng
tiền tệ mới thấy tình trạng nguy hiểm và hiệu ứng của nó đối với nền kinh tế
xã hội
II Thực Trạng Lạm Phát Ở Việt Nam.
Nhìn chung, lạm phát ở nước ta từ năm 2004 đến nay luôn ở mức khá
cao Từ năm 2007 đến nay, lạm phát luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm giai đoạn 2006-2010 khoảng
7,1%, trong khi đó lạm phát bình quân hàng năm khoảng gần 11%
Mức lạm phát nói trên ở nước ta cũng cao hơn nhiều so với lạm phát của
các nước trong khu vực Ví dụ, lạm phát bình quân hàng năm ở Trung Quốc
giai đoạn 2006-2009 khoảng 3%, ở Indonesia khoảng 8,4%, Thái Lan khoảng
3,1%, Malaysia khoảng 2,7% và Philipine khoảng 5,8%,v.v… Bốn tháng đầu
năm 2011, lạm phát ở nước ta vẫn ở mức cao và diễn biến phức tạp
Lạm phát cuối tháng 4 năm 2011 so với tháng 12 năm 2010 đã tăng 9,64%;
tăng 17,51% so với tháng 4 năm 2010; lạm phát 4 tháng đầu năm 2011 so với
cùng kỹ năm 2010 đã tăng 13,95%
chỉ số giá tháng 12 năm 2011 so với
kỳ gốc năm 2009
Bảng: chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2011 của cả nước
Trang 7Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2011 tăng 0,36% so với tháng trước, trong đó nhóm giáo dục tăng cao nhất với 3,2%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,73%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,63%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,49%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,45% Các nhóm hàng hoá và dịch vụ còn lại tăng nhẹ hoặc giảm so với tháng trước gồm: Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,3%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,06% (Lương thực tăng 1,27%; thực phẩm giảm 0,49%); bưu chính viễn thông giảm 0,17%; giao thông giảm 0,13%; nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,03%
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2011 tăng 17,05% so với tháng 12/2010 và tăng 21,59% so với cùng kỳ năm trước Chỉ số giá tiêu dùng bình quân mười tháng năm 2011 tăng 18,5% so với bình quân cùng kỳ năm 2010
So với Báo cáo Triển vọng phát triển châu Á được công bố hồi tháng 4,Ngân Hàng phát triên Châu Á (ADB) không thay đổi nhận định về tăng trưởng của Việt Nam trong ngắn hạn Theo đó, tốc độ tăng GDP năm 2011 vẫn ở mức 6,1% (giảm so với mức 7% đưa ra vào cuối năm 2010) và sẽ đạt khoảng 6,7% trong năm 2012
Trang 8Diễn biến lạm phát (tính theo năm) tại Việt Nam kể từ năm 2007.
Nguồn: ADB
Theo ADB, việc kinh tế Việt Nam tăng trưởng chậm lại chủ yếu là do Chính phủ phải áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ và cắt giảm chi tiêu công nhằm kiểm soát lạm phát Điều này là dễ hiểu khi mặt bằng giá vào thời điểm kết thúc tháng 6/2011 đã cao hơn tới 20,8% so với cùng kỳ Đây là mức lạm phát cao nhất trong 14 nền kinh tế Đông Á mà ADB tiến hành khảo sát và cao gấp đôi so với nước xếp ở vị trí thứ 2 là Lào
Tiền đồng có mức giảm giá mạnh nhất trong khu vực kể từ tháng 3/2011 Nguồn: ADB
Trang 9Lạm phát cao và bất ổn kinh tế vĩ mô là bất lợi lớn đối với khuyến khích và thu hút đầu tư; làm cho môi trường kinh doanh ở nước ta kém cạnh tranh hơn so với các nước khác Lạm phát cao, biến động liên tục đã làm gia tăng chi phí sản xuất, giảm lợi nhuận; làm cho các kế hoạch đầu tư trung và dài hạn trở nên rủi ro hơn và không dự tính được một cách chắc chắn Hệ quả là, các doanh nghiệp nói chung không những phải cắt giảm đầu tư phát triển, mà có thể phải cắt giảm cả quy mô sản xuất hiện hành để đối phó với lạm phát cao
Thực tế cho thấy, lượng vốn FDI đăng ký bốn tháng đầu năm nay chỉ bằng 52% của cùng kỳ năm ngoái Lần đầu tiên trong hơn 10 năm qua, số doanh nghiệp đăng ký mới và số vốn đăng ký đã giảm xuống, chỉ bằng khoảng 75% của cùng kỳ năm ngoái Điều tra của Hiệp hội doanh nghiệp châu Âu cũng cho thấy chỉ số lạc quan kinh doanh của các doanh nghiệp thành viên ở Việt Nam trong quý I/2011 đã giảm đáng kể Lạm phát cao (nhưng tiền lương và thu nhập bằng tiền khác của người lao động không tăng lên tương ứng) đã làm cho thu nhập thực tế của họ giảm xuống Ví dụ, trong hai năm qua, lạm phát đã làm cho thu nhập thực tế của người lao động mất hơn 20%; từ đó, đời sống của đa số dân cư đã trở nên khó khăn hơn nhiều so với trước đây Lạm phát cao làm giảm giá trị thực của đồng tiền nội tệ, làm xói mòn giá trị số tiền tiết kiệm của dân chúng; làm giảm lòng tin và mức độ
ưa chuộng của người dân trong việc nắm giữ và sử dụng đồng nội tệ Điều đó vừa gây áp lực thêm đối với lạm phát, bất ổn kinh tế vĩ mô trước mắt, vừa làm xói mòn nền tảng phát triển lâu dài trong trung và dài hạn
III Nguyên nhân gây ra lạm phát:
Về mặt lý thuyết lạm phát có thể do các nhóm nguyên nhân:
Lạm phát do chính sách: thường xảy ra do những biện pháp tiền tệ mở
rộng, phản ánh thâm hụt thu chi ngân sách lớn và việc tài trợ thâm hụt bằng tiền tệ, thường là cội rễ của lạm phát cao Một ví dụ kinh điển đó là những trận siêu lạm phát ở Áo và Đức những năm 20 do mở rộng tiền tệ thái quá
Lạm phát do chi phí đẩy: xảy ra do tăng chi phí và có thể phát triển ngay
cả khi thất nghiệp và việc sử dụng nguồn lực còn thấp Vì tiền lương ( tiền công ) thường là chi phí sản xuất quan trọng nhất, sự gia tăng tiền lương không phù hợp với tăng trưởng năng suất có thể khơi mào cho quá trình lạm
Trang 10phát Nhưng lạm phát do chi phí đẩy có thể không dai dẳng nếu chính sách tiền tệ tác động vào, trong trường hợp đó, tiền lương tăng dẫn tới thất nghiệp cao hơn thay vì lạm phát cao hơn
Lạm phát do cầu kéo: xảy ra do tổng cầu vượt trội đẩy mức giá chung
lên cao Sự thúc đẩy của cầu có thể xuất phát từ những cú sốc bên trong hay bên ngoài nhưng thường hình thành từ những chính sách thu chi ngân sách hay tiền tệ mở rộng
Lạm phát trơ ì (lạm phát quán tính): có xu hướng dai dẳng ở cùng tỷ lệ
cho đến khi những sự kiện kinh tế gây ra nó thay đổi Nếu lạm phát cứ đều đặn, tỷ lệ lạm phát thịnh hành có thể được dự đoán và do đó được đưa vào các hợp đồng tiền lương và tài chính, điều này lại tiếp tục duy trì nó Tỷ lệ lạm phát quán tính đôi khi ngụ ý lạm phát cơ bản hay cốt lõi
Lạm phát do cơ cấu: ngành kinh doanh có hiệu quả tăng tiền công danh
nghĩa cho người lao động Ngành kinh doanh không hiệu quả, vì thế, không thể không tăng tiền công cho người lao động trong ngành mình Nhưng để đảm bảo mức lợi nhuận, ngành kinh doanh kém hiệu quả sẽ tăng giá thành sản phẩm Lạm phát nảy sinh từ đó
Lạm phát do cầu thay đổi: giả dụ lượng cầu về một mặt hàng giảm đi,
trong khi lượng cầu về một mặt hàng khác lại tăng lên Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả có tính chất cứng nhắc phía dưới (chỉ có thể tăng mà không thể giảm), thì mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫn không giảm giá Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thì lại tăng giá Kết quả là mức giá chung tăng lên, dẫn đến lạmphát
Lạm phát do xuất khẩu: xuất khẩu tăng dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn
tổng cung, hoặc sản phẩm được huy động cho xuất khẩu khiến lượng cung sản phẩm cho thị trường trong nước giảm khiến tổng cung thấp hơn tổng cầu Lạm phát nảy sinh do tổng cung và tổng cầu mất cân bằng
Lạm phát do nhập khẩu : khi giá hàng hoá nhập khẩu tăng thì giá bán sản
phẩm đó trong nước cũng tăng Lạm phát hình thành khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên
Nói chung nguyên nhân chủ yếu của lạm phát bao gồm những yếu tố tác động đến hai vế của quan hệ cân đối cung cầu, tức là các yếu tố tác động đến tổng cung, đến hàng và các yếu tố tác động đến tổng cầu, đến tiền
Xét theo các mặt này, thì các nguyên nhân của lạm phát thời gian qua