1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của xuất khẩu đối với sự phát triển kinh tế việt nam giai đoạn 2006 2010

34 335 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 101,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lợi thế tuyệt đối là lợi thế có được trong điều kiện so sánh chi phí để sản xuất racùng một loại sản phẩm, khi một nước sản xuất sản phẩm có chi phí cao hơn sẽ nhập sảnphẩm đó từ nước kh

Trang 1

Phần 1: XUẤT KHẨU VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ

1 Các khái niệm

1.1 Ngoại thương

Thương mại quốc tế ( ngoại thương) là việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ (hàng hóahữu hình và hàng hóa vô hình) giữa các quốc gia, tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giánhằm đưa lại lợi ích cho các bên Đối với phần lớn các nước, nó tương đương với một tỷ

lệ lớn trong GDP

Mặc dù thương mại quốc tế đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử loài người nhưng tầmquan trọng kinh tế, xã hội và chính trị của nó mới được để ý đến một cách chi tiết trongvài thế kỷ gần đây Thương mại quốc tế phát triển mạnh cùng với sự phát triển của côngnghiệp hoá, giao thông vận tải, toàn cầu hóa, công ty đa quốc gia và xu hướng thuê nhânlực bên ngoài Việc tăng cường thương mại quốc tế thường được xem như ý nghĩa cơ bảncủa "toàn cầu hoá"

1.2 Xuất khẩu và xuất khẩu hàng hóa

Xuất khẩu hay xuất cảng, trong lý luận thương mại quốc tế là việc bán hàng hóa

và dịch vụ cho nước ngoài, trong cách tính toán cán cân thanh toán quốc tế theo IMF làviệc bán hàng hóa cho nước ngoài

Trong tính toán tổng cầu, xuất khẩu được coi là nhu cầu từ bên ngoài (ngoại nhu).Mức độ phụ thuộc của một nền kinh tế vào xuất khẩu được đo bằng tỷ lệ giữa giá trị nhậpkhẩu và tổng thu nhập quốc dân Đối với những nền kinh tế mà cầu nội địa yếu, thì xuấtkhẩu có ý nghĩa quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế Chính vì thế, nhiều nước đangphát triển theo đuổi chiến lược công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu Tuy nhiên, vì xuấtkhẩu phụ thuộc vào yếu tố nước ngoài, nên để đảm bảo tăng trưởng kinh tế ổn định vàbền vững, IMF thường khuyến nghị các nước phải dựa nhiều hơn nữa vào cầu nội địa

Xuất khẩu hàng hóa: là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt nam hoặcđưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt nam được coi là khu Hải Quan riêng theoquy định pháp luật

Hàng hóa xuất khẩu: toàn bộ hàng hóa có xuất xứ trong nước và hàng tái xuấtkhẩu, được đưa ra nước ngoài hoặc đưa vào khu ngoại quan, khu vực tự do làm giảmnguồn vật chất trong nước

2.Các lý thuyết lợi thế trong thương mại quốc tế.

2.1.Lợi thế tuyệt đối ( A.Smith)

Trang 2

Lợi thế tuyệt đối là lợi thế có được trong điều kiện so sánh chi phí để sản xuất racùng một loại sản phẩm, khi một nước sản xuất sản phẩm có chi phí cao hơn sẽ nhập sảnphẩm đó từ nước khác có chi phí sản xuất thấp hơn.

Đối với các nước đang phát triển và các nước có công nghiệp kém phát triển thìthông qua mặt này ngoại thương sẽ giúp bù đắp sự yếu kém về khả năng sản xuất tư liệusản xuất và yếu kém về kiến thức công nghệ của các nước này

Hạn chế của lý thuyết này:

 Theo lý thuyết này thì các nước đang phát triển sẽ nhập khẩu, các nước phát triển

sẽ xuất khẩu như vậy sẽ tạo ra quan hệ không bình đẳng trong quan hệ quốc tế, cácnước đang phát triển sẽ phụ thuộc vào các nước phát triển

 Thực hiện theo lý thuyết này thì sẽ dẫn tới lãng phí nguồn lực của các nước đangphát triển vì họ sẽ không sản xuất nhiều

 Làm thu hẹp khả năng phát triển của thương mại quốc tế

2.2.Lợi thế so sánh của Ricardo

Một nước được gọi là có lợi thế so sánh về một mặt hàng nào đó so với một nướckhác khi việc sản xuất ra một mặt hàng đó ở nước này có chi phí cơ hội nhỏ hơn

Luật Ricardo : Một nước sẽ chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu sang một nướckhác một mặt hàng có chi phí cơ hội nhỏ hơn và nhập khẩu lại chính mặt hàng còn lại ởnước kia

Hạn chế : Ricardo chỉ sử dụng mỗi chi phí lao động mà thực tế để tạo ra sản phẩmthì có 2 loại chi phí : chi phí vốn và chi phí lao động

2.3.Lý thuyết lợi thế nguồn lực của Ohlin – Hecksher

Nôi dung: Với các nước có lợi thế về vốn thì sẽ chuyên môn hóa sản xuất và xuấtkhẩu các hàng hóa sử dụng nhiều vốn vì giá trong nước của sản phẩm này sẽ rẻ hơn giáquốc tế

Với các nước có lợi thế về lao động thì sẽ chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩucác hàng hóa sử dụng nhiều lao động sang các nước phát triển vì khi đó giá trong nướccủa sản phẩm này cũng sẽ rẻ hơn giá quốc tế

3.Các chiến lược xuất khẩu:

3.1.Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô

Trang 3

Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô là chiến lược của các nước đang phát triểntrong đó các nước này xuất khẩu sang các nước phát triển (là chủ yếu) loại sản phẩmthuộc hai nhóm ngành công nghiệp khai thác khoáng sản và ngành nông – lâm – thủy sản.

Tác dụng của chính sách:

 Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô giúp giải bài toán thiếu vốn do thu đượcnguông ngoại tệ và đồng thời thu hút được nguồn vốn FDI

 Giải bài toán việc làm cho nguời lao động

 Giải bài toán tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng và chuyển dịch cơ cấu kinh tếtheo chiều sâu

3.2.Chiến lược hướng về xuất khẩu

Chiến lược hướng về xuất khẩu là một chiến lược ngoại thương nhằm hướng sảnxuất và tiêu dùng trong nước ra thị trường quốc tế

Tác dụng

 Giảm sự thâm hụt trong cán cân thanh toán

 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng mở và có hiệu quả

 Giúp nâng cao năng lực cạnh tranh tăng trưởng, cạnh tranh quốc gia Trên cả 3phương diện : Cạnh tranh về công nghệ, cạnh tranh về thể chế, cạnh tranh về tăngtrưởng

Hạn chế của chính sách:

 Độ rủi ro cao vì bị phụ thuộc vào điều kiện kinh tế thế giới

 Gây ra việc lãng phí đối với các yếu tố nội địa : thị trường nội địa bị lãng quên,đồng tiền nội địa không được coi trọng

4.Vai trò của chiến lược xuất khẩu với phát triển kinh tế

Trang 4

Hoạt động xuất khẩu là hoạt động tất yếu khách quan trong quá trình hội nhập kinh

tế quốc tế và phát triển của đất nước Trong lịch sử phát triển kinh tế thế giới đã khẳngđịnh một đất nước phát triển một cách nhanh chóng và bền vững ngoài việc phải khai tháctối đa tiềm năng trong nước, còn phải biết tận dụng những tiến bộ của khoa học kĩ thuậtcủa kinh tế thế giới, phát huy lợi thế kinh tế trong nước thông qua hoạt động xuất nhậpkhẩu, trong đó xuất khẩu đóng vai trò là nhân tố tiên quyết, mang tính đầu tàu thúc đẩytăng thu nhập quốc dân

Đặc biệt trong thời đại ngày nay, sự tham gia vào phân công lao động quốc tế vàhợp tác quốc tế của một nước sẽ góp phần phát huy tối đa năng lực cạnh tranh của nước

đó trên trường quốc tế Trong bối cảnh đó, xu hướng toàn cầu hóa với sự tự do dần đượcnới rộng trong thương mại và đầu tư quốc tế đang diễn ra với tốc độ ngày càng cao khiếncho các quốc gia và khu vực luôn phải vận động trong một mối liên kết hữu cơ chặt chẽ

Và do đó tỷ trọng xuất nhập khẩu, đặc biệt là tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu trên tổng sốthu nhập quốc dân luôn là yếu tố quan trọng trong quá trình phát triển nền kinh tế củaquốc gia đó

4.1.Xuất khẩu với tăng trưởng kinh tế

Chính sách ngoại thương tác động tới tổng cầu.Khi xuất khẩu ròng tăng lên sẽ làmlượng tổng cầu tăng lên và sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Chiến lược ngoại thương tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước ngày cànglớn mạnh , nâng cao sức canh tranh trên thj trường quốc tế, hơn nữa thị trường thế giớirộng lớn sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thu được hiệu quả nhờ quy mô sản xuấtlớn

Chiến lược hướng ngoại còn tạo ra nguồn thu nhập ngoại tệ đáng kể cho đất nước.Ngoại thương trở thành nguồn tích lũy vốn chủ yếu trong giai đoạn đầu của sự nghiệpcông nghiệp hóa

4.2 Vai trò của xuất khẩu với chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Chiến lược hướng ngoại tạo ra khă năng xây dựng cơ cấu kinh tế mới năng động

Sự phát triển của ngành công nghiệp trực tiếp xuất khẩu đã tạo ra tác động tích cực tới cácngành công cấp đầu vào cho ngành xuất khẩu, khi đó các ngành công nghiệp chế biếncũng sẽ được phát triển

Trang 5

Chiến lược hướng ngoại tạo ra nguồn ngoại tệ cho đất nước Và khi có ngoại tệ sẽgiúp tăng được khả năng nhập khâir công nghệ, máy móc thiết bị cần thiết cho sự pháttriển của công nghiệp.

Mặt khác ngoại thương giúp tăng thu nhập của người lao động do đó có ảnh hưởngtơi sự phát triển của ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và dịch vụ

Chiến lược hướng ngoại giúp đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nướcxuất khẩu

4.3.Vai trò của xuất khẩu với việc nâng cao phúc lợi xã hội

Xuất khẩu giúp giải bài toán việc làm cho người lao động , từ đó mức sống ở cáckhu vực có tham gia xuất khẩu sẽ được cải thiện

Xuất khẩu giúp giải bài toán mở rộng cơ sở hạ tầng xã hội, kinh tế, kĩ thuật, tăngcường nền văn minh của xã hội

Trang 6

Phần 2: XUẤT KHẨU HÀNG HÓA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006 - 2010

1 Đánh giá chung.

1.1 Tình hình xuất khẩu của Việt Nam 2006-2010

Nhìn chung tổng kim ngạch xuất khẩu Việt Nam tăng qua các năm với tốc độ ngàycàng cao, trừ năm 2009 do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu nên đã giảm và

có khả năng sẽ chậm hồi phục lại tốc độ sau vài năm nữa:

Bảng1: tổng kết số liệu về kim ngạch xuất khẩu trong 5 năm qua:

xuất khẩu

TỷUSD

Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu cả nước đạt 39,8 tỷ USD, vượt 4,9% so với kế

hoạch và tăng 23% so với năm 2005

Đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu chung, các doanh nghiệp khối đầu tư nướcngoài chiếm 29,921 tỷ USD, doanh nghiệp 100% vốn trong nước đóng góp 15,184 tỷUSD Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tiếp tục dẫn đầu về đóng góp xuất khẩu

Tuy nhiên, điều đáng chú ý, sự tăng trưởng xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ngày càng mạnh mẽ, tỷ lệ thuận với làn sóng FDI tăngtrong những năm qua Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp có vốn FDI đã

Trang 7

đạt tới 142,9% so với dự kiến ban đầu; trong khi đó, các doanh nghiệp có vốn đầu tưtrong nước lại không đạt chỉ tiêu với mức hoàn thành kế hoạch chỉ là 77%.

Trong hơn 20 nhóm hàng xuất khẩu chính hầu hết các nhóm hàng chủ lực đều có

sự tăng trưởng mạnh và vượt mức kế hoạch đề ra Điều này cho thấy, bên cạnh sự thuậnlợi về thị trường và giá cả thì cũng thể hiện nỗ lực lớn của các doanh nghiệp Tính đếncuối năm 2006, đã có 9 nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD

Tính chung cả năm 2006, hầu hết các mặt hàng đều tăng trưởng mạnh, trong đó cótới 13 nhóm hàng vượt mức kế hoạch đã đề ra

Phân tích bước đầu cho thấy, trong tổng số 7,4 tỷ USD kim ngạch tăng thêm trongnăm 2006 có 2,94 tỷ USD tăng do thuận lợi về giá và 4,46 tỷ USD là do tăng trưởng về sốlượng Điều đó chứng tỏ quy mô xuất khẩu nước ta đã có sự tăng trưởng vững chắc, mức

độ phụ thuộc vào biến động giá cả thị trường đã giảm xuống

Biểu đồ 1: Xuát nhập khẩu Việt nam giai đoạn 2006 - 2010

Tổng kim ngạch xuất khẩu DN có vốn nước ngoài không kể dầu thô

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không kể dầu thô

Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu đạt 48,56 tỷ USD, tăng 22% so với năm 2006,

vượt 4,6% so với kế hoạch Chính phủ đặt ra là 17,4% Trong đó, kim ngạch xuất khẩu củakhu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 56,9%, đạt 27,7 tỷ USD

Trang 8

Về giá trị, kim ngạch xuất khẩu năm 2007 tăng 8,7 tỷ USD Trong đó, kim ngạchxuất khẩu nhóm hàng nông, lâm, thuỷ sản tăng 1,8 tỷ USD, nhóm nhiên liệu - khoáng sảntăng 0,2 tỷ USD, nhóm công nghiệp và thủ công mỹ nghệ tăng 3,8 tỷ USD và nhóm hàngkhác tăng 2,9 tỷ USD

Các thành tựu đạt được trong xuất khẩu năm 2007:

Thứ nhất, quy mô và tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu tiếp tục được duy trì

ở mức cao

Thứ hai, cơ cấu hàng hoá xuất khẩu đã có những chuyển dịch tích cực theo hướngtăng dần tỷ trọng nhóm hàng chế biến, chế tạo, nhóm hàng có hàm lượng công nghệ vàchất xám cao, giảm dần xuất khẩu hàng thô

Thứ ba, các chủ thể tham gia xuất khẩu không ngừng được mở rộng, đa dạng hoá

và hoạt động ngày càng hiệu quả, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân và khu vực doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của khu vực cácdoanh nghiệp 100% vốn trong nước ở mức cao 23,1% so với khu vực các doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài 18,6% Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu các doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài vẫn chiếm tỷ trọng lớn và là động lực quan trọng đối với tăngtrưởng xuất khẩu của cả nước

Tuy nhiên khả năng chủ động nắm bắt những cơ hội thuận lợi để thâm nhập vàkhai thác các thị trường xuất khẩu còn nhiều hạn chế Chúng ta chưa tận dụng triệt để lợiích từ việc gia nhập WTO, các hiệp định thương mại song phương và khu vực đã ký kếtgiữa Việt Nam và các đối tác để khai thác hết tiềm năng của các thị trường lớn như Hoa

Kỳ, EU, Trung Quốc

Năm 2008 - một năm có những kết quả ấn tượng, nhưng những khó khăn cũng đã

lộ diện và chuyển tiếp cho năm 2009

Hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam vượt qua nhiều biếnđộng về thị trường, giá cả, khó khăn của những rào cản thương mại, tác động của cuộckhủng hoảng kinh tế toàn cầu… Đi cùng với đó là nhiều thay đổi trong cơ chế điều hành,hoạch định chính sách

Theo số liệu ước tính của Bộ Công thương, kim ngạch xuất khẩu cả năm 2008 củaViệt Nam ước đạt gần 63 tỷ USD, tăng trên 29,5% so với năm 2007 Đây là mức tăngtrưởng cao nhất trong nhiều năm trở lại đây

Điểm đáng chú ý là trong năm 2008, lần đầu tiên tốc độ tăng trưởng xuất khẩuvượt tốc độ tăng trưởng nhập khẩu (29,5% so với 27,5%); năm 2007 tốc độ tăng trưởng

Trang 9

nhập khẩu tăng 25,6%, trong khi xuất khẩu là 22,% Đây là một thuận lợi góp phần ổnđịnh cán cân thương mại, hỗ trợ kiềm chế nhập siêu.

Năm 2008 cũng là năm có những chuyển động mới trong mở rộng thị trường xuấtkhẩu

Trước khó khăn của những thị trường truyền thống như Mỹ, EU, Nhật Bản…, hoạtđộng xuất khẩu của nhiều doanh nghiệp đã chủ động đẩy mạnh sang khai thác và mở rộngnhững thị trường mới, hoặc đã thâm nhập trước đó

Năm 2009, năm phải chịu tác động mạnh mẽ của cuộc khủng hoảng tài chính toàn

cầu Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt 56,584 tỉ USD, bằng 79% kế hoạch củaQuốc hội đặt ra từ đầu năm (72 tỉ USD) và chỉ chiếm 90% kim ngạch xuất khẩu của năm

2008 Số lượng xuất khẩu các mặt hàng chủ lực như gạo, cao su, than đá, dầu thô các loạităng từ 10 - 30% nhưng giá trị thu về thấp hơn 2008

Các mặt hàng thế mạnh nói trên tăng lượng xuất khẩu nhưng giảm giá trị thu về,riêng các mặt hàng như: rau quả, chè các loại, hạt tiêu, sắn và các sản phẩm từ sắn, hóachất, dệt may có giá trị lẫn số lượng tương đương với năm 2008

Theo các chuyên gia kinh tế, xuất khẩu năm 2009 không đạt mục tiêu 72 tỉ USDnhư chỉ tiêu Quốc hội đề ra và chỉ bằng 90% của năm 2008, ngoài yếu tố ảnh hưởng củakhủng hoảng tài chính còn một nguyên nhân khác là do cơ cấu các mặt hàng xuất khẩucủa ta chủ yếu ở dạng thô, đơn điệu và chưa có mặt hàng nào đủ mạnh để làm đầu tàu choxuất khẩu cả nước

Năm 2010, năm mà nền kinh tế thế giới đã bắt đầu vượt qua cuộc khủng hoảng

kinh tế tồi tệ Việc nền kinh tế thế giới vượt qua khủng hoảng thì cũng có nghĩa tình hìnhxuất khẩu của nước ta sẽ khả quan hơn

Tháng 10 và 10 tháng đầu năm, tình hình xuất khẩu tiếp tục diễn biến theo chiềuhướng tích cực; bình quân mỗi tháng xuất khẩu đạt 5,78 tỷ USD, cao hơn kế hoạch đã đề

ra là 5,04 tỷ USD/tháng

10 tháng qua cả nước đã xuất khẩu được 57,8 tỷ USD, tăng 23,3% so với cùng kỳ,vượt 17,3% so với chỉ tiêu của Quốc hội Trong đó, xuất khẩu của các doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài đạt 31 tỷ USD, tăng 25,85%; xuất khẩu của nhóm doanh nghiệp cóvốn đầu tư trong nước đạt 26,8 tỷ USD, tăng 20,4% so với cùng kỳ 2009

Bộ Công thương đánh giá, nhìn chung, xuất khẩu các mặt hàng và các nhóm hàng vẫnduy trì tốc độ tăng trưởng của những tháng trước đó Ngoài yếu tố thuận lợi về giá, một sốmặt hàng như dệt may, đồ gỗ… đang có thuận lợi lớn về thị trường và đơn hàng

Trang 10

Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu đã có những chuyển dịch tích cực theo hướng tăng dần

tỷ trọng nhóm hàng công nghiệp, chế tạo, nhóm hàng có hàm lượng công nghệ và chấtxám cao, giảm dần xuất khẩu hàng thô

Theo dự báo hai tháng cuối năm 2010, hoạt động xuất khẩu tiếp tục có nhiều diễnbiến thuận lợi Cả năm xuất khẩu có thể đạt khoảng 70 tỷ USD, tăng 22,6% so với năm

2009 Nhưng để đạt được mức này thì hai tháng cuối năm xuất khẩu phải đạt bình quân6,1 tỷ USD/tháng

Theo nhận định của Bộ Công Thương, việc xuất khẩu “cán” mốc 70 tỷ USD trong

2010 sẽ là cơ sở để thực hiện mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu hàng hoá năm 2011 là 10%

và nhập siêu hàng hóa bằng 19,8% so với tổng kim ngạch xuất khẩu, theo chỉ tiêu Chínhphủ đã đề ra tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khoá 12

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thời gian qua.

(1) Sự kiện Việt Nam gia nhập WTO.

Ngày 11/01/2007 Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 149 của tổ chứcthương mại thế giới WTO Sự kiện này đã đánh dấu bước hội nhập mạnh mẽ của nền kinh

tế Việt Nam vào đời sống kinh tế toàn cầu Những lợic ích của việc gia nhập WTO đốivới xuất khẩu gồm:

Thứ nhất, gia nhập WTO, Việt Nam có cơ hội mở rộng thị trường tiêu thụ sản

phẩm do tiếp cận thị trường quốc tế rộng lớn với 148 thành viên và vị thế thị trườngngang nhau với tất cả các quốc gia đó Hàng hóa thâm nhập thị trường khổng lồ nàykhông gặp bất cứ trở ngại nào, miễn là không vi phạm những quy chế và cam kết đã ký

Thứ hai, Việt Nam được đối xử tối huệ quốc vô điều kiện Thuế nhập khẩu vào các

nước thành viên sẽ giảm đáng kể Được hưởng chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập vì lànước đang phát triển

Thứ ba, cũng rất quan trọng là Việt Nam bình đẳng với các quốc gia thành viên

của WTO, Việt Nam sẽ nâng cao vị thế trong các mối quan hệ quốc tế Trong việc biẻuhiện những vấn đề liên quan đến WTO, đặc biệt trong việc giải quyết những tranh chấptrong kinh doanh thương mại quốc tế

Bên cạnh những cơ hội thuận lợi chủ yếu nêu trên, Việt Nam phải đối mặt vớinhững thách thức rất lớn là cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài, trong khi đó, khảnăng cạnh tranh của các doanh nghiệp nước ta chưa cao

Trang 11

Doanh nghiệp yếu về tiềm lực kinh tế cũng như thương hiệu không có khả năngcạnh tranh sẽ bị đào thải khỏi thị trường Hậu quả là số lao động thất nghiệp tăng cao, mộtgánh nặng cho xã hội và Chính phủ.

Thách thức lớn thứ 2 khi gia nhập WTO là Việt Nam phải thực hiện hàng loạtnhững cam kết, những thỏa thuận đã ký trong những hiệp định thương mại song phương,

đa phương cũng như quy chế WTO, trong khi đó, hệ thống chính sách kinh tế của ta đangtrong quá trình hoàn thiện, chưa đồng bộ

(2) Khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 – 2009.

Ngày 15/09/2008 ngân hàng Lemon Brothers của Mĩ sụp đổ, đánh dấu sự bắt đầucho một trong những cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất trong lịch sử thế giới Nhìn chung, tácđộng của khủng hoảng tài chính toàn cầu đối với xuất khẩu Việt Nam thể hiện ở nhữngmặt sau:

Thứ nhất, khủng hoảng tài chính khiến thị trường xuất khẩu bị thu hẹp mạnh do

nhu cầu nhập khẩu và khả năng thanh toán tại các thị trường chủ lực đều sút giảm Điềunày ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và xuất khẩu Việt Nam đặc biệt là đối với một sốngành có giá trị xuất khẩu lớn như dệt may, da giày, nhựa, dây và cáp điện,

Thứ hai, giá hàng hóa giảm trên phạm vi toàn cầu khiến cho thuận lợi về giá xuất

khẩu của ta trong năm 2008 không còn trong năm 2009 Xuất khẩu các mặt hàng nônglâm thủy sản, khoáng sản đều gặp khó khăn do giá giảm

Thứ ba, số vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp tăng lên khi các nước nhập

khẩu quan tâm hơn đến việc giành lại thị trường cho các doanh nghiệp trong nước trongthời kỳ khủng hoảng tài chính Mặt khác, khi nhu cầu nhập khẩu trên thị trường thế giớicàng giảm thì sức ép cạnh tranh từ các nước châu Á khác càng gia tăng, đặc biệt là đối vớicác mặt hàng nông sản, thủy sản, dệt may giày dép, điện tử, khiến các doanh nghiệp xuấtkhẩu gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm khách hàng, hợp đồng

Xét về cơ cấu hàng xuất khẩu: Nhóm hàng nông sản, thủy sản không chịu ảnhhưởng nhiều về thị trường do đây là những mặt hàng tiêu dùng thiết yếu hàng ngày nênlượng cầu giảm nhẹ, không đáng kể

Nhóm hàng chế biến, công nghiệp và thủ công mỹ nghệ chịu ảnh hưởng nhiều từtác động của khủng hoảng do nhu cầu của các mặt hàng này giảm mạnh Thực tế, ngaysau khủng hoảng (tức là đầu năm 2009), xuất khẩu các mặt hàng dệt may, da giày, đồ gỗđều gặp khó khăn do thị trường tiêu thụ bị thu hẹp

Nhóm hàng nhiên liệu, khoáng sản tuy không bịảnh hưởng về thị trường nhưng chịu ảnhhưởng về giá

Trang 12

(3) Biến động tỷ giá.

Những năm qua đồng tiền VND liên tục mất giá so với đồng USD, trong khi đồngUSD vẫn chiếm tỷ trọng chi phối trong thanh toán quốc tế (khoảng 70%), do đó nhữngbiến động này đã tác động xấu đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam Mặc dù trênnguyên lí thì cứ tưởng tỉ giá tăng sẽ có lợi cho hoạt động xuất khẩu, nhưng trên thực tế,các doanh nghiệp xuất khẩu đã lao đao vì biến động tỉ giá:

Mức tăng vượt trội này đẩy chi phí nhập khẩu, chi phí sản xuất kinh doanh củanhững ngành hàng có đầu vào lớn từ nguyên liệu nhập khẩu, chi phí vay nợ ngoại tệ tăngcao Do đó chi phí do tỷ giá trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp tăng lên đángkể

Đô la lên giá cao so với tiền đồng kéo giá đầu vào của sản phẩm từ nguyên vậtliệu, phí vận tải, đến lương nhân công đều tăng theo

Bên cạnh đó, hầu hết các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam đều phải nhậpphần lớn nguyên vật liệu đầu vào Phần lợi nhuận mà doanh nghiệp xuất khẩu thu được từ

tỷ giá tăng có khi không bù đắp được sự tăng giá chi phí đầu vào

Không chỉ có vậy, các doanh nghiệp xuất khẩu mang ngoại tệ về bán cho ngânhàng nhưng đến khi cần ngoại tệ để nhập khẩu nguyên vật liệu, nếu không may rơi vàothời điểm khan hiếm ngoại tệ, thì lại không mua được từ ngân hàng với giá bằng giá mình

đã bán

(4) Lạm phát.

Một vài năm trở lại đây, lạm phát ở nước ta luôn ở mức cao, nhất là những thángcuối năm Việc lạm phát tăng cao đã gây ra nhiều khó khăn cho nền kinh tế nói chung vàcông tác xuất khẩu nói riêng Lạm phát cao làm cho giá của hàng hóa sản xuất trong nướctăng cao, do đó năng lực cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước trên trường quốc tế

bị giảm sút nghiêm trọng

(5) Rảo cản chống bán phá giá của các nước.

Trong khi mà các rào cản thương mại để bảo hộ sản xuất trong nước như thuếquan, hạn ngạch đang ngày càng được loại bỏ thì xuất hiện các rào cản mới – tinh vi hơnrất nhiều như tiêu chuẩn công nghệ, tiêu chuẩn môi trường, tiêu chuẩn khai thác đánh bắtthủy sản… đặc biệt là biện pháp chống bán phá giá Những năm gần đây, hàng hóa xuấtkhẩu của Việt Nam luôn phải đối mặt với các sự kiện chống bán phá giá như Mỹ kiện về

cá tra, cá basa, liên minh châu Âu EU kiện về giày da.v.v… Điều này đã làm ảnh hưởng

Trang 13

nghiêm trọng tới kim ngạch xuất khẩu của chúng ta Việc chưa được công nhận là nềnkinh tế thị trường khiến cho chúng ta luôn gặp thiệt thòi trong các vụ kiện Vì chưa là nềnkinh tế thị trường nên mức giá của chúng ta không được chấp nhận mà họ sẽ sử dụng mứcgiá ở nước có điều kiện tương đương để chứng minh chúng ta bán phá giá.

(6) Năng lực của các doanh nghiệp sản xuất trong nước.

Ngoài các yếu tổ khách quan nói trên thì vẫn phải thừa nhận một thực tế là cácnăng lực của các doanh nghiệp trong nước còn hạn chế Mặt hàng sản xuất ra vẫn chưađạt tiêu chuẩn để thâm nhập các thị trường khó tính như EU, Hoa kì Chính vì vậy, nângcao năng lực của các doanh nghiệp cũng là cách làm tăng kim ngạch xuất khẩu của nướcta

2 Cơ cấu xuất khẩu hàng hóa

2.1 Cơ cấu chia theo tính chất hàng hóa

Nếu phân loại theo danh mục tiêu chuẩn ngoại thương có thể phân chia thành 2nhóm mặt hàng chính là: Nhóm hàng thô và nhóm hàng chế biến

Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu được cải thiện theo hướng giảm dần tỷ trọng cáchàng hóa đã qua chế biến Nếu như năm 1991 hàng hóa chủ yếu là nguyên liệu thô chiếmtrên 92% thì nay chỉ còn khoảng 51% kim ngạch xuất khẩu Hàng chế biến năm 2002chiếm khoảng 49% trong khi năm 1991 chỉ chiếm 8% kim ngạch xuất khẩu Những nămgần đây, sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam chỉ có khoảng 5% là hàng công nghệ cao,10% là hàng công nghệ trung bình, 40% hàng nông, thủy sản chưa qua chế biến, 27% làhàng công nghệ thấp Chúng ta đã hình thành nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực, sốlượng các mặ hàng xuất khẩu ngày càng tăng, chất lượng các mặt hàng xuất khẩu đượcnâng cao rõ rệt, bước đầu tạo sự cạnh tranh trên thị trường thế giới Tỷ trọng hang chếbiến sâu và nhóm hàng công nhgiệp tăng; tỷ trọng sản phẩm thô giảm và Việt Nam ngàycàng có nhiều sản phẩm đạt giá trị kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD( như dầu thô, hàngdệt may, giày dép, thủy sản, đồ gỗ, hàng linh kiện điện tử, cà phê, gạo, cao su, dây điện vàcáp điện) Nhiều mặt hàng xuất khẩu đạt được thứ hạng cao so với mặt hàng của các nướckhác, có ảnh hưởng đến thị trường thế giới như: gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu, hạt điều vàchè

Theo số liệu ta thấy chiếm chủ yếu trong kim ngạch xuất khẩu của ta là các hànghóa đã chế biến hay tinh chế, tỷ trọng của mặt hàng nay tăng dần qua các năm,từ 51.7%năm 2006 tăng lên 55.2% năm 2008 tuy nhiên chủ yếu vẫn là hàng hóa công nghiệp nhẹhay tiểu thủ công nghiệp với giá trị thành phẩm chưa cao hoặc hàng gia công cho thế giới,

Trang 14

ngay sau đó là các hàng hóa thô hay mới sơ chế, mặc dù đây là một chiến lược khôngthông minh nhưng nhóm hàng này vẫn chiếm một tỷ lệ rất lớn trong kim ngạch xuất khẩuhàng hóa nước ta với sự giảm về tỷ trọng rất chậm không mấy khả quan như trong 2 năm

2007 và 2008 sự chuyển biến này là không đáng kể xung quanh mức 44 % tổng kimngạch xuất khẩu Các mặt hàng khác cũng chiếm tỷ lệ không đáng kể trong kim ngạchxuất khẩu hàng hóa

Bảng 2: Cơ cấu xuất khẩu hàng hóa chia theo tính chất sản phẩm trong chuỗi giá trị:

Trị giá Tỷ

trọng(%)

Trị giá Tỷ

trọng(%)

Trị giá Tỷ

trọng(%)Tổng xuất khẩu 39.826.222 100 48.561.354 100 62.685.130 100

0.2

hàng thô hay mới sơ chế hàng chế biến hay tinh chế hàng hóa khác

Điều này thể hiện, Việt Nam vẫn còn đi theo hướng xuất khẩu các sản phẩm thô,mới sơ chế, hoặc có chăng cũng chỉ là mức tinh chế đơn giản, ít chứa đựng các hàm lượng

kỹ thuật Các sản phẩm của Việt Nam thường chỉ ở giai đoạn đầu trong chuỗi giá trị (sảnphẩm thô và tinh chế) hay ở giai đoạn cuối của chuỗi giá trị (sản phẩm tinh chế) Điều này

Trang 15

sẽ ảnh hưởng tới kim ngạch xuất nhập khẩu Việt nam, do giá trị của các sản phẩm này rấtthấp, và ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh cũng như tỷ lệ trao đổi hàng hóa của ViệtNam.

2.2 Cơ cấu hàng Xuất khẩu theo ngành hàng Kế hoạch

Thông thường theo cơ cấu ngành hàng của kế hoạch nhà nước ta có thể phân loạithành các nhóm mặt hàng như bảng sau:

Bảng 3: Cơ cấu ngành hàng xuất nhập khẩu

Trị giá Tỷ

trọng(%)

Trị giá Tỷ

trọng(%)Tổng xuất

Biểu đồ 3 Cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hóa theo ngành hàng năm 2006 -2008

Trang 16

CN nhẹ và tiểu thủ công nghiệp Nông lâm thủy sản

Khác

Nhóm hàng này bao gồm một số mặt chủ yếu như: dầu thô, than đá

Bảng 4: Xuất khẩu dầu thô, than đá năm 2006 -2010

STT Mặt hàng chủ yếu Đơn vị

tính

Năm2005

Năm2006

Năm2007

Năm2008

Năm2009

Năm2010

Năm 2006, sản lượng dầu thô xuất khẩu đạt 16,4 triệu tấn giảm 8,74% so với năm

2005 nhưng với mức giá cao hơn khối lượng này làm tăng thu 12,1% so với cùng kỳ sovới năm 2005

Năm 2007 chỉ riêng hai mặt hàng dầu thô và than đá đã chiếm gần 20% tổng kimngạch xuất khẩu cả nước Sản lượng xuất khẩu dầu thô và than đá tăng trưởng không ổnđịnh Khối lượng xuất khẩu dầu thô giảm dần, sở dĩ có sự sụt giảm này là do các mỏ dầu

cũ dần cạn kiệt trong khi công tác thăm dò và mua lại mỏ dầu mới của các nước kháckhông đạt nhiều tiến triển

Năm 2008 sản lượng dầu thô xuất khẩu vẫn có xu hướng giảm đặc biệt là đến năm

2009 chỉ còn13,42 triệu tấn Nhóm hàng này khó có khả năng tăng trưởng trong nămnay do sản lượng dầu thô và than đá xuất khẩu giảm mạnh, chủ yếu phục vụ nhu cầu sảnxuất và tiêu thụ trong nước, nên giá xuất khẩu sẽ không ở mức cao như năm ngoái

Trang 17

Năm 2010: Kim ngạch xuất khẩu của nhóm nhiên liệu và khoáng sản tháng11/2010 giảm 12,2% về lượng và giảm 25,4% về trị giá so với tháng 10 Tính chung 11tháng, kim ngạch xuất khẩu của nhóm tăng 13,0% về lượng và giảm 11,3% về trị giá sovới cùng kỳ Nguyên nhân là do giá xuất khẩu của các mặt hàng này giảm so với cùng kỳ:giá bình quân của dầu thô giảm 43,48%, xăng dầu giảm 42,09%, quặng và các khoáng sảnkhác giảm 33,95%, than đá giảm 25,95%.

Tuy nhiên, lượng xuất khẩu của hầu hết mặt hàng đều tăng so với cùng kỳ, nhất làxăng dầu tăng mạnh 41,57%, dầu thô tăng 3,1%, than đá tăng 19,79% Riêng quặng vàcác khoáng sản khác giảm 6,18%

Nhóm nhiên liệu, khoáng sản: KNXK đạt 2 tỷ USD, bằng cùng kỳ năm 2009 vàchiếm tỷ trọng 13,8% tổng KNXK;

Nhìn chung thì khối lượng hàng hóa XK quí I năm nay vẫn giảm so với cùng kỳ năm

2009 Tính sơ bộ, khối lượng hàng hóa XK quí I năm nay giảm 9% so với cùng kỳ năm

2009 làm cho KNXK chung giảm 1,3 tỉ USD

Tỷ trọng XK nhóm hàng nhiên liệu khoáng sản giảm mạnh, xuống còn 13,8%, so với17,1% của năm 2009 và 23,7% của năm 2008

b.Nhóm hàng nông lâm thủy sản:

Đây là nhóm hàng chiếm tỷ trọng thấp nhất trong 3 nhóm hàng xuất khẩu chính,chỉ khoảng 22-23% trong cơ cấu xuất khẩu Đặc điểm chính của nhóm hàng này và cũng

là thách thức lớn nhất cho xuất khẩu Việt Nam là tính biến động cao về giá cả Nhữngbiến động trong năm 2008 đã là những minh chứng cụ thể cho đặc điểm này Cuộc khủnghoảng tài chính năm 2008 đã làm tăng giá các mặt hàng này Bắt đầu là mặt hàng gạo tăgvọt đến 300% Là nhóm hàng sử dụng nhiều nhất lực lượng lao động tại chỗ chiếm đếnhơn 70% dân số, nhưng giá trị xuất khẩu lại không cao; năm 2009 đạt mức 14,2 tỷ USD.Điều này cho thấy trình độ khoa học công nghệ của việt Nam còn thấp và chưa đươc ứngdụng nhiều để có thể khai thác hết lợi thế trong lĩnh vực nông nghiệp

Nhóm hàng này bao gồm các mặt hàng chủ yếu như: Gạo, cà phê, Cao su, rau quả,hạt điều, hạt tiêu…

Bảng 5: Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu nhóm nông lâm thủy sản

Ngày đăng: 07/11/2015, 20:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3: Cơ cấu ngành hàng xuất nhập khẩu - Vai trò của xuất khẩu đối với sự phát triển kinh tế việt nam giai đoạn 2006  2010
Bảng 3 Cơ cấu ngành hàng xuất nhập khẩu (Trang 14)
Bảng 6: Xuất khẩu mặt hàng dệt may và giày dép 2006 -2010 - Vai trò của xuất khẩu đối với sự phát triển kinh tế việt nam giai đoạn 2006  2010
Bảng 6 Xuất khẩu mặt hàng dệt may và giày dép 2006 -2010 (Trang 19)
Bảng 9: Tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam  (%) - Vai trò của xuất khẩu đối với sự phát triển kinh tế việt nam giai đoạn 2006  2010
Bảng 9 Tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam (%) (Trang 20)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w