1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vai trò của nhà nước trong công cuộc cải cách mở cửa kinh tế ở trung quốc

37 462 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 213,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau hơn 20 năm 1979-2003thực hiện cải cách mở cửa, bộ mặt kinh tế xã hội Trung Quốc đã biến đổi sâusắc.Về nhiều mặt, Trung Quốc đang chiếm những vị trí đáng kể trong nền kinh tế thế giới

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Trong những năm cuối của thế kỷ XX, nền kinh tế Trung Quốc trỗi dậymạnh mẽ, là hiện tượng nổi bật nhất, thu hút nhiều sự chú ý nhất ở khu vựcChâu Á - Thái Bình Dương và trên toàn thế giới Sau hơn 20 năm (1979-2003)thực hiện cải cách mở cửa, bộ mặt kinh tế xã hội Trung Quốc đã biến đổi sâusắc.Về nhiều mặt, Trung Quốc đang chiếm những vị trí đáng kể trong nền kinh

tế thế giới, đứng hàng đầu về tốc độ tăng trưởng với một thực lực kinh tế khôngnhỏ Đặc biệt là trong lĩnh vực ngoại thương, trải qua gần một phần tư thế kỷ,ngoại thương Trung Quốc đã thu được nhiều thành tựu rực rỡ: từ chỗ xếp hàngthứ 32 trên thế giới về xuất nhập khẩu (năm 1978) đến nay Trung Quốc đã làcường quốc ngoại thương lớn thứ 5 trên thế giới với tổng kim ngạch xuất nhậpkhẩu lên tới 620,8 tỷ USD năm 2002 (tăng gấp 30 lần so với năm 1978) Hơnthế nữa, vị thế và ảnh hưởng của Trung Quốc trong thương mại quốc tế ngàycàng được nâng cao, ngoại thương Trung Quốc đang đứng trước những cơ hộimới để phát triển tốt đẹp hơn, đặc biệt là sau sự kiện Trung Quốc đã trở thànhthành viên thứ 143 của Tổ chức thương mại thế giới ngay vào năm đầu tiên củathế kỷ XXI

Việt Nam là nước láng giềng có nhiều điểm tương đồng về điều kiện tựnhiên, dân cư, chế độ chính trị xã hội và cả về kinh tế với Trung Quốc Cũnggiống như Trung Quốc, Việt Nam đang tiến hành đổi mới đất nước, hướng tớiviệc xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tuynhiên, Việt Nam tiến hành mở cửa, đổi mới đất nước sau Trung Quốc 8 năm vàcho đến nay thì những thành tựu kinh tế, thành tựu phát triển kinh tế vẫn còn làkhiêm tốn so với những thành quả to lớn của nước bạn và còn chưa xứng vớitiềm năng của chính Việt Nam Vì vậy, để thành công hơn nữa trong công cuộcphát triển kinh tế của Việt Nam thì việc tham khảo bài học kinh nghiệm củaTrung Quốc là rất cần thiết

Trong bài tiểu luận này, em cố gắng đưa những vấn đề cơ bản nhất vai trò

Trang 2

hãy rút bài học kinh nghiệm để nâng cao chất lượng công cuộc đổi mới ở ViệtNam" trong quá trình cải cách và mở cửa của Trung Quốc trong hơn 30 nămqua.

Những nội dung chính của tiểu luận

A Nguyên nhân của cải cách mở cửa của Trung Quốc.

B Nội dung đường lối, kết quả cải cách và mở cửa của Trung Quốc.

C So sánh quá trình thực hiện đường lối kinh tế trung quốc thời kỳ cải cách mở cửa từ năm 1978 đến nay với chính sách đổi mới kinh tế việt nam từ năm 1986 đến nay.

D Kinh nghiệm chuyển đối của nền kinh tế trung quốc và một vài liên hệ với công cuộc đổi mới kinh tế của việt nam.

A - NGUYÊN NHÂN CỦA CẢI CÁCH MỞ CỬA CỦA TRUNG QUỐC.

Trang 3

Ngày 01/10/1949, trên lễ đài quảng trường Thiên An Môn lịch sử, trướccuộc mít tinh của 30 vạn quân dân thủ đô Bắc Kinh, Chủ tịch Mao Trạch Đông

đã đọc”tuyên ngôn của chính phủ nhân dân trung ương nước CHND Trung

Hoa”tuyên bố với toàn thế giới sự ra đời của nước CHND Trung Hoa.

Lịch sử 60 năm của nước CHND Trung Hoa kể từ ngày thành lập cho tớinay có thể chia làm ba giai đoạn:

+ Giai đoạn đi lên 1949-1957 gồm thời kì khôi phục kinh tế, cải cách dânchủ (1949-1952) và thời kì thực hiên kế hoạch phát triển kinh tế, cải tạo XHCN(1953-1957)

+ Giai đoạn khó khăn về kinh tế và chính trị (1958-1978) gồm phong trào

“nhảy vọt” (1958-1965) và phong trào “ cách mạng văn hoá” (1966-1978)

+ Giai đoạn cải cách mở cửa hiện đại hoá XHCN (1978 đến nay)

I Thành tựu trong những năm đầu của CHND Trung Hoa-cải cách dân chủ, cải tạo XHCN và phát triển kinh tế-xã hội (1949-1957).

Năm 1940 Mao Trạch Đông đã viết tác phẩm “bàn về chủ nghĩa dân chủ

mới”, trong đó ông chủ trương sau khi cách mạng giành lại chính quyền Trung

Quốc sẽ xây dựng một xã hội dân chủ mới tương đối lâu dài, sau đó mới xâydựng xã hội XHCN Ba năm khôi phục kinh tế cải cách dân chủ (chủ yếu là cải

cách ruộng đất với khẩu hiệu”người cày có ruộng”) là sự mở đầu cho việc xây

dựng xã hội dân chủ mới (mà cho tới đầu năm 1952 Chủ tịch Mao Trạch Đông

dự kiến sẽ kéo dài khoảng 15 năm) Nhưng đến tháng 9/1952, Mao Trạch Đông

lại quyết định chuyển sang “quá độ lên CNXH” và chủ trương sẽ xây dựng thành

công CNXH trong thời gian vài ba kế hoạch 5 năm, mở đầu là kế hoạch 5 nămlần thứ nhất (từ năm 1953-1957)

Dưới ánh sáng của những nhận thức ngày nay, không cần phân tích nhiềuchúng ta có thể kết luận: Cải tạo quan hệ sản xuất quá nhanh như vậy là nóngvội, không phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất lúc bấy giờ.Thể chế kinh tế kế hoạch tập trung cao độ sau đó cũng đã bộc lộ những khiếmkhuyết của nó Nhưng mặt khác, chúng ta cũng không thể phủ nhận những thànhquả tích cực của công cuộc cải tạo XHCN Qua cải tạo XHCN đối với công

Trang 4

kiện để phát triển một bước tạo cơ sở vật chất đầu tiên cho quá trình cải cáchCNXH sau này Phong trào tập thể hoá nông nghiệp quá nóng vội, tổ chức quản

lí hợp tác xã chưa tốt, nhưng tập thể hoá ruộng đất là một thành quả cần khẳngđịnh Thể chế kinh tế kế hoạch tập trung cao độ có nhiều khiếm khuyết, duy trìquá lâu sẽ làm xơ cứng hoạt động kinh tế Nhưng trong bối cảnh Trung Quốcnhững năm 1950, thể chế kinh tế kế hoạch tập trung cao độ có vai trò lịch sử của

nó Trong điều kiện kinh tế còn quá yếu kém nó tạo điều kiện cho nhà nước cóthẻ phân bố nguồn lực, tổ chức sản xuất có hiệu quả

Tóm lại, mặc dầu còn trong giai đoạn “dò đá qua sông”, mò mẫm trên conđường xây dựng xã hội mới, nhưng nhờ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và nhànước, nhờ sự nhiệt tình lao động của hàng trăm triệu lao động vừa được giảiphóng khỏi chê độ cũ, tình hình kinh tế xã hội Trung Quốc đã phát triển theohướng đi lên, công cuộc xây dựng XHCN đă thu được những thành quả bướcđầu quan trọng

II Những năm khó khăn của CHND Trung Hoa, phong trào ”nhảy vọt “ và “cách mạng văn hoá “(1958-1977).

Tháng 9-1956, Đảng Cộng Sản Trung Quốc họp đại hội VIII, nhận địnhcải tạo XHCN về cơ bản đã hoàn thành, nhưng đến tháng 5/1958 Đảng CộngSản Trung Quốc lại tiến hành kì họp lần thứ II của đại hội VIII, phủ nhận nghịquyết của kì họp thứ I, Chủ tịch Mao Trạch Đông cho rằng mâu thuẫn chủ yếutrước mắt của Trung Quốc là mâu thuẫu giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản,giữa con đường XHCN và con đường TBCN Căn cứ vào ý kiến của Chủ tịch

Mao, đại hội đã đề ra đường lối chung “dốc hết sức lực, vươn lên hàng đầu, xây

dựng XHCN nhiều, nhanh, tốt, rẻ “ và phát triển “đại nhảy vọt” sau đó lại xuất

hiện phát triển “công xã nhân dân” ở nông thôn.

Những năm “đại nhảy vọt” với các phát triển “toàn dân làm gang thép”,

“sản lượng nông nghiệp mỗi năm tăng gấp đôi” v.v đã làm tổn hại rất lớn nền

kinh tế và ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của nhân dân.Sản xuất côngnghiệp mất cân đối nghiêm trọng Từ năm 1957 đến năm 1960 sản lượng lươngthực giảm 26,4% (từ 195 triệu tấn giảm xuống 143,5 triệu tấn) trong khi dân số

Trang 5

tăng 15,5 triệu người Hàng tiêu dùng công nghiệp cực kì khan hiếm Nạn đóidiễn ra hết sức nghiêm trọng từ thành phố đến nông thôn Đến tháng 9/1960

chính phủ Trung Quốc đã chủ trương chuyển sang “điều chỉnh, củng cố, bổ

sung, nâng cao”, hạn chế những sai lầm và tổn thất do phong trào “nhảy vọt” tạo

ra Đến năm 1965, theo thống kê của chính phủ, tổng giá trị sản phẩm côngnghiệp tăng 59,9% so với 1957, riêng sản lượng lương thực chỉ mới xấp xỉ mứcnăm 1957

Bước vào năm 1966, Mao Trạch Đông đã phát động cuộc “đại cách

mạng văn hoá vô sản”, đã gây ra những biến động vô cùng to lớn trong đời sống

kinh tế,chính trị, xã hội ở Trung Quốc Trong nông nghiệp, Trung Quốc tậptrung đầu tư phát triển công nghiệp nặng, đặc biệt là công nghiệp quân sự ỞTrung Quốc thời kì này chi phí quân sự rất cao, thường chiếm khoảng 10% tổngsản phẩm xã hội, chiếm 40% trong tổng số ngân sách nhà nước

Trong nông nghiệp, các công xã nhân dân lại quay trở về với chính sáchtăng cường xã hội hoá tư liệu sản xuất, sức lao động Kinh tế phụ của gia đìngnông dân bị xoá bỏ Hoạt động tài chính nhà nước đẩy nhanh tích luỹ từ nôngnghiệp do vậy đời sống kinh tế người lao động gặp nhiều khó khăn Trên thực tế

qua ba năm đỉnh cao của thời “đại cách mạng văn hoá vô sản” sản lượng các

loại sản phẩm công nghiệp chủ yếu đều giảm sút và không tăng

Bảng 1: Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu

Nhìn vào tiềm lực công nghiệp của Trung Quốc trong một số ngành sovới một số nước trên thế giới là thấp kém Nếu sản lượng tính bình quân theođầu người về điện: Trung Quốc kém Mỹ 67 lần, kém Liên Xô 28 lần, kém Anh

Trang 6

Với nông nghiệp, sản xuất ngày càng trì trệ, vì vậy thu nhập của người laođộng thấp, đồng thời sản xuất hàng hoá ngũ cốc giảm xuống 15% so với trước

đó (1953-1957) là 28%

Do sản xuất công-nông nghiệp ở tình trạng nói trên nên ngoại thươngcũng bị giảm xút Tới năm 1971 kim ngạch ngoại thương mới đạt bằng năm

1959 là 4,4 tỉ (USD)

Như vậy, trong thời kì “ cách mạng văn hoá ”, do chính sách kinh tế đặt

ra ở Trung Quốc là chưa đúng hoàn cảnh, như : chế độ phân phối sản phẩm theonhu cầu trong điều kiện sản xuất xã hội còn thấp kém, chính sách quân sự hoánền kinh tế… Hậu quả là chính trị - xã hội rối loạn, lòng dân li tán và sản xuất bịđình đốn

Năm 1976, Mao Trạch Đông từ trần, Đặng Tiểu Bình lên thay, tiếp tục

lãnh đạo Đảng và Trung Quốc Trung Quốc chủ trương thực hiện “bốn hiên đại

hoá”: Công nghiệp, nông nghiệp, khoa học kĩ thuật và quốc phòng Mục tiêu

“bốn hiện đại hoá” thể hiện những tham vọng rất lớn Trong giai đoạn đầu

(1976-1985) sản lượng phải tiến tới đạt được: thép 60 triệu tấn, lương thực 400triệu tấn/năm Để thực hiện những chủ trương trên Trung Quốc cố gắng tăngnhanh tích luỹ, đẩy mạnh nhập khẩu trang thiết bị và vay vốn của nước ngoài Tỉ

lệ tích luỹ trong thu nhập quốc dân tăng tới 36,5% Trung Quốc tăng cường đầu

tư cho xây dựng cơ bản, năm 1978 là 45 tỉ NDT (bằng 1,5 lần năm 1977).Nguồn vốn đầu tư của Trung Quốc chủ yếu tập trung cho khu vực sản xuất vỡinhững ngành công nghiệp hiện đại Do vậy, khu vực phi sản xuất bị xem nhẹ

Từ đó, những vấn đề ăn ở, văn hoá, y tế, giáo dục trong tình trạng thấp kémkhông được chú ý

Những diễn biến kinh tế ở Trung Quốc những năm 1976-1978 đã phảnánh sự nôn nóng, đây là quá trình tiếp nối chủ trương “đại nhảy vọt” của thờigian trước Do vậy, nó dẫn tới hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế xét trênphương diện cơ cấu và hiệu quả Với nông nghiệp, năm 1957 chiếm tỉ trọng43% thì năm 1978 hạ xuống 27% (trong tổng sản lượng giá trị công-nôngnghiệp) Cũng trong thời gian ấy, tỉ trọng công nghiệp từ 56% tăng lên 72%trong tổng giá trị sản lượng công-nông nghiệp Với tình trạng nông nghiệp như

Trang 7

vậy, nên trong thời gian 1976-1978 hàng năm Trung Quốc phải nhập khẩu mộtlượng lương thực và thực phẩm thường chiếm 20% trong tổng giá trị hàng hoảnhập khẩu Công nghiệp nhẹ cũng trong tình trạng tương tự khiến cho hàng hoátiêu dùng khan hiếm, đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn.

Tóm lại, qua đó, ta có thể thấy được Trung Quốc tiến hành cải cách mởcửa trong bối cảnh lịch sử đặc thù không giống với bất cứ nước nào trên thếgiới, biểu hiện chủ yếu như sau:

Thứ nhất, cải cách mở cửa được thực hiện trong bối cảnh sự nghiệp

XHCN đã trải qua những bước quanh co gian khổ, nhất là đã trải qua bài họcđau xót của “cách mạng văn hoá”, nền kinh tế đứng bên bờ sụp đổ

Thứ hai, cải cách mở dửa được tiến hành trên cơ sở sức sản xuất tương

đối thấp

Thứ ba, cải cách mở cửa được tiến hành dưới thể chế kinh tế kế hoạch tập

trung cao độ

Thứ tư, cải cách mở cửa hầu như được tiến hành trên cơ sở của chế độ

công hữu đơn nhất

Thứ năm,cải cách mở cửa tiến hành trong tình trạng đóng cửa, nửa đóng

cửa và hoàn cảnh quốc tế đặc biệt

Những điều kiện cũng như khó khăn trên đưa Trung Quốc vào nhữngthách thức mới trên con đường hoà nhập vào hệ thống kinh tế thế giới và buộcTrung Quốc phải có những biện pháp, chủ trương cải cách kinh tế nếu khôngmuốn bị tụt hậu, không muốn đưa nhân dân vào cảnh lầm than Từ đó TrungQuốc đã bắt tay vào công cuộc cải cách kinh tế từ năm 1978 đến nay

B - NỘI DUNG ĐƯỜNG LỐI, KẾT QUẢ CẢI CÁCH VÀ MỞ CỬA CỦA TRUNG QUỐC.

Hội nghị trung ương III khoá XI Đảng cộng sản Trung Quốc được coi là

một cuộc “giải phóng tư tưởng” mở đường cho công cuộc cải cách thể chế hiện

đại hoá đất nước trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị và văn hoá ở TrungQuốc

Trang 8

Nhiệm vụ quan trong hàng đầu của cuộc cải cách là cải cách thể chế kinh

tế Sóng gió của tiến trình cải cách mở cửa của Trung Quốc hơn 20 năm qua đãtrải qua 3 giai đoạn phát triển:

+ Giai đoạn thứ nhất (từ tháng 12-1978 đến tháng 9-1984) là giai đoạn

khởi đầu của cải cách.Trọng điểm của cải cách là ở nông thôn, đồng thời tiếnhành mở rộng thí điểm quyền tự chủ kinh doanh của xí nghiệp quốc hữu ở thànhphố đã xây dung đặc khu kinh tế

+ Giai đoạn thứ hai (từ tháng 10-1984 đến tháng 12-1991)là giai đoạn

triển khai cải cách Trọng điểm của cải cách ở thành phố, xí nghiệp quốc hữu làkhâu trung tâm của cả cuộc cải cách, cảicách giá cả là then chốt Cải cách từ lĩnhvực kinh tế mở rộng sang các lĩnh vực xã hội như khoa học kĩ thuật, giáo dục

+ Giai đoạn thứ ba (từ đầu năm 1992 đến nay) là giai đoạn bước đầu xây

dung thể chế kinh tế thị trường XHCN.Trọng điểm của cải cách là sáng lập chế

độ, chủ yếu mở rộng và phát triển thêm thị trường , xây dung chế độ xí nghiệphiện đại, xây dựng hệ thống điều tiết vĩ mô mới Nếu nói nhiệm vụ chủ yếu củahai giai đoạn đầu là xóa bỏ chế độ cũ, dỡ bỏ ngôi nhà cũ thì nhiệm vụ của giaiđoạn thứ ba là sáng lập thể chế mới, xây dựng ngôi nhà mới Tuy nhiên, chúngtôi sẽ phân tích theo cơ cấu sau

I Cải cách nông nghiệp là nhiệm vụ cần thiết

Cuộc cải cách lần này thực chất là giao ruộng đất cho nông dân để họ thực

sự làm chủ đồng ruộng của mình(chế độ khoán) Chỉ trong 5 đến 6 tháng 5,7triệu đội sản xuất nông nghiệp đã chuyển thành 180 triệu đơn vị sản xuất giađình Trong thời gian này, toàn bộ ruộng đất, gia súc, nông cụ và các tài sảncông hữu khác đã được chia cho các gia đình nông dân Cuộc cải cách đã cảithiện đáng kể đời sống nông thôn, đồng thời cũng đã làm nảy sinh nhiều vấn đểcần giải quyết

Sau cải cách, toàn bộ số ruộng trên cả nước(khoảng 100 triệu ha) đã đượcchia thành 1500 triệu mảnh nhỏ, diện tích trung bình mỗi mảnh khoảng mộtmẫu(0,067ha) Kết quả của cuộc cải cách là đáng mừng do Trung Quốc đã tìm ra

cơ chế, chính sách quản lí nông nghiệp mới phù hợp với quy luật phát triển kinh

Trang 9

tế khách quan, đi vào cải cách thực hiện khoán trách nhiệm đến từng hộ nôngdân đi đôi với cải cách chính sách giá cả và cơ chế lưu thông nông sản, thúc đẩynông nghiệp tăng trưởng và phát triển Đi đôi với khoán hộ tạo đIều kiện chonông nghiệp phát triển Trung Quốc đã chủ trương xây dựng các xí nghiệp hươngtrấn để phát triển công nghiệp nông thôn, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo

hướng công nghiệp hiện đại hoá Ở đây xin đề cập đến một trong những “điểm

sáng” đặc sắc của nền kinh tế thị trường XHCN Trung Quốc là các xí nghiệp

hương trấn(hình thức “doanh nghiệp thôn xã”).

Thời kì đầu cải cách, nông nghiệp Trung Quốc đã đạt được những thànhtựu to lớn, làm rung động cả nước, nhưng từ năm 1985 sản xuất nông nghiệp bịchững lại Nông thôn xuất hiên nhiều vấn đề cấp bách làm tổn hại đến lợi íchcủa nông dân, tác hại đến tính tích cực của sản xuất Nhưng không phảI tất cảcác ngành kinh tế ở nông thôn Trung Quốc đều gặp khó khăn Các ngành phinông nghiệp ở nông thôn ngược lại đang rất phát đạt, được đánh giá cao Ngay

từ cuối những năm 50, ở Trung Quốc đã xuất hiện những xí nghiệp xã đội: lànhưng đơn vị sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp do các công xã và đại đội sảnxuất ở nông thôn lập ra Năm 1978 có 1,5 triệu xí nghiệp xã đội với 28 trệu laođộng Cuộc cải cách ở nông thôn đã tạo ra những tiền đề quan trong cho sự pháttriển các xí nghiệp xã đội nhỏ sản xuất tăng trưởng nhanh, đồng thời số lượnglớn lc lượng lao động của nông thôn cũng tăng nhanh đòi hỏi các ngành phinông nghiệp thu nhận Do vậy đến năm 1983, số người làm việc trong các xínghiệp này tăng lên 32,347 triệu người Năm 1984, xí nghiệp xã đội đổi tên

thành “xí nghiệp hương chấn” bao gồm các xí nghiệp tập thể của xã thôn, xí

nghiệp hội kinh doanh 5 ngành lớn là công nghiệp, công nghiệp chế biến nôngsản, xây dựng, giao thông vận tải, dịch vụ và thương nghiệp Trải qua nhiềunăm, xí nghiệp hương chấn Trung Quốc không ngừng lớn mạnh và đã đóng gópđáng kể cho nền kinh tế quốc dân Đến cuối năm 1993 tổng số xí nghiệp hươngchấn tăng lên tới 24,592 triệu, giá trị tổng sản lượng đạt 2902,26 tỉ NDT có123,451 triệu lao động, làm ra 52% giá trị ròng tăng thên của xã hội Với 62%

số tăng thu nhập ròng của nông dân là từ xí nghiệp hương chấn và 68% mức

Trang 10

thuế tăng thêm trong năm là do xí nghiệp hương chấn đóng góp, đã tạo ra nguồnngân sách lớn cho Trung Quốc.

* Những thành tựu phát triển và cải cách của nông nghiệp Trung Quốc.

Trong 60 năm qua, đặc biệt là hơn 30 năm cải cách nông nghiệp TrungQuốc đã có những thành tựu đáng ghi nhận về cơ chế tổ chức, chính sách quản línông nghiệp thích hợp về xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật, về khoa học côngnghệ nông nghiệp

Kết quả là tổng sản lượng các loại nông sản chủ yếu đều tăng trưởng vớimức độ cao Thời gian từ 1949-1999, tổng sản lượng lương thực tăng 4,5 lần,tổng sản lượng dầu ăn tăng 6 lần, tổng sản lượng đường tăng 26 lần, tổng sảnlượng trái cây tăng 25 lần, tổng sản lượng bông vải tăng 7,5 lần, tổng sản lượngthịt các loại tăng 15 lần, tổng sản lượng thuỷ sản nội địa và hảI sản tăng 40lần đã đáp ứng về cơ bản nhu cầu lương thực, thực phẩm của xã hội

Diện tích canh tác đến năm 1999-2000 đã duy trì ở mức 95-96 triệu ha,trong đó diện tích lúa nước trên 25 triệu ha và diện tích đất trồng cạn khoảng 70triệu ha Diện tích gieo trồng hàng năm duy trì ở mức 150 triệu ha, trong đó diệntích gieo trồng cây lương thực là 110 triệu ha

Thành tựu to lớn nhất của nông nghiệp Trung Quốc sau 60 năm qua là sảnxuất lương thực, đảm bảo cơ bản cái ăn cho 1,4 tỉ người Trung Quốc: mỗi ngàytiêu thụ 750 triệu kg lương thực, 60 triệu kg thịt lợn, 10 triệu kg dầu ăn Vớidiện tích canh tác chỉ chiếm 7% diện tích canh tác của thế giới nhưng đến nayTrung Quốc đã sản xuất được trên 20% sản lượng lương thực của thế giới vànuôi sống được 22% dân số của thế giới Đây không chỉ là kì tích, là niềm tựhào của nền nông nghiệp Trung Quốc trong nửa thế kỉ qua, mà còn được coi làmột thành tựu nổi bật đáng khâm phục của nông nghiệp thế giới Bình quânlương thực của Trung Quốc năm 1949 là 197 kg/người bằng 73% bình quânlương thực trên đầu người của thế giới Đến năm 1995 đạt gần 400 kg/đầu người

và bằng 98% bình quân lương thực thế giới

Đến nay Trung Quốc đứng đầu thế giới về tổng sản lượng hạt cốc, lúa mì,lúa nước, khoai tây, rau dầu lợn và cá Đứng thứ hai trên thế giới về tổng sản

Trang 11

lượng ngô, bông, chè, trái cây, cừu và lượng gỗ khai thác hàng năm sản lượngnông sản bình quân đầu người của Trung Quốc chưa cao vì dân số quá lớn (1,4

tỉ người) nhưng đối với cac nông sản chủ yếu đã có mức tăng trưởng nhanh.Như sản lượng rau xanh bình quân đầu người của Trung Quốc là 250 kg vượtbình quân của thế giới Sản lượng lương thực đạt gần 400kg, thịt đạt gần 50 kg,trứng đạt 17kg xấp xỉ bình quân thế giới Từ năm 1991 đến nay, sản lượng thịt

và trứng của Trung Quốc hàng năm đều vượt Mĩ Sản lượng rau xanh của TrungQuốc hiện nay đạt 320-350 triệu tấn/năm chiếm trên 50% sản lượng rau của toànthế giới Sản lượng trái cây các loại của Trung Quốc đạt khoảng 35 tấn/năm,đứng thứ nhì thế giới sau Mĩ Riêng sản lượng táo và lê của Trung Quốc nhiềugấp đôI Mĩ Sản lượng quả có múi của Trung Quốc đạt 7 triệu tấn/năm đứng thứ

3 thế giới Trong 10 năm gần đây, nghề trồng hoa của Trung Quốc tăng cả vềdiện tích, sản lượng và doanh thu Diện tich trồng hoa tăng 4,5 lần, giá trị sảnlượng tăng 5 lần Đến nay cả nước có gần 100.000 ha trồng hoa tạo ra nguồn thunhập 3 tỉ NDT Hoa của Trung Quốc bắt đầu vươn ra thị trường thế giới Riêngthành phố Côn Minh tỉnh Vân Nam có 350 ha hoa, hàng tháng sản xuất trên 1triệu bông hoa và bắt đầu xuất khẩu sang Nhật và một số nước khác

Nông nghiệp Trung Quốc chuyển động mạnh mẽ từ công nghiệp cổtruyền sang công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trong hơn 60 năm qua, nông nghiệp Trung Quốc không chỉ dừng lại ởviệc ứng dụng khao học công nghệ thâm canh cổ truyền mà đã tích cực nghiêncứu, tìm tòi ứng dụng các công nghệ mới phù hợp với yêu cầu tăng năng suấtcây trồng vật nuôi, tăng năng suất nông nghiệp và tăng sản lượng đất đai trongtừng niên vụ sản xuất

Trước hết, công nghệ sinh học được nghiên cứu ứng dụng có kết quả phục

vụ cho lai tạo giống mới và nhân giống Trung Quốc là nước đầu tiên trên thếgiới nghiên cứu được nhiều giống lúa lai đưa vào sản xuất đại trà trong 25 nămgần đây trên diện tích gần 20 triệu ha, làm tăng năng suất từ 10-25 tạ/ha Kĩthuật nhân giống bằng nuôi cấy mô cũng được ứng dụng rộng rãi đối với mía,chuối

Trang 12

Về thuỷ nông, đã xây dựng một hệ thống hồ chứa nước mặt giếng nướcngầm, hệ thống kênh mương và máy móc, thiết bị tưới tiêu đảm bảo cho hơn 45triệu ha gieo trồng.

Cơ giới hoá nông nghiệp cũng phát triển khá nhanh Năm 1950 TrungQuốc mới có 400 chiếc máy kéo, đến năm 1978 có 550 nghìn máy kéo lớn và1,37 triệu máy kéo nhỏ Đến nay có gàn 600000 máy kéo lớn và gần 9 triệu máykéo nhỏ Mức độ cơ giới hoá các khâu sản xuất nông nghiệp chủ yếu hiện nay vềlàm đất đạt 55-60% diện tích gieo trồng, tưới tiêu, nước 70%, vận chuyển 60%

Từ năm 1996 đến nay, Trung Quốc đã đưa vào ứng dụng rộng rãi trongsản xuất 10 hạng mục kĩ thuật mới, trong đó có các giống lúa lai kĩ thuật trồngrau việc ứng dụng khoa học công nghệ mới trong nông nghiệp đảm bảo tăngtrưởng nông nghiệp 40%

Đúc kết kinh nghiệm phát triển và cải cách nông nghiệp thời gian qua.Đảng cộng sản Trung Quốc đã họp hội nghị trung ương lần thứ III, khoá XV và

đã rút ra 5 kinh nghiệm cơ bản của hơn 30 năm cải cách nông nghiệp là:

1 Cần phải thừa nhận và bảo đảm đầy đủ quyền tự chủ của nông dân,

phát huy tính tích cực của nông dân, hạt nhân là đảm bảo lợi ích vật chất củanông dân, tôn trọng quyền dân chủ của nông dân

2 Cần phát triển kinh tế nhiều loại sở hữu coi công hữu là chủ thể, thực

hiện sở hữu tập thể đối với ruộng đất kinh doanh khoán gia đình, tách quyền sửdụng với quyền sở hữu, sử dụng thể chế kinh doanh hai tầng

3 Kiên trì cải cách theo hướng thị trường, tạo ra sức sống mới cho kinh tế

nông thôn Xây dựng địa vị chủ thể của trang trại trong kinh doanh tự chủ củacác nông hộ, khuyến khích nông dân phát triển sản xuất hàng hoá hướng về thịtrường Cải cách thể chế lưu thông nông sản phẩm Tăng cường cải thiện vai tròđiều tiết vĩ mô của nhà nước đối với lương thực

4 Tôn trọng đầy đủ tinh thần sáng tạo của nông dân, dựa vào quần chúng

thúc đẩy sự nghiệp vĩ đại của cải cách Khoán hộ và xí nghiệp hương trấn lànhững sáng tạo to lớn của nông dân Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng

Kiên trì đường lối công tác căn bản “từ quần chúng mà ra, đi vào quần chúng ”.

Trang 13

5 Xuất phát từ toàn cục, coi trọng cao độ nông nghiệp, làm cho cải cách

nông thôn và cải cách thành thị phối hợp với nhau, phát triển hài hoà Kiên trìcoi nông nghiệp là cơ sở, từ các mặt chính sách, khoa học kĩ thuật, đầu tư hỗi trợmạnh mẽ cho nông nghiệp

II Hiện đại hoá công nghệp là nhiệm vụ hàng đầu.

1 Tăng cường vốn đầu tư hiện đại hoá trang thiết bị của các ngành công nghiệp để sản xuất nhiều hàng xuất khẩu.

Để hiện đại hoá nền công nghiệp, Trung Quốc trước hết tăng cường đầu

tư cho các cơ sở sản xuất bằng các nguồn vốn của nhà nước, của tư bản nướcngoài đưa vào và vốn đi vay của nước ngoài Vốn của nước ngoài được sử dụngtrong thời gian từ năm 1979 đến năm1992 lên tới 98,43 tỉ (USD) trong đó có34,51 tỉ (USD) là đầu tư trực tiếp, 60,08 tỉ (USD) là tín dụng Trung Quốc nhậpnhiều thiết bị máy móc để thế cho các máy cũ, khuyến khích phát triển các xínghiệp vừa và nhỏ, xây dựng thêm nhiều công trình mới, nhằm sản xuất ranhiều sản phẩm có chất lượng cao để xuất khẩu Trung Quốc đã dùng 80% sốvốn vay được, chủ yếu để phát triển các nghành mũi nhọn và xây dựng cơ sơ vậtchất hạ tầng cho công nghiệp

Để sử dụng vốn có hiệu, Trung Quốc cũng thay đổi cách quản lí trongcông nghiệp Các xí nghiệp quốc doanh được nới rộng quyền hạn kinh doanh(tựlập kế hoạch, tự tìm nguyên liệu và thị trường tiêu thụ ) nhà nước chỉ làmnhiệm vụ đIều tiết, chỉ đạo ở cấp vĩ mô.Để có các mặt hàng có sức cạnh tranhtrên thị trường quốc tế, Trung Quốc một mặt hết sức coi trọng việc nhập khẩu kĩthuật từ nước ngoài, nhưng mặt khác cũng ra sức phát triển và nâng cao chấtlượng những sản phẩm của các ngành công nghiệp truyền thống, các mặt hàngtiêu dùng vốn có tiếng như: tơ lụa, dụng cụ gia đình Với chính sách tận dụngnguồn nhân lực trong nước để chế biến và để bán ra nước ngoài các thành phẩmvới giá cao, Trung Quốc vừa giải quyết được tình trạng thừa lao động, vừa thuhút được nhiều ngoại tệ mạnh

2 Những thay đổi trong sản xuất và phân bố công nghiệp.

Trang 14

Giá trị sản lượng công nghiệp đã chiếm 45% GDP Tỉ lệ hàng côngnghiệp tham gia vào cán cân buôn bán với nước ngoài ngày càng tăng TrungQuốc đứng đầu thế giới về sản lượng than, xi măng, vải bông sợi Trước năm

1988 Trung Quốc phát triển mạnh các ngành công nghiệp truyền thống như:luyện kim, dệt, công nghiệp nhẹ vv Gần đây Trung Quốc tập trung phát triểnnhiều ngành công nghiệp hiện đại như: điện tử, cơ khí chính xác, hoá chất và dulịch, vv nhằm thay đổi đáng kể cơ cấu các ngành công nghiệp Các trung tâmcông nghiệp cũ ở vùng Đông Bắc Trung Quốc như Cáp Nhĩ Tân, Thẩm Dương,

An Sơn với các ngành công nghiệp nặng được tiếp tục phát triển

Các thành phố Bắc Kinh, Thái Nguyên, Bao Đầu(vùng Hoa Bắc) có cảcác ngành công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ và thực phẩm.Ngày nay vùng hạlưu sông Trường Giang (Hoa Trung) cũng trở thành vùng công nghiệp quantrong với hai trung tâm lớn: Thượng Hải, Vũ Hán Ngoài ra các ngành côngnghiệp năng lượng , khai khoáng, hoá chất cũng bắt đầu được phát triển mạnh ởcác tỉnh và thành phố miền Tây (Lan Châu, Tây An ).Đặc biệt các mặt hàngvật liệu xây dựng, đồ gốm, sứ, hàng dệt được sản xuất ở khắp các vùng nôngthôn

Bảng 2: Sản lượng một số ngành công nghiệp (1990)

Len, dạ, tơ, lụa(triệu mét) 240

Tốc độ phát triển công nghiệp tăng nhanh, mức tăng bình quân hàng nămthời kì 1978-1992 là 13,2%, giá trị sản phẩm công nghiệp thời kì này tính theogiá so sánh tăng 1,7 lần Năm 1993 sản xuất tăng trưởng mạnh mẽ So với năm

1992 tăng tới 23,6%, giá trị sản lượng đạt 4047,2 tỉ(NDT) Giá trị tàI sản cố địnhcủa công nghiệp cả nước năm 1993 đạt 1996,3 tỉ(NDT), so với con số 340tỉ(NDT) của năm 1978 thì tăng 1656,3 tỉ(NDT).Qua xây dựng cơ bản, năng lựcsản xuất các sản phẩm chính mới tăng thêm trong thời gian này là:

Trang 15

Bảng 3: Năng lực sản xuất các sản phẩm chính mới tăng thêm

Loại sản phẩm Sản lượng tăng thêm

đã trở thành ngành sản xuất tạo nguồn ngoại tệ chủ yếu của Trung Quốc, đáng

kể là các ngành sản xuất máy cái, máy dệt, máy chế bién lương thực, thực phẩm,

xe hơi, máy khâu, quạt điện, đồng hồ và gần đây còn thêm các ngành máy baydân dụng, tàu biển, đồ dùng điện gia đình

III Cải cách thể chế ngoại thương.

Trung Quốc đã thực hiện cải cách điều chỉnh mạnh mẽ trong cả hai mặtquản lí hành chính ngoại thương và quản lí kinh doanh của các xí nghiệp, công

ty ngoại thương bằng các chính sách:

- Điều chỉnh cơ cấu quản lí hành chính ngoại thương

- Thực hiện tách chức năng chính quyền và xí nghiệp

Trang 16

- Cải cách thể chế kế hoạch ngoại thương.

- Cải cách thể chế quản lí ngoại hối và thuế: sau năm 1979 Trung Quốc đãchú trọng cải cách thể chế quản lí ngoại hối thông qua một số hình thức: điềuchỉnh hối xuất: Năm 1994 để thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế đốingoại, Trung Quốc đã bắt đầu thả nổi ngoại tệ có quản lí Việc thả nổi hối xuất,không những đã phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế TrungQuốc mà nócòn tạo điều kiện cho đồng NDT đi vào thị truờng thế giới

* Áp dụng một số biện pháp điều chỉnh trong quản lí ngoại tệ vốn cótrong nhân dân Trong hoạt động ngoại thương Trung Quốc cũng đã thực hiệnmột loạt các cải cách sau:

- Áp dụng một số biện thu thuế xuất nhập khẩu: Đối với hàng hoá xuấtkhẩu, nếu hàng hoá có doanh thu lớn thì thhu thuế điều tiết xuất khẩu, nếu xuấtkhẩu không có lãi hoặc lợi nhuận dưới 7,5% thì không thu

- Tăng cường thúc đẩy các xí nghiệp từng bước thực hiện đổi lợi nhuậnsang thuế, độc lập kinh doanh, tự chịu lỗ lãi

- Thực hiện chế độ hoàn vốn xuất khẩu

Ngoài ra, các quan hệ kinh tế đối ngoại đã góp phần quan trọng vào việccải cách kinh tế- xã hội của Trung Quốc Từ năm 1978 tới nay, Trung Quốc đãmạnh dạn thực hiện chính sách mở cửa, tận dụng các điều kiện thuận lợi trongquan hệ quốc tế để phát triển nền kinh tế quốc dân Để thu hút vốn đầu tư củanước ngoài, Trung Quốc đã thành lập các đặc khu kinh tế một số thành phố vàvùng ven biển Trong các đặc khu kinh tế, các dịch vụ kinh doanh và hàng hoáxuất khẩu đều được hưởng chính sách ưu đãi Các đặc khu kinh tế được coi làđội quân tiên phong mở cửa với thế giới bên ngoài của Trung Quốc, một kênhđộc đáo để Trung Quốc tận dụng vốn, kĩ thuật nước ngoài và liên hệ với thịtrường thế giới và cũng là nơi thử nghiệm tổng hợp chính sách cải cách củaTrung Quốc Các đặc khu lớn như Thẩm Quyến, Chu Hải, Hạ Môn và Sán Dầu

đã đóng góp rất lớn cho nền kinh tế quốc dân Tổng giá trị sản phẩm côngnghiệp của bốn đặc khu năm 1990 đạt 28,25 tỉ USD, gấp 26 lần so với năm

1979, trước khi lập đặc khu Nếu tính cả tỉnh Hải Nam, đặc khu thứ năm củaTrung Quốc thì tổng kim ngạch xuất khẩu của năm đặc khu đạt 15,66 tỉ USD,

Trang 17

tăng 13,6% so với năm trước Năm 1991 Thẩm Quyến thu hút được một triệuUSD tiền vốn, tăng 44% so với 1990, Chu Hải thu hút được 850 triệu USD, tăng75% Sán Dầu thu hút được 750 triệu USD, tăng 200% Năm đặc khu kinh tế cókim ngạch ngoại thương bằng 20% của cả nước Trong đó riêng Thẩm Quyếnđạt 61% doanh thu của cả năm đặc khu Các đặc khu cũng tăng trưởng xuấtkhẩu, phát triển du lịch thu ngoại tệ cho nhà nước Riêng ở Thẩm Quyến, sốkhách du lịch nước ngoài hằng năm lên đến hơn 1 triệu lượt người, tương đươngvới lượng du khách các vùng khác trong nước Các đặc khu kinh tế còn là nơi thíđiểm các biện pháp cải cách kinh tế mới nhằm nêu gương và thúc đẩy cải cáchtrong nội địa như lập thị trường chứng khoán, mua bán cổ phiếu, tuyển chọnngười tài giỏi Đây cũng là trường học, đào tạo cán bộ quản lí kinh doanh giỏi,thích nghi với thị trường quốc tế Mối giao thương và liên hệ với Hồng Kông,

Ma Cao, Đài Loan cũng tăng lên rõ rệt Các đặc khu kinh tế với bốn cửa sổ phục

vụ cho mục tiêu kinh tế và chính trị của Trung Quốc đã làm được chức năng củachúng về cơ bản

Trung Quốc còn tích cực vay tiền của nước ngoài ( Nhật, Bỉ, Hà Lan,ngân hàng thế giới ) để phát triển kinh tế trong nước Cho tới năm 1995, TrungQuốc đã dùng trên 160 tỉ USD vốn đầu tư của nước ngoài để xây dựng các côngtrình trong các lĩnh vực khác nhau như năng lượng, giao thông vận tải và cơ sở

hạ tầng( nhà ở, đường ống nước)

Trung Quốc một mặt tăng cường trao đổi khoa học kĩ thuật, kinh nghiệmquản lí kinh tế với nước ngoài, mặt khác mở rộng buôn bán với thế giới Hàngxuất khẩu chủ yếu là hàng dệt, sản phẩm công nghiệp nhẹ, thực phẩm, gia cầm Hàng nhập khẩu phần lớn là máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, một ít hàng tiêudùng và nông phẩm Tổng xuất khẩu kim ngạch xuất nhập khẩu năm 1995 lênđến 280 tỉ USD

Trung Quốc còn chú ý đến việc khai thác các di tích văn hoá, lịch sử vàcảnh quan thiên nhiên để phục vụ du lịch Năm 1995, 46 triệu khách du lịch đãtới thăm Trung Quốc-năm 1995 nguồn thu của nghành này lên đến 9 tỉ USD

Trang 18

Thực tế Ước tính 1985-1995 1996-2000 2001-2010 2011-2020 1995-2020

8,43,18,29,7

6,94,26,68,1

5,53,75,46,0

6,53,86,67,5

IV Các vùng kinh tế chính của Trung Quốc.

-Vùng Đông Bắc: là vùng có những cơ sở công nghiệp nặng quan trọngcủa Trung Quốc Trong vùng có các nguồn nguyên liệu phong phú, tạo đIều kiệnthuận lợi cho việc phát triển các ngành công nghiệp:khai khoáng(than, quạngsắt, dầu mỏ ), luyện kim, cơ khí, hoá chất và dệt Các trung tâm công nghiệp lớnlà: Cáp Nhĩ Tân, Thẩm Dương, Phú Thuận, An Sơn và cảng Đại Liên Nông sảnchủ yếu là: lúa mì, ngô, cao lương, củ cải đường,khoai tây và hạt hướng dương

-Vùng Hoa Bắc: nằm ở hạ lưu sông Hoàng Hà, là vùng phát triển mạnh cả

về công nghiệp và nông nghiệp Sản lượng công nghiệp của vùng chiếm khoảng1/5 tổng sản lượng công nghiệp toàn quốc Các ngành chính có khai thác nhiênliệu(than, dầu mỏ), điện lực, luyên kim, hoá chất, cơ khí và chế biến nông sản.Ngành đánh cá biển cũng khá phát triển Các trung tâm công nghiệp lớn trongvùng là: Thiên Tân, Thái Nguyên, Tế Nam, Thanh Đảo Ở phía nam của vùngnhờ có các công trình thuỷ lợi nên cũng trồng được lúa nước Bắc Kinh là thànhphố lớn nhất trong vùng, đồng thời là thủ đô của Trung Quốc Bên cạnh nhữngcông trình kiến trúc cổ như: Cố Cung, Di Hoà Viên Bắc Kinh đã và đangxây dựng thêm nhiều khu phố hiện đại với các nha cao tầng với các quảngtrường lớn và hệ thống giao thông nội thị với các phương tiện hiện đại

-Vùng Hoa Trung: nằm trên lưu vực và châu thổ sông Trường Giang Dân

cư trong vùng rất đông đúc Các ngành kinh tế chính gồm cả công nghiệp, nôngnghiệp và đánh cá biển Các nông sản quan trọng có: lương thực (lúa mì, lúagạo), chè, đỗ, lạc, bông và rau quả Các trung tâm công nghiệp đồng thời là cảnglớn của vùng: Thượng Hải, Vũ Hán, Nam Kinh Thượng Hải nằm bên cửa sông

Ngày đăng: 07/11/2015, 20:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1:  Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu - vai trò của nhà nước trong công cuộc cải cách mở cửa kinh tế ở trung quốc
Bảng 1 Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu (Trang 5)
Bảng 3: Năng lực sản xuất các sản phẩm chính mới tăng thêm - vai trò của nhà nước trong công cuộc cải cách mở cửa kinh tế ở trung quốc
Bảng 3 Năng lực sản xuất các sản phẩm chính mới tăng thêm (Trang 15)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w