1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá một số giống xoài theo hướng sử dụng quả tươi khi còn xanh mới nhập nội trong điều kiện miền bắc, việt nam

125 400 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 12,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm gần ựây Viện nghiên cứu rau quả ựã chọn tạo ựược một số giống xoài có khả năng ra hoa muộn, năng suất, chất lượng khá, ựáp ứng nhu cầu tiêu thụ quả tươi.. Với yêu cầu thự

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

-       -

LÊ THỊ THU HƯƠNG

ðÁNH GIÁ MỘT SỐ GIỐNG XOÀI THEO HƯỚNG

SỬ DỤNG QUẢ TƯƠI KHI CÒN XANH MỚI NHẬP NỘI

TRONG ðIỀU KIỆN MIỀN BẮC, VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Trang 2

LỜI CAM ðOAN

Tôi xin cam ñoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề ñược sử dụng ñể bảo về một học vị nào

Trong quá trình thực hiện ñề tài và hoàn thiện luận văn, mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn ñã ñược cảm ơn và các thông tin trích dẫn ñều ñược chỉ rõ nguồn gốc Nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 12 tháng 9 năm 2009

Lê Thị Thu Hương

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành bản luận văn này, tôi luôn nhận ựược sự giúp ựỡ tận tình của các thầy cô giáo Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội, ban lãnh ựạo Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm rau-hoa-quả Gia Lâm, Bộ môn cây ăn quả - Viện nghiên cứu Rau quả và các ựồng nghiệp

Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban lãnh ựạo Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm Rau-hoa-quả Gia Lâm - Viện nghiên cứu Rau quả ựã tạo mọi ựiều kiện cho tôi thực hiện tốt luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới thầy hướng dẫn khoa học PGS.TS Vũ Văn Liết, Bộ môn Di truyền giống, Khoa Nông học Ờ Phó hiệu trưởng, Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội và TS Bùi Quang đãng phó Bộ môn cây ăn quả - Viện nghiên cứu Rau quả là những người ựã tận tình hướng dẫn, ựịnh hướng và giúp ựỡ về chuyên môn trong suốt thời gian thực hiện ựề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể Bộ môn cây ăn quả, Bộ môn Bảo quản chế biến Ờ Viện nghiên cứu Rau quả, các thầy cô trong Viện Sau ựại học, Bộ môn Di truyền - Giống - Khoa Nông học - trường đại học Nông nghiệp Hà Nội ựã giúp ựỡ và ựóng góp nhiều ý kiến quý báu trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu ựể tôi thực hiện tốt cho luận văn

Qua ựây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia ựình, người thân, anh em, bạn bè những người luôn ủng hộ, ựộng viên tạo ựiều kiện cho tôi trong quá trình học tập, công tác và thực hiện luận văn

Hà Nội, ngày 12 tháng 9 năm 2009

Lê Thị Thu Hương

Trang 5

4.1.2 ðặc ñiểm sinh trưởng và phát triển của các giống xoài thí nghiệm 41

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

KÍ HIỆU CÁC MẪU GIỐNG PHÂN TÍCH

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Trang 9

1 MỞ đẦU

1.1 Tắnh cấp thiết của ựề tài

Cây xoài (Mangifera indica L.) thuộc họ ựào lộn hột (Anacadiaceae) là

cây ăn quả nhiệt ựới Nhưng do có khả năng thắch ứng rộng nên hiện nay cây xoài ựã ựược trồng ở nhiều nước và vùng lãnh thổ có ựiều kiện khắ hậu á nhiệt ựới Ở Việt Nam, cây xoài ựược trồng ở hầu khắp các vùng trong cả nước nhưng tập trung chủ yếu ở các tỉnh phắa Nam, từ Bình định trở vào Ở miền bắc, cây xoài ựược trồng khá lâu nhưng chỉ tập trung thành vùng sản xuất ở một số ựịa phương có ựiều kiện khắ hậu tương ựối thuận lợi cho quá trình ra hoa ựậu quả như: Mai Sơn, Yên Châu (Sơn La), Yên Minh (Hà Giang), Tương Dương (Nghệ An) Các vùng khác của miền Bắc, vào cuối mùa đông

và nửa ựầu mùa Xuân nhiệt ựộ thường thấp, mưa ẩm kéo dài, ựây cũng là thời ựiểm xoài ựịa phương ra hoa Do vậy, khả năng ựậu quả của các giống xoài trong ựiều kiện như vậy rất thấp, sâu bệnh gây hại nặng nề Trong những năm gần ựây Viện nghiên cứu rau quả ựã chọn tạo ựược một số giống xoài có khả năng ra hoa muộn, năng suất, chất lượng khá, ựáp ứng nhu cầu tiêu thụ quả tươi Tuy nhiên, số lượng các giống mới tạo ra còn hạn chế

Hơn nữa, tất cả các giống ựều ựòi hỏi phải rấm chắn trước khi sử dụng, quá trình bảo quản gây tỷ lệ quả hư hỏng tăng lên ựáng kể do môi trường xử

lý chắn rất thuận lợi cho nguồn nấm bệnh hình thành từ trước lúc thu hoạch, sinh trưởng và gây hại trong giai ựoạn này Vì vậy, việc chọn tạo và ựưa vào sản xuất những giống xoài có chất lượng tốt, sử dụng khi quả già không qua rấm chắn (xoài ăn xanh) sẽ ựem lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất, ựáp ứng nhu cầu ựòi hỏi ngày càng ựa dạng của người tiêu dùng Khi phát triển các giống xoài như vậy phần nào giảm thiểu ựược ảnh hưởng gây hại của nấm bệnh trên quả nhất là trong ựiều kiện ẩm ựộ không khắ cao ở hầu

Trang 10

khắp các vùng ựang là một trở ngại lớn cho việc phát triển cây xoài ở miền Bắc Với yêu cầu thực tiễn sản xuất kể trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu ựề

tài: Ộđánh giá một số giống xoài theo hướng sử dụng quả tươi khi còn xanh mới nhập nội trong ựiều kiện miền Bắc,Việt NamỢ

1.2 Mục ựắch, yêu cầu của ựề tài

1.2.1 Mục ựắch

đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng ăn xanh của 3 giống xoài nhập nội ựể xác ựịnh giống phù hợp với một số vùng sinh thái miền Bắc khuyến cáo cho sản xuất

đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống xoài nhập nội trong ựiều kiện miền Bắc nhằm xác ựịnh giống tốt có khả năng ăn xanh giới thiệu cho sản xuất

1.2.2 Yêu cầu

- đánh giá ựặc ựiểm hình thái, khả năng sinh trưởng phát triển của một

số giống xoài nhập nội trong ựiều kiện miền Bắc

- đánh giá các ựặc ựiểm nông học (ra hoa, ựậu quả,năng suất,Ầ) của cây xoài

- Xác ựịnh các ựặc ựiểm về khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng quả xanh ăn tươi khi thu hoạch ở các thời ựiểm khác nhau

- đánh giá mức ựộ chống chịu tự nhiên với một số sâu bệnh chắnh trên một số giống xoài nhập nội sinh trưởng và phát triển ở miền Bắc Việt Nam

Trang 11

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

- ðề tài cung cấp dữ liệu về sinh trưởng, phát triển của các giống xoài ñược nghiên cứu trồng trong ñiều kiện miền Bắc làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo

- Là nguồn tài liệu tham khảo cho nghiên cứu về cây xoài nói chung trong ñiều kiện miền Bắc

Trang 12

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Nguồn gốc và phân bố của cây xoài

Vùng Ấn độ ựược xem là nguồn gốc chắnh của cây xoài, sau ựó qua nhiều con ựường mà nó ựược lan rộng ra các vùng khác Ở Ấn độ, cây xoài ựược trồng từ rất lâu ựời với diện tắch và sản lượng cao nhất trên thế giới Ngay từ những năm 2000 trước công nguyên, cây xoài ựã ựược khắc ựậm trong các tác phẩm văn hóa cổ ựại và ựã có những công trình khảo cổ học về cây xoài ở Ấn độ Các giống xoài ựược trồng ở nhiều nước ựều có nguồn gốc

từ Ấn độ (Singh L.B, 1960) [61] Tại Ấn ựộ, người ta còn tìm thấy rất nhiều giống xoài hoang dại mà ở vùng khác không có Theo các kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả Ấn độ, ựa số các giống xoài ở Ấn độ là ựơn phôi, nhưng khi trồng ở vùng khác lại trở thành xoài ựa phôi do chúng thụ phấn chéo với các giống xoài ựa phôi của ựịa phương ựó (Trịnh thường Mại, 1996) [15]

Vùng Ấn độ - Myanma cũng ựược coi là một trong những nơi phát sinh của cây xoài Tại khu vực Assam phắa đông Nam Ấn độ, trong khu vườn cổ Bengal và Deccan, người ta cũng tìm thấy rất nhiều giống xoài hoang dại Một

số tác giả khác lại cho rằng, vùng đông Nam Á là nguồn gốc phát sinh chắnh của cây xoài do phát hiện có sự ựa dạng về loài ở khu vực này Theo

Trang 13

Mukherjee (1949) (trắch theo Bondad N.D., 1989) [41], tại ựây các nhà khoa

học ựã phát hiện ra 20 loài trong tổng số 41 loài thuộc chi Mangifera riêng ở

Malaysia là 12 loài, trong khi ựó ở Ấn độ thì chỉ phát hiện thấy 2 loài dại thuộc

chi Mangifera Tuy nhiên, nếu xét về ựiều kiện khắ hậu thì Malaysia là nơi

không phù hợp với sự phát triển của cây xoài do có ựộ ẩm lớn, lượng mưa từ

1650 - 5080mm phân bố rải rác ở các tháng trong năm vì thế ựây không thắch hợp là nơi phát sinh của cây xoài mà nó ựược ựưa từ nơi khác ựến (Burkill,

1996 và Wester, 1920) (trắch theo Bondad N.D., 1989) [41] Việt Nam nằm trong bán ựảo đông Dương, có ựa số các giống xoài ựa phôi và rất nhiều loài

bán hoang dại thuộc chi Mangifera, từ ựó cho thấy, Việt Nam cũng có thể là

nơi phát sinh của một số giống xoài ựa phôi (Vũ Công Hậu, 1996) [10] và (Trần Thế Tục, 1998) [33]

2.1.2 Phân bố xoài trên thế giới

Vùng phân bố tự nhiên của cây xoài là từ Ấn độ - Malaysia và kéo dài ựến Philippin và phắa đông Tân Ghine Từ thế kỷ thứ 15 - 18, cây xoài ựã ựược ựem trồng ở một số nước thuộc vùng nhiệt ựới và á nhiệt ựới trên thế giới

nay, vùng trồng xoài tập trung và có diện tắch lớn là miền Nam Ấn độ, các nước vùng đông Nam Châu Á, bờ biển phắa đông Bắc Australia, một số nơi trên vùng biển phắa đông Châu Phi, bờ biển phắa đông Bắc Braxin và một số nơi thuộc vùng Trung Mỹ (Vũ Công Hậu 1996) [10] và (Trần Thế Tục, 1998) [33]

Ở Châu Á, cây xoài ựược trồng nhiều ở Ấn độ, Pakistan, Bangladesh, Srilanca, Myanma, Nam Trung Quốc, Thái Lan, Campuchia, Việt Nam, Lào, đài Loan, Philippin và Indonesia Từ trung tâm nguồn gốc Ấn độ, từ thế kỷ thứ 4 trước công nguyên, cây xoài ựã ựược trồng ở Malaysia do các nhà truyền giáo ựạo Hồi, các nhà hàng hải, các nhà buôn Tây Ban Nha và Bồ đào

Trang 14

Nha mang ựến, do vậy có thể nói Malaysia là quốc gia thứ 2 trồng xoài sau

Ấn độ và ựến năm 1600, cây xoài ựã ựược ựưa ựến trồng ở Philippin

Ở châu Phi, cây xoài ựược người Ả Rập ựưa vào từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ thứ 19, cây xoài ựược trồng rộng rãi ở Ghine, CôngGô, Ai Cập, Zimbabue, Mali, Nigie, Suđăng, Môzămbich, Madagasca và ựảo Morits (Bondad N.D,1989) [41]

Ở châu Mỹ, cây xoài ựược ựưa vào Mêhicô từ trước năm 1778 do các nhà hàng hải Tây Ban Nha ựưa từ Philippin ựến Ở Florida, cây xoài ựược trồng bằng hạt phắa đông ựảo năm 1860 và phắa Tây ựảo năm 1870 Hiện nay, cây xoài còn ựược trồng nhiều ở các nước vùng Caribê và phắa Bắc Achentina (Bondad N.D, 1989) [41]

Ở Việt Nam, cây xoài ựã ựược trồng từ rất lâu nhưng không biết là từ khi nào và các giống xoài có nguồn gốc từ ựâu, duy chỉ có giống xoài Cambodiana ựược trồng ựầu tiên ở Miami và Florida là giống có nguồn gốc từ cây xoài gieo hạt mang ựến từ Sài gòn (Việt Nam) năm 1902 Hiện nay, cây xoài ựược trồng rải rác từ Nam ra Bắc nhưng tập trung chủ yếu ở các tỉnh phắa Nam từ Bình định trở vào Ở miền Trung, cây xoài ựược trồng nhiều ở Quảng trị Ở miền Bắc, cây xoài ựược trồng tập trung ở Yên Châu, Mai Sơn (Sơn La), Yên Minh (Hà Giang) và Kiến Thụy (Hải Phòng) (Trần Thế Tục, 1996) [29]

2.2 Yêu cầu về sinh thái cây xoài

2.2.1 Yêu cầu về ựất ựai

Xoài là cây ăn quả nhiệt ựới nhưng có khả năng thắch ứng rộng Trong các yếu tố sinh thái tác ựộng ựến cây xoài có thể thấy yếu tố ựất ựai không phải

là yếu tố hạn chế chắnh Rất nhiều các kết quả nghiên cứu về sinh thái của cây xoài cho thấy, cây xoài hoàn toàn có thể sinh trưởng, phát triển tốt trên nhiều loại ựất khác nhau, từ ựất phù sa ven sông, ựất cát ven biển ựến các loại ựất ựồi lẫn

Trang 15

sỏi ựá Tuy nhiên, ựất có cấu trúc nhẹ, giàu dinh dưỡng, ựộ dày tầng ựất trên 2m, mực nước ngầm vào các thời ựiểm trong năm dưới 1,8m, pH ựất dao ựộng từ 5,5 - 7,5 ựược xem là phù hợp nhất cho xoài phát triển Chỉ trừ ựất ựen, ựất ựá vôi có pH cao là thực sự không thắch hợp cho trồng xoài đứng về khắa cạnh ựất ựai ở miền Bắc, chỉ trừ vùng ựất chạy dọc biên giới Việt Trung từ Hà Giang ựến Cao Bằng, Lạng Sơn và vùng thuộc xương sống của khu Tây Bắc chạy từ Lai Châu ựến Ninh Bình là ựất ựá vôi, không phù hợp cho trồng xoài [17, 39]

2.2.2 Yêu cầu về nhiệt ựộ

Cây xoài là cây ăn quả nhiệt ựới, nhưng hiện nay cây xoài cũng ựã ựược trồng nhiều ở các vùng bán nhiệt ựới như đài Loan, Israel, Florida

do cây xoài có thể chịu ựược những ựợt rét vài ựộ dưới không (-2 ựến -

và ựặc biệt là cây con rất mẫn cảm với giá lạnh Tuy vậy, cây xoài còn chịu

cấp ựủ nước (Trần Thế Tục, 1998) [33] Nhiệt ựộ thắch hợp nhất là 23,9-

trên 1000m, nhưng ựể có sản lượng thì không nên trồng xoài ở nơi có ựộ cao trên 600m Nếu trồng xoài ở vùng có ựộ cao trên 600m, nhiệt ựộ thấp

và sương giá tại ựó sẽ ảnh hưởng ựến ra hoa, tới tỷ lệ hoa cái có thể có quả (Vũ Công Hậu 1996) [10]

Thời tiết, khắ hậu là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp, có thể thúc ựẩy hoặc làm trì hoãn việc nở hoa của xoài, cùng một giống xoài thời gian ra hoa sớm hay muộn giữa các năm có liên quan ựến nhiệt ựộ không khắ ở giai ựoạn phân hóa mầm hoa, (Singh L.B, 1960) [62, 342- 439]

Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt ựộ ựến quá trình nở hoa của một số giống xoài ựơn phôi (Keitt, Irwin và Haden) và ựa phôi (Native và White)

Trang 16

thời tiết không mưa, ñủ ánh sáng, nhiệt ñộ từ 220C trở lên là tốt nhất (Hà Văn, 1997) [38, 11-12]

Whiley (1993) [70, 168 - 177] khẳng ñịnh rằng có ñầy ñủ những số liệu cần thiết ñể kết luận nhiệt ñộ là yếu tố rất quan trọng kích thích sự ra hoa ở

cho thấy sự xuất hiện những ñợt lạnh trước thời kỳ ra hoa có liên quan rất chặt với sản lượng xoài hàng năm, (Nunez-Elisea & Davenport T.L, 1995), [57, 63-73] do ñó ở Nicaragua không có mùa ñông lạnh, nhiệt ñộ trung bình

Nhiều ý kiến cho rằng nguyên nhân làm cho xoài ñậu quả ít hoặc không ñậu quả là do ảnh hưởng của nhân tố bên ngoài, có ñến 50% hoa lưỡng tính không nhận ñược phấn hoa, do ñó tỷ lệ thụ tinh chỉ ñạt dưới 35% (Dương Nhất Tuyết, 1992) [37, 39-55] Nếu hoa xoài nở vào thời tiết mát, khô thì quá trình thụ phấn thụ tinh ñạt kết quả cao (Singh L.B, 1960) [62], 342-439] Tuy nhiên người

ta có thể làm thay ñổi ñáng kể tỷ lệ hoa lưỡng tính trên một số giống xoài bằng biện pháp hóa học (Chanai Yotpetch, 1988) [43, 71-72], (Sopapun Juyjarcam, 1989) [65, 8], (Surmit Feungchan, 1991) [67, 29-33]

Quả xoài thường phải mất 3 tháng kể từ khi hoa tàn, quả mới có thể ñạt ñộ chín ñầy ñủ, thời gian có thể biến ñộng tùy theo giống và ñiều kiện thời tiết trong thời gian quả phát triển, nếu nhiệt ñộ cao sẽ phát triển nhanh và ngược lại Khả năng giữ quả trên cây và ñộ lớn của quả có liên quan với số lượng lá trên cây, (Cull B.W, 1991) [45, 154-173]

2.2.3 Yêu cầu về lượng mưa và ñộ ẩm

Lượng mưa và ẩm ñộ ñất cũng là yếu tố có ảnh hưởng lớn ñến cây xoài nhất là thời kỳ cây con và thời kỳ quả lớn Về lượng mưa, ña số các tác giả cho rằng, lượng mưa khoảng 1000mm/năm nếu phân phối ñều là có thể trồng xoài

Trang 17

ñược vùng chỉ có 250 - 300mm như ở Pakistan nhưng vẫn trồng ñược xoài nếu có ñiều kiện tưới nước Trên 1500mm/năm xoài vẫn mọc tốt nhưng lá nhiều, hoa ra ít và nhiều sâu bệnh (Trần Thế Tục, 1998) [33] Theo Duarmannôp (1974) (Trích treo Trần Thế Tục, 1998) [33], cây xoài có thể sinh trưởng tốt không cần tưới ở những vùng có lượng mưa 500 - 4000mm, tốt nhất

ở 1200 - 2500mm Nếu mưa phân bố ñều chỉ cần 900 -1000mm/năm cũng có

thể trồng xoài có hiệu quả kinh tế [34, 150-168]

Mặc dù xoài có khả năng chịu hạn tốt song cây xoài sinh trưởng tốt trong ñiều kiện có nước ñầy ñủ, ñặc biệt trong ñiều kiện có tưới Nhưng trong ñiều kiện ẩm ướt sinh trưởng sinh dưỡng sẽ chiếm ưu thế làm cây ra hoa ñậu quả kém như ở các bang Bengal, Assam, Kerala của Ấn ðộ Chính vì vậy ở Philippin trong sản xuất xoài hàng hóa người ta phân các vùng khí hậu chỉ dựa vào lượng mưa hàng năm

Nước là yếu tố rất quan trọng ñối với sinh trưởng và phát triển của cây xoài Tuy nhiên, do có bộ rễ phát triển, cây xoài ñược xem là cây trồng có khả năng chịu hạn tốt Những vùng có lượng mưa từ 75mm trở lên, phân bố hợp lý ñều có thể trồng ñược xoài không cần tưới Bên cạnh ñó, xoài cũng là cây khả năng chịu úng ngập tốt hơn nhiều so với những chủng loại cây ăn quả nhiệt ñới khác Sau khoảng 2-3 ngày bị ngập nước, khả năng sinh trưởng của cây xoài bắt ñầu bị giảm sút Khả năng sinh trưởng của cây bị giảm 57% trong ñiều kiện ngập nước 10 ngày, giảm 94% sau 110 ngày bị ngập nước Tuy nhiên, những cây còn sống sót sau thời gian ngập úng khoảng 28 ngày, nếu ñược chuyển sang trạng thái bình thường, cây vẫn có khả năng khôi phục lại hoạt ñộng quang hợp như

cũ Sở dĩ cây xoài có thể tồn tại ñược trong ñiều kiện ngập nước lâu như vậy là

do khả năng trương to của bì khổng trong thân cây ở phần nhô lên khỏi mặt nước (Larson D.K, 1991) [53]

Nhiều tác giả nghiên cứu về cây xoài ñều cho rằng: cây xoài cần 2-3

Trang 18

tháng khô hạn ñể ngừng sinh trưởng, phân hóa mầm hoa, (Sukvibul, N và Ccs, 1999) [66, 54], nhưng (Singh L.B, 1960) [61] thì cho rằng cần ít nhất 5 tháng mùa khô ñể hạn chế tối ña sinh trưởng sinh dưỡng và kích thích xoài phân hóa mầm hoa, tuy nhiên thời ñiểm ñể xoài phân hóa mầm hoa biến ñộng tùy theo ñiều kiện thời tiết của từng vùng, nếu ñủ ánh sáng, nhiệt ñộ thích hợp thì phân hóa mầm hoa sớm, nhanh và ngược lại

Ngoài nước thì dinh dưỡng cũng ñóng vai trò khá quan trọng trong quá trình phân hóa mầm hoa ở xoài (Singh L.B, 1960) [62, 342- 439], (Vũ Công Hậu, 1996) [10, 458 - 483], (Trần Thế Tục, 1998) [33] Như vậy muốn quá trình phân hóa mầm hoa ở xoài cần có một trong hai yếu tố ñó là nhiệt ñộ thấp

và khô hạn, (Whiley A.W, 1989) [69, 753 -756]

2.2.4 Yêu cầu về ánh sáng và gió

Hiện nay có rất nhiều ý kiến khác nhau về ảnh hưởng của ánh sáng ñối với cây xoài, nhưng hấu hết các nhà khoa học ñều thừa nhận việc ra hoa của xoài chủ yếu do tác ñộng của nhiệt ñộ Tuy nhiên, cây xoài nếu ñược trồng ở ñiều kiện ánh sáng ñầy ñủ sẽ rất có lợi cho sinh trưởng, phân hóa mầm hoa và ñậu quả Ánh sáng còn có tác dụng rất lớn trong việc tích lũy chất khô trong quả và có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành chất anthocyanin quy ñịnh màu ñỏ trong vỏ quả Những quả nhận ñược nhiều ánh sáng sẽ biểu hiện màu rất rõ rệt, mã quả ñẹp và có chất lượng tốt

Gió cũng là yếu tố ảnh hưởng rất lớn ñến xoài trong thời kỳ mang quả, nếu gặp ñiều kiện gió to sẽ gây rụng quả nghiêm trọng, những vườn cây xoài

có tán cao, trồng thưa bị rụng quả nhiều khi gặp gió cấp 4 - 6, những vườn cây trồng dày cây thấp chỉ rụng khi gió mạnh trên cấp 8, sự rụng quả có sự sai khác nhau ở các giống (Dương Nhất Tuyết, 1992) [37]

Trang 19

2.3 Tình hình sản xuất, tiêu thụ xoài trên thế giới và Việt Nam

2.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ xoài trên thế giới

Xoài là cây ăn quả có nguồn gốc từ vùng nhiệt ñới, nhưng do có khả năng thích ứng rộng nên cây xoài không chỉ ñược trồng ở các vùng nhiệt ñới

mà cả ở những vùng á nhiệt ñới có mùa ñông lạnh Hiện nay trên thế giới có khoảng trên 90 nước trồng xoài

Các khu vực sản xuất xoài chủ yếu trên thế giới hiện nay là Châu Á - Thái Bình Dương, Trung - Nam Mỹ và Châu Phi, Trong khoảng 20 năm trở lại ñây, sản lượng xoài bình quân của thế giới ñạt khoảng 18 triệu tấn và mức tăng sản lượng hàng năm khoảng 2- 3% Theo thống kê của FAO, trong năm 1980, sản lượng xoài của vùng Châu Á - Thái Bình Dương ñạt 12,1 triệu tấn, bằng 14% tổng sản lượng cây ăn quả trong vùng, chiếm 78% sản lượng xoài của thế giới Ấn ðộ là nước có diện tích và sản lượng xoài lớn nhất Vùng Trung - Nam Mỹ có sản lượng xoài chiếm 13%, chủ yếu tập trung ở Mêhicô và Braxin Các nước Châu Phi và các nước khác chiếm khoảng 10% sản lượng

Trước những năm 90, một số nước có sản lượng xoài tăng nhanh là: Pakixtan, Inñônêxia và Thái Lan, với mức tăng hàng năm ñạt 2,7 - 4,0% Từ năm 1995 lại ñây, Trung Quốc là nước có tốc ñộ phát triển xoài nhanh nhất (bảng 1) Năm 1995, sản lượng xoài của cả thế giới ñạt 18,495 triệu tấn, trong

ñó Ấn ðộ chiếm 54,07% (khoảng 10 triệu tấn), tiếp ñến là Trung Quốc chiếm 6,38% khoảng 1,18 triệu tấn, sau ñó là Mêhicô 1,09 triệu tấn, Pakixtan 0,839 triệu tấn, Thái lan 0,62 triệu tấn, Braxin 0,4 triệu tấn,…(FAO 1996) [47] ðến

2005, sản lượng xoài của thế giới ñạt 27,966 triệu tấn Sản lượng xoài của Ấn

ðộ chỉ tăng chút ít, ñạt 10,8 triệu tấn Trong khi ñó Trung Quốc, nước mà vùng trồng xoài ñược ñặc trưng bởi ñiều kiện á nhiệt ñới có mùa ñông lạnh lại

có sản lượng tăng rất mạnh, ñạt tới 3,573 triệu tấn, xếp thứ 2 sau Ấn ðộ và gấp 2 lần sản lượng xoài của Mêhicô, nước có sản lượng ñứng thứ 3 là 1,8 triệu tấn (FAO, 2006) [49]

Trang 20

Bảng 2.1: Sản lượng xoài trên thế giới từ 1995 -2005

Như vậy có thể thấy, mặc dù là cây ăn quả nhiệt ñới, nhưng trong những năm gần ñây, cây xoài ñang dần trở thành một cây ăn quả có hiệu quả kinh tế cao, diện tích và sản lượng không ngừng gia tăng ngay cả ở các vùng khí hậu vốn không ñược xem là thuận lợi cho phát triển xoài

Mặc dù sản lượng xoài ñược sản xuất hàng năm trên thế giới khá cao nhưng tỷ trọng buôn bán, trao ñổi trên thị trường quốc tế rất hạn chế ðiều này

có thể do một số nguyên nhân: thứ nhất, sức tiêu thụ xoài ở các nước trồng ñược xoài không ngừng gia tăng; thứ hai, xuất khẩu xoài, ñặc biệt là xuất khẩu tươi còn gặp nhiều khó khăn trong công tác quản lý sau thu hoạch, bảo quản, vận chuyển Chính vì vậy, trồng xoài ñể xuất khẩu ñang là một ngành thu ñược nhiều lợi nhuận Trên thực tế, lĩnh vực này hiện ñang chỉ tập trung ở một số

Trang 21

nước như: Mêhicô, Philipin và Pakixtan [40] Theo thống kê của FAO [44], năm 1998, tổng sản lượng xoài xuất khẩu trên thế giới ñạt 509.800 tấn, trong

ñó lượng xoài xuất khẩu của Mêhicô là 209.400 tấn, chiếm 41%, tiếp ñến là Philipin, Pakixtan và Braxin với lượng xuất khẩu tương ứng là: 52.000 tấn, 40.200 tấn và 39.200 tấn chiếm: 10,3; 7,8 và 7,6% Ấn ðộ, mặc dù là nước sản xuất xoài lớn nhất thế giới nhưng hàng năm lượng xoài xuất khẩu của nước này chỉ ñạt khoảng vài chục ngàn tấn, chiếm khoảng trên 5% tổng sản lượng xoài xuất khẩu của thế giới Cũng theo thống kê của FAO [44], ñến năm 2001 tổng sản lượng xoài xuất khẩu trên thị trường trên thế giới ñạt 589.000 tấn Ba nước

có sản lượng xuất khẩu ñứng ñầu là: Mêhicô (195.000 tấn, chiếm 33,11%), Braxin (94.000 tấn chiếm 15,96%) và Ấn ðộ (46.000 tấn chiếm 7,81%)

Tổng sản lượng xoài nhập khẩu trên thế giới trong năm 1998 là 456.800 tấn Trong ñó Mỹ là quốc gia ñứng ñầu về nhập khẩu xoài, với 197.400 tấn chiếm 43,2%, tiếp ñến là Hồng Kông (Trung Quốc) 10,2%, Hà Lan 7,5%, Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất 5,2% và Pháp 4,9% Tổng sản lượng xoài nhập khẩu trên thế giới năm 2001 ñạt 536.000 tấn Ba vùng lãnh thổ nhập khẩu xoài lớn nhất là Mỹ (238.00 tấn chiếm 44,40%), các nước

EC (135.000 tấn chiếm 25,19%) và Hồng Kông - Trung Quốc (34.000 tấn chiếm 6,34%) (FAO, 2003) [44]

Như vậy, trong 10 nước sản xuất xoài nhiều nhất thế giới Trung Quốc có sản lượng xoài tăng nhanh nhất trong những năm gần ñây Mặc dù là nước có mùa ñông lạnh và khá ẩm ướt có vùng sản xuất chủ yếu nằm ở các tỉnh phía Nam, nhưng với các tiến bộ kỹ thuật về tạo giống ra hoa muộn có thể tránh rét

và ẩm vào các tháng 1,2,3 Viện nông nghiệp Quảng Tây ñã tạo ra các giống xoài: Hoa tím, Quế Hương, Răng Voi và nhờ ñó mà diện tích trồng xoài ở Trung Quốc ñược nhanh chóng mở rộng [13], và hiện nay là nước sản xuất xoài ñược xếp thứ 2 sau Ấn ðộ

Trang 22

2.3.2 Tình hình nghiên cứu, sản xuất và tiêu thụ ở Việt Nam

Ở Việt Nam, xoài ựược trồng ở hầu khắp các vùng sinh thái trong cả nước (Trần Thế Tục, 2001 [35], Dương Minh 1993 [16] Nhưng diện tắch và sản lượng chủ yếu tập trung ở 3 vùng chắnh: đồng bằng Sông Cửu Long, miền đông Nam Bộ và các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ

Bảng 2.2: Diện tắch và sản lượng xoài của Việt Nam 2001 - 2006

đVT: Diện tắch (ha), Sản lượng (tấn)

Trong những năm gần ựây một số công trình nghiên cứu về trồng xoài

ựã góp phần hỗ trợ phát triển trồng xoài ở phắa Bắc Kết quả nghiên cứu về cây xoài của Trần Thế Tục và Ccs những năm 1987,1991,1992,1994 cho thấy: Vùng Tây bắc nói chung và vùng Sơn La nói riêng ắt bị ảnh hưởng của gió mùa đông bắc bởi dãy núi Hoàng Liên Sơn che chắn, ựặc biệt là Yên Châu nằm trong vùng lòng chảo lớn, mùa ựông khắ hậu ấm ắt mưa phùn là

Trang 23

những yếu tố thuận lợi cho xoài nở hoa ñậu quả (Trần Thế Tục, 1991) [26, 66-67], [27, 11-14] Các tỉnh ñồng bằng sông Hồng và trung du phía Bắc, xoài

ra nhiều hoa nhưng ñậu quả ít và năng suất thấp, những vấn ñề quyết ñịnh ñến trồng xoài ở ñây là gì? Trong khi ñó Quảng Tây Trung Quốc có vĩ ñộ cao hơn miền Bắc nước ta lại trồng ñược xoài có năng suất cao và sản lượng ñược xếp hàng thứ 2 (sau Ấn ðộ) trong những năm gần ñây

Tổng sản lượng xoài năm 2001 của miền Bắc chỉ ñạt 6.904 tấn, tập trung chủ yếu ở 2 tỉnh: Sơn La và Quảng Trị chiếm 48,85% và 20,65% [6], Sản xuất xoài ở Việt Nam chủ yếu phục vụ cho nhu cầu nội tiêu, chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ bán sang Trung Quốc theo con ñường tiểu ngạch [10] Một số giống xoài chất lượng tốt như : xoài Cát Hòa Lộc, xoài Thanh Lai Cát Chu… sản lượng hàng năm chưa ñáp ứng ñược nhu cầu tiêu thụ trong nước, nên giá bán sản phẩm của các giống này ngay tại vùng trồng cũng ñã cao hơn nhiều so với chủng loại quả khác [1] Phần lớn xoài tiêu thụ ở miền Bắc là do phía Nam cung cấp Do phải vận chuyển xa, phương tiện vận chuyển chủ yếu là ñường bộ cộng với kỹ thuật bảo quản và bao gói sau thu hoạch còn thô sơ nên tỷ lệ hao hụt trong quá trình vận chuyển là rất lớn Những năm gần ñây, diện tích xoài trong cả nước tăng mạnh ðến hết năm 2006, tổng diện tích xoài trong cả nước ñạt 82.000ha, tăng 65,49%

so với năm 2001, với sản lượng 380.900 tấn.Trong ñó, diện tích trồng xoài ở các tỉnh miền Bắc ñã lên tới 11.300ha, sản lượng ñạt 29.800t tấn Ngoài 3 vùng truyền thống có diện tích trồng xoài khá tập trung như Sơn la (4.300ha), Hà Giang (900 ha), Nghệ An (300 ha); một số tỉnh miền bắc có tốc ñộ phát triển xoài khá nhanh như Phú Thọ (900 ha), Quảng Trị (800 ha), Vĩnh Phúc (600 ha), lạng sơn (500 ha), Bắc Giang, Lào Cai (400 ha) và Hòa Bình (300 ha) Tổng cục thống kê, T1/2007 [25] ðể có ñược tốc ñộ phát triển xoài ở miền bắc nhanh như vậy phải

kể ñến những ñóng góp trong chọn tạo giống xoài trong thời gian qua Tuy nhiên,

ñể cây xoài phát triển, một cách ổn ñịnh trong ñiều kiện miền Bắc cần phải có những bước ñi chắc chắn vừa sử dụng giống có chất lượng tốt, tiềm năng năng suất cao, có những ñặc tính tương ñối phù hợp với ñiều kiện khí hậu của vùng

Trang 24

2.4 Những nghiên cứu về giống xoài trong và ngoài nước

2.4.1 Những nghiên cứu về giống xoài trên thế giới

Cây xoài Mangifera indica, thuộc chi Mangifera, họ Anacardiacea, trong họ Anacardiacea gồm rất nhiều loài khác nhau Việc phân loại các

giống xoài ựã ựược nghiên cứu từ rất lâu Tuy nhiên ựể phân loại ựược các giống xoài trên thế giới là hết sức khó khăn, do cây xoài là cây giao phấn và ựược trồng từ rất lâu ựời Mặt khác, trong khoảng thời gian rất dài trước ựây, việc nhân giống chủ yếu là phương thức gieo hạt, nên số lượng các giống xoài rất phong phú và ựa dạng Hiện nay ựã có nhiều công trình nghiên cứu về giống và phân loại giống xoài trên thế giới, những nghiên cứu ựó chủ yếu dựa vào các chỉ tiêu cơ bản của Singh L.B (1960) [61] như ựặc ựiểm hình thái lá, chùm hoa, hình dạng và kắch thước quả cùng với một số chỉ tiêu về tỷ lệ thịt quả, hạt và các chỉ tiêu bổ trợ khác đây là hệ thống phân loại ựược áp dụng rộng rãi ở nhiều nơi trên thế giới

Hiện nay, số lượng xoài trồng trên thế giới là rất lớn, có khoảng trên

1500 giống xoài khác nhau, trong ựó chỉ riêng Ấn độ ựã có trên 1100 giống (Trần Thế Tục, 1997) [31] Ngoài ra, một số lượng lớn các giống mới luôn ựược bổ sung trong quá trình chọn lọc cây từ gieo hạt và thành tựu trong công tác lai tạo giống

Theo Dương Nhất Tuyết (1992) [37], có một số tác giả phân các giống xoài thành 4 loại là giống xoài Philippin, giống xoài đông Dương, giống xoài

Ấn độ và giống xoài Tây Ấn độ Một số tác giả khác lại chia các giống xoài thành 3 loại ựó là giống xoài đông Dương, giống xoài Ấn độ và giống xoài Indonesia Theo Singh L.B (1960) [61], các giống xoài ựược chia thành 3 nhóm chắnh sau:

- Các giống có nguồn gốc Ấn độ bao gồm cả các giống ở Florida và Hawai Các giống này có ựặc ựiểm là má quả màu hồng hoặc vàng, hương vị

Trang 25

thơm ngon, hạt ựa phôi

- Các giống có nguồn gốc từ đông Nam Châu Á, có ựặc ựiểm vỏ quả màu xanh vàng, thịt quả không xơ hoặc rất ắt xơ, mùi thơm nhẹ, hạt ựa phôi

- Các giống có nguồn gốc từ Tây Ấn độ và Nam Mỹ, có chất lượng quả kém hơn so với 2 giống trên, thịt quả nhiều xơ, hạt ựa phôi

Các nước thuộc khối Asean có trên 500 giống ựịa phương và nhập nội, ựang ựược nghiên cứu phục vụ công tác giống (Mendoza D.B và CCS, 1990) [55], ở Malaysia có 226 giống ựược cục Nông nghiệp cấp ựăng ký (Trương đắch, 1998) [9, 245 -246, 257-258]

Ở Ấn độ nghiên cứu ựược 105 giống/510 giống trong bộ quỹ gen có nhiều ưu ựiểm về ựặc ựiểm ra hoa, khả năng ựậu quả, tắnh chống chịu sâu bệnh, năng suất, chất lượng phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, (Singh R.N, 1990) [63, 79]

Từ những yêu cầu về ựặc ựiểm của xoài quả trong xuất khẩu, do vậy chỉ có một số giống xoài thường xuyên có mặt trên thị trường thế giới như: Alphonso (Ấn độ), Ngowe (Kenya), Haden (Mêhicô & IraenẦ), Kent (Mêhicô), Carabao (Philipin), Irwin (Mỹ), (Trịnh Thường Mại, 1995) [14, 9- 11] Các giống xoài ựược thị trường Mỹ, Anh, Canada ưa chuộng là:

- Giống Julie: quả nặng tối thiểu 250g, dài tối thiểu 9cm, rộng tối thiểu 7,5cm, dày tối thiểu là 6,5cm

- Giống Graham: quả nặng tối thiểu 350g, dài tối thiểu 10cm, rộng tối thiểu 9cm, dày tối thiểu 9cm

- Giống Grenada: quả nặng tối thiểu 250g, dài tối thiểu 8cm, rộng tối thiểu 7m, dày tối thiểu 7cm

- Giống Peach: quả nặng tối thiểu 170g, dài tối thiểu 7cm, rộng tối thiểu 6cm, dày tối thiểu 7cm

Từ những yêu cầu càng cao về chất lượng quả của thị trường xoài trên

Trang 26

thế giới nên việc đi sâu nghiên cứu về đặc điểm di truyền giống, lai tạo giống mới đã được các nhà khoa học quan tâm Viện nghiên cứu Nơng nghiệp Ấn ðộ (1961 - 1990) đã tiến hành lai tạo 82.000 cặp, thu được 1.252 con lai và đã chọn được 3 con lai cĩ triển vọng: NHR - 10 là loại lùn cĩ chất lượng quả rất ngon, thích hợp cho trồng mật độ cao NHR - 13 là loại bán lùn, cĩ chất lượng quả giống như giống Alphonso nhưng khơng cĩ các mơ xốp trong quả NHR17 - 4

cĩ chất lương cao, màu hấp dẫn, thích hợp cho xuất khẩu quả tươi

Bằng phương pháp chọn lọc từ các quần thể tự do, Viện Nghiên cứu rau quả ở Bangkhen, Bangkok, ThaiLan đã chọn được 15 dịng xồi mới cĩ năng suất cao và chất lượng tốt hơn các giống xồi truyền thống, (Sivraporn, J et al, 1989) [64, 5]

Chưa cĩ thống kê ở Trung Quốc cĩ bao nhiêu giống xồi, riêng ở Quảng Tây cĩ 106 giống, trong đĩ cĩ 17 giống được nghiên cứu kỹ, các giống này được (Ngơ Nhân Sơn, 1991) [20, 48-53] cho biết nguồn gốc, đặc tính sinh học và một số đặc điểm chính của quả (Trần Thế Tục, 1997) [30, 11-12]

Chính vì nhu cầu sử dụng xồi dưới dạng ăn tươi ở các nước khơng trồng xồi hoặc là cĩ trồng nhưng với diện tích khơng nhiều đang ngày một gia tăng, do vậy giá xồi trên thị trường thế giới luơn biến động theo hướng

cĩ lợi cho người sản xuất Năm 1998 -1999 giá xồi trên thị trường thế giới chỉ khoảng 178 đơla Mỹ/tấn, đến vụ năm 1999 -2000 đã tăng lên 243 đơla Mỹ/tấn [68] Như vậy cĩ thể nĩi, sản xuất xồi với mục đích sử dụng quả tươi khi cịn xanh cho tiêu thụ nội địa cũng như cho xuất khẩu đang cĩ thị trường rất lớn và ổn định

Tập đồn các giống xồi trồng trên thế giới và Việt Nam rất phong phú nhưng cũng chỉ cĩ một số giống chính được sử dụng để xuất khẩu ăn tươi và tất cả các giống này đều phải qua rấm chín: Haden, Irwin, Kent,…(Mỹ, Ơxtralia …); Alphonso (Ấn ðộ); Manila (Malaisia); Carabao, Pico (Philippin); nam độc Mai (Thai Lan); cát Hịa Lộc (Việt Nam)…

Trang 27

2.4.2 Những nghiên cứu về giống xồi ở Việt Nam

Cây xồi là một loại cây ăn quả được trồng lâu đời ở Việt Nam với tập đồn giống khá phong phú, đa dạng Ngồi ra cịn cĩ các giống xồi mới thường xuyên được bổ sung trong quá trình lai tạo tự nhiên, chọn lọc từ cây gieo hạt và một số lượng khơng nhỏ các giống được nhập về từ nước ngồi

ða số các giống xồi ở nước ta thuộc nhĩm xồi đa phơi, do vậy cĩ tỷ

lệ cây mọc từ phơi hữu tính cĩ những đặc tính di truyền sai khác với cây mẹ, nên giống trồng khá phong phú và thường xuyên cĩ các giống mới được bổ sung (Trần Thế Tục, 1998) [33, 25 - 73), Dương Minh và Ccs (1993) [16, 3]

ðặc điểm khí hậu khác nhau giữa các vùng cĩ ảnh hưởng trực tiếp đến phân bố vùng trồng xồi ở Nước ta Các giống xồi thuộc lồi Mangifera Indica được trồng khắp các vùng trong cả nước nhưng chủ yếu tập trung ở miền Nam

để lấy quả Theo kết qủa bước đầu của Trần Thế Tục (1977,1987,1991); Dương Minh, Lê Thanh Phong, Võ Thanh Hồng (1993) cho thấy ngồi các lồi dại (muỗm, quéo, xồi muỗm, mắc trai,….) khoảng 50 giống xồi, phân bố chủ yếu

ở các tỉnh phía Nam (Trần Thế Tục, 1998) [33, 25 -73]

Theo Ngơ Hồng Bình (2005) [3], các phương pháp chọn tạo giống xồi bao gồm: điều tra và tuyển chọn giống xồi địa phương, lai hữu tính, chọn các cá thể ưu tú trong các quần thể thụ phấn tự do, nhập nội và chọn lọc, gây đột biến

Theo kết quả điều tra của Nguyễn Văn Thu và cộng sự (2000) [24], tại Bà rịa - Vũng Tàu và ðồng Nai cĩ 34 giống xồi, trong đĩ trồng phổ biến là xồi cát Hịa Lộc, Cát Chu, Cát Trắng, Thanh ca và đã tuyển chọn được 10 cây đầu dịng tốt thuộc 2 nhĩm này ðến năm 1995, cơng ty Giống cây trồng thành phố Hồ Chí Minh đã thu thập được 11 giống xồi từ Thái Lan Theo Nguyễn Thị Thuận và cộng sự (1996) [22], ở một số tỉnh miền Nam cĩ 90 giống, dịng thu thập được, trong đĩ cĩ 21 giống cĩ nhiều đặc điểm quý về năng suất và phẩm chất, đặc biệt là giống cát Hịa Lộc,

Trang 28

Cát Trắng, Cát đen, Xoài Bưởi

Ở các tỉnh phắa Nam, hiện có khoảng 100 giống xoài ựược trồng ở các

hộ gia ựình, nhưng theo một số tác giả thì chỉ có một số ắt các giống ựược trồng phổ biến (Nguyễn Thị Thuận,1996) [23]

Miền Bắc có khoảng 60 giống xoài do Viện Nghiên cứu rau quả thu thập từ các vùng trong nước và nước ngoài Trong khoảng 15 năm gần ựây, cây xoài ựược quan tâm phát triển ở 3 miền: Bắc, Trung, Nam với những bước tăng trưởng ựáng kể nhờ quá trình nghiên cứu chọn lọc những giống có khả năng thắch ứng ựược với ựiều kiện khắ hậu từng vùng Hiện có rất nhiều giống ựược trồng khảo nghiệm, khu vực hóa và tuyển chọn Một số giống ựiển hình ựược Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là xoài cát Hòa Lộc, Cát Chu, Giống GL1, GL6 và giống xoài GL2 Ngoài ra còn một số giống xoài chất lượng khá tốt ựược trồng ở các tỉnh miền Nam như xoài Xiêm, Thanh ca Xoài Cát trắng ở Khánh Hòa, xoài Tròn và xoài Hôi ở Sơn LaẦ(Ngô Hồng Bình, 2005) [3]

Kết quả ựiều tra, khảo sát giống xoài ở một số tỉnh ựồng bằng sông Cửu Long thu thập ựược 90 dòng, giống trong ựó có 21 giống có nhiều ựặc ựiểm quý về năng suất và phẩm chất Những giống có triển vọng là xoài cát Hòa Lộc, cát trắng, cát chu, cát ựen, xoài bưởi (Nguyễn Thị Thuận, 1996) [22, 203 - 207], (Trần Thế Tục, Nguyễn Thị Thuận, 1997) [32, 8-11] Kết quả khảo sát ở Khánh Hòa cho thấy có 22 giống trong ựó phổ biến là giống xoài Canh nông (Lê Quang Quyến và Ccs, 1999) [19, 2-3]

Tại các tỉnh Tiền Giang và đồng Tháp (1997 - 2000) Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam tuyển chọn ựược 5 cá thể ưu tú thuộc các giống xoài cát Hòa Lộc, xoài cát chu, xoài thơm và xoài cát nước [5, 31-32]

Tại các tỉnh Bà Rịa vũng tàu và đồng Nai (1998 - 2000) Trung tâm nghiên cứu cây ăn quả miền đông Nam Bộ ựiều tra khảo sát 32 giống xoài

Trang 29

chọn ựược 10 cá thể ưu tú thuộc 4 giống xoài cát Hòa Lộc, Cát chu,Thanh ca

và Cát trắng [5, 33-34]

Kết quả khảo nghiệm 10 giống xoài 27 tháng tuổi tại Tiền Giang và Vĩnh Long do Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam và Trường đại học Cần Thơ chủ trì cho thấy, các giống khảo nghiệm sinh trưởng khá tốt, tốt nhất là giống GL1 và GL2 ở ựiểm Tiền Giang, giống GL1, GL2 và Nam dork Mai ở ựiểm Vĩnh Long Tuy nhiên cây chỉ mới ra hoa ựậu quả ở một vài giống, nên chưa ựánh giá ựược tắnh thắch nghi, cần ựược theo dõi và ựánh giá tiếp [5, 89-92]

Kết quả khảo nghiệm 11 giống xoài 24 tháng tuổi tại Trại thực nghiệm Trung tâm nghiên cứu cây ăn quả miền đông Nam Bộ cho thấy, các giống xoài có mức tăng trưởng khá ựồng ựều nhau, một số giống xoài ựã ra hoa ựậu quả (Sok a năn, Nam dork mai, GL1, GL2 Giống có khả năng ựậu quả cao nhất là GL2 Giống Sok a năn có thể ra hoa 2lần/năm [5, 98 - 101]

Khảo sát tình hình phát triển xoài ở 5 xã miền Tây huyện Hướng Hóa Quảng Trị, ngoài các giống xoài ựịa phương, các giống xoài ựưa từ Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam (xoài cát Hòa Lộc, xoài Bưởi), xoài ựưa từ Viện nghiên cứu rau quả Hà Nội (GL1, GL2) ựều có khả năng sinh trưởng ra hoa kết quả tốt, có thể phát triển thành vùng sản xuất xoài hàng hóa, (Trần Thế Tục ,2001) [35]

Khảo sát các giống xoài ở Tương Dương Nghệ An, (Trần Thế Tục, 2003) [36] cho thấy, ngoài các giống xoài ựịa phương (xoài Tương Dương, xoài tượng), các giống xoài GL1, GL2 (trồng năm 1999 - 2001) thể hiện khả năng thắch ứng rất tốt, cây sớm ra hoa kết quả, cho năng suất cao chắn muộn hơn giống xoài ựịa phương

điều tra, thu thập, bảo tồn, ựánh giá và sử dụng nguồn gen cây ăn quả ở miền Nam nước ta (Nguyễn Minh Châu và Ccs, 2000) [5] thu ựược 42 chủng loại cây ăn quả gồm 653 giống, trong ựó có 102 giống xoài Kết quả ựánh giá bước ựầu có 3 giống xoài ựịa phương (Cát Hòa Lộc, Cát Chu, Canh nông) và

Trang 30

giống xoài nhập nội (Khiêu sa vơi dùng ựể ăn xanh) là những giống xoài thương phẩm có triển vọng

Kết quả ựánh giá 85 giống xoài sưu tập, trồng tại vườn tập ựoàn của Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam trong ựó có 39 giống xoài nhập nội từ Thái Lan, Mỹ, Úc, Ấn độ, đài Loan và Trung Quốc, có 58 giống ựã ra hoa

và cho quả, cho thấy:

- Các giống Vandyla, Trung quốc, xoài Sok a năn, Willard có dạng tán lùn rất thuận tiện cho chăm sóc và thu hoạch quả

- Nhóm xoài 7 tuổi các giống cho năng suất cao gồm: Hòn phấn Cần Thơ, cát ựen Vĩnh Long, xoài cơm, xoài cụt (trên 80kg/cây/năm)

- Nhóm xoài 5 tuổi các giống cho năng suất cao gồm: Sok a năn, GL1,GL2, Brooks, Kensington spooner, Tommy Atkin, Vandyla, Khiêu sa vơi (trên 30kg/cây/năm)

- Nhóm xoài 3 tuổi: giống Phá Lanh cho năng suất cao nhất 16,8kg/cây/năm

- Về chất lượng: các giống xoài cát Hòa Lộc, Hòn phấn, Cát chu, xoài Xiêm, xoài Thơm, xiêm Giòn có chất lượng ngon (đào Thị Bé Bảy, Phạm Ngọc Liễu, 2003) [1, 116 - 153]

Kết quả nghiên cứu xoài ở Duyên hải miền Trung (2002 - 2005) cho thấy:

- Thực trạng sản xuất xoài ở Bình định và Khánh hòa có 26 giống, với diện tắch 6.387ha có năng suất thấp (35 - 37,3tạ/ha), nguyên nhân chắnh là do giống không ựược chọn lọc, tỷ lệ trồng cây từ hạt cao (82%), các biện pháp canh tác ắt ựược chú trọng (Ngô Hồng Bình và Ccs, 2005) [4, 77-80]

- Kết quả tuyển chọn giống xoài ở Bình định và Khánh Hòa sơ tuyển ựược 63 cá thể xoài trội của 15 giống và bình tuyển ựược 10 cây ựầu dòng có năng suất cao, chất lượng tốt (Hồ Huy Cường và Ccs, 2006) [7, 29-38]

- Kết quả tuyển chọn một số giống xoài nhập nội trồng ở Viện Nghiên

Trang 31

cứu rau quả Hà Nội (1994 -1996) cho thấy, ở vùng sinh thái ựồng bằng Bắc

Bộ các giống xoài ra hoa rải rác từ tháng 11 năm trước ựến tháng 6 năm sau, nhưng tập trung vào 2 ựợt chắnh: ựợt 1 từ tháng 12 ựến tháng 1 năm sau, nhưng hầu như không ựậu quả do thời tiết lạnh và ẩm đợt 2 từ ựầu tháng 2 ựến cuối tháng 4, hoa nở vào ựầu tháng 3 ựến tháng 4 có khả năng ựậu quả cao nhất do thời tiết giai ựoạn này ấm dần Giống GL1, GL6 có nhiều ưu ựiểm ựã ựược Bộ NN&PTNT công nhận giống và GL2 cho khu vực hóa trên một số vùng sinh thái khác nhau của nước ta (Bùi Quang đãng, 1997) [8], Ngô Hồng Bình, 1999) [2, 146-150, 162], (Trần Thế Tục và Ccs, 1997) [27, 8-10], [32, 3-9]

Ở miền Bắc Việt Nam nghiên cứu về cây xoài những năm trước ựây chưa ựược quan tâm ựúng mức Một số công trình nghiên cứu ựược tập trung ựiều tra hiện trạng cây xoài ở 2 huyện Yên Châu, Mai Sơn (Sơn La)

Những kết quả nghiên cứu gần ựây của Trần Thế Tục và Ccs ựã ựề cập ựến một số nội dung như: giống, kỹ thuật canh tác, bảo vệ thực vậtẦ

Lắ giải tại sao cây xoài trồng ở Yên Châu, Mai Sơn (Sơn La) có khả năng ra hoa, ựậu quả tốt so với nhiều vùng ở miền Bắc? Kết quả nghiên cứu của Trần Thế Tục những năm 1987,1991,1992,1994 cho rằng: vùng Tây Bắc nói chung, Sơn La nói riêng ắt bị ảnh hưởng của gió mùa đông Bắc do dãy núi Hoàng Liên Sơn che chắn đặc biệt Yên Châu nằm trong vùng lòng chảo Lớn, có ựộ cao trung bình 250m so với mặt nước biển, mùa ựông khắ hậu ấm,

ắt mưa phùn, ựây là những yếu tố thuận lợi cho xoài nở hoa ựậu quả

Như vậy: Từ những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy, loài người ựã ựạt ựược những thành công lớn trong việc phát triển cây xoài Tuy nhiên, giống xoài có khả năng ựược sử dụng khi quả còn xanh hiện còn rất ắt cả trên thế giới và ở Việt Nam, vì vậy việc ựánh giá và chọn lọc ựể có các giống xoài có khả năng thắch nghi cao hơn trong ựiều kiện miền Bắc vẫn

Trang 32

là một công việc cần có ựầu tư nghiên cứu thắch ựáng đặc biệt là giống xoài

ăn xanh, phát triển hạn chế ựược ảnh hưởng của bệnh hại do nấm

2.5 Một số nghiên cứu ảnh hưởng về ựiều kiện thắch nghi và khả năng

ra hoa ựậu quả của cây xoài

2.5.1 Một số nghiên cứu về ựiều kiện thắch nghi của cây cây xoài

Ở nước ta ựã có các công trình nghiên cứu về ựiều kiện thắch nghi của cây xoài Các tác giả cho rằng, cây xoài không ựòi hỏi khắt khe về ựiều kiện ựất ựai Tuy nhiên, cây xoài thắch hợp trên vùng có lượng mưa từ 500 - 1500mm/năm; ựất có ựộ pH từ 5,5 - 7,5 và có thể chịu ựược ựộ mặn ựươi 0,04 - 0,05% muối trong nước (Vũ Công Hậu, 1996) [10] Theo Trần Thế Tục (1998) [33], cây xoài thắch hợp nhất trên ựất phù sa ven sông và mực nước ngầm là 2,5m Cây xoài cũng có thể trồng , cho quả tốt trên ựất cát hay ựất có lẫn nhiều sỏi ựá nếu ựược chăm sóc ựầy ựủ và có tầng ựất ựủ sâu, mực nước ngầm thấp

Ở miền Bắc, khi cây xoài ra hoa cũng là lúc mưa phùn, gió Bắc do ựó xoài không ựậu quả ựược, còn miền Nam thì trời nắng khô và ấm đó là một trong những nguyên nhân tại sao ở miền Bắc trồng xoài không thuận tiện bằng ở miền Nam Theo Lê Khả Kế và cộng sự (1969) [18], các giống xoài thuộc loài

Mangifera indica ựược trồng khắp các vùng trong nước nhưng chủ yếu ựược trồng ở miền Nam ựể lấy quả Các kết quả nghiên cứu của Trần Thế Tục (1987, 1991) [27] cũng cho rằng, vùng trồng xoài có tắnh hàng hóa ở nước ta chỉ tập trung từ Bình định trở vào Ở miền Bắc, cây xoài chủ yếu ựược trồng ở Yên Châu (Sơn La) do vùng này nằm trong lòng chảo lớn, có ựộ cao 250m so với mắt nước biển và ựược dãy Hoàng Liên Sơn che chắn, ắt bị ảnh hưởng của gió mùa đông Bắc nên năng suất xoài tại ựây tuy không cao nhưng tương ựối ổn ựịnh Không nói ựến mưa khi ra hoa mà trong các thời gian sinh trưởng khác của xoài nếu mưa nhiều, trời âm u, ựộ ẩm không khắ cao, sâu bệnh vốn nhiều ở xoài càng trở nên nguy hiểm hơn ựặc biệt là bệnh thán thư (Hoàng Lâm, 1996) [12]

Trang 33

Trái lại yếu tố khí hậu có ảnh hưởng sâu sắc ñến phát triển của cây xoài ở từng vùng, trong ñó nhiệt ñộ và ẩm ñộ ñược xem là quan trọng nhất, ảnh hưởng ñến toàn bộ quá trình ra hoa, ñậu quả và khả năng hình thành năng suất (Ngô Hồng Bình [2], Phạm Thị Hương [11]) Ảnh hưởng của ẩm ñộ ñến cây xoài chủ yếu liên quan ñến sự xuất hiện và gây hại của một số loại sâu, bệnh gây hại phổ biến trên cây xoài trồng ở miền Bắc, bệnh thán thư là ñối tượng gây hại nguy hiển nhất [12]

Yêu tố nhiệt ñộ ảnh hưởng ñến cây xoài lại thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau, trước hết nó ảnh hưởng ñến cường ñộ quang hợp của cây [42]

thấp trong mùa ñông (cùng với ñiều kiện khô hạn) lại ñóng vai trò quan trọng cho quá trình phân hóa mầm hoa Khi nhiệt ñộ ban ñêm dao ñộng từ 8

(Ou,1982) [59] ðây cũng chính là một lợi thế cho việc hình thành hoa trên các giống xoài trồng ở miền Bắc Nhưng mặt khác, nhiệt ñộ thấp trong giai ñoạn nở hoa lại là một trở ngại lớn cho phát triển xoài vì nó ảnh hưởng trực tiếp ñến khả năng nảy mầm của hạt phấn và khả năng thụ phấn, thụ tinh Theo nghiên cứu của Trần Thế Tục, Trần Tú Ngà (1995) trên một số giống

quá trình mở của bao phấn, quá trình thụ phấn, thụ tinh, giúp tăng tỷ lệ ñậu quả [28]

Trang 34

Với những thành tựu về chọn tạo giống xoài ựạt ựược trong thời gian gần ựây, nhất là các giống mới của Trung Quốc có ưu ựiểm chịu lạnh [21] Vùng trồng xoài ựã ựược mở rộng ựến các vùng, miền có ựiều kiện khắ hậu

á nhiệt ựới, nhiệt ựộ trung bình năm ở các vùng này thấp hơn nhiều so với ngưỡng nhiệt ựộ tối ưu cho trồng xoài Theo những nghiên cứu gần ựây của các tác giả Trung Quốc cho thấy, vùng có nhiệt ựộ trung bình năm trên

Tuyết, 1992) [37]

Nhiệt ựộ và ẩm ựộ còn có ảnh hưởng rất lớn ựến sự phân vùng trồng xoài ở Việt Nam Miền Nam Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt ựới gió mùa, cận xắch ựạo có 2 mùa mưa nắng rõ rệt, nhiệt ựộ cao và ổn ựịnh, lượng bức xạ phong phú, lương mưa phân bố ựều trong mùa mưa và có mùa khô kéo dài từ tháng 2 ựến tháng 4 năm sau rất thuận lợi cho xoài ra hoa ựậu quả Miền Bắc Việt Nam có mùa đông lạnh kéo dài ựến tháng 4 rất có lợi cho xoài phân hóa mầm hoa Từ tháng 5 - 7 có nhiệt ựộ cao, lượng mưa lớn, lượng bức xạ lớn rất thuận lợi cho quả phát triển Nhưng từ tháng 12 ựến tháng 2, vào thời gian xoài ra hoa ựậu quả lại gặp nhiệt ựộ rất thấp kèm theo mưa phùn, ẩm ựộ không khắ cao làm ảnh hưởng rất lớn tới năng suất xoài để tận dụng triệt ựể những thuận lợi và hạn chế tối ựa các tác hại của ựiều kiện khắ hậu ựối với năng suất xoài, cần chọn tạo các giống xoài có khả năng ra hoa muộn, ra hoa tập trung kết hợp với các biện pháp kỹ thuật thâm canh tăng năng suất xoài tại miền Bắc Việt Nam

2.5.2 Khả năng ra hoa và ựậu quả của xoài

2.5.2.1 Sự hình thành và phát triển của hoa xoài:

* Sự hình thành mầm hoa:

Ở một số giống cây ăn quả ôn ựới, mầm hoa ựược hình thành trong giai

Trang 35

ñoạn cây ngủ nghỉ trong mùa ñông, sau ñó mầm hoa sẽ bật nở thành hoa khi mùa xuân ñến Trái lại ở cây xoài quá trình hình thành hoa ñược diến ra tại các mầm ngủ trên ñỉnh ngọn trên các cành ñã thuần thục

Quá trình này chỉ diến ra khi ñồng thời xuất hiện các yếu tố hoạt hóa cho sự sinh trưởng của chồi ñỉnh và sự có mặt của các yếu tố cảm ứng hình thành hoa Việc hình thành chồi mới có thể ñược kích thích bằng một số tác ñộng như: cắt cành, vặt lá, bón phân, tưới ñẫm nước trong ñiều kiện ñang khô hạn, hoặc nhiệt ñộ ñột ngột chuyển từ ñiều kiện lạnh sang ấm Có lẽ những tác ñộng này ñã kích thích tạo ra một tác nhân giả ñịnh nào ñó ñột ngột gây ra quá trình hình thành và phát triển chồi mới Nhưng tác nhân này lại hoàn toàn tách biệt với tác nhân cảm ứng hình thành hoa Trong những nghiên cứu của mình Reece nhận thấy, trước khi quá trình hình thành chồi mới diễn ra thì không thể xác ñịnh ñược chồi ñó sẽ là chồi hoa hay chồi lá Một số tác giả khác cho rằng, ngay cả khi quá trình hình thành chồi mới bắt ñầu diễn ra cũng chưa xác ñịnh ñược loại chồi nào sẽ xuất hiện sau ñó (Davenport, 1992) [46]

Như vậy, mầm hoa có ñược hình thành hay không có liên quan chặt chẽ ñến một số yếu tố xuất hiện ngay sau khi quá trình hình thành chồi mới ñược diễn ra.Vào ñúng lúc quá trình hình thành chồi mới trong mầm ñỉnh bắt ñầu diễn ra nếu tồn tại yếu tố cảm ứng hình thành hoa thì chùm hoa sẽ ñược tạo thành

* Sự hình thành các bộ phận của hoa:

Trước khi hoa nở, quá trình hình thành nên các bộ phận của hoa ñược diến

ra trong chồi ñỉnh Khi quá trình phân hóa diễn ra, mầm ñỉnh sinh trưởng và bắt ñầu kéo dài Nhìn bề ngoài, mầm ñỉnh ở giai ñoạn này có dạng hình nón, rất mập, mô phân sinh ñỉnh kéo dài ñể hình thành ra trục của chùm hoa Các mô phân sinh bên phát triển dài ra ñể hình thành nhánh sơ cấp, nhánh thứ cấp, nhánh cấp 3 và mô hoa nguyên thủy Sau vài ngày, nhánh chính của chùm hoa và mô

Trang 36

hoa nguyên thủy ựược hình thành, mầm ngủ bước sang giai ựoạn bật mầm

Mô hoa nguyên thủy ở giai ựoạn này bắt ựầu phát triển tạo thành các bộ phận của hoa, Có 2 loại hoa chắnh ựược hình thành trên chùm hoa xoài, hoa lưỡng tắnh và hoa ựực (trong một số ắt trường hợp xuất hiện dạng hoa dị hình)

đối với hoa lưỡng tắnh, các bộ phận như: đài hoa, tràng hoa, nhị và lá noãn ựược hình thành nối tiếp nhau đế hoa là bộ phận ựược xuất hiện sau cùng Quá trình hình thành các bộ phận của hoa ựực cũng hoàn toàn tương tự như ựối với hoa lưỡng tắnh nhưng chỉ khác là tế bào noãn bị thoái hóa Trên một cây, không phải tất cả các cành trên tán ựều phân hóa hoa cùng một lúc Thường thì tán cây phắa đông Nam hoa phân hóa trước, sau ựó ựến các phắa còn lại Thời gian ựể hoàn tất quá trình hình thành nên các bộ phận của hoa kéo dài từ 10 - 15 ngày, nhưng ở một số giống giai ựoạn này kéo dài khoảng 1 tháng Thời gian phân hóa hoa của các giống thường diễn ra trong tháng 5, tháng 6 ựối với các vùng trồng xoài nằm ở phắa Nam bán cầu và trong tháng 10 và 11 ựối với các vùng ở phắa Bắc bán cầu Sau khi chùm hoa và các bộ phận của hoa ựược hình thành ựầy ựủ, hoa bắt ựầu nở Ở phắa Bắc bán cầu, thời gian hoa xoài nở kéo dài

từ cuối tháng 12 ựến ựầu tháng 3 Tháng 2 là tháng quan trọng nhất cho cây xoài

ra hoa (Singh R.N, 1990)[63]

* Quá trình phát triển của chùm hoa:

khi phát triển hoàn toàn sẽ nở hoa Chùm hoa ựược phát triển từ mầm ngủ trên ựỉnh ngọn của những cành ựược mọc ra từ những cành mang quả của năm trước Quá trình phát triển của chùm hoa trong mầm ngủ của chồi ựỉnh bằng phương pháp giải phẫu học, ựã nhận thấy dấu hiệu sinh trưởng ựầu tiên của chồi sinh sản là hiện tượng nổi u lên của các mô phân sinh trong ựỉnh ngọn Vào thời ựiểm này tế bào ở ựỉnh ngọn phân chia mạnh mẽ Còn các tế bào ựang ở giai ựoạn ngủ nghỉ ở mô phân sinh bên ựược kéo dài ra Mỗi một mô

Trang 37

phân sinh bên phát triển thành một nhánh của chùm hoa, các mô phân sinh ñỉnh phát triển kéo dài ñể tạo ra trục của chùm hoa (Nunez E, 1996 [58] Chùm hoa dài hay ngắn là tùy thuộc vào sự kéo dài của các ñốt trong mầm ñỉnh ðiều này tùy thuộc vào ñặc tính của từng giống và ñiều kiện chăm sóc

* Yếu tố cảm ứng hình thành hoa

Ở một số cây trồng, một quang chu kỳ tới hạn hoặc xử lý xuân hóa hoặc

là cả hai ñiều kiện trên sẽ tạo ra một chất kích thích ra hoa giả ñịnh nào ñó Chất này gây ra sự biến ñổi một chiều trong tế bào mẹ của mô phân sinh ñỉnh từ việc quyết ñịnh quá trình hình thành và phát triển về cấu trúc cảu lá cũng như quy ñịnh cấu trúc của hoa

Ở cây xoài dấu hiệu cảm ứng hình thành hoa có thể tồn tại trước hoặc ñúng lúc vào chồi mới bắt ñầu hình thành ñể ñóng vai trò cảm ứng hình thành hoa ngay sau khi chồi này bật ra (Nunez, 1996) [58] Hơn nữa, tại thời ñiểm chồi mới bắt ñầu ñược hình thành trong mầm ngủ, khi có sự thay ñổi về ñiều kiện nhiệt ñộ, dấu hiệu cảm ứng có thể ñược chuyển dịch từ trạng thái hình thành chồi hoa sang trạng thái hình thành chồi lá và ngược lại Sự thay ñổi này ñã tạo

ra những dạng chồi mới có sự chuyển dịch từ hoa thành lá hoặc từ lá thành hoa Các ñiều kiện cảm ứng khác nhau ñã làm thay ñổi rõ rệt về hình thái của các chối mới hình thành

Chất kích thích ra hoa giả ñịnh ñược tổng hợp ở lá trong ñiều kiện nhiệt ñộ thấp chỉ kéo dài tác dụng trong một thời gian ngắn, từ 6 - 10 ngày (Nunez , 1996) [58] Người ta nhận thấy, một cây xoài ñược tách ra từ cây xoài ñang ñược ñặt trong ñiều kiện nhiệt ñộ thấp (có yếu tố cảm ứng hình thành hoa), vặt bỏ hết lá của cành này rồi chuyển cành này sang ñiều kiện ấm hơn và kích thích cho bật mầm trong vòng 8 ngày kể từ khi chuyển từ ñiều kiện lạnh sang ấm, mầm bên bật ra chùm hoa Nếu kích thích cành này bật chồi sau 8 ngày thì mầm bật ra lộc lá Ngoài

ra, chất kích thích ra hoa cũng có thể ñược vận chuyển từ cây này sang cây kia

Trang 38

thơng qua vết ghép (kulkarni, 1991) [52]

2.5.2.2 Khả năng đậu quả và sinh trưởng của quả xồi

Sự đậu quả và rụng quả là 2 yếu tố xác định năng suất của cây xồi Măc

dù xồi rất nhiều hoa nhưng khả năng đậu quả của xồi rất thấp Kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy rằng ở Ấn ðộ và các nước sản xuất xồi chủ yếu

ở Châu Á tỉ lệ đậu quả so với số hoa lưỡng tính trung bình chỉ đạt 0,1- 0,25% ở cây xồi [48] Cĩ nhiều lí do khác nhau khiến cây xồi đậu quả kém ngay cả ở những vùng mà nĩ phát sinh Nguyên nhân đầu tiên phải kể đến là sự vượt trội của tỉ lệ hoa đực so với hoa lưỡng tính ở nhiều giống xồi Lí do thứ 2 là một số lượng lớn hoa lưỡng tính khơng được thụ phấn Nhiều nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh sự cần thiết của việc thụ phấn đầy đủ và quá trình truyền phấn hiệu quả đĩng vai trị quyết định trong việc tăng năng suất xồi vì đĩ là những yếu tố quan trong cĩ thể làm tăng khả năng đậu quả và hạn chế sự rụng quả

Sau khi hoa nở và được thụ phấn đầy đủ thì quả hình thành, thời gian sinh trưởng của quả xồi thường kéo dài từ 3-4 tháng, tuy nhiên thời gian cĩ thể biến động tùy giống và điều kiện thời tiết trong thời gian quả phát triển Nhiệt độ cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sinh trưởng của quả Ở nhiệt độ cao quả phát triển nhanh hơn và ngược lại Trong suốt quá trình phát triển quả xồi chịu tác động của một loạt các yếu tố ngoại cảnh nên năng suất xồi biến động nhiều hay ít tùy theo năm và tùy theo phản ứng đáp lại tác động này của từng giống

Số lượng các giống xồi để ăn xanh trên thế giới cịn rất hạn chế Trong khi đĩ nhu cầu tiêu thụ quả tươi ở dạng này ngày một gia tăng Trong tập đồn xồi gồm 172 giống hiện cĩ của Thái Lan cĩ một số giống dùng để ăn xanh như: khieo Sawoei và một số giống cĩ thể vừa ăn khi quả cịn xanh và

cĩ thể rấm để ăn chín; Thong dam, chok Anan… [50]

Ban đầu xồi được dùng để ăn tráng miệng lúc nĩ chín và mềm nhưng

Trang 39

theo xu hướng ẩm thực của những năm gần ñây, xoài xanh khi ñã lớn ñúng mức, thịt còn cứng ñược dùng ñể ăn sống ðây là kết quả của sự phát triển một thị trường ñầy ý nghĩa Người ta phân biệt các giống xoài ăn sống với các giống xoài khác nhờ hương vị ñặc trưng của chúng [51]

Xoài dùng ñể ăn sống có thể làm theo nhiều cách như xắt lát mỏng, nạo trộn xalát, làm dưa, ngâm nước ñường, muối phơi khô, cắt lát ngâm dấm hoặc ngâm nước mắm hoặc ñược ăn như một loại trái cây gọt vỏ bình thường khác Xoài ăn sống ñược thu hoạch khi quả lớn ñúng mức nhưng chưa bắt ñầu chín Một số thương nhân mua xoài chưa thật già, lúc kích thước mới ñạt 3/4 [51]

Trang 40

3 đỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

3.1 đối tượng, ựịa ựiểm, thời gian nghiên cứu

3.1.1 đối tượng nghiên cứu

+ Giống xoài đài Loan (đL4): nhập nội từ đài Loan

+ VRQ - XX1 : nhập nội từ Thái Lan (đã ựược công nhận giống tạm thời) + Giống xoài GL6: nhập nội từ Ôxtrâylia

3.1.2 địa ựiểm nghiên cứu:

Thắ nghiệm ựược tiến hành tại Viện nghiên cứu rau quả và một số ựiểm khảo nghiệm: Sơn La, Thái Bình, Vĩnh Phúc

3.1.3 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 12/2008 ựến tháng 6/2009

3.2 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển, ựặc ựiểm thực vật học của các giống xoài

- Nghiên cứu khả năng ra hoa, ựậu quả và khả năng cho năng suất

- Nghiên cứu tình hình sâu bệnh hại chắnh

- Phân tắch, ựánh giá chất lượng quả ở các thời ựiểm thu hoạch khác nhau

3.3 Phương pháp nghiên cứu

- Mỗi giống là một công thức thắ nghiệm, mỗi công thức theo dõi 3 cây, nhắc lại 3 lần

3.3.1 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi:

3.3.1.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng thân tán

+ Chiều cao cây tắnh từ mặt ựất ựến ựỉnh cành cao nhất

Ngày đăng: 07/11/2015, 16:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1: Một số yếu tố khớ tượng ở cỏc ủịa ủiểm nghiờn cứu - đánh giá một số giống xoài theo hướng sử dụng quả tươi khi còn xanh mới nhập nội trong điều kiện miền bắc, việt nam
Bảng 4.1 Một số yếu tố khớ tượng ở cỏc ủịa ủiểm nghiờn cứu (Trang 47)
Hỡnh 4.1: Diễn biến nhiệt ủộ của cỏc thỏng cỏc ủịa ủiểm nghiờn cứu - đánh giá một số giống xoài theo hướng sử dụng quả tươi khi còn xanh mới nhập nội trong điều kiện miền bắc, việt nam
nh 4.1: Diễn biến nhiệt ủộ của cỏc thỏng cỏc ủịa ủiểm nghiờn cứu (Trang 48)
Bảng 4.2 : Một số ủặc ủiểm ủỏnh giỏ khả năng sinh trưởng của cỏc giống - đánh giá một số giống xoài theo hướng sử dụng quả tươi khi còn xanh mới nhập nội trong điều kiện miền bắc, việt nam
Bảng 4.2 Một số ủặc ủiểm ủỏnh giỏ khả năng sinh trưởng của cỏc giống (Trang 50)
Bảng 4.3: Một  sốủặc ủiểm về  hỡnh thỏi lỏ của cỏc giống ðịa ủiểm trồngGiốngChiều dài lỏ (cm) - đánh giá một số giống xoài theo hướng sử dụng quả tươi khi còn xanh mới nhập nội trong điều kiện miền bắc, việt nam
Bảng 4.3 Một sốủặc ủiểm về hỡnh thỏi lỏ của cỏc giống ðịa ủiểm trồngGiốngChiều dài lỏ (cm) (Trang 53)
Bảng 4.4: Một sốủặc ủiểm và thời gian ra lộc của cỏc giống ðợt 1ðợt 2 ðịa ủiểm trồngGiốngNgày  xuất  hiện - đánh giá một số giống xoài theo hướng sử dụng quả tươi khi còn xanh mới nhập nội trong điều kiện miền bắc, việt nam
Bảng 4.4 Một sốủặc ủiểm và thời gian ra lộc của cỏc giống ðợt 1ðợt 2 ðịa ủiểm trồngGiốngNgày xuất hiện (Trang 56)
Hỡnh 4.3: Chiều dài cành lộc của cỏc giống xoài tại cỏc ủiểm nghiờn cứu - đánh giá một số giống xoài theo hướng sử dụng quả tươi khi còn xanh mới nhập nội trong điều kiện miền bắc, việt nam
nh 4.3: Chiều dài cành lộc của cỏc giống xoài tại cỏc ủiểm nghiờn cứu (Trang 57)
Bảng 4.5: Quá trình hình thành chùm hoa của các giống - đánh giá một số giống xoài theo hướng sử dụng quả tươi khi còn xanh mới nhập nội trong điều kiện miền bắc, việt nam
Bảng 4.5 Quá trình hình thành chùm hoa của các giống (Trang 58)
Bảng 4.8: ðặc ủiểm về hỡnh thỏi chựm hoa của cỏc giống xoài  ðịa ủiểm trồngGiống - đánh giá một số giống xoài theo hướng sử dụng quả tươi khi còn xanh mới nhập nội trong điều kiện miền bắc, việt nam
Bảng 4.8 ðặc ủiểm về hỡnh thỏi chựm hoa của cỏc giống xoài ðịa ủiểm trồngGiống (Trang 64)
Bảng 4.9: Kớch thước vàủặc ủiểm về hoa của cỏc giống   ðịa  ủiểm trồngGiống - đánh giá một số giống xoài theo hướng sử dụng quả tươi khi còn xanh mới nhập nội trong điều kiện miền bắc, việt nam
Bảng 4.9 Kớch thước vàủặc ủiểm về hoa của cỏc giống ðịa ủiểm trồngGiống (Trang 67)
Bảng 4.10: Số lượng và tỉ lệ các loại hoa trên  chùm  của các giống - đánh giá một số giống xoài theo hướng sử dụng quả tươi khi còn xanh mới nhập nội trong điều kiện miền bắc, việt nam
Bảng 4.10 Số lượng và tỉ lệ các loại hoa trên chùm của các giống (Trang 69)
Hỡnh 4.4. ðộng thỏi rụng quả cỳa cỏc giống xoài tại cỏc ủịa ủiểm nghiờn cứu - đánh giá một số giống xoài theo hướng sử dụng quả tươi khi còn xanh mới nhập nội trong điều kiện miền bắc, việt nam
nh 4.4. ðộng thỏi rụng quả cỳa cỏc giống xoài tại cỏc ủịa ủiểm nghiờn cứu (Trang 72)
Hỡnh 4.5: Năng suất  của cỏc giống xoài tại cỏc ủịa ủiểm nghiờn cứu - đánh giá một số giống xoài theo hướng sử dụng quả tươi khi còn xanh mới nhập nội trong điều kiện miền bắc, việt nam
nh 4.5: Năng suất của cỏc giống xoài tại cỏc ủịa ủiểm nghiờn cứu (Trang 75)
Hình 4.6: Mối quan hệ giữa tỷ lệ hoa lưỡng tính và năng suất quả - đánh giá một số giống xoài theo hướng sử dụng quả tươi khi còn xanh mới nhập nội trong điều kiện miền bắc, việt nam
Hình 4.6 Mối quan hệ giữa tỷ lệ hoa lưỡng tính và năng suất quả (Trang 75)
Bảng 4.15: : ðộ lớn và chất lượng quả giai ủoạn thu hỏi của cỏc giống - đánh giá một số giống xoài theo hướng sử dụng quả tươi khi còn xanh mới nhập nội trong điều kiện miền bắc, việt nam
Bảng 4.15 : ðộ lớn và chất lượng quả giai ủoạn thu hỏi của cỏc giống (Trang 81)
Bảng 4.16:ðặc ủiểm hỡnh dạng, màu sắc quả của cỏc giống ðịa ủiểm trồngGiốngHỡnh dạngquảMàu sắc vỏquảMàu sắc thịt quả - đánh giá một số giống xoài theo hướng sử dụng quả tươi khi còn xanh mới nhập nội trong điều kiện miền bắc, việt nam
Bảng 4.16 ðặc ủiểm hỡnh dạng, màu sắc quả của cỏc giống ðịa ủiểm trồngGiốngHỡnh dạngquảMàu sắc vỏquảMàu sắc thịt quả (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w