Về NIX thải của Công ty TNHH nhà máy tàu biển Hyundai-Vinashm tuy đã được Bộ Khoa học, công nghệ và Môi trường phê duyệt phương án xử lý năm 1999 nhưng cho đến nay, HVS vẫn :hưa triên kh
Trang 1Téng diện tích có rừng đến năm 2000: 184.812 ha, trong đó:
Bang 16
1 | Ban quản lý rừng phòng hộ Vạn Ninh 19.229 12.644 65,7
7 | Ban quản lý rừng phòng hộ Diên Khánh 10.357 10.357 100
8 | Ban quan lý rừng phòng hộ Cam Ranh 11.533 11.533 100
1.2 Quản lý rừng theo tiểu khu
Toản bộ diện tích rừng và đất rừng ở Khánh Hòa chia thành 357 tiểu khu (chưa kể tiểu khu phụ a,
b), cụ thê như sau -
- Huyện Cam Ranh có 41 TK (từ TK 651 - TK 691)
Các tiểu khu này đã ổn định trong quản lý, BVR từ hơn 20 năm nay Hang năm từ việc khai thác sử dụng rừng đên tô chức sản xuât lâm sinh, QLBVR đều lây địa danh tiêu khu làm cơ sở quản lý & tô
chức thực hiện
13 Quản lý Nhà nước về lâm nghiệp
Ở tỉnh có Sở nông nghiệp&PTNT
Ở huyện có bộ phận LN trong phòng nông nghiệp-PTNT
Các LTQD, các BQLRPH, BQL trồng rừng thuộc Sở nông nghiệp&PTNT
Chi cục Kiểm lâm được tách ra khỏi ngành nông nghiệp-PTNT trực thuộc UBND tỉnh có
trách nhiệm kiêm tra, giám sát QL-BVR
Trang 2Theo QD 245/1998/QD-TTg ngay 21-12-1998 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện trách nhiệm quản lý Nhà nước của các câp về rừng và đất lâm nghiệp, thì rừng và đất lâm nghiệp được giao cho chính quyển các cấp ở tỉnh thì Sở nông nghiệp&PTNT là cơ quan giúp UBND tỉnh thực hiện trách nhiệm Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp, Phòng nông nghiệp&PTNT cấp huyện là cơ quan giúp UBND huyện thực hiện chức năng quản lý rừng Chủ tịch UBND xã chịu trách nhiệm trước chủ tịch UBND huyện trong việc QL-BV và phát triển rừng, sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bản xã Nhu vay, theo QD này việc bảo vệ phát triên rừng ở địa phương là nhiệm vụ của chính quyên các cấp
2 Công tác phát triển vốn rừng, bảo tồn tài nguyên
2.1 Phát triển rừng
về nguyên lý thì phát triển rừng là biện pháp để bảo vệ rừng Xây dựng vốn rừng kinh tế tập trung
ôn định là nhằm duy trì môi trường sống và đó cũng là biện pháp tối ưu để BVR
Trong 2 năm gần đây, mỗi năm tỉnh ta trồng mới được từ 3300-3400 ha, nâng diện tích rừng trồng hiện nay trên toàn tỉnh là 27.779 ha Trong đó, diện tích rừng trồng tập trung dat 23.887 ha, con lai
là diện tích rừng cây phân tán
Do diện tích rừng trồng mới được đẩy mạnh 5 - 7 năm trở lại đây cho nên trữ lượng rừng tăng không cao nhưng hứa hẹn 10 - 15 năm nữa cùng với sự phục hồi rừng tự nhiên, trữ lượng rừng tăng lên đáng kể
Diện tích rừng khoanh nuôi bảo vệ ổn định giao cho dân quản lý đạt 97.742 ha, diện tích rừng đặc dụng là 9.792 ha Đây là 2 diện tích rừng được quản lý nghiêm ngặt đề duy trì môi trường sông May nam gan day, đo quá trình khoanh nuôi, BVR đã làm cho rừng tự nhiên phục hồi được 6.655
ha Hai năm gân đây, diện tích rừng giao khoán mỗi năm là 14.119 - 14.490 ha; diện tích rừng khoanh nuôi là 2900 - 3000 ha
Cùng với diện tích cây dài ngày đến năm 2000 hiện có là 13.486 ha làm cho độ che phủ của rừng và cây ăn qủa, cây công nghiệp dài ngày tại tỉnh ta là 39,4% Nếu không kể diện tích các đảo và quần đảo Trường Sa thì hiện nay độ che phủ của tỉnh ta là : 43,7% ở vùng đất liền
2.2 Kiểm tra, giám sát tài nguyên rừng
Theo báo cáo của Chỉ cục Kiểm lâm, trong 2 năm qua tình hình vi phạm Luật BV&PTR vẫn còn nhiêu và diễn biên phức tạp Cụ thé xem biéu sau đây:
Trang 3
Tổng số vụ vi phạm luật năm sau cao hơn năm trước là 22 Các vụ vận chuyển trái phép gần như không giảm Lượng gỗ khai thác lậu ngày càng tăng Năm 1999, tổng số gỗ tròn, gỗ xẻ khai thác lậu
bị bắt giữ là 1.98§m), trong đó có 1.230 m số quý hiểm
Năm 2000, tông số gỗ bị bắt giữ là 2.500,3 m” tăng 28,9% so voi nam 1999 Một điều hiển nhiên là
én nay gia go thi truong tự do thấp hơn so với giá gỗ do các lâm trường khai thác bán ra Ví dụ gỗ
› nhóm IV trên thi trường từ 1.400.000 - 1.600.000đ/m”, trong khi gỗ tròn giá bán ra các lâm ường là 1.250 000đ/m”
,3 Công tác phòng cháy, chữa chủy rừng
oản tỉnh có 369,6 km đường ranh cản lửa, trong đó có 244 km đường băng xanh Đã xây dựng ược 93 Ban chỉ đạo phòng cháy, chữa cháy rừng; 79 Ban Lâm nghiệp xã Lực lượng thường uyên có thê huy động là 1.300 người tham gia phòng cháy, chữa cháy rừng
hiệt hại chủ yếu là cháy rừng trồng năm 1999: cháy 36,18 ha Với 6 vụ cháy, năm 2000 có 3 vụ
háy thiệt hại 12,8 ha So với diện tích rừng trông hàng năm chiêm 0,4 - 1,2 % Diện tích rừng tự
hiên không bị cháy Các rây hôi, rừng cây bụi bị phát dọn làm ray làm cho khả năng phục hồi rừng hậm, giảm khả năng phòng hộ của thảm thực vật diện tích hàng năm từ 200 - 230 ha
ll Một số kiến nghị nhằm tăng cường quản lý và phát triển rừng
| Tang cường tuyên truyền, giáo dục cho nhân dân có ý thức bảo vệ và phát triển rừng
¡ Tổ chức tốt công tác phát triển rừng
¡ Xây dựng rừng
¡ Quy hoạch bảo vệ giữ gìn rừng phòng hộ vững chắc để phát huy tác dụng nhiều mặt của rừng
¡ Xây dựng các chương trình, dự án lâm nghiệp hợp lý trên địa bàn như: dự án phát triển rừng phòng hộ gần, dự án nhằm bảo tồn đa dạng sinh học, dự án phát triển sản xuất
1 Phát triển rừng
1 Bảo vệ môi trường rừng và đa dạng sinh học
3 Hoàn chỉnh các chính sách về bảo vệ và phát triển rừng
F Da dang sinh hoc
.Đa dạng sinh học rừng
Đa dạng về kích thước
ong, thé giới thực vật, cây rừng có kích thước lớn hơn cả Cây Củ Tùng (Sequria) được coi là ° ‘cu
à thể giới” có kích thước không lễ với đường kính 12m, cao 142m (ở Califomia - Mỹ) có tuôi thọ 00-4000 năm Trong rừng nhiệt đới ở tỉnh ta, cây gỗ to nhất đường kính từ 1,0-1,2m Có lẽ cây
âu đôi ở Diên Khánh mà chúng ta biết được có đường kính gốc 3,57m cao 33,5m là cây gỗ rừng
, cao nhất ở tỉnh ta hiện nay với thể tích đo được 77,1mẺ
⁄ Øa dạng về tuôi thọ
Tuôi thọ của cây rừng nói riêng và của thực vật nói chung đều rất khác biệt nhau hàng chục hàng
trăm, thậm trí hàng ngàn lần Thấp nhất là những loài cây cỏ ở sa mạc Do mùa hạn kéo dài, lượng
ưa quá thấp, các loài cỏ hình thành chu kỳ sinh trưởng chỉ trong vài chục ngày
Phần đông các loài thân gỗ có thời gian sống dài và có kích thước lớn Tại Trung Quốc cây Hoàng
Đàn ở Thiểm Tây - Trung Quốc từ thời Hoàng để Thiên Viên tự tay trồng có tuổi thọ 4000-5000 năm Cây Mác Rồng ở đảo Canasi - châu Phi đạt 6000 năm; cá biệt ở Nhật Bản cây Tuyết Tùng (Cerdrusdeodara) trên đảo Ryukyu, qua máy đo sinh trưởng đã xác định tuôi thọ đến 7.200 tuổi
ở Việt Nam có cây Chò Xanh (Terminalia nuyriocerpa) thuộc ho Bang (Combrataceae) ở Cúc Phương có tuổi thọ hàng ngàn năm Cây Thông 2 lá dẹt ở Lâm đồng có tên khoa học (Dacampopirus kvempf) có tudi tho 1000 nam Cay nay doc biên giới tinh ta va Lam Dong, bién
48
Trang 4giới 2 huyện Khánh Sơn, Khánh Vĩnh xuất hiện khá nhiều Cây Dầu đôi - Diên Khánh có tuổi thọ từ
180-230 tuôi (theo kêt quả nghiên cứu của Sở nông nghiệp&PTNT)
3 Đa dạng về sinh sản
Có 2 dạng sinh sản chính là sinh sản hữu tính và sinh sản vô tính.Thực vật rừng thường lả sinh sản lưỡng tính, sinh sản lưỡng tính vơi cau trúc nhụy và nhị trên cùng một hoa Sinh sản đơn tính cùng góc là sự sinh sản mà hoa đực và hoa cái trên cùng một cây, còn sinh sản khác gốc là sinh sản mà cây cho hoa đực và cây cho hoa cái ở 2 cây riêng biệt
Quá trình sinh sản này làm phong phú thêm cho tính thích nghi của cây rừng và tính đa dạng sống của cây
À Ấ ye
4, Da dang ve so loai
Theo sự hiểu biết hiện nay của loài người, đã phát hiện được 1.413.000 loài trên trái đất Nhiều nhất là côn trùng có đến 751.000 loài, kế đến là các loài động vật 281.000 loài, thực vật bậc cao
248.000 loài, nắm có 60:000 loài Động vật nguyên sinh, tảo, vì khuẩn, vi rút 63.500 loài
Đối với thực vật rừng chủ yếu là thực vật bậc cao bao gồm: các nhóm thực vật hạt kín 2 lá mầm
170.000 loài; thực vật hạt kín 1 lá mầm 50.000 loài; thực vật hạt trần 529 loài; các ngành rêu,
dương xỉ, và nhóm phụ khác khoảng 27-28.000 loài
ở Khánh Hòa theo điều tra sơ bộ có 879 loài thực vật, thuộc 296 chi của 136 họ thực vật Đứng đầu
là họ 3 mảnh vỏ với 75 loài, họ thị 40 loài, tất cả có khoảng 10 họ có số loài trên 20 loài Họ Dầu
tuy có tổ thành loài ít nhưng trong rừng có khối lượng khá lớn, giá trị kinh tế và phòng hộ cao, có tính thích nghi rộng, để trồng, dễ sống đang được đem trồng trên diện tích lớn khoảng 5 - 6000 ha
5, Rừng mưa nhiệt đơi là trung tâm đa dạng sinh học
Rừng mưa nhiệt đới chỉ chiếm diện tích 7% bề mặt trái đất, nhưng chiếm 1/2 số loài trên trái đất và
dén 68% các loài thực vật có mặt trên trái đât Rừng mưa nhiệt đới rât đa dạng về sinh học Có khi
trên ! ha rừng người ta tìm thây được 1000 loài như vàng rừng Borneo ở Malaysia gap rưỡi tông sô loài ở Băc Mỹ
Vùng Đông nam á được coi là vùng rừng mưa nhiệt đới âm có mức độ đa dạng sinh học cao Theo các báo cáo khoa học gân đây cho thây vùng Đông nam á có khoảng 25.000 loài thực vật có hoa - chiêm 10% thực vật có hoa của thê giới và có tới 40% là loài đặc hữu
Khánh Hoà là một tỉnh có khí hậu nhiệt đới gió mùa song có đầy đủ các loài thực vật từ á nhiệt đới đến nhiệt đới âm Cả 3 luồng thực vat Malaysia - Indonesia - luỗng thực vật phía bắc và luồng thực vật khô hạn Miễn Điện - ấn Độ đều mang cho Khánh Hoà những loài thực vật quý hiếm và đa đạng
- Luỗng thực vật Malaysia - Inđonesia chiếm 18% số loài
- Luỗng thực vật phía bắc xuống chiếm 12% số loài
- Luéng thực vật ấn Độ - Miễn Điện đến chiếm 7% số loài
- Các loại thực vật bản địa chiếm 52% Còn lại là các loài cá biệt khác chiếm 11% số loài
ll Da dang sinh hoc bién
Đến nay vẫn còn chưa có những công trình nghiên cứu hoặc tổng hợp một cách đầy đủ về sự đa dạng sinh học trên toàn vùng biển tỉnh Khánh Hòa Tuy nhiên, nhiều công trình nghiên cứu khoa
học đã được thực hiện và công bố trong nhiều lĩnh vực môi trường, thành phần giông loài, nguồn
lợi sinh vật ở các hệ sinh thái biển, vùng biển ven bờ, đầm vịnh, các đảo Các kết quá thu được đều
chứng tỏ vùng biển ven bờ Khánh Hòa là nơi có tính đa đạng sinh học cao trên cả phương diện loài
và hệ sinh thái
49
Trang 51 Tinh da dang loai
Về Cỏ biển, Nguyễn Xuân Hòa và nnk (1996) đã xác định có 9 loài cỏ biển phân bố rộng khắp các vùng nước nông ven bờ Khánh Hòa So với cả nước có 15 loài cỏ biển thì thành phân loài cỏ biển ở Khánh Hòa khá đa dạng, chúng tương đồng với khu hệ cỏ biển ở Philippines và các quốc gia vùng Đông Nam á
Nghiên cứu của Võ Sĩ Tuấn ( 1997) đã phân chia 5 vùng phân bố của san hô tạo rạn ở Biến Đông bao gồm: Vịnh Bắc bộ, Trung trung bộ, Nam Trung bộ, Đông Nam bộ và tây nam bộ Việt nam Trong đó, Nam Trung Bộ bao gồm cả Khánh Hòa có tính đa dạng cao nhất với 65 giống san hô tạo rạn Tính đa dạng của san hô Khánh Hòa thê hiện qua số loài san hô cứng đã được ghi nhận là 267
loài (Võ Sĩ Tuần, Phan Kim Hoàng, 1996)
Cũng theo tài liệu mới đây của Nguyễn Hữu Phụng, Nguyễn Văn Long, Trần Thị Hồng Hoa (2001), vịnh Nha Trang có đến 350 loài thuộc 146 giống, 58 họ và 15 bộ cá rạn san hô Trong đó họ Cá Thia (Pomacentridae) có số loài nhiều nhất: 41 loài, tiếp đến là họ Cá Bàn chài (Labridae): 38 loài,
họ Cá Bướm (Chaetodotidae): 35 loài, họ Cá Sơn ( Apogonidae): 25 loài, họ Cá Mó ( Scaridae): 20 loài, họ Cá Đuôi gai ( Acanthuridae): 17 loài So sánh của các tác giả (bảng 20) chứng tỏ sự đa dạng vượt trội của khu hệ cá rạn san hô ở Khánh Hòa
Bảng 18
Nguyễn Trọng Nho (1994) dựa trên những mẫu vật thu thập trong năm 1979 ở đầm Nha Phu đã
giám định được 529 loài sinh vật bao gỗm: Thực vật nôi: 116 loài, Động vật nôi: 44 loài, Rong biên
và cỏ biên: 104 loài, Động vật đáy: 172 loài, Cá: 93 loài
Nguyễn Hữu Phụng, Nguyễn Cho và nnk ( 1997) đã nghiên cứu thành phần loài và nguồn lợi hải sản trong đầm Nhu Phu cũng đã xác định có 78 loài động vật thân mềm, 47 loài động vật giáp xác,
108 loài cá, 123 loài thực vật nồi, 64 loài động vật nỗi
Nguyễn Hữu Đại, Nguyễn Xuân Hòa và nnk ( 1999) khi nghiên cứu hệ sinh thái cỏ biển đã công bố thành phần loài sinh vật có kích thước lớn sông trong đầm Thủy triều và vịnh Cam ranh như sau:
Cỏ biển: 7 loài, Thân mềm: 37 loài, Giáp xác: 8 loài, Da gai: 12 loài, Cá: 88 loài
Nguyễn Hữu Thí, Nguyễn Hữu Đại và nnk ( 1999) đã thu thập và xác định được 229 loài rong biển
ở vùng biên ven bờ Khánh Hòa
2 Đa đạng hệ sinh thái
Tính đa dạng các hệ sinh thái có lẽ có ý nghĩa và đóng vai trò quan trọng bậc nhất cho vùng biển ven bờ của tỉnh Khánh Hòa- Nơi mà các hệ sinh thái nhiệt đới như rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn cùng tồn tại với độ phong phú cao Khánh Hòa cũng là nơi có nhiều đầm, vịnh góp phần nâng cao tính đa dạng và nguồn lợi sinh vật của vùng biển
Trang 6Nhung dén nam 1997, ven dam Nha Phu chi con khoảng 100 ha rừng phân tán, xen kẻ với các ao đìa nuôi hải sản hoặc chỉ là những dãi rừng hẹp phân bố dọc theo hai bên bờ và cửa của các sông rạch nhỏ ở phía tây và tây bắc của đầm thuộc các thôn Tân Đảo, Tam ích, Tân Thủy, Hà Liên, Tân
Tế, Lệ Cam Trong đó có khu rừng tập trung có mật độ cây dày, độ che phủ cao chỉ còn khoảng 30
ha ở thôn Tân Đảo Khu rừng này có sô lượng loài cây rừng ngập mặn và cây tham gia rừng ngập mặn phong phú nhất với 20 loài Các cây rừng ngập mặn ở đầm Nha Phu thường phân bổ, ở vùng triều trung bình cho đến vùng triều cao ở vùng triệu trung bình thấp thường gặp loài măm biển (Avicennia marina) phân bố tạo thành đai hẹp, tiếp theo phía sau, cao hơn là vùng phân bố của các loai Due (Rhizophora apiculata, Rhizophora murconata), Mam quan (Avicennia lanata), mam ludi dong (A officinalis) chiếm ưu thế ở vùng triều cao ít ngập nước trong năm thường gặp các loài cây Gia (Excoecaria agallocha), Xu 6i (Xylocarpus granatum) và những loài cây thân thảo tham gia rừng ngập mặn như Cúc hai hoa (Wedelia biflora), Lức (Pluchea indica) (Nguyễn Xuân Hòa, 1997)
Các loài cây thuộc chỉ Mắm và Đước chiếm ưu thế nhất, chúng hiện diện khắp các dãi rừng ven đầm Những cánh rừng ngập mặn nguyên thủyở đầm Nha Phu còn lại rất ít, thay vào đó là những tái
sinh tự nhiên và một sô ít được trồng mới ở nhiều độ tuổi khác nhau Do có hệ thống rễ chống rất
phát triển, nhiều gỗ, củi, thích hợp cho sự gia cố bảo vệ bờ đìa nên các loài Đước (R apiculaia, R mucronata) được trông lại nhiều nhất
Hiện nay các dải rừng ngập mặn ven đầm Nha Phu hầu như không còn do bị chặt phá chuyển thành
các ao, đìa nuôi tôm, cua
Rừng ngập mặn ở xóm Tuần Lễ (Vạn Ninh) mặc dù đã bị chặt phá nhiều nhưng hiện tại (2001) còn hon 11,5 ha, voi thanh phần loài khá phong phú: 10 loài Trong đó ưu thé nhất là những cây bằn trắng (Sonneratia alba), Dung (Rhizophora mucronata), va nhiéu loai mắm ( Avicennia spp.) Khu rừng này có nhiều cây bản, đưng, măm cô thụ có đường kính thân rất lớn từ 30 đến hơn 70 cm, ước tính các cây bần ở đây có tuổi thọ hàng trăm năm tuổi Tuy nhiên, cũng do hệ thống ao, đìa bao quanh, đắp đê, bờ, dé dat làm nhà đang đe dọa nghiêm trọng sự tổn tai của khu rừng này
2.2 Thâm có biển
Những vùng nước nông ven biển, đầm, vịnh là nơi có điều kiện rất thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển các loài cỏ biển tạo nên những cánh "đồng co’ ' ngầm dưới nước Khánh Hòa là nơi có diện tích các thảm cỏ biển lớn nhất trong cả nước với khoảng gân 1.300 ha, tạo nên hệ sinh thái có
ˆ năng suất và tính đa đạng sinh học cao, đặc trưng cho vùng biển ven bờ
Ở các vùng triều ven bờ và các đảo nước thường trong, nhiều sóng, độ mặn én định, nền đáy phổ biến là cát, cát bùn hoặc đáy cát pha lẫn vụn san hô chết loài cỏ Vích (Thalassia hemprichii) thường mọc phổ biến và chiếm ưu thế trên nền đáy Độ phủ, mật độ và sinh lượng của chúng thường rất cao như ở vùng Đường Đệ- Nha Trang (mật độ lên đến 962 cây/ mỶ, sinh lượng từ 52- 90 g khô/m”, độ phủ 80- 100%) Các loài cỏ biển khác cũng thường gặp ở vùng triều ven biển và các đảo là: Cỏ xoan (Halophila ovalis), Có kiệu tròn (Cymodocea rotundata), Cỏ kiệu răng cưa (Cymodocea serrulata) Có nơi yên sóng như ở Đầm Già (đảo Hòn Tre- Nha Trang), hòn Mỹ Giang (Ninh Hòa) còn gặp loài cỏ lá dừa (Enhalus acoroides) phân bố tạo thành thảm cỏ khá lớn
Trong những đầm, vịnh kín sóng, nền đáy bùn cát hoặc cát bùn như đầm Thủy Triều, đầm Nha Phu, vịnh Văn Phong, vịnh Cam Ranh rất thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của các loài cỏ biển như Cỏ lá dừa (Enhalus acoroides), cỏ xoan (Halophila ovalis), cỏ xoan nhỏ ( H minor), co he (Halodule uninervis), cỏ kiéu tron (Cymodocea rotundata), co Vich ( Thalassia hemprichii) Dac
biét la trong đâm, vịnh loài cỏ biển kích thước lớn Enhalus acoroides thường chiếm ưu thế làm
thành những đồng có ngắm đưới nước diện tích hàng trăm hecta bao phủ khắp các vùng nước nông ven bờ
ở đầm Thủy triều và vịnh Cam Ranh tổng diện tích thảm cỏ biển có khoảng 800 ha, với ưu thế nhất
là loài E acoroides Loài cỏ này có chiều dài lá từ 0,7-1,2m, mật độ từ 60- 100 cây/m2, sinh lượng
từ 56- 306 g.khô/m2, độ phủ từ 20- 80% phụ thuộc vào mùa vụ sinh trưởngù và địa điểm phân bố
51
Trang 7Những loài cỏ biển khác như Halophila ovalis, H minor, Halodule uninervis tuy có kích thước nhỏ
( từ 0,5- 10cm) nhưng mật độ của chúng rất lớn, có khi lên đến 3.000 cay/m’
Ngoài những vùng cỏ biển phân bồ tập trung tạo nên các “cánh đồng” cỏ biển rộng lớn kê trên, có biển còn thường gặp phân bố trong các ao đìa nước mặn, các kênh, rạch nhỏ dẫn nước mặn nhưng điện tích không lớn Dẫn liệu chỉ tiết về đặc điểm của các vùng phân bố tập trung của có biên thu được qua kết quả điều tra trên toàn vùng biển Khánh Hòa tiến hành từ năm 1996- 1997 được thể hiện trên bảng 19
Bảng 19
Các vùng phân bồ tập trung của cỏ biên ở vùng biển ven bờ tỉnh Khánh Hòa
Vùngbiển | Địa điểm cỏ biển phân Diện tích Độ phủ Thành phần loài trong thảm Cỏ biển
điều tra bô tập trung Thảm cỏ biên (%)
Huyện Vạn | Xuân Tự-Xuân Hà 70 ha 20-75 E qcoroides, T hemprichii
Ninh ovalis , H minor, H.uninervis
Hon Bip 10 ha 20 E acoroides
Tuần lễ-Xóm mới 50 ha 20 E acoroides, T hemprichii
Huyện Ninh | Vùng Hòn Khói 100 ha 15-45 E acoroides, T' hemprichi,
My giang-Ninh tinh 80 ha 20- 60 E acoroides , T hemprichii
C rotundata , C serrulata,
ovalis , H uninervis
Dam Nha Phu 60 ha 10-40 | E acoroides,T hemprichii,
H ovalis , H minorH beccarHi, H uninervis, R maritima
Thanh ph6 | Đường Dé- Bai Tién 10 ha 40- 75 T hemprichii
Nha Trang Cửa Bé - Sông Lê 30 ha 10- 70 E_ acoroides, T hemprichi, C rotundata,
H ovalis , H uninervis, R maritima
Đầm Già ( Hòn Tre) 30 ha 30- 50 E acoroides ,T hemprichii, C rotundata,
H ovalis, H uninervis
Huyén Cam Đảm Thủy triều và 800 ha 20- 75 E acoroides ,T hemprichii
Ranh Vinh Cam Ranh H.beccarii, H minor ,H — ovalis H uninervis, R maritima
2.3 Ran san ho
Ran san ho phan bố xung quanh hầu hết các đảo, trên các bãi cạn và chạy dọc nhiều vùng bờ từ Đại
Lãnh đến Cam Ranh, có thể coi là một dạng nên đáy cơ bản của vùng ven bờ tỉnh Khánh Hoà Các rạn đã nghiên cứu thuộc vào 2 kiểu cơ bản: Rạn riềm bờ (fringing reef ) và rạn dạng nên ( flatform reef )
Ran kiéu riém bo nam xung quanh đảo hoặc men theo đường bờ có chiều rộng không lớn lắm ( nhỏ hơn 150m ) và san hô chỉ phân bố đến độ sâu tối đa 15m Hình thái các rạn liên quan chặt chế với các tác động của điều kiện môi trường, trong đó động lực nước là yếu tố quyết định Từ đó hình thành 3 nhóm sinh thái: nhóm rạn hở năm ở những vùng chịu tác động mạnh của sóng gió, dòng chảy; nhóm rạn kín nằm trong các vịnh ; nhóm rạn nửa kín với các tính chất trung gian Kiểu rạn nên bao gồm các rạn năm trên các bãi cạn nhô lên ở độ sâu 20- 25m như bãi cạn lớn, bãi cạn thủy triều Đặc tính san hô ở những vùng này tương đối phức tạp và đa dạng
52
Trang 83 Suy giam da dang sinh hoc
Những nghiên cứu và kiểm tra rạn san hô ở các vùng khảo sát khác nhau trong vịnh Nha Trang đã cho thây có sự thay đôi của san hô theo thời gian (bảng 20) Có thể thây rằng, ở một số rạn, độ phủ của san hô bị giảm xuống (tây nam và đông bắc Hòn Mun) Chỉ số đa đạng H" giảm thấp ở hau hết các trạm, đặc biệt là ở Đông bắc Hòn Mun và Đông bac Hon Miéu Theo thoi gian, cac giống ưu thê cũng có sự thay đôi: ở tây Hòn Mun là sự thay đối ưu thể từ san hô mẻm và thuỷ đức san hô sang san hô cứng; ở Đông bắc Hòn Mun lại có sự thay thế từ san hô cứng sang san hô mềm ở Đông bắc Hòn Mun và Đông Bắc Hòn Miếu có sự ôn định và phát triển của san hô cứng Porites đạng cành và đạng khôi
Bảng 20
So sánh biến động độ phú ( %) và sự đa dạng (H') của san hô theo thời gian ở các trạm giám sát trong vùng biển Nha Trang
khảo % độ phủ | H' | Số lượng | Giốngưu thế(%) | % độ phủ | H' | Số lượng | Giống ưu thế (%)
Porites (4)
IV 33,00 | 0,81 16 Acropora (11) 50,00 | 0,89 18 |Acropora (1
Porites (8) Millepora (7)
khu vực này ít chịu những tác động bất lợi của con người và thiên nhiên Trong khi đó, độ phủ của
rạn san hô ở tây nam Hòn Mun (trạm J) bị giảm sút Đây là khu vực chịu nhiều tác động của các
hoạt động du lịch như neo thuyễn, tắm biển, bơi lặn, thu hái san hô và sinh vật đáy, rác thải diễn
ra nhộn nhịp trong những năm qua
Trong khi đó, độ phủ của san hô và số lượng của một số sinh vật rạn giảm xuống nghiêm trọng ở phía bắc Nha Trang do chịu những tác động mãnh liệt bởi thiên nhiên ( nước sông Cái đồ ra nhiều vật chất lơ lững) và hoạt động của con người ( nỗ mìn xây dựng đường xá, cơ sở hạ tầng, đánh mìn bắt cá )
53
Trang 9
Bảng 22
$o sánh tổng lượng cá rạn san hô qua 2 kỳ khảo sát (con/400m’) Địa điểm Khảo sát tháng 4/1999 Khảo sát tháng 2/2000
Những kết quả khảo sát cũng cho thấy không có sự hiện điện các sinh vật đáy có giá trị như ốc tù
và, Tôm hùm ở trong rạn biểu hiện cho sự khai thác quá mức, cho đến nay tình hình vẫn chưa thấy
có dấu hiệu khả quan Cũng như Cá số lượng các loài sinh vật đáy khác như Hải sâm, Trai tai tượng, Ốc đụn ngày càng ít hơn Đặc biệt Cầu gai đen ( Diadema setosum) trước đây mật độ lên đến 3,2 con/m” ( Võ Sĩ Tuấn, 1996), đến tháng 4/1999 khảo sát cho thay mat d6 Cau gai da giam xuống đáng kể, trung bình ở các trạm quanh Hòn Mun là 280 con/400mŸ, nơi có mật độ cao như ở tây hòn Mun cũng chỉ đạt 520 con/400m” Đợt khảo sát thang 2/2000 cho thấy số lượng Cầu gai càng bị giảm sút nghiêm trọng (bảng 23), hầu như còn rất ít trên rạn san hô
4 Ðe dọa đôi với đa dạng sinh học biên Khanh Hoa
4.1 Tai biễn thiên nhiên
Các thảm cỏ biển và những rạn san hô do phân bố ở các đảo gần bờ, vùng ven biển, hoặc trong
đầm,vịnh nên chịu ảnh hưởng lớn từ đất liền Nước sông, nhất là khi có lũ lụt làm giảm độ mặn, gây
đục nước biển ở vùng ven biển, đầm, vịnh khiến nhiều loài cỏ biển bị thối rữa và chết Độ đục cao
và sự phủ chất vân Cặn có thể làm mắt tảo cộng sinh Zaooxanthellia của san hô , khiến Polyp san hô phông lên, tốc độ tiết chất nhày không bình thường và chết hàng loạt Sự ngọt hóa và độ đục còn có tác động trực tiếp, làm giảm độ phong phú và tính đa dạng của các loài cá sông trong thảm cỏ biển
và rạn san hô Cuối năm 1996 đến tháng ! năm 1997, do lũ lụt liên tiếp, các thảm cỏ biển trong đầm Thủy triều hầu như bị chết hoàn toàn Tuy nhiên, nhờ hệ thống rễ và thân ngầm vùi sâu trong nên đáy ít chịu ảnh hưởng của lớp nước ngọt bên trên, nên khi độ mặn môi trường thích hợp, từ những
thân ngầm sẽ phát triển các thân đứng và các lá mới, thảm cỏ biển sẽ được phục hồi ở vịnh Nha
Trang, dưới tác động của dòng chảy men theo bờ phía nam, nước từ sông Cái đã tiêu diệt hàng loạt rạn san hô ở ven bờ ( rạn Bãi Than, rạn phía tây Hòn Tre,Hòn Miếu) Những tai biến tự nhiên như
54
Trang 10bão, có thể làm đỗ cây rừng , gấy đồ san hô, đồng thời có khả năng đi chuyên hoàn toàn thảm cỏ biển hoặc bào mòn trầm tích sau đó đi chuyển chúng
Trong năm 1998, hiện tượng tây trang san hô đã gây chết một phần san hô trên toàn cầu San hô ở
Khánh Hòa cũng bị ảnh hưởng, nhưng không được đánh giá một cách định lượng
4.2 Tác động của con người
Nhu cầu lấy đất làm nhà, nông nghiệp, đặc biệt những năm gần đây phong trào nuôi tôm, cua phát triển nhanh, rừng ngập mặn ở tỉnh Khánh Hòa đã bị tàn phá nghiêm trọng Các dải rừng ngập mặn ở đàm Thủy triều, vịnh Cam Ranh, Hon Khoi, ving dam Nha Phu hau nhu không còn Hơn nữa nhiều loài cây rừng ngập mặn rất có giá trị như Xu ôi ( Xylocarpus granatum), Ban trang ( Sonneratia alba) , Vet du ( Bruguiera gymnorhiza) đã bị đốn sạch hoặc chỉ còn lại rất ít và đang có nguy cơ
bị chết do lấy đất làm nhà, đìa hoặc do đắp đê bao quanh cản trở lưu thông nước biển Sự xây dựng các ao, đìa nuôi tôm cũng làm mắt nhiều diện tích thảm cỏ biển ở đầm Thủy Triều và vịnh Cam Ranh
Các hoạt động phát triển kinh tế, xã hội nhanh chóng ở tỉnh Khánh Hòa như quá trình đô thị hóa, xây dựng cơ sở hạ tầng, nhà cửa, đường xá, cầu cảng cũng đã gây xáo trộn môi trường, ảnh hưởng
tiêu cực đến tình trạng sức khỏe của các hệ sinh thái san hô, cỏ biến
Nhiều phương tiện và cách thức đánh bắt lạc hậu mang tính hủy diệt nguồn lợi và nguồn giống hải sản như giã cào, giã nhữi, xiết điện vẫn còn lén lút hoạt động ở các vùng nước ven bờ, đầm, vịnh Trong những năm gần đây, hiện tượng đánh cá bằng chất nỗ có giảm xuống nhờ sự tăng cường kiêm soát và nâng cao nhận thức về sự nguy hiểm Nhưng ngược lại, đánh cá bằng chất độc càng ngày càng phổ biến Khánh hòa là một trong những trung tâm khai thác và truyền bá kiểu khai thác nguy hại này
Tình trạng khai thác quá mức không chỉ làm giảm sút nguồn lợi mà còn tác động lớn đến sự đa dạng sinh học Cầu gai đen trước đây không hề bị khai thác nhưng nay bị đánh bắt cạn kiệt để làm thức
ăn cho Tôm Hùm nuôi lồng- Một nghề nuôi đang phát triển mạnh ở Nha Trang trong vài năm gần đây Sự khai thác quá mức và không hợp lý các sinh vật sống trong rạn san hô có thể Bây ra sự mat can bang sinh thái Ví dụ bắt hết ốc Tù và (Charonia tritonis) dé lam hang mỹ nghệ có thể làm bùng
nô số lượng Sao biển gai ăn san hô (Acanthaster planci) Bắt hết Cầu gai ( loài ăn rong biển) sẽ làm rong biển phát triển mạnh cạnh tranh với quá trình phục hồi, phát triển của các rạn san hô
Một tình trạng cần lưu ý là Khánh Hòa đang trở thành trung tâm của cả nước về thương mại sinh
vật rạn san hô Đặc biệt, tình trạng khai thác không thể kiểm soát các loài san hô, hải quì, cá cảnh
phục vụ cho xuất khẩu nuôi làm cảnh và trang trí Vì vậy, số lượng sinh vật rạn san hô ngày càng
giảm xuống như đã thấy ở phần trên
Hoạt động du lịch đang thực sự gây hại cho đa dạng sinh học biển và cho chính mình Tác động gây hại của du lịch thông qua việc thả neo trên rạn, tăng cường nhu cầu sinh vật lưu niệm, thải rác vào môi trường biển Những kết quả khảo sát cũng cho thấy lưới đánh cá vướng vào san hô và các loại
rác thải từ sinh hoạt của ngư dân và từ khách du lịch cũng có chiều hướng tăng lên rất nhiều ở các
vùng rạn san hô
Sự khai thác quá mức nguồn lợi hải sản với những phương tiện lạc hậu cùng những tác động hủy hoại của con người đối với các hệ sinh thái rừng ngập mặn, cỏ biển, và rạn san hô, đầm, vịnh đang
làm mất đi cái nôi sinh sản, nơi ươm nuôi âu trùng, con non, nơi cư trú kiếm ăn và nguồn cung câp
thức ăn cho thủy vực sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phong phú nguồn lợi và tính đa dạng loài sinh vật biên ở tỉnh Khánh Hòa
55
Trang 11Chương IV : Hoạt động quản lý nhà nước về bảo vệ môi
trường
I Công tác ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật
về bảo vệ môi trường
Dé day mạnh việc thực hiện Luật bảo vệ môi trường (BVMT) và các văn bản dưới luật sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân, công tác tuyên truyền pháp luật luôn được xem là công tác quan trọng nhất Trong năm 2000, tiếp tuc in dn 60 bộ tài liệu về Luật BVMT, Nghị định 17⁄CP về hướng dẫn
thi hành luật BVMT, Nghị định 26/CP vé xu phạt vi phạm hành chính vê BVMT, Pháp lệnh xử phạt
vi phạm hành chính, các tài liệu về đa dạng sinh học và BVMT để cung cấp cho chính quyền cấp xã phường nhăm nâng cao năng lực quản lý Nhà nước về BVMT tại địa phương
Ngoài ra, nhằm tạo cơ sở pháp lý để thực hiện tốt Luật BVMT đối với từng khu vực và đối tượng cụ thê như đô thị, nông thôn, công nghiệp, giao thông vận tải, , Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường đang tiền hành xây dựng dự thảo Quy chế kiểm soát ô nhiễm môi trường và dự kiến sẽ hoàn tất bản dự thảo vào cuối năm 2001
Thực hiện chỉ thị 36/CT-TW của Bộ Chính trị về công tác BVMT trong thời kỳ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Tỉnh uỷ Khánh Hoà cũng ban hành chỉ thị 18/CT-TU hướng dẫn thi hành chỉ thị của Bộ chính trị Trên cơ sở đó, Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường đã xây dựng “Chương trinh Xanh-Sạch-Đẹp-Văn minh của Tỉnh Khánh Hoà giai đoạn 1999-2005” và được Hội đồng nhân dân tỉnh khoá II thông qua tại kỳ họp thứ X từ ngày 07 đến 11 tháng 9 năm 1999 Nội dung chương trình nhằm giải quyết những vân đề bức xúc trong lĩnh vực BVMT, xử lý ô nhiễm như: kiểm soát ô nhiễm công nghiệp, trồng và bảo vệ rừng cây xanh đô thị, môi trường đô thị, truyền thông môi trường, xây dựng nêp sông vệ sinh, văn minh ở các khu du lịch, di tích lịch sử, thắng cảnh Chương trình đã tập hợp sự nỗ lực của các ngành các cấp từ tỉnh đến xã phường cơ sở đơn vị vào các mục tiêu nâng cao chất lượng môi trường Gắn kết các hoạt động quản lý nhà nước kiểm tra thanh tra với các hoạt động cụ thể xử lý nước thải, rác thải, trồng cây gây rừng của mọi tổ chức, đoàn thé, nhân dân ở các khu dân cư Chương trình Xanh-Sạch-Đẹp-Văn minh được HĐND Tỉnh thông qua
và định kỳ UBND Tỉnh báo cáo tình hình thực hiện là một bước tiến quan trọng trong việc gắn kết
kế hoạch BVMT trong kế hoạch Kinh tế xã hội của Tỉnh, đồng thời cũng nâng cao hiệu quả thực
hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước về BVMT trên địa bàn Tỉnh
II Công tác thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM)
cho đến hết năm 2000, toàn tỉnh đã có 340 dự án hoặc cơ sở sản xuất được thâm định báo cao DTM hoặc cấp giấy xác nhận bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường Riêng trong năm 2000, số dự án hoặc cơ sở sản xuất được cấp giấy xác nhận bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường là 103 Ngoài
ra, Nhà máy Dệt Tân Tiến thuộc Xí nghiệp Liên Hiệp thuốc lá Khánh Hoà cũng đã nhận được Giấy phép môi trường do Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường cấp
Việc lập báo cáo ĐTM cũng như các bản Đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường thường mắt nhiều thời
gian, khó hiểu do các nội dung môi trường cũng không phổ cập đối với phần lớn các chủ đầu tư, chủ doanh nghiệp Do vậy, Sở đã chủ động căn cứ vào các nội dung hướng dẫn của Bộ Khoa học, công nghệ và môi trường soạn thảo các biểu mẫu theo kiểu “Điền vào chỗ trống hoặc đánh dẫu vào các ô có nội dụng thích hợp” để giúp các chủ đầu tư vượt qua các khó khăn nói trên
Kết quả thẩm định nhìn chung tương đối tốt, bảo đảm yêu cầu tối thiểu phải kiểm tra thực tế vị trí
và các điều kiện môi trường tự nhiên, dân cư, kinh tế chung quanh trước khi có ý kiến thẩm định
Tuy vậy, một vài dự án lớn, mới phức tạp không lường hết các khó khăn nảy sinh khi đi vào hoạt động, do vậy đã gây ra những vấn đề môi trường phức tạp, giải quyết rất khó khăn và mất nhiều thời gian (ví dụ Nhà máy Hyudai-Vinashin, Nhà máy đường Cam Ranh)
56
Trang 12ill Cong tac thanh tra, kiém tra vé bao vé méi trường
Từ năm 2000 đến nay, Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường đã tổ chức thanh tra về lĩnh vực
BVMT đôi với 78 cơ sở sản xuât kinh doanh trong toàn tỉnh, trong đó đã xử phạt vi phạm hành chính về BVMT đôi với 19 cơ sở với tông sô tiền phạt là 19,2 triệu đông
Cũng trong khoảng thời gian trên, Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường đã tiếp nhận 70 đơn thư
khiếu nại, tố cáo về ô nhiễm môi trường, trong đó đã chuyển 37 đơn không phù hợp t thâm quyền, xử
lý 33 đơn, xử phạt 20 cơ sở gây ô nhiễm môi trường theo đơn khiếu nại, tố cáo với tông số tiền phat
là 14,75 triệu đồng
IV Công tác kiểm soát ô nhiễm
Năm 2000, toàn tỉnh Khánh Hoà có 81 doanh nghiệp tham gia thực hiện công tác kiểm soát ô nhiễm
định kỳ Nhìn chung, các doanh nghiệp thực hiện công tác kiểm soát ô nhiễm khá nghiêm túc, các
nguồn chất thải đều được chủ doanh nghiệp nhận biết và quản lý Tuy nhiên, có rất ít chủ doanh
nghiệp nhận biết được lợi ích của công tác kiểm soát ô nhiễm trong việc nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh và chất lượng sản phẩm dịch vụ, từ đó chủ động trong việc tìm kiếm giải pháp giảm
thiểu ô nhiễm Hầu hết, các doanh nghiệp chỉ xem đây là một trong những công tác bảo vệ môi
trường bắt buộc thực hiện
Trọng năm 2000 và sáu tháng đầu năm 2001, đã có thêm 15 hệ thống xử lý nước thải và 3 hệ thống
xử lý khí thải được xây dựng và di vào hoạt động, nâng tổng số hệ thông xử lý chất thải công nghiệp trên toàn tỉnh là 44 hệ thông xử lý nước thải và 11 hệ thống xử lý khí thải Đặc biệt, việc
Công ty Dệt Nha Trang đưa hệ thong xử lý nước thải (công suất 1.200m /ngày) vào hoạt động đã giải quyết căn bản tình trạng ô nhiễm môi trường trong nhiều năm qua tại khu vực xã Vĩnh Phương, thành phố Nha Trang Ngoài ra, con số: 6 hệ thong xử lý nước thải bệnh viện, 2 lò đốt rác y tế đã chứng tỏ ngành y tế Khánh Hoà đã có những nỗ lực rất lớn trong công tác bảo vệ môi trường trong
57
Trang 13
Hinh 16
TINH TRANG XU LY NUGC THAI
aa M Nam 2000 Nuc thai duoc § ONam 1999
Lượng nước thải được xử lý đạt yêu cầu trong năm 2000 không có sự thay đổi so với năm 1999
(khoảng 1.170m”/ngày) Nhìn chung, tỉ lệ giữa lượng nước thải được xử lý đạt yêu cầu so với tông
số lượng nước thải được quản lý hiện nay vẫn còn rất thấp (năm 1999 là 6%, năm 2000 là 23%)
Vấn đề ở đây là cần phải tăng cường công tác quản lý kiêm soát ô nhiễm của cơ quan chức năng
bảng nhiều hình thức khác nhau như: thanh tra, kiểm tra, hỗ trợ tư vấn kỹ thuật, tuyên truyền,
Mặt khác, cần đây mạnh việc ứng dụng các mô hình quản lý chất lượng cho các doanh nghiệp như:
ISO 9000, ISO 14000, GP, CP, nhằm giúp các doanh nghiệp có thể tiếp cận công tác kiếm soát ô nhiễm một cách cụ thể hơn thông qua việc nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ và lợi nhuận
Van dé ton tại lớn nhất của công tác kiểm soát ô nhiễm trong năm 2000 là kiếm soát chất thai ran, đặc biệt là chất thải rắn của ngành chế biến thuỷ sản và NIX thái của Công ty TNHH nhà máy tàu
bién Hyundai-Vinashin (HVS)
58
Trang 14Hiện nay hầu hết chất thải rắn của các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản đều được bán cho tư nhân để chế biến thức ăn gia súc hoặc sử dụng cho các mục đích khác Trong khi đó, các cơ sở tư nhân chế 5iên thức ăn gia súc lại chưa được quản lý, điều kiện cơ sở hạ tâng không đảm bảo điều kiện báo vệ môi trường nên đã gây ô nhiễm về mùi rất nghiêm trọng cho các khu vực xung quanh Ngoài ra, rong những điều kiện thời tiết bất lợi, một số lượng chất thải rắn thuỷ sản đã được đồ vào lưu vực sác sông như sông Cái Nha Trang (Cầu Hà Ra, Xóm Bóng), sông Đồng Bò (Cầu Bình Tân, sông Kim Bông (Câu Mới)
Về NIX thải của Công ty TNHH nhà máy tàu biển Hyundai-Vinashm tuy đã được Bộ Khoa học, công nghệ và Môi trường phê duyệt phương án xử lý (năm 1999) nhưng cho đến nay, HVS vẫn :hưa triên khai thực hiện công tác xử lý cũng như các công tác nghiên cứu ứng dụng NIX thai trong sản xuất vật liệu xây dựng Việc lưu trữ tự nhiên một khối lượng chất thải NIX quá lớn trong nhà náy sẽ là mỗi nguy cơ ô nhiễm cho vùng nước biển ven bờ vịnh Văn Phong (khu vực thôn Mỹ Giang) do ảnh hưởng của nước mưa chảy tràn bề mặt
Việc xả thải chất thải của hoạt động giao thông vận tải hầu như không kiểm soát được, đặc biệt rong lĩnh vực giao thông đường biển và đường sắt Tình trạng ô nhiễm dầu thải trên biển thường tuyên xảy ra trên vịnh Nha Trang và chung quanh khu vực của Hyundai Vinashin Dọc đường tàu
và các ga là nơi xả thải chất thải tự do không xử lý của ngành đường sắt và của một số hộ dân sống chung quanh
ý Công tác giám sát môi trường và lập báo cáo hiện trạng môi trường
Tr nam 1994, được sự hỗ trợ của Cục môi trường, Sở đã xây dựng báo cáo hiện trạng môi trường
ân đầu tiên Trên cơ sở đó, hằng năm sở đều xây dựng báo cáo hiện trạng môi trường đề báo cáo với HĐND Tỉnh, UBND Tỉnh và Cục môi trường
Bên cạnh đó, mạng lưới giám sát môi trường của Tỉnh cũng đã được phát triển Đến năm 2000, đã
có 2 trạm nước và 8 trạm không khí được lấy mẫu định kỳ, rải đều trên địa bàn trọng điểm của các khu dân cư, công nghiệp kinh tế quan trọng Ngoài ra, trong năm 2000 còn triên khai nghiên cứu ứng dụng giám sát sinh học tại khu vực chung quanh đảo Mỹ Giang (Ninh Phước, Ninh Hoà), là nơi
có khả năng bị ô nhiễm kim loại nặng do hoạt động của Hyundai-Vinashin
Kết quả công tác giám sát môi trường cộng với việc xây dựng các dữ liệu về kiểm soát ô nhiễm đã
giúp cho việc lập báo cáo hiện trạng môi trường hằng năm kịp thời và tính phong phú, chính xác ngày càng nâng cao Ngoài ra, Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường cũng đang triển khai biên tập nội dung và hình thức thông tin dé có thê mau chóng phỗ biến kết quả giám sát và đánh giá hiện trạng môi trường rộng rãi cho mọi đối tượng nhân dân
Trong năm 2000, công tác thông tin, tuyên truyền và đào tạo về môi trường có nhiều đổi mới cả về hình thức cũng như nội dung hoạt động, huy động được nhiều nguồn lực về tài chính và các tầng lớp nhân dân, các cấp tham gia vào hoạt động truyền thông môi trường
Bên cạnh các hoạt động tuyên truyền hàng năm như tổ chức các buổi mittinh, tuần hành, dọn vệ sinh, trồng cây xanh, hội thảo hưởng Tuần lễ nước sạch và vệ sinh môi trường ( 29/4 - 6/5 ), ngày môi trường thế giới ( 5/6 ), ngày làm sạch môi trừơng thế giới với sự tham dự của hàng ngàn người và nhiều tin, bài, phóng sự trên các phương tiện thông tin đại chúng : phát thanh truyền hình, báo chí đã kịp thời phản ánh các hoạt động tuyên truyền về bảo vệ môi trường, phản ánh những điển hình tốt, xấu trong công tác bảo vệ môi trường ở địa phương Thông qua các hoạt động này, ý thức về bảo vệ môi trường của người dân ở Khánh Hòa ngày càng được nâng cao
Trong năm 2000, Sở Khoa học, công nghệ và Môi trường Khánh Hòa đã phối hợp với các tổ chức
quốc tế nhằm huy động các nguồn lực trong công tác bảo vệ môi trường, cụ thé là với IMA ( Liên minh sinh vật biển quốc tế ) tại Việt Nam tô chức ngày làm sạch biển quốc tế tại Nha Trang với sự tham gia của gia của 500 đoàn viên thanh niên, cán bộ và nhân dân phường Vĩnh Hải và lực lượng quân đội đóng trên địa bàn
59
Trang 15Cũng trong năm 2000, với sự tài trợ của Quỹ phát triển - Sứ quán Canada và sự phối hợp của WWF ( Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên ) tại Việt Nam, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường khánh Hòa đã tổ chức 04 lớp nghiệp vụ truyền thông môi trường cho 60 cộng tác viên là giáo viên trường PHCS và cán bộ thuộc 02 xã Ninh Vân, Ninh Phước huyện Ninh Hòa Sau lớp tập huấn, các cộng tác viên này sẽ là những hạt nhân tuyên truyền về bảo vệ môi trường biển tại 02 xã Ninh Vân Ninh, Ninh Phước huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa
Với nguôn kinh phí hạn hẹp dành cho hoạt động bảo vệ môi trường nhưng Sở Khoa học, Công nghệ
và Môi trường tỉnh Khánh Hòa cũng đã tổ chức 01 lớp tập huấn về Kỹ năng lập và quản lý dự án truyền thông môi trường cho 25 học viên là cán bộ đoàn, hội phụ nữ, giáo viên trong tỉnh Sau lớp
tập huấn này Sở đã hỗ trợ kinh phí 20 triệu đồng/ dự án thực hiện trong 02 năm học cho 02 dự án
Nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học trường Thực Nghiệm Khánh Hòa và
học sinh trung học thuộc trường PTTH Trần Bình Trọng, Cam Ranh với mong muốn hình thành
thói quen và ý thức bảo vệ môi trường cho các em học sinh, những chủ nhân tương lai của đất nước Nhằm giúp cho các cơ quan liên quan, các cơ sở sản xuất kinh doanh ý thức được trách nhiệm trong công tác bảo vệ môi trường, làm tốt công tác quản lý nước thải trong năm 2000, Sở đã tổ chức lớp tập huấn quản lý nước thải với sự tham gia của 36 học viên Các học viên đã được cung cấp các kiến thức cơ bản về quản lý và giám sát chất lượng môi trường nước, kỹ năng vận hàng các hệ thống xử lý nước thải Sau khi học lý thuyết, các học viên đã được tham quan thực tế các hệ thống
xử lý nước thải, đây cũng là dịp để các cơ quan quản lý nhà nước và các doanh nghiệp trao đổi kinh nghiệm với nhau trong công tác quản lý nước thải và bảo vệ môi trường Sau khi kết thúc lớp học,
100 % học viên đánh giá lớp tập huấn đã đạt được những mục tiêu để ra ban đầu của lớp tập huấn Nhằm mục đích nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường cho đông đảo các tầng lớp nhân dân, trong năm 2000, Sở Khoa học, công nghệ và môi trường Khánh Hòa đã tổ chức cuộc thi chụp ảnh, vẽ
tranh bảo vệ môi trường tỉnh Khánh Hòa lần II với sự tham gia của đông đảo tác giả vơi 375 ảnh,
159 tranh biếm họa, 61 tranh cỗ động và 42 tranh do lứa tuôi học sinh sánh tác Các tác phậm đoạt giải đã được triển lãm và giới thiệu tại các trường học trong tỉnh, các đợt triển lăm đã được tổ chức thành công, dúng kế hoạch và được các trường hoan nghên, hưởng ứng Các tác phẩm dự thi đã phản ánh sinh động, đầy đủ những hành vi tốt và chưa tốt về bảo vệ môi trường ở Khánh Hòa Bên cạnh nguồn ngân sách ít ỏi của chỉ cho cuộc thi Ban tổ chức đã huy động sự tài trợ kinh phí của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân hỗ trợ cho cuộc thi Đây là sự đóng góp đáng kể của các các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp cho sự nghiệp bảo vệ môi trường chung
Trong năm 2000, Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường Khánh Hòa còn phối hợp với Trường Nghiệp vụ - Bộ KHCNMT tổ chức 02 lớp Lãnh đạo và quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở
Việt Nam tại Nha Trang với sự tham dự của gần 50 học viên là Lãnh đạo các Sở Khoa học, công
nghệ và môi trường, các Bộ, ngành liên quan
Trong năm 2000, bên cạnh các hoạt động giáo dục, tuyên truyền, Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường cũng quan tâm đến việc sản xuất các ân phẩm tuyên truyền về bảo vệ môi trường: 6 panô,
3000 cuốn vở có bìa là nội dung tuyên truyền, 300 cuốn lịch và 60 bảng lật tuyên truyền về bảo vệ môi trường biển, 3.000 tạp chí Khoa học, Công nghệ và Môi trường, 5.500 bản tin nhanh Kinh tế- Khoa học, Công nghệ và Môi trường
60
Trang 16Chương V : Nhận định khái quát về tình hình môi trường ở Khánh Hoà
Tình hình chung về môi trường trên đai bản toàn Tình trong năm qua cho thầy:
l
Tài nguyên rừng của tỉnh đã suy giảm nghiêm trọng trong nhiều năm qua hiện đang được phục hồi rất chậm Diện tích đất rừng được che phủ tăng lên, nhưng tài nguyên rừng như gỗ, các loài
thực vật, động vật suy giảm Tài nguyên thực vật, động vật rừng, các loài thú hoang dã đã
không được ngăn chặn hiệu quả như khai thác, săn băn và kinh doanh Quá trình phát triển các đìa nuôi tôm tăng lên nhanh chóng trong năm qua, cũng đồng nghĩa với sự lấn biển, phá hủy rừng ngập mặn, phá hủy thém san hô, tạo điều kiện tăng cường xâm nhập mặn vào đất lúa và nước ngầm Nghề nuôi trồng thuỷ sản ven biển đã tự thân gây ảnh hưởng tiêu cực lẫn nhau, gây thiệt hại nghiêm trọng vê kinh tế cho nhân dân Đáng chú ý nhất là khu rừng ngập mặn cô thụ Tuần Lễ đã không thể bảo vệ được Vấn đề phục hồi hệ sinh thái quan trọng này đã được đặt ra Cam Ranh và Vạn Ninh là những địa phương đi đầu đang có những cố gắng cụ thể trồng lại rừng ngập mặn
Tình trạng khai thác cá cảnh ở các rạn san hô Khánh Hoà phát triển nhanh chóng, làm suy giảm nghiêm trọng tài nguyên động vật biển hoang dã, có nguy cơ ảnh hưởng lâu dài đến hoạt động
du lịch biển của thành phố Nha Trang cũng như của tỉnh Khánh Hòa Một tình trạng cần lưu ý là
Khánh Hòa đang trở thành trung tâm của cả nước về thương mại sinh vật rạn san hô Đặc biệt,
tình trạng khai thác không thể kiểm soát các loài san hô, hải quì, cá cảnh phục vụ cho xuất khẩu nuôi làm cảnh và trang trí Vì vậy, số lượng sinh vật rạn san hô ngày càng giảm sút nghiêm
trọng
Môi trường ở các khu công nghiệp lớn của tỉnh thời gian qua tuy có gây ô nhiễm cho dân cư và môi trường chung quanh, nhưng chưa rơi vảo tình trạng suy thoái lâu dài Chat thải công nghiệp, đặc biệt là nước thải, mặc đù ngày càng được kiểm soát chặt chẽ hơn, tuy nhiên trong năm qua ở
các khu vực truyền thống như: thành phố Nha Trang, khu công nghiệp Suối Dầu, Hyundai
Vinashin, Nhà máy đường Cam Ranh, các vùng công nghiệp đã có các sự có nhỏ về môi trường, tạo ra các điểm nóng về tranh chấp, tố cáo; nhân dân thiêu tin tưởng vào chính quyên, khiêu kiện đông người kéo dài Tổng lượng chất thải tiếp tục tăng lên nhanh chóng theo nhịp độ phát triển công nghiệp, đã gia tăng áp lực đến quá trình đầu tư kiểm soát ô nhiễm Mặt khác, việc giám sát các cơ sở sản xuất nhỏ về lĩnh vực môi trường hiện không có hiệu quả: số lượng tăng lên nhanh chóng, xây dựng mới không theo dõi được, tính chất nhỏ lẻ, không ổn định, công nghệ lạc hậu đã ngăn cản việc đầu tư xử lý chất thải của các cơ sở nhỏ
Chất lượng môi trường không khí ở thành phố Nha Trang xét theo các chỉ tiêu SỐ, NO;¿, Pb
thuộc loại rất sạch, tuy vậy, bụi van là yếu tố gay 6 nhiém khong khi chu yếu ở thành phố Nha Trang Mùi hôi từ các công thu nước ở thành phố Nha Trang tiếp tục gây ánh hưởng xấu đến sinh hoạt của nhân dân, là vẫn đề hiếm có ở các thành phố khác Nguyên nhân của tình trạng này
đã rõ, nhưng không được cơ quan nào chịu trách nhiệm giải quyết Chất lượng môi trường không khí Nha Trang trong năm nay giảm sau những năm được cải thiện Cam Ranh và các thị trần cũng trong tình trạng tương tự Nguyên nhân chung của tình hình trên chưa được khẳng
định, tuy nhiên, có một yếu tô cân chú ý là nhiệt độ bình quân trong năm qua cao hơn các năm
trước Tình hình đầu tư cải thiện hạ tầng đô thị vẫn được tiếp tục với nhiều công trình giao thong, cấp thoát nước; xu hướng giảm mạnh các loại xe máy cũ thải nhiều chất thải thay thế bằng các xe mới vẫn tiếp tục; từ tháng 7/2001, việc áp dụng sử dụng xăng không pha chì chắc
61
Trang 17chăn sẽ giảm thiểu đáng kể ô nhiễm chỉ trong không khí, là những yếu tổ có thê dẫn đến chất lượng môi trường không khí sẽ tiếp tục được duy trì như hiện nay
5 Chất lượng nước biển ven bờ ở Khánh Hòa (kê cả các vũng, vịnh) xét theo các khu vực bãi tắm cũng như nuôi trồng thủy sản đều đang ở tình trạng tốt ngoại trừ tình trạng ô nhiễm dầu phổ biến ở Cam Ranh, Nha Trang, khu vực Ninh Phước( HVS) Chất lượng nước các sông chính như sông Cái Ninh Hòa, Cái Nha Trang, Suối Dầu đều giảm so với các năm trước Riêng sông Cái Nha Trang ô nhiễm dầu tăng nhanh ở khu vực giữa cầu đường sắt và cầu Cái lộ tuyến (Thành) Tình hình trên do hoạt động của các thuyền nhỏ khai thác cát trên sông gây ra cũng như các phương tiện thủy xả thải dầu thải khi vào cảng hay hoạt động trong vịnh
6 Tình hình môi trường ở các khu dân cư nông thôn ngày càng giảm sút đo rác thải, các chất thải chăn nuôi sinh hoạt Đặc biệt tại các khu vực chợ nông thôn Các hoạt động chăn nuôi công nghiệp, chế biến lương thực thực phẩm trong khu dân cư nông thôn ngày càng phổ biến Các hoạt động chăn nuôi gà tập trung theo công nghệ mới do công ty CP hỗ trợ đã phát triển rat nhanh ở các huyện và thị xã đã gây ảnh hưởng không ít đến môi trường sống của nhân dân chung quanh., do vậy không tránh khỏi sự khiếu nại, tranh chấp về môi trường tăng lên, đặc biệt
là ở huyện Diên Khánh
7 Trong năm qua, xu thế tăng cường năng lực thu gom vận chuyền rác đô thị diễn ra ở hầu hết các địa phương, việc tổ chức thu gom rác cũng được nhiều địa phương quan tâm, kế cả ở các khu vực nông thôn (Xuân Tự), hải đảo( Ninh Vân) Chính quyền đã tô chức để nhân dân đầu tư trang thiết bị và làm dịch vụ thu gom rác thải Khu vực thu gom và tổng lượng rác thu được hàng ngày tăng lên không ngừng Nhiều khu dân cư được thu rác gọn sạch hàng ngày, giảm hắn hiện tượng vứt rác bừa bãi xuông mương hoặc sông rạch Các khu du lịch, khu di tích lịch sử, văn hóa đã chú trọng hơn hoạt động thu gom rác thải Tuy vậy, rác thải khu dân cư vẫn là vẫn đề trọng tâm của công tác quản lý môi trường Bao bì nilon và các chất thải khó phân hủy từ một số nhà hàng khu du lịch trên sông Cái NhaTrang, ven biển Nha Trang và các thị trắn, thị xã chưa được quản
lý chặt chẽ vẫn là vấn đề đáng lưu tâm
Rác thải y tế bước đầu đã có hướng giải quyết sau khi Bộ Y Tế lắp đặt lò đốt tại Nha Trang
Chương VI : Kết luận - Kiến nghị
Trong năm qua, công tác quản lý bảo vệ môi trường ở Khánh Hòa đã được duy trì với những nỗ lực lớn trong công tác ngăn ngừa ô nhiễm (thâm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, kiểm soát
ô nhiễm), và công tác truyền thông bảo vệ môi trường Những nỗ lực đó đã góp phần ngăn ngửa tình trạng ô nhiễm môi trường chung trong toàn tỉnh Mặt khác, nhận thức và quan tâm chung của nhân dân đến môi trường ngày càng tăng Nhiều địa phương đã chú trọng nhiều hơn đến các vấn đề bảo vệ môi trường Trong đó nỗi lên vẫn đề quản lý rác thải trong khu dân cư, bảo vệ môi trường trảnh các tác động tiêu cực do chăn nuôi, bảo vệ rừng ngập mặn
Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã quan tâm chỉ đạo sâu sát hơn, đặc biệt trong vẫn đề ngăn ngừa ô nhiễm công nghiệp Bước đầu đã triển khai các hoạt động đây mạnh các biện pháp sản xuất sạch hơn, phê duyệt kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng, tăng cường đầu tư vào hạ tầng bảo vệ môi trường Những chủ trương và các biện pháp đó đã góp phần làm cho môi trường của tỉnh ngày càng xanh và sạch hơn, chất lượng môi trường một số nơi đã được cải thiện, những vẫn đề cấp nước, vệ sinh môi trường khu dân cư có chuyên biến rõ rệt
Tuy vậy, do phát triển kinh tế tăng nhanh trong năm qua, áp lực tăng dân số cơ học không giảm, rong khi hạ tầng chung của công nghiệp, đô thị tăng chậm vả các nguồn đầu tư từ ngân sách rất hạn :hế Do vậy, tại một số khu vực, các vân đề môi trường vẫn chưa được giải quyết: Vấn đề vệ sinh nôi trường nông thôn, vấn đề ô nhiễm do rác thải, cấp nước ở các khu dân cư ven biển, ô nhiễm
rong khu dân cư đô thị do các cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ, vấn đề nước thải và rác thải đô thị,
62
Trang 18tải nguyên sinh học (động thực vật rừng và biển) bị khai thác quá mức ô nhiễm do hoạt động du lịch tăng nhanh
Gan day, chu trrong da dang hoa cac nguồn đầu tư cho hoạt động bảo vệ môi trường đã được thực
hiện và có những kết quả nhất định trong lĩnh vực đảo tạo tô chức các dự án truyền thông môi trường, bảo tôn thiên nhiên Đáng kê nhất là dự án Khu bảo tồn biên Hòn Mun Tuy vậy, vẫn phải tiếp tục tìm kiếm các cơ hội khác nhằm nâng cao năng lực quản lý môi trường ở địa phương và nguồn vốn đâu tư
Đề bảo vệ môi trường tỉnh Khánh Hòa đạt kết quả tốt thực hiện nghiêm Chi thi 36/CT-TW của Bộ
Chính Trị ngày 25/6/1998 về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đât nước và Chi thị sô 18/CT-TU 12/8/1998 của Tỉnh uy Khánh Hòa về việc tô chức triên khai thực hiện Chỉ thị 36 - CT/TW, Tỉnh Khánh Hòa đề nghị Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi
trường, Thủ tướng Chính Phủ một sô vân dé sau:
1 Hỗ trợ địa phương xây dựng tốt Chiến lược bảo vệ môi trường của tỉnh, làm cơ sở cho việc xây dựng và thực hiện kê hoạch phát triên bên vững kinh tê - xã hội của tỉnh
2 Xác lập rõ ràng hơn chức năng, nhiệm vụ, biên chế cho hoạt động quản lý môi trường Ở cấp huyện (thành phô, thị xã trực thuộc tỉnh )
3 Hướng dẫn, giúp cơ quan tham mưu quản lý môi trường của tỉnh xây dựng Chương trình sản xuất sạch hơn và các hoạt động nhăm tăng cường đa dạng hóa các nguôn đâu tư cho bảo vệ môi trường
4 Tổ chức Hội thảo trong nước hoặc quốc tế về du lịch sinh thái tại thành phố Nha Trang trong năm 2002
š Riêng vấn dé kiểm soát ô nhiễm đối với hoạt động giao thông vận tải, UBND tỉnh Khánh Hoà
đề nghị Bộ Giao thông vận tải cần có những quy định cụ thê về công tác bảo vệ môi trường cho các ngành đường sắt, đường thuỷ nhằm tăng cường quản lý chất thải, cải thiện môi trường các khu vực lân cận các tuyến giao thông, đặc biệt là đường sắt và đường thuỷ
Tỉnh Khánh Hòa ttn tưởng mạnh mẽ rang, bằng sự nỗ lực của nhân dân, cán bộ trong tỉnh, cộng với
sự hỗ trợ của Trung ương, những vẫn đề môi trường của tỉnh sẽ được giải quyết, bảo đảm cho sự phát triển bền vững về kinh tế xã hội
63
Trang 19PHU LUC
Trang 21Ban đồ phân bố trạm giám sát không khí và nước