Đây là đặc trưng cơ bản của các hiện tượng môi trường vùng ven biển Quảng Bình.. *Cát di động ở lục địa ven bờ biển: Đã có một vài công trình khảo sát,nghiên cứu hiện tượng cát di động v
Trang 1-Đối với nguồn nước ngầm: Tài nguyên nước ngầm Quảng Bình khá phong phú,chiều dày các tầng nước 15-20m/chat lượng khá tốt chưa bị nhiễm mặn, nhiễm khuẩn và các tác nhân gây ô nhiễm tâng mặt Nguyên nhân là do ở đây còn ít công trình khai thác nước quy
mô lớn, mặt khác cung cấp của nước mưa, nước mặt cho các tầng chứa nước rất lớn Vì vậy việc khai thác nước ngầm phục vụ ăn uống sinh hoạt có thể bảo đảm an toàn
Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường đã góp phần giải quyết được một phần tương đối lớn và có hiệu quả nhu cầu nước sinh hoạt ở nông thôn, đặc biệt ở những vùng khó khăn về nguồn nước trong mùa khô
Tuy nhiên tình trạng dùng nước sông suối, ao hồ để sinh hoạt còn khá phổ biến nhất là về mùa nắng hạn
+Các công trình vệ sinh gia đình trong nông thôn hiện nay còn thiếu và chất lượng kém.Theo kết quả điều tra của Trung tâm vệ sinh phòng dịch tỉnh năm 1997 thi trong số 132.484 hộ được điều tra có 122.124 hộ có sử dụng hố xí băng 92% Trong đó chỉ có 8707 hố xí hợp vệ sinh băng (7%) tổng số hộ điều tra và bằng 7,12% số hộ có
hố xí Điều này nói lên tình trạng vệ sinh môi trường ở nông thôn đang là vấn đề bức bách
+ Các công trình vệ sinh khác như hố xử lý nước thải gia đình thì hầu như không có, tình trạng chuồng trại gia súc ở gần nguồn nước hoặc ở đầu hướng gió chính còn khá phổ biến cũng là một vấn đề cần
quan tâm
Mặc dù dẫn liệu đưa ra là kết quả điều tra trong nam 1997 Song chắc chắn cho đến nay tình hình trên chưa được cải thiện là bao Việc sử dụng chất đốt trong hầu hết các gia đình nông thôn chủ yếu là sử dụng các phụ phẩm nông nghiệp (rơm.rạ, trấu - ở vùng đồng bằng) hoặc củi Tỷ lệ dân sử dụng điện, than còn rất ít Vì thế nguồn chất đốt được cung cấp từ đồi rừng cũng là một nguyên nhân chủ yếu làm suy thoái rừng và thảm thực vật làm tăng diện tích đất trống đồi núi trọc ở đây
Cần tăng cường tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức của nhân dân về môi trường Áp dụng một số biện pháp kỹ thuật như xây dựng hố xí hợp vệ sinh, đảm bảo khoảng cách giữa chuồng trại gia súc đối với nguồn nước từ 8m trở lên, bố trí chuồng trại gia súc ở cuối hướng gió chính đối với nhà ở; Sử dụng các dạng năng lượng sạch, năng lượng mới phục vụ sinh hoạt như bếp ít khói, hầm khí Biogas, hố xử lý nước thải để cải thiện chất lượng môi trường ở nông thôn
Trang 2IH HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG BIỂN
-Chế độ gió: chia thành 2 mùa rõ rét
Mùa Đông từ tháng 10 đến tháng 3,ngoài khơi gió chủ yếu hướng Đông và Đông Bắc với vận tốc 7-Êm/s, ven bờ gió thổi theo hướng Tây Bắc đến Đông Bắc
Mùa Hè từ tháng 4 đến tháng 8 cũng có sự phân hóa hướng gió
và tốc độ gió giữa vùng ven bờ và vùng ngoài khơi Ngoài khơi gió Nam và Đông Nam, ven bờ gió Tây Nam và Đông Nam Vận tốc
~7m/s
Bão thường xảy ra từ tháng 8 đến tháng II Chủ yếu là tháng 9 đến tháng 10 Bão đổ bộ thường gây nước dâng, sóng lớn ảnh hưởng mạnh và sâu vào bờ làm xói lỡ bờ biển, bờ vùng cửa sông
-Mưa: Lượng mưa trung bình năm ở Quảng Bình biến động từ
1800 mm đến 2700 mm tuỳ theo vùng nhưng phân bố không đều theo thời gian.Mùa mưa Quảng Bình tập trung vào các thang 9,10,11 chiếm tới 65-70% lượng mưa cả năm Trong điều kiện địa hình đốc, sông ngắn nên mùa mưa ở đây thường gây lũ lụt,dòng chảy lớn Do cấu tạo bở rời của yếu tố địa chất ven bờ biển, vùng cửa sông thì lũ lụt là một nguyên nhân gây xói lở nghiêm trọng
*Chế độ hải văn: Biển Quảng Bình có chế độ bán nhật triều không đều Hầu hết các ngày trong tháng đều có 2 lần nước lớn và 2 lần nước ròng Biên độ thuỷ triều quan trắc được nằm trong khoảng 0/75-1,5m, nước dâng trong bão với cường độ 2-3m vẫn có thể xảy
ra
Sóng biển có trong những ngày có gió mùa, chiều cao I-3" tân suất xuất hiện sóng chủ yếu vào mùa đông nhất là mùa mưa, sóng hướng Đông tần suất >50%, mùa hè hướng Đông Nam có tân suất 60%
Chế độ hải lưu bị chỉ phối theo quy luật biển Vịnh Bắc Bộ Dòng hải lưu lạnh xuất hiện trong mùa gió Đông Bắc chảy từ Bắc về Nam với vận tốc 0,9-I,8km/h Ở tầng mặt (3m) đạt 3§cm/s Vì thế bờ biển Quảng Bình chịu ảnh hưởng của quá trình xói lở bồi tụ xen kẻ
35
Trang 3Ngoài ra còn xuất hiện dòng chảy ven biển và cửa sông do ảnh hưởng của thuy triều Vận tốc và hướng dòng chảy này cũng ảnh hưởng rất lớn đến khả năng bồi tụ, xói lở bờ tại vùng cửa sông
*Đặc điển của quá trình bờ: Lớp vỏ thổ nhưỡng ven biển Quảng Bình chủ yếu là cát, đất mặn, đất bồi tụ, phù sa bở rời rất dễ bị biến động do các yếu tố ngoại cảnh Cát ở bờ biển có cấp hạt 250 micron chiếm tới 30%, kết cấu yếu, lớp phủ thực vật cũng rất thưa thớt vì thế rất thuận lợi cho hiện tượng cát bay, cát chảy, xói lở, bồi
tụ
Sự vận chuyển cát dọc biển ven bờ ở Quảng Bình vào loại lớn nhất Việt Nam.Tổng lượng vận chuyền là 3.200.000m”/năm trong đó lượng vận chuyển từ Bắc đến Nam là 1.900.000m/năm, từ Nam đến Bắc là I.300.000m”/năm Trong năm mùa cát trôi kéo dài từ tháng 9 đến tháng 2, mùa cát đứng từ tháng 3 đến tháng 8
Ngoài ra, theo kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học cho thấy mực nước biển tăng l-2mm/năm làm tăng thêm các tai biến vùng ven biển do các yếu tố quá trình bờ
*Hiện tượng di chuyển cát và xói lở bờ biển
Đây là đặc trưng cơ bản của các hiện tượng môi trường vùng ven biển Quảng Bình
Hầu hết bờ biển tại các cửa sông ở Quảng Bình déu đã xảy ra hiện tượng xói lở Nguyên nhân có thể là do đòng chảy lũ (Cửa sông Dinh, Lý Hoà-I0/1985); nước dâng và sóng lớn trong bão (Cảnh Dương 1985-1989, Bắc cửa Gianh 1985 .) hoặc do gió mùa Đông Bắc mạnh (cửa Lý Hoà 1995-1996, Thanh Trạch - Nam cửa Gianh 10/1995) v.v Riêng ở cửa Nhật Lệ, tuy quá trình xói lở xảy ra
không nghiêm trọng nhưng diễn ra rất dai dẳng Bãi cát bán đảo Bảo
Ninh thường bị xói lở - bồi tụ xen kẻ làm thay đổi luồng lạch vùng cửa sông, bãi tắm Nhật Lệ cũng là nơi độ sâu không ổn định làm giảm đáng kể chất lượng về mức độ an toàn Bờ biển xã Quang Phú (Bắc cửa Nhật Lệ) cũng xảy ra quá trình xói lở với tốc độ 0,I- 0,2"/nam Theo y kién cua nhân dân địa phương, trên một đoạn bờ dài 2,5 - 3 km, trong vòng 50 năm trở lại đây, biển đã lấn sâu vào đất liền hơn 10 m với đường bờ dốc đứng 2-5m
Vì quá trình xói lở bờ biển xảy ra tập trung ở các đoạn bờ ven cửa sông nơi dân cư sống tập trung nên ảnh hưởng của nó đến kinh tế đân sinh là rất nghiêm trọng
*Cát di động ở lục địa ven bờ biển:
Đã có một vài công trình khảo sát,nghiên cứu hiện tượng cát di động vùng ven biển Quảng Bình Gần đây nhất vào năm 1996-1997,
dự án “Đánh giá sự cố môi trường biển lấn, cát bay, cát chảy vùng cát ven biển Quảng Bình” đã tập trung nghiên cứu một số khía cạnh
về vấn đề cát đi động ở dải cát ven biển Vấn để môi trường ở đây là hiện tượng cát bay do gió Tây Bắc, Đông Bắc xảy ra trong mùa lạnh vào những ngày hanh khô và cát chảy ở các suối từ cồn cát đổ vào đất liền trong mùa mưa
Trang 4Kết quả quan trắc cho thấy lượng cát di động trên bề mặt các cồn cát không có thực vật che phủ phụ thuộc rất lớn vào vận tốc gió và độ
-GIió cấp 3 có lợp cỏ thưa thớt cát di động không đáng kể
Một vài dẫn liệu trên đây cho thấy rằng tình hình cát bay trên các trắng cát trống khá lớn, nếu cát được lớp thực bì che phủ tốt thì
cát ven biển Quảng Bình
Mặc đù con số chưa nêu đầy đủ tình trạng cát bay ở Quảng Binh nhưng nó cũng cho thấy một bức tranh chung về loại tai biến môi trường này ở đây
37
Trang 5«i Đóng tàu thuyền
gm SửỬa chữa ôtô
Trang 6Hiện tượng cát chảy cũng đang là một mối đe dọa đối với dân cư nơi có suối từ vùng cát chảy ra Do lượng mưa lớn và tập trung vào mùa mưa nên các suối cạn từ vùng cat ven biển nhanh chóng day nước và tạo được dòng chảy mạnh cuốn trôi cát đưa vào lục địa hình thành các bãi cát phủ lên lớp đất tại chỗ Mặc dù đã đầu tư tốn kém
để bốc xúc lớp cát này nhưng hiện nay vẫn tồn tại những bãi cát rộng
có nơi đến 70 ha (xã Võ Ninh) Đa số các bãi cát này là 20-30 ha
Bảng 15: Diện tích cát lấp do cát chảy ở các suối
Nguồn: Dự án sự cố môi trường biển lấn, cát bay, cát chảy vùng cát ven biển Quảng Bình
Tình trạng cát lấn chiếm nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn các xã dọc Quốc lộ 1 thuộc 2 huyện Lệ Thuỷ và Quảng Ninh Ở đây cồn cát cao, độ dốc lớn và dãi cát khá rộng, hình thành nhiều suối, đất canh tác và khu dân cư lại ở dưới thấp nên rất dễ bị cát lấp Cũng do địa thế cồn cát cao nên về mùa khô cây trồng trên các đồi cát này thường
bị chết hạn, gây trở ngại lớn trong việc trồng rừng phòng hộ ở các địa phương này
b.Tác động của con người đến môi trường biển và biển ven bờ: Tính đến năm 1998, đân số vùng ven biển Quảng Bình có 230
400 người, chiếm 28,2% dân số của tỉnh Mật độ dân số chung toàn vùng là 374 người/km” song thường tập trung ở các cửa lạch (600 người/ km?', thành thị (442 người/ km? ) Mật độ dân số ven biển ở phía Nam và Bắc tỉnh cũng có sự khác nhau, ở Bắc tỉnh mật độ dân
số thường cao hơn
38
Trang 7Lao động xã hội vùng ven biển tập trung vào các ngành đánh bắt,nuôi trồng và chế biến thuỷ sản, thương mại dịch vụ
*Đánh bắt hải sản:
Sản lượng đánh bắt hải sản trong một số năm như sau:
Bang 16: Sản lượng đánh bắt hải sản qua các năm ( Tấn)
Đội tàu khai thác hải sản toàn tỉnh hiện có 3.125 tàu thuyền gắn máy với tổng công suất 59.900 cv Tuy nhiên việc vươn khơi, tập trung khai thác các đối tượng có giá trị xuất khẩu đang mới ở giai đoạn đầu vì hiện tại chỉ có khoảng 20% số tàu thuyền có thể đi khơi đánh bắt được 29,4% tổng sản lượng khai thác
.* Nuôi trồng thuỷ sản:
Nghề nuôi trồng thuỷ sản ở Quảng Bình bao gồm nuôi thuỷ sản nước ngọt, nước lợ và nước mặn dưới các hình thức nuôi ao hồ, nuôi lồng
Cu thể:
- Diện tích nuôi trồng: +Diện tích mặn,lợ: 6357 ha
+Diện tích nước ngọt: 523 ha
+Số lồng bè nuôi cá: 880 lồng trong
đó có 58 lồng nước mặn
- Sản lượng nuôi trồng:+Tổng sản lượng: 1308 tấn
Trong đó: +Tôm: I55 tấn
+Cua: 95 tấn +Cá: 1058 tấn trong đó cá lồng 270 tấn
Việc nuôi trồng thuỷ sản hiện nay còn gặp nhiều khó khăn như thiếu vốn, thiếu kỹ thuật nên phổ biến chỉ áp dụng phương thức nuôi quảng canh, năng suất và hiệu quả thấp
Các vấn để môi trường nảy sinh trong đánh bắt và nuôi trồng thuỷ hải sản hiện nay là:
- Lực lượng tàu thuyền nhỏ khai thác ven bờ và vùng lộng quá lớn làm cho nguồn lợi bị cạn kiệt, tình trạng sử dụng chất nổ, chất độc, xung điện và ánh sáng cường độ mạnh để khai thác thuỷ sản còn
Trang 8tiếp diễn gây nguy cơ tổn hại đến nguồn lợi thuỷ sản và môi trường sinh thái của các vùng nước
-Việc đánh bắt các đối tượng trong mùa sinh sản còn phổ biến gây tác hại rất lớn đến năng suất sinh học và nguồn lợi trên biên
- Môi trường sinh thái mặt nước nuôi thuỷ sản đang bị de doa, dịch bệnh rất đễ xảy ra vì sự ô nhiễm do thiếu quy hoạch vùng nuôi,
hệ thống kênh mương trao đổi nước không được thiết kế đúng kỹ thuật
` *Các tác động khác:
Ô nhiễm nước biển ven bờ ở Quảng Bình chưa đến mức báo động nhưng khối lượng chất thải chuyển tải từ đất liền ra ngày càng lớn,nếu không có biện pháp khắc phục phòng ngừa thì chỉ trong một thời gian ngắn chất lượng nước biển và biển ven bờ cũng sẽ bị suy giảm
-Sự cố dầu tràn trên biển Quảng Bình chưa xảy ra song ở một SỐ bãi tập kết tàu thuyền hiện nay chất thải dầu mỡ đang ngày một tăng Tại 2 bãi đậu tàu thuyển Thanh Trạch (Bố Trạch) và Đồng Hới, ngoài lực lượng tàu thuyền trong tỉnh còn có hàng trăm tàu thuyền của các tỉnh bạn Quảng Ngãi, Bình Định thường xuyên neo đậu Lượng chất thải sinh hoạt, dầu mỡ từ các tàu này thải ra hàng ngày khá lớn làm suy giảm chất lượng môi trường nước sông và ven biển Các hộ nuôi tôm cua ở Phú Hải,Diêm Hải (Thị xã Đồng Hới) đều cho rằng các chất thải của tàu thuyền trên sông Nhật Lệ đã ảnh hưởng đến việc nuôi trồng thuỷ sản của họ
- Chất thải rắn và nhất là nước thải sinh hoạt Thị xã Đồng Hới đang là vấn đề chưa giải quyết được Hiện tại nước thải của Thị xã chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường trước khi thải ra biển Các khu công nghiệp dịch vụ có ảnh hưởng đến môi trường nước ven biển hiện nay là Xí nghiệp chế biến súc sản, Xí nghiệp Đông lạnh xuất khẩu, các khách sạn (ven sông Nhật Lệ), Cảng Dầu, Cảng
Cá (ven Sông Gianh) Các nhà hàng, nhà nghỉ trong khu vực bãi tắm Nhật Lệ tuy đã có các công trình xử lý chất thải song chất lượng nước thải, rác thải sinh hoạt có lúc, có nơi không được kiểm soát chặt chế;nhận thức về môi trường của một số chủ cơ sở chưa đầy đủ Vì vậy vấn đề ô nhiễm môi trường nước biển ven bờ cũng là vấn đề cần được tiếp tục quan tâm
- Ô nhiễm nước biển ven bờ do các hoá chất nông nghiệp: phân bón hoá học và thuốc BVTV đang được sử dụng nhiều trên đồng ruộng Mặc dù chưa có tài liệu nào phân tích về dư lượng thuốc BVTV và phân hóa học nhưng đại bộ phận khu vực sử dụng các hoá chất này đều nằm trên lưu vực các sông Do địa hình dốc, sông ngắn nên chắc chắn các hóa chất này khi đổ ra biển chưa thể hoàn thành quá trình phân giải thành các hợp chất không độc Vì vậy cũng phải xem đây là một nguồn gây ô nhiễm cho nước sông và nước biển ven
bờ
40
Trang 9- Ngoài các tác nhân gây ô nhiễm trên đây, nguồn nước sông Ở
a,bùn cát khá lớn.Số
Quảng Bình còn đưa ra biển một lượng phù s
liệu điều tra của các trạm thuỷ văn,lượng phù sa.bùn cát được vận chuyển ở các sông như sau:
Bảng 17: Độ đục bình quân và lưu lượng bùn cát các sông
Nguồn: Trạm dự báo và phục vụ KTTV Quảng Bình
Bảng 18: Lưu lượng bùn cát và tổng lượng bùn cát theo mùa:
Thời Tổng lượng Dòng chảy bùn cát Dòng chảy bùn cát
Trạm |lũ bùn Bùn cát ‘hang Luu Tổng | Lưu Tổng lượng
Nguồn: Trạm dự báo và phục vụ KTTV Quảng Bình
Một lượng bùn cát này được kết lắng tại đồng bằng, còn lượng lớn theo các cửa sông đổ ra biển gây ảnh hưởng đến sinh vật biển và chất lượng môi trường ven biển
- Chế độ muối khu vực biển Quảng Bình trong mùa hè thường cao hơn mùa đông 1%ø_ do quá trình bốc hơi mạnh của khí hậu khô nóng trong mùa hè đã làm tăng độ muối ở đây, mặt khác mùa đông dòng chảy thường kỳ đem khối nước lạnh và nhạt ven bo Tay Vinh Bắc bộ xuống đồng thời chịu ảnh hưởng dòng nước lũ lục địa Bắc Trung bộ đã làm nhạt đi độ mặn nước biển trong mùa đông
Trang 10
MỘT SỐ TÀI NGUYÊN CHÍNH VÙNG VEN BIỂN QUẢNG BÌNH
i Cao lanh ¢ Sét gach ngói `
p aie 4 Thuỷ Tả | Ngư Thuỷ
M Cá hồng , cá song Ỹ Tom ham i { — 7 : saa we | ` /
€á thu, cá ngử Ỹ Tôm su, tom sắt
Trang 11Tóm lai:
-Bién Quảng Bình là khu vực tương đối giàu về trữ lượng hải sản,tuy nhiên do phương tiện đánh bắt lạc hậu nên tài nguyên hải sản vùng lộng đã cạn kiệt
-Ô nhiễm biển Quảng Bình chưa đến mức nghiêm trọng nhưng cũng đã ở giai đoạn báo động Các tác nhân gây ô nhiễm chủ yếu là chất thải sinh hoạt từ các cơ sở công nghiệp,dịch vụ ven sông, ven biển xâm nhập vào; lượng bùn cát từ dòng chảy các sông trong mùa
lũ
-Tai biến bờ biển do xói lở đã làm mất đi sự ổn định của đường
bờ và đe dọa luồng lạch giao thông thường xảy ra vào mùa có mưa lớn, gió mạnh và tập trung phần lớn tại các cửa sông
- Sự di động cát do gió trong thời kỳ mùa đông và cát chảy trong mùa mưa đã trở thành tai biến hàng năm làm mất đi hàng trăm ha đất canh tác và làm suy giảm chất lượng đất trồng trọt
-Tai biến nhiễm mặn xảy ra đối vùng đồng bằng ven sông gần biển xảy ra do nước dâng trong bão cũng làm mất nhiều đất canh tác
Vì vậy:
-Tiến ra biển là con đường phát triển kinh tế hữu hiệu trong nghề đánh bắt hải sản
-Tăng cường quản lý môi trường,kiểm soát ô nhiễm đối với các
cơ sở côngnghiệp, dịch vụ ven sông,ven biển đảm bảo các chất thải
ra môi trường đạt tiêu chuẩn cho phép
-Trồng rừng trên cát, giữ rừng đầu nguồn là biện pháp hữu hiệu bảo vệ đất, giảm thiểu các hạt rắn trôi theo đòng chảy, ngăn chặn cát bay cát chay
-Giáo dục nâng cao nhận thức môi trường cho công đồng dân cư
Trang 12IV.HIỆN TRẠNG RỪNG:
Hiện tại số liệu điều tra quy hoạch rừng Quảng Bình đang trong giai đoạn tiếp tục điều tra và xử lý Chúng tôi lấy số liệu kỳ điều tra gần đây nhất (1997) để sử dụng trong báo cáo này
A.Phân loai rừng: (tính đến năm 1997)
Bảng 19: Diện tích các loại đất lầm nghiệp
Nguồn: Sở Nông nghiệp -PTNT QB
Độ che phủ bình quân 31% Tài nguyên rừng tương đối phong phú về giống , loài
Về thực vật: có 138 họ, 401 chi và 604 loài khác nhau, đặc biệt
có nhiều loài quý hiếm đặc hữu hẹp: mun, trầm,huynh, nghiến; dưới tán rừng có nhiều loài có giá trị kinh tế như mây, song,các loại cây dược liệu
Về động vật hết sức đa dạng có 493 loài, trong đó thú 67 loài, bò sát 48 loài, chim 297 loài , cá 6l và ếch nhái 20 loài
Tổng trữ lượng gỗ khoảng 28,248 triệu mỉ với trữ lượng bình quân 120,8 m”/ha
Bảng: 20 Trữ lượng và trữ lượng bình quân rừng Quảng Bình
Trang 13B.Tác đông của con người đối với tài nguyén rung:
-Khai thác tài nguyên
triển kinh tế địa phương Tuy nhiê
hoạch, vì thế tài nguyên rừng on
khai thác đã bị kiệt quệ, nạn cháy ^
nương rẫy còn xảy ra (sẽ nói kỹ ở pha
rừng là nhu cầu đời sống nhân đân và phát
n do tình trạng khai thác thiếu quy hững vùng gần dân, thuận lợi cho rừng, tình trạng đốt rừng làm
Nguồn; Cục thống kê và Sở NN& PTNT Quảng Bình
(Sản lượng khai thác gỗ năm cao nhất 1993: 51.249 m’;
1992:45.690 m°, 1991: 45.998 m)
Trừ năm 1998 là năm thực hiện chỉ thị đóng cửa rừng tự nhiên của Thủ tướng Chính phủ Còn nhìn chung xu thế là sản lượng khai thác giảm dần đặc biệt một số lâm sản quý ngày càng khan hiếm
Diện tích rừng chiếm trên 31%, điện tích tự nhiên đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, điều tiết nước và khí hậu, bảo vệ đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán Tài nguyên rừng còn khá song phân bố không đều chủ yếu tập trung ở vùng sâu vùng Xa, địa hình hiểm trở hạn chế khả năng khai thác lâm sản khi quần thụ quá tuổi thành thục tự nhiên Tổ thành rừng đa dạng hỗn giao nhiều loại gỗ cứng, gỗ vừa và mềm phần nào ảnh hưởng đến việc chế biến các sản phẩm gỗ hoặc đòi hỏi công nghệ chế biến hiện đại
Lâm đặc sản dưới tán rừng tuy đa dạng và phong phú về chủng loại nhưng phân tán một số loài có trữ lượng thấp
Ngoài những thiệt hại do khai thác không đúng quy trình, một nguyên nhân khác có tác động làm suy kiệt vốn rừng và việc phá rừng làm nương rẫy, cháy rừng và khai thác trái phép như dẫn ra trong bảng dưới đây:
Trang 14Bang 22: Thiét hai rừng hàng năm
Nguồn: Chỉ cục kiểm lâm QB
Năm I998 số vụ cháy khá lớn do hạn hán kéo dài Trong tổng số
325 ha bị cháy trong đó có 154 ha rừng trồng và 197 ha trắng cỏ cây
-Tình trạng khai thác gổ trái phép vẫn còn xảy ra khá phổ biến,
có vụ nghiêm trọng như vụ khai thác gổ lim ở Tuyên Hoá
-Công nghiệp chế biến gổ chưa phát triển nên không tận dụng được gỗ, gây lãng phí do loại thải nhiều
-Công tác bảo vệ rừng tuy đã có nhiều cố gắng, song lực lượng kiểm lâm mỏng, công tác giao đất g1ao rừng chưa thực hiện được bao nhiêu nên rừng chưa thực sự có chủ, chưa tạo được ý thức bảo vệ rừng trong đại bộ phận nhân dân
Trang 15
V ĐA DẠNG SINH HỌC
Quảng Bình nằm trong đơn vị sinh học Bắc Trường Sơn, nơi có khu
hệ thực vật, động vật phong phú, đa dạng và độc đáo với nhiều nguồn gen quýhiếm Đặc trưng cho đa dạng sinh học ở Quảng Bình là khu vực Phong Nha -Kẻ Bàng, đây không những là một mẩu của hệ sinh thái điển hình không chỉ ở Quảng Bình mà của Miền Trung
1/ Khu hê thực vật:
Do hệ quả đặc biệt của địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, thuỷ văn nơi dây là giao thoa của hai luồng thực vật từ Bắc xuống, Nam lên tạo nên một khu hệ thực vật độc đáo, đa dạng về giống và loài
Khu hệ thực vật ở Quảng Bình mà đặc trưng là khu bảo tồn thiên nhiên Phong Nha bước đầu thống kê cho thấy: I38 họ, 40I chi va 640 loàithực vật bậc cao có mạch
Nguồn: Dự án hiện trạng môi trườngkhu BTTN Phong Nha
Một số loài tuy ít nhưng đóng vai trò quan trọng hoặc về tổ thành vùng, hoặc về trử lượng gỗ có giá trị kinh tế như: Họ Đầu, họ Thị, họ Cau Dừa, họ Bồ hòn
Thực vật quý hiếm có I8 loài được ghi vào sách đỏ Việt Nam trong
số này có 13 loài thân gổ
Trang 16Bảng 24: Các loài thực vật quý hiếm đã được ghỉ vào sách do Việt Nam (Xếp thứ tự A, B,C theo tên khoa học)
1 Annamocarya (Dode) leroy - cho dai Rao thương,cổ khu G V
2 Aquilaria crassna Pierre ex Leconmte- Khap ving BTTN G E
3 Burretiodendron tonkinensis (A.Chev) Cổ khu, hang En G Vv
4 | Calamus platyacanthus Warb-Song mat Phé bién toan ving Lg Vv
5 Chukrasia tabularis Juss - Lat hoa U bò, cổ khu và Nam G K
hang En 6_ | Dacrydium pierrei Hickel -Hoàng dan giả Cổ khu và giáp biên G K
giới
7 Drynaria fortunei (O.Kuntze ex Mett) | Phân bố rộng nhưng Bi T
§ Fokienia Hodginsii (Dunn) Ahenry et U Bò, Côtaroum, G K
9 | Helicia grandifolia lecomte - cheo thuy la Núi Macma G R
to
10 | Nelientha suavis Pierre - Sang Rãi rác trong các G K
triển núi đất xen kế núi đá vôi
11 | Monrida offianalia F.C.How - Ba kích Rãi rác trong các L K
triển núi đất xen kẽ núi đá vôi
12 | Nageia fleuryi (Hikel) de Laub - Kim giao Rao thuong, hang G V
Vòm
13 | Platanus kerrii Gaognep - Chò nước Rao thuong,hangEn G T
14 | Rauvolfia verticilllata (lour) Bail-Ba| Rừng thừ sinh,gần
K:Biết bị đe dọa,không chính xác E: Nguy cấp đang bị đe dọa, tuyệt chủng T: Cây thân thảo V: Sẽ nguy cấp, có thể bị tuyệt chủng
L: Cây thân leo Lg: Cay thân leo gỗ Bi: Cây bồ sinh
47
R: Có thể bị chuy cấp
T: Bi de doa
Trang 17Ngoài ra có 4 loài thực vật mới được phát hiện trong quá trình nghiên cứu tại Phong Nha- Kế Bàng của nhiều tác giả Do giá trị kinh tẾ cao của chúng và mức độ đe dọa tuyệt chủng do khai thác trong để tài khoa học “Đánh giá hiện trạng môi trường khu bảo tồn thiên nhiên Phong Nha đã để nghị bổ sung vào sách đỗ Việt Nam: Mun sọc, Sao mặt quỷ, Dau ke va Cho vay”
2/Khu hé dong vat:
Khu hệ động vật cũng hết sức đa dạng và phong phú:
67 loài thú trong 15 họ và I1 bộ, trong đó có 26 loài được mô tả trong sách đỏ Việt Nam
48 loài bò sát trong 15 họ và 2 bộ, 20 loài ếch nhái trong 6 họ và l
bộ, 6l loài cá trong 23 họ và II bộ, 297 loài chim trong 50 họ và 18 bộ
Số lượng các loài thú trong các họ không chênh lệch nhau nhiều số loài trong bộ linh trưởng chiếm 40,9% tổng số loài và phân loài ở Việt Nam đứng hàng số l so với các khu bảo tồn khác trong toàn quốc Có 3 loài và phân loài đặc hữu hẹp đó là: Voọc Hà Tĩnh, Chà Vá chân nâu và Vượn Kisi và một loại đặc hữu của Đông dương: Culi nhỏ
Khu hệ cá nước ngọt của khu vực Phong Nha - Kế Bàng phong phú nhất so với các nơi khác của Việt Nam Có 35 loài có giá trị kinh tế, I3 loài có hình thái màu sắc hấp dẫn, 4 loài đặc hữu chỉ thấy ở Quảng Bình
và các tỉnh lân cận bổ sung thêm một loài mới cho Việt Nam (HEMMIEN SINSIS) va phát hiện một loài mới cho khoa học (CHELA
QUANG BINHENSIS)
Khu hệ chim cũng rất phong phú có l5 loài trong sách đỏ Việt Nam, trong đó có 6 loài thuộc họ trĩ, đặc biệt có 3 loài đặc hữu ở nước ta: Gà lôi lam đuôi trắng, Gà lôi lam màu den và Tri sao
Trong những đợt khảo sát gần đây các nhà khoa học liên tiếp phát hiện nhiều mẫu vật của 2 loài thú mới đó là: Sao la và Mang lớn, nhiều loài thú lớn có ý nghĩa toàn cầu như gấu, hổ cũng đã được phát hiện ở Phong Nha - Ké Bang
Theo đánh giá của một số nhà khoa học như: Giáo sư Phạm Nhật,
Đỗ Tước thì khu hệ động vật Quảng Bình nói chung và khu vực Phong Nha - Kế Bàng nói riêng không những phong phú về thành phần loài
mà còn đa dạng về các yếu tố địa lý động vật, đặc biệt là yếu tố động vật đặc hữu hẹp Quảng Bình là vùng đất cực Nam của các loài động vật
ôn đới và cũng là cực Bắc của các loài động vật nhiệt đới