Bằng nhữngphương pháp như: phương pháp điều tra, phương pháp thống kê, mô tả,phương pháp dự báo xu hướng..., đề tài luận văn tập trung vào giải quyếtnhững vấn đề chính sau: Thứ nhất, hệ
Trang 1Đề tài luận văn nghiên cứu về vấn đề "Quản lý Nhà nước đối với hoạtđộng dịch vụ chứng khoán của các Công ty Chứng khoán Việt Nam" Đề tàixuất phát từ thực tế phát triển các hoạt động dịch vụ chứng khoán của cácCông ty chứng khoán đóng góp phần lớn vào sự phát triển của Công ty chứngkhoán nói riêng, thị trường chứng khoán nói chung, cũng như đóng góp vào sựphát triển kinh tế - xã hội.
Trong những năm qua, Nhà nước đã có nhiều cơ chế, chính sách nhằmquản lý và đẩy mạnh hoạt động dịch vụ chứng khoán ở các Công ty chứngkhoán Song hoạt động dịch vụ chứng khoán ở các Công ty chứng khoán chưathực sự đạt hiệu quả cao, mà một trong những nguyên nhân chủ yếu của tìnhtrạng này là do công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động dịch vụ chứngkhoán ở các Công ty chứng khoán còn bộc lộ nhiều bất cập Bằng nhữngphương pháp như: phương pháp điều tra, phương pháp thống kê, mô tả,phương pháp dự báo xu hướng , đề tài luận văn tập trung vào giải quyếtnhững vấn đề chính sau:
Thứ nhất, hệ thống hóa và phát triển những vấn đề lý luận cơ bản vềQuản lý Nhà nước đối với hoạt động dịch vụ chứng khoán của các Công tyChứng khoán Việt Nam;
Thứ hai, đánh giá thực trạng quản lý Nhà nước đối với hoạt động dịch
vụ chứng khoán của các Công ty Chứng khoán Việt Nam, từ đó chỉ rõ ưuđiểm, hạn chế và nguyên nhân;
Thứ ba, đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý Nhànước đối với hoạt động dịch vụ chứng khoán của các Công ty Chứng khoánViệt Nam
Với những nội dung nghiên cứu trên, đề tài luận văn có ý nghĩa cả về lýluận và thực tiễn góp phần nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với hoạtđộng dịch vụ chứng khoán của các Công ty Chứng khoán Việt Nam
Trang 2Dissertation topic about "the State Administration for securitiesservices activities of the Vietnam Securities Company." Themes derived fromthe actual development of the securities activities of the service securities firmcontributed largely to the development of particular securities companies,securities markets generally, as well as contribute toeconomic development -society.
In recent years, the State has many mechanisms and policies tostrengthen management and securities services in the securities firm Song ofsecurities services activities in the securities firm is not really effective, butone of the main causes of this condition is due to the State management overactivities in securities services the securities firm also revealed manyshortcomings By such methods: survey methods, statistical methods,descriptions, methods of forecasting trends dissertation topic focused onaddressing the main issues:
First, codify and develop the basic theoretical issues on the StateAdministration for securities services activities of the Vietnam SecuritiesCompany;
Second, assess the present situation of State management over the operation ofthe service securities Vietnam Securities Company, which indicateadvantages, limitations and causes;
Third, the proposed measures to strengthen the State management overthe operation of the service securities Vietnam Securities Company With theresearch content, dissertation topic mean both theory and practice contributed
to improve the efficiency of State management over the operation of theservice securities Securities Company in Vietnam
Trang 3Để hoàn thành luận văn này, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, tác giảcũng nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của các thầy cô trongtrường, cán bộ quản lý khoa Sau đại học, các bạn bè, đồng nghiệp trong suốtquá trình học tập và công tác.
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới:
- Cô giáo hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên;
- Các thầy, cô và cán bộ quản lý khoa Sau Đại học, trường Đại họcThương Mại
- Tập thể Lãnh đạo và cán bộ Công ty cổ phần Chứng khoán An Bình;Công ty cổ phần Chứng khoán Liên Việt…
- Các nhà chuyên môn và bạn bè đã cung cấp tài liệu, giúp đỡ tác giảtrong suốt quá trình hoàn thiện luận văn này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng hoàn thiện nội dung nghiên cứu bằng tất
cả sự nhiệt tình và năng lực của bản thân, song luận văn không tránh khỏinhững thiếu sót Tác giả rất mong nhận được các ý kiến đóng góp của cácthầy, cô, các nhà chuyên môn, bạn bè và bạn đọc để tác giả hoàn thiện hơnnữa luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Hoàng Thị Tuyết Trinh
Trang 4MỤC LỤC
TRANG Lời cam đoan
Tóm lược
Lời cảm ơn
Mục lục i
Danh mục bảng biểu iii
Danh mục sơ đồ hình vẽ iv
Danh mục từ viết tắt v
LỜI MỞ ĐẦU 1
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài luận văn 1
1.2 Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài 2
1.3 Mục đích nghiên cứu 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu 3
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 4
1.7 Kết cấu của Luận văn 5
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG DVCK CỦA CÁC CTCK VÀ QLNN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DVCK CỦA CÁC CTCK .6 1.1 Công ty Chứng khoán và các hoạt động dịch vụ chứng khoán của các Công ty chứng khoán 6
1.1.1 Khái niệm Công ty chứng khoán 6
1.1.2 Mô hình hoạt động của Công ty chứng khoán 7
1.1.3 Khái niệm dịch vụ chứng khoán 8
1.1.4 Các hoạt động Dịch vụ Chứng khoán của Công ty chứng khoán 8
1.1.5 Vai trò của Dịch vụ Chứng khoán 12
1.2 Quản lý Nhà nước đối với hoạt động Dịch vụ Chứng khoán của các Công ty Chứng khoán 14
1.2.1 Khái niệm về Quản lý Nhà nước đối với hoạt động Dịch vụ Chứng khoán của các Công ty Chứng khoán 14
1.2.2 Mục tiêu Quản lý Nhà nước đối với hoạt động Dịch vụ Chứng khoán của các Công ty Chứng khoán 15
1.2.3 Chức năng và nhiệm vụ quản lý Nhà nước đối với các hoạt động Dịch vụ Chứng khoán của các Công ty Chứng khoán 16
1.2.4 Các nguyên tắc cơ bản trong quản lý Nhà nước đối với hoạt động Dịch vụ Chứng khoán của các Công ty Chứng khoán 18
Trang 51.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý Nhà nước đối với hoạt
động Dịch vụ Chứng khoán của các Công ty Chứng khoán 20
1.2.6 Các biện pháp quản lý Nhà nước đối với hoạt động Dịch vụ Chứng khoán của các Công ty Chứng khoán 21
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 25
2.1 Tổng quan về các công ty chứng khoán và hoạt động dịch vụ chứng khoán của các công ty chứng khoán Việt Nam 25
2.1.1 Giới thiệu tổng quan về các công ty chứng khoán Việt Nam 25
2.1.2 Thực trạng hoạt động dịch vụ chứng khoán của các công ty chứng khoán Việt Nam 27
2.2 Thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động dịch vụ chứng khoán của các Công ty Chứng khoán Việt Nam 37
2.2.1 Thực trạng ban hành các văn bản quản lý nhà nước đối với hoạt động dịch vụ chứng khoán của các Công ty Chứng khoán Việt Nam 37
2.2.2 Thực trạng cấp phép, đình chỉ, thu hồi giấy phép các CTCK về việc cung cấp dịch vụ 43
2.2.3 Thực trạng tổ chức quản lý việc công bố thông tin khi có yêu cầu đối với các CTCK 53
2.2.4 Thực trạng thanh tra, giám sát đối với hoạt động dịch vụ chứng khoán của các Công ty Chứng khoán Việt Nam 57
2.3 Đánh giá hoạt động quản lý Nhà nước đối với hoạt động dịch vụ chứng khoán của các Công ty Chứng khoán Việt Nam 60
2.3.1 Kết quả đạt được 60
2.3.2 Những hạn chế còn tồn tại 62
2.3.3 Cơ hội và thách thức đối với hoạt động dịch vụ chứng khoán của các Công ty Chứng khoán Việt Nam 64
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QLNN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 66
3.1 Định hướng phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2011 -2020 66
3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác QLNN đối với hoạt động dịch vụ chứng khoán của các Công ty Chứng khoán Việt Nam 67
3.2.1 Giải pháp đối với Chính phủ và các cơ quan quản lí nhà nước đối với TTCK 67
3.2.2 Giải pháp đối với các công ty chứng khoán Việt Nam 72
3.2.3 Giải pháp đối với Hiệp hội các tổ chức kinh doanh chứng khoán 84
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 62 Bảng 2.2: Các DVCK mà các CTCK cung cấp hiện nay
3 Bảng 2.3: Một số văn bản QLNN đối với hoạt động DVCK của các CTCK
4 Bảng 3.1: Danh sách các CTCK đã thực hiện tách bạch tiền của Nhà đầu tư với tiền của CTCK
Trang 7DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
1 Biểu đồ 2.1: Biểu đồ vốn điều lệ của các CTCK lớn
2 Biểu đồ 2.2: Thị phần môi giới năm 2011 của các CTCK tại SGDCK Hồ Chí Minh
3 Biểu đồ 2.3: Thị phần môi giới năm 2011 của các CTCK tại SGDCK Hà Nội
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài luận văn
Quản lý Nhà nước về lĩnh vực chứng khoán và TTCK Việt Nam đang
là vấn đề cấp thiết hiện nay do TTCK đóng một vai trò rất quan trọng trong sựphát triển của nền kinh tế TTCK giúp huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế,cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng, cung cấp khả năng thanh khoảncho các chứng khoán, giúp Chính phủ thực hiện các chính sách vĩ mô…
Hiện nay các đề tài nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với hoạt độngcủa TTCK nói chung khá nhiều và phong phú Ngoài luận văn, chuyên đề củasinh viên, học viên còn có cả các bài nghiên cứu, phân tích của các chuyên gia
về lĩnh vực này Các đề tài nghiên cứu QLNN về hoạt động dịch vụ chứngkhoán của các CTCK là một bộ phận của QLNN về TTCK Các bài nghiêncứu phân tích chuyên sâu về lĩnh vực này còn khá ít Về cơ bản các đề tài, bàinghiên cứu này đã nêu ra được thực trạng của QLNN về DVCK của cácCTCK hiện nay, những thuận lợi và khó khăn đều được phân tích mổ xẻ vàđưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác QLNN về DVCK của cácCTCK nhưng vẫn là các giải pháp chung chung, và còn chờ nhiều xét duyệtcủa UBCK Nhà nước để đưa vào vận dụng thực tế Hơn nữa chưa có côngtrình nghiên cứu chuyên sâu về QLNN đối với riêng hoạt động dịch vụ của cácCTCK mà chỉ nghiên cứu chung trong đề tài rộng hơn là QLNN đối vớiTTCK nói chung
Do đó đề tài nghiên cứu này nhằm mục đích đi sâu tìm hiểu thực trạngcủa công tác QLNN đối với hoạt động dịch vụ của các CTCK, nêu mặt làmđược, chưa làm được, những thuận lợi, khó khăn trong công tác quản lý Đồngthời đưa ra được giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa công tác QLNN đối vớihoạt động DVCK của các CTCK Giúp hoạt động của các CTCK tuân thủđúng pháp luật, Nhà nước có thể kiểm soát, giám sát được tốt hơn, bảo vệ tối
Trang 10đa quyển lợi của Nhà đầu tư cũng như sự phát triển lành mạnh của các dịch vụchứng khoán tại các CTCK của Việt Nam.
Một số các đề tài NC trước đây về lĩnh vực QLNN về TTCK (xem danh mục tài liệu tham khảo).
1.2 Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài
TTCK Việt Nam không hình thành một cách tự phát mà xuất phát từchủ trương của Đảng và Nhà nước Nhà nước đóng vai trò là người xây dựng
và tạo lập thị trường Bởi vậy Nhà nước cũng là chủ thể quản lý mọi hoạt độngcủa TTCK theo yêu cầu của các quy luật kinh tế, đảm bảo tính công khai,minh bạch của thị trường Đó là yêu cầu mang tính khách quan, xuất phát từchức năng nhiệm vụ QLNN
Việc QLNN về TTCK nói chung và QLNN về hoạt động dịch vụ củacác CTCK nói riêng có vai trò vô cùng quan trọng cho sự phát triển lành mạnh
và ổn định của thị trường Dịch vụ của các CTCK là khâu then chốt thúc đẩy
sự phát triển của TTCK Nó liên quan trực tiếp đến quyền lợi của các tổ chức,
cá nhân tham gia thị trường Nếu quản lý không tốt thị trường sẽ bị nhiễu loạn,các CTCK hoạt động cạnh tranh không lành mạnh, lách luật để thực hiện cácdịch vụ chưa được UBCK Nhà nước cho phép Gây ảnh hưởng trực tiếp đếnquyền lợi của Nhà đầu tư và sự phát triển ổn định của thị trường Hàng loạtcác sai phạm liên quan đến cung cấp dịch vụ của các CTCK trong thời gianvừa qua được UBCK Nhà nước xử lý, đặc biệt số lượng tăng lên gấp nhiều lầntrong các năm gần đây gây lên những vụ kiện tụng của NĐT đối với CTCK vàCTCK đối với NĐT đã dấy lên hồi chuông về QLNN về các hoạt động này
Để tránh những tình trạng trên còn tiếp diễn xảy ra trên thị trường, gây ảnhhưởng trực tiếp đến NĐT, CTCK nói riêng và toàn bộ TTCK nói chung,QLNN cần có các biện pháp quyết liệt, cụ thể và sát sao hơn nữa
Với mục đích đi sâu tìm hiểu những vấn đề về QLNN đối với hoạt độngdịch vụ chứng khoán, phân tích các mặt làm được, chưa làm được và nêu ra
Trang 11các giải pháp hoàn thiện công tác QLNN về hoạt động dịch vụ của các CTCK
tại Việt Nam, tôi đã chọn đề tài luận văn là: “Quản lý Nhà nước đối với hoạt động dịch vụ chứng khoán của các Công ty chứng khoán Việt Nam”.
1.3 Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hoá và làm rõ một số một số nội dung cơ bản về Dịch vụchứng khoán ở các CTCK, và QLNN đối với các hoạt động Dịch vụ chứngkhoán của các CTCK
Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động QLNN đối với các hoạt độngDịch vụ chứng khoán của các CTCK Việt Nam trong thời gian qua, từ đó chỉ
ra các kết quả đạt được và hạn chế
Đề xuất giải pháp hoàn thiện QLNN đối với các hoạt động Dịch vụchứng khoán của các CTCK Việt Nam
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên phương pháp điều tra, thống kê, so sánh, phân tích, tổnghợp, dự báo để đưa ra mặt làm được và những mặt còn tồn tại, nghiên cứu đưa
ra các đề xuất cụ thể, nhằm hoàn thiện công tác QLNN đối với các hoạt độngDVCK của các CTCK Ngoài ra luận văn còn kế thừa các kết quả nghiên cứu,tài liệu khoa học, sách báo, các website của các CTCK, cơ quan QLNN vềchứng khoán và thị trường chứng khoán
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là hoạt động QLNN đốivới các hoạt động dịch vụ của các CTCK tại Việt Nam Cụ thể là các văn bảnluật, các thông tư hướng dẫn, các quy định, quy chế về các dịch vụ của cácCTCK Công tác quản lý của Nhà nước đối với các hoạt động này trong thờigian qua nhằm đánh giá được các mặt đã làm được và chưa làm được trong
Trang 12công tác quản lý của NN đối với hoạt động dịch vụ chứng khoán của cácCTCK Đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác QLNN đốivới hoạt động này.
Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu thực tế QLNN đối với cáchoạt động dịch vụ chứng khoán của các CTCK tại Việt Nam từ khi thị trườngchứng khoán chính thức đi vào hoạt động từ năm 2000 đến nay
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Về mặt khoa học: Từ việc đi sâu nghiên cứu các văn bản pháp luật liênquan đến các quy định của Nhà nước về dịch vụ chứng khoán của các CTCK,cũng như quá trình thực hiện QLNN đối với các dịch vụ này Đề tài nhằmhoàn thiện thêm cơ sở lý luận về QLNN đối với hoạt động dịch vụ chứngkhoán của các CTCK tại Việt Nam
Về mặt thực tiễn: Đề tài đã tiến hành khảo sát và đánh giá thực trạngQLNN đối với hoạt động dịch vụ chứng khoán của các CTCK tại Việt Nam.Nêu ra các mặt làm được và những hạn chế của công tác QLNN đối với cácdịch vụ này Đồng thời đưa ra một số các giải pháp nhằm hoàn thiện công tácQLNN đối với hoạt động DVCK của các CTCK Đề tài có thể là tài liệu chocác sinh viên, học viên tham khảo để học tập và nghiên cứu Với một mức độnhất định, đề tài là tài liệu tham khảo cho các CTCK, các nhà nghiên cứuchính sách cũng như các nhà quản lý TTCK để nắm bắt thêm các thông tin vềthực trạng QLNN đối với hoạt động dịch vụ chứng khoán của các CTCK ViệtNam Đồng thời cũng là tài liệu giúp các nhà hoạch định chính sách có thểtham khảo một số giải pháp nhằm quản lý tốt hơn các hoạt động DVCK củacác CTCK, góp phần phát triển ổn định và minh bạch các DVCK đối với cácCTCK nói riêng và TTCK Việt Nam nói chung
Trang 131.7 Kết cấu của Luận văn
Bố cục của luận văn (ngoài phần mở đầu và kết luận) như sau:
Chương I: Một số vấn đề lý luận về hoạt động dịch vụ chứng khoán của các Công ty Chứng khoán và Quản lý Nhà nước đối với hoạt động dịch
vụ chứng khoán của các Công ty Chứng khoán.
Chương II:Thực trạng quản lý Nhà nước đối với hoạt động dịch vụ chứng khoán của các Công ty Chứng khoán Việt Nam
Chương III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý Nhà Nước đối với hoạt động dịch vụ chứng khoán của các Công ty Chứng khoán Việt Nam
Trong quá trình thực hiện đề tài, được hướng dẫn tận tình của PGS, TS
Nguyễn Thị Phương Liên, cùng với sự cố gắng của bản thân, nhưng với kiến
thức và trải nghiệm thực tế còn hạn chế, thông tin, tài liệu tham khảo còn giớihạn, nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót, cũng như mức độ bao quát
và chiều sâu chưa được nghiên cứu đề cập đến Do vậy tác giả rất mong được
sự hướng dẫn, chỉ bảo của thầy cô, các đóng góp của đồng nghiệp và nhữngngười có quan tâm để đề tài được hoàn thiện hơn
Tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn các thầy cô là giảng viên chuyênngành tại Trường Đại học Thương Mại Hà Nội, các bạn bè đồng nghiệp đã
cung cấp tài liệu, thông tin cho tác giả, đặc biệt là PGS, TS Nguyễn Thị Phương Liên đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này
Trang 14CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG DVCK CỦA CÁC CTCK VÀ QLNN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DVCK CỦA CÁC CTCK
1.1 Công ty Chứng khoán và các hoạt động dịch vụ chứng khoán của các Công ty chứng khoán
1.1.1 Khái niệm Công ty chứng khoán
Theo Quyết định số 27/2007/QĐ-BTC ban hành ngày 24/04/2007 của
Bộ trưởng Bộ Tài chính: “Công ty chứng khoán là tổ chức có tư cách phápnhân, hoạt động kinh doanh chứng khoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộcác hoạt động: Môi giới chứng khoán, tự doanh, bảo lãnh phát hành, tư vấnđầu tư chứng khoán ”
Đặc điểm của Công ty chứng khoán:
- Đặc điểm về vốn: CTCK muốn thành lập phải đáp ứng yêu cầu vềmức vốn pháp định mà luật pháp quy định
- Đặc điểm về nhân sự và đội ngũ lãnh đạo: Đây là lĩnh vực hoạt động
có nghiệp vụ phức tạp, có độ rủi ro cao, mức độ ảnh hưởng tới đời sống kinh
tế xã hội lớn nên đòi hỏi nhân viên và lãnh đạo CTCK phải là người có trình
độ nhất định, có tư cách đạo đức nghề nghiệp và có chứng chỉ hành nghềchứng khoán do cơ quan thẩm quyền cấp Bên cạnh đó đối với đội ngũ lãnhđạo đòi hỏi phải có trình độ quản lý, không vi phạm pháp luật, có giấy phépđại diện do cơ quan có thẩm quyền cấp
- Đặc điểm về cơ sở vật chất kỹ thuật: CTCK phải đáp ứng yêu cầu vềtrụ sở phù hợp cho việc kinh doanh chứng khoán (sàn giao dịch, hệ thốngtrang thiết bị, kết nối với các Sở và Trung tâm lưu ký chứng khoán…)
- Đặc điểm về xung đột lợi ích giữa quyền lợi của khách hàng vàCTCK: Bên cạnh việc cung ứng dịch vụ tốt nhất cho khách hàng thì giữa
Trang 15CTCK và khách hàng có thể xảy ra mâu thuẫn về lợi ích, đặc điểm này tạo ra
sự khác biệt trong hoạt động của CTCK trên TTCK so với các loại hình kinhdoanh trong các lĩnh vực khác Ví dụ: Hoạt động tự doanh hiện nay được xem
là một trong những hoạt động quan trọng nhất của các CTCK tại Việt Namtrong việc gia tăng lợi nhuận và góp phần thúc đẩy sự phát triển của TTCK.Tuy nhiên, do nghiệp vụ tự doanh và môi giới dễ nảy sinh xung đột lợi íchtrong quá trình đầu tư chứng khoán nên Nhà nước thường quy định các CTCKphải tổ chức thực hiện hai nghiệp vụ ở hai bộ phận riêng biệt nếu CTCK đóđược thực hiện cả hai nghiệp vụ trên
1.1.2 Mô hình hoạt động của Công ty chứng khoán
Trên thế giới hiện nay có 2 loại mô hình hoạt động của CTCK gồm:
- Công ty chuyên doanh chứng khoán: Theo mô hình này, hoạt động
kinh doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc lập, chuyên môn hóa trong lĩnhvực chứng khoán đảm nhận; Các ngân hàng không được trực tiếp tham giakinh doanh chứng khoán
Ưu điểm của mô hình này: Hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng Tạođiều kiện cho TTCK phát triển do tính chuyên môn hóa cao hơn
Mô hình này được áp dụng ở nhiều nước như Mỹ, Nhật, Canada…
- Công ty đa năng kinh doanh tiền tệ và chứng khoán: Theo mô hình
này, các ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách là chủ thể kinh doanhchứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ Mô hình này có ưu điểm là ngânhàng có thể đa dạng hóa, kết hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh, nhờ đó giảm bớtrủi ro cho hoạt động kinh doanh chung, khả năng chịu đựng các biến động củaTTCK là cao Mặt khác, ngân hàng tận dụng được thế mạnh về vốn để kinhdoanh chứng khoán; khách hàng có thể sử dụng được nhiều dịch vụ đa dạng vàlâu năm của ngân hàng
Tuy nhiên, mô hình này bộc lộ một số hạn chế như không phát triểnđược thị trường cổ phiếu do các ngân hàng có xu hướng bảo thủ, thích hoạt
Trang 16động tín dụng truyền thống hơn là bảo lãnh phát hành cổ phiếu, trái phiếu Mặtkhác, theo mô hình này, nếu có biến động trên TTCK sẽ ảnh hưởng mạnh đếnhoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng, dễ dẫn đến các cuộc khủng hoảngtài chính Do những hạn chế trên mà trước đây Mỹ và nhiều nước khác đã ápdụng mô hình này, nhưng sau cuộc khủng hoảng năm 1933, đa số các nước đãchuyển sang mô hình chuyên doanh chứng khoán, chỉ có Đức vẫn duy trì đếnngày nay.
Tại Việt Nam, do quy mô các ngân hàng thương mại nói chung là rấtnhỏ bé, và đặc biệt vốn dài hạn rất thấp, hoạt động của các ngân hàng thươngmại Việt Nam chủ yếu trong lĩnh vực tín dụng thương mại ngắn hạn, tronghoạt động của TTCK thuộc lĩnh vực vốn dài hạn Khả năng khắc phục nhữngđiểm yếu này của ngân hàng Việt Nam còn rất lâu dài Do đó, để bảo vệ antoàn cho các ngân hàng, Nghị định 144/CP về chứng khoán và TTCK quyđịnh các Ngân hàng thương mại muốn kinh doanh chứng khoán phải tách ramột phần vốn tự có của mình thành lập một Công ty chứng khoán chuyêndoanh trực thuộc, hạch toán độc lập với ngân hàng
1.1.3 Khái niệm dịch vụ chứng khoán
Dịch vụ chứng khoán là việc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằmmục đích sinh lợi Vì vậy, dịch vụ chứng khoán là hoạt động do các tổ chứckinh doanh chứng khoán cung cấp cho khách hàng như: Môi giới chứngkhoán, đầu tư chứng khoán, bảo lãnh phát hành, quản lý tài sản, tư vấn đầu tư,
tư vấn tài chính nhằm mục đích sinh lợi
1.1.4 Các hoạt động Dịch vụ Chứng khoán của Công ty chứng khoán
1.1.4.1 Môi giới chứng khoán
Khái niệm môi giới: là việc CTCK làm trung gian mua bán chứng
khoán cho khách hàng Môi giới chứng khoán là hoạt động nghiệp vụ mangtính chuyên nghiệp cao, yêu cầu người môi giới phải có kỹ năng, có chuyênmôn, có trình độ nghiệp vụ, có đạo đức nghề nghiệp, đồng thời yêu cầu phải
Trang 17có môi trường hỗ trợ khá đa dạng, bao gồm bộ máy tổ chức, môi trường phápluật, văn hóa, xã hội cùng với trang thiết bị cần thiết.
Như vậy nghề môi giới chứng khoán là công việc chuyên môn của các
cá nhân và tổ chức theo sự phân công lao động xã hội, đó là làm trung giangiúp cho việc mua, bán chứng khoán được thực hiện, kết nối nhu cầu của bênmua với nhu cầu của bên bán chứng khoán
Chức năng của hoạt động môi giới chứng khoán: Có hai chức năng
chính là cung cấp thông tin, tư vấn cho khách hàng và cung cấp sản phẩm vàdịch vụ tài chính giúp khách hàng thực hiện các giao dịch theo yêu cầu và lợiích của khách hàng
Vai trò của hoạt động môi giới: Vai trò trung gian, kênh huy động vốn
hiệu quả cho đầu tư và phát triển kinh tế; Giảm chi phí giao dịch; Tư vấn đầu
tư chứng khoán; Tạo ra sản phẩm mới, phát triển sản phẩm và dịch vụ; Cảithiện môi trường kinh doanh
1.1.4.2 Bảo lãnh phát hành chứng khoán
Khái niệm: Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc tổ chức bảo lãnh
giúp tổ chức phát hành thực hiện thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổchức việc phân phối chứng khoán, nhận mua một phần hay toàn bộ chứngkhoán còn lại chưa phân phối hết và giúp bình ổn giá chứng khoán trong giaiđoạn đầu sau khi phát hành
Vai trò của bảo lãnh phát hành: Thị trường chứng khoán là một bộ
phận trong hệ thống các thị trường tài chính và đã được phát triển rộng rãi ởcác nước có nền kinh tế thị trường phát triển Đây là một kênh huy động vốnquan trọng cho các doanh nghiệp và Chính phủ để đáp ứng các nhu cầu cấpthiết về vốn thông qua việc phát hành các loại chứng khoán Tuy nhiên, việcphát hành chứng khoán trên thị trường này luôn tiềm ẩn rủi ro đòi hỏi các chủthể phát hành phải tìm biện pháp giảm thiểu rủi ro để huy động vốn được tốtnhất Một trong các biện pháp phòng ngừa rủi ro trong phát hành chứng khoán
Trang 18là phát hành thông qua bảo lãnh phát hành Đây là một trong những nghiệp vụquan trọng trên thị trường chứng khoán sơ cấp do các công ty chứng khoán,ngân hàng đầu tư, các công ty tài chính…cung cấp, nhằm bảo đảm cho sựthành công của các đợt phát hành, giúp các chủ thể phát hành huy động vốnmột cách nhanh chóng, thuận lợi với chi phí hợp lý và mức độ rủi ro thấp.
Các loại hình bảo lãnh:
- Bảo lãnh cam kết chắc chắn: Là hình thức bảo lãnh mà tổ chức bảolãnh phát hành cam kết sẽ mua toàn bộ số chứng khoán phát hành cho dù cóphân phối hết hay không
- Bão lãnh cố gắng tối đa: Là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chứcbảo lãnh thỏa thuận làm đại lý phát hành cho tổ chức phát hành Tổ chức bảolãnh không cam kết bán toàn bộ số chứng khoán mà cam kết sẽ cố gắng tối đa
Số chứng khoán còn lại nếu không phân phối hết sẽ trả lại cho tổ chức pháthành Như vậy, kết quả của việc bán chứng khoán của tổ chức phát hành tùythuộc vào khả năng, uy tín và sự lựa chọn nhà đầu tư của tổ chức bảo lãnh
- Bảo lãnh tất cả hoặc không: Là phương thức bảo lãnh mà theo đó, tổchức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh phải bán hết số chứng khoán dự địnhphát hành, nếu không phân phối hết sẽ hủy bỏ đợt phát hành Theo phươngthức này, không có một sự bảo đảm đợt phát hành có thành công hay không,nên UBCKNN thường quy định số chứng khoán mà nhà đầu tư đã mua trongthời gian chào bán sẽ được giữ bởi một người thứ ba để chờ kết quả cuối cùngcủa đợt phát hành Nếu đợt phát hành không thành công thì nhà đầu tư sẽ đượctrả lại toàn bộ số tiền đặt cọc
- Bảo lãnh với hạn mức tối thiểu: Là phương thức kết hợp giữa phươngthức bảo lãnh cố gắng tối đa và phương bảo lãnh tất cả hoặc không Theophương thức này, tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh bán tối thiểumột tỷ lệ chứng khoán nhất định Nếu số lượng chứng khoán bán ra dưới hạnmức này thì đợt phát hành sẽ được hủy bỏ và toàn bộ tiền đặt cọc mua chứng
Trang 19khoán sẽ được trả lại cho nhà đầu tư Đây là phương thức bảo lãnh tương đốihiệu quả, vừa bảo vệ lợi ích cho tổ chức phát hành, vừa hạn chế rủi ro cho tổchức bảo lãnh.
1.1.4.3 Tư vấn đầu tư chứng khoán
Khái niệm: Là việc thu thập, xử lý thông tin, đưa ra lời khuyên, phân
tích tình huống hoặc thực hiện một số công việc có tính chất cung cấp dịch vụcho khách hàng Cũng có thể hiểu hoạt động này là hoạt động phân tích, đưa
ra khuyến nghị liên quan đến mua bán, nắm giữ chứng khoán hoặc công bố vàphát hành các ấn phẩm có liên quan đến chứng khoán
Những nguyên tắc cơ bản của hoạt động tư vấn đầu tư: Trung thực và
công bằng; Bảo mật thông tin cho khách hàng; Tư vấn khách quan; Đầy đủ vàchi tiết; Tư vấn theo khả năng của khách hàng; Cung cấp thông tin hỗ trợ chokhách hàng
Vai trò của hoạt động tư vấn: Cung cấp thông tin đầy đủ và chi tiết cho
nhà đầu tư về thu nhập, rủi ro của các loại chứng khoán, về các cơ hội đầu tư,
xu hướng đầu tư và phát triển của TTCK, cung cấp thông tin, phân tích báocáo tài chính của tổ chức phát hành; Cung cấp thông tin về các quy định phápluật liên quan đến nhà đầu tư trên TTCK; Nâng cao uy tín của mình trên thịtrường, tận dụng được mối quan hệ tốt với khách hàng đến tư vấn; Tạo lợinhuận cho công ty chứng khoán và bản thân tư vấn viên
1.1.4.4 Các dịch vụ khác
Ngoài 4 nghiệp vụ chủ yếu trên, CTCK được phép thực hiện các nghiệp
vụ tư vấn tài chính sau: Tái cơ cấu tài doanh nghiệp; Tư vấn mua bán và sátnhập doanh nghiệp (M&A); Quản trị công ty cổ phần; Tư vấn chào bán, niêmyết cổ phần hóa chứng khoán, xác định giá trị DN
Nguyên tắc tư vấn: Tuân thủ đạo đức nghề nghiệp; Đảm bảo tính độc
lập, khách quan và khoa học của hoạt động tư vấn; Tránh gây hiểm nhầm về
Trang 20giá cả, giá trị và bản chất của bất kỳ chứng khoán nào; Không được cung cấpthông tin sai sự thực về các công ty mà mình đang cung cấp dịch vụ tư vấn;Chịu trách nhiệm trước pháp luận và bồi thường thiệt hại cho bên sử dụng dịch
vụ tư vấn khi vi phạm các cam kết trong hợp đồng tư vấn
- CTCK không được sử dụng tài khoản lưu ký của khách hàng để phục
vụ cho mình hoặc bên thứ ba
Repo chứng khoán
Cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán….
1.1.5 Vai trò của Dịch vụ Chứng khoán
- Giảm chi phí giao dịch:
Đối với các hàng hóa thông thường, để tiến hành giao dịch, người mua
và người bán phải gặp gỡ nhau, thỏa thuận giá cả, kiểm tra chất lượng hànghóa Tuy nhiên, trên TTCK, do hàng hóa là những sản phẩm tài chính bậc cao,
vì vậy không dễ gì mà khách hàng có thể tiếp cận mua bán cũng như kiểm trachất lượng, nếu có thì chi phí để thu thập, xử lý các thông tin liên quan đến cácloại chứng khoán và tiến hành giao dịch là rất lớn Để tạo thuận lợi cho kháchhàng, CTCK sẽ đứng ra làm các công việc đó, bởi vì chỉ có CTCK hoạt độngchuyên nghiệp mới có thể trang trải được khoản chi phí khổng lồ ấy Như vậy,vai trò của các hoạt động dịch vụ chứng khoán là tiết kiệm chi phí cho từnggiao dịch cụ thể cũng như hoạt động tổng thể của toàn thị trường, nhờ đó giúpnâng cao tính thanh khoản cho các loại chứng khoán nói riêng và cho TTCKnói chung
Trang 21- Phát triển sản phẩm và dịch vụ trên thị trường:
CTCK và các nhân viên hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ chứng khoán ởcác CTCK đóng vai trò làm cầu nối giữa nhà đầu tư với nhau và với tổ chứcphát hành, nắm bắt được nhu cầu của khách hàng Nhờ đó, sản phẩm dịch vụcung cấp cho nhà đầu tư ngày càng đa dạng, khách hàng ngày càng nhiều, dẫnđến khả năng thu hút được khối lượng lớn vốn nhàn rỗi trong xã hội phục vụtăng trưởng kinh tế
- Cải thiện môi trường kinh doanh:
Thông qua các hoạt động dịch vụ chứng khoán sẽ góp phần hình thànhnền văn hóa đầu tư
Các hoạt động dịch vụ chứng khoán của các CTCK khi xâm nhập sâurộng vào cộng đồng các doanh nghiệp và nhà đầu tư thì sẽ là một yếu tố quantrọng tạo ra thói quen và ý thức đầu tư cho họ Trong nền kinh tế quốc dân,lượng vốn nhàn rỗi tồn tại trong đại bộ phận dân chúng là rất lớn, trong khi đónhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh cũng như phát triển kinh tế ngày mộttăng CTCK đem những sản phẩm tài chính giới thiệu cho những khách hàngtiềm năng, giải thích cho họ cách sử dụng cũng như những lợi ích mà chúng cóthể đem lại Như vậy, lâu dần các hoạt động dịch vụ chứng khoán sẽ hìnhthành nên thói quen đầu tư vào tài sản tài chính thay vì sử dụng tiền dư thừamột cách lãng phí Tham gia vào hoạt động đầu tư tài chính, dần dần họ sẽ tíchlũy được những kinh nghiệm cần thiết, biết chấp nhận rủi ro để mong tìm kiếmnhững khoản lợi nhuận lớn cho mình Mặt khác, niềm tin của nhà đầu tư vàocác CTCK cũng được nâng lên, họ có thể sẵn sàng ủy thác cho CTCK thựchiện các dịch vụ, trao đổi mua bán… mà họ có nhu cầu
- Tăng chất lượng và hiệu quả của dịch vụ nhờ cạnh tranh:
Trang 22Một CTCK muốn hoạt động hiệu quả thì cần thiết phải thu hút đượcnhiều khách hàng đến với mình Trong đó các hoạt động dịch vụ chứng khoánnắm vai trò chủ đạo Các nhân viên hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ bằng cácmối quan hệ, bằng chất lượng dịch vụ của mình thu hút được càng nhiềukhách hàng đến với công ty mình càng tốt Muốn vậy, các nhân viên môi giớiphải luôn luôn trau dồi và nâng cao kiến thức nghiệp vụ, tạo điều kiện giúp đỡcác nhà đầu tư, bên cạnh đó công ty cũng phải không ngừng cải tiến các dịch
vụ để giữ chân khách hàng Nếu không làm được như vậy thì khách hàng sẽtìm đến các công ty khác có chất lượng phục vụ tốt hơn, dẫn đến doanh thu từcác dịch vụ chứng khoán giảm, hiệu quả hoạt động của toàn công ty cũng bịgiảm sút
1.2 Quản lý Nhà nước đối với hoạt động Dịch vụ Chứng khoán của các Công ty Chứng khoán.
1.2.1 Khái niệm về Quản lý Nhà nước đối với hoạt động Dịch vụ Chứng khoán của các Công ty Chứng khoán.
Khi xã hội loài người xuất hiện thì nhu cầu quản lý cũng hình thành.Trình độ quản lý phát triển theo sự phát triển của xã hội qua các phương thứcsản xuất khác nhau Ngày nay, trong ba yếu tố cơ bản quyết định tới sự pháttriển của xã hội là sức lao động, tri thức và trình độ quản lý thì quản lý được
coi là yếu tố quan trọng hàng đầu “Quản lý là sự tác động liên tục, có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng bị quản lý) trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội … thông qua hệ thống pháp luật, các chính sách, các nguyên tắc, các quy định và bằng các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và tạo điều kiện cho sự phát triển của đối tượng bị quản lý”.
Quy mô của quản lý có thể khác nhau: Toàn cầu, khu vực, quốc gia,ngành, đơn vị… Quy mô khác nhau thì tính chất của quản lý cũng khác nhau.Quản lý ở phạm vi quốc gia được coi là quản lý Nhà nước, quản lý ở một đơn
Trang 23vị kinh doanh được coi là quản lý kinh doanh (quản trị kinh doanh)…
Dịch vụ Chứng khoán là một lĩnh vực hoạt động trong nền kinh tế một
quốc gia Vì vậy: “Quản lý Nhà nước đối với hoạt động Dịch vụ Chứng khoán của các Công ty Chứng khoán là sự quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với các hoạt động xây dựng, vận hành và phát triển các hoạt động Dịch vụ Chứng khoán của các Công ty Chứng khoán”.
1.2.2 Mục tiêu Quản lý Nhà nước đối với hoạt động Dịch vụ Chứng khoán của các Công ty Chứng khoán.
Đảm bảo sự trung thực:
Đặc tính của khu vực chứng khoán là rủi ro hệ thống, một biến cố nhỏcũng gây ra sự bất ổn cho nền kinh tế Vì vậy, trong quản lý nhà nước, việcbảo đảm tính trung thực, cạnh tranh lành mạnh của hoạt động dịch vụ chứngkhoán nói riêng và TTCK nói chung là mục tiêu quan trọng Một số hoạt độngcần thiết nhằm giảm tối thiểu rủi ro hệ thống và khuyến khích tham gia thịtrường như:
- Các biện pháp an toàn để đảm bảo khả năng thanh toán của một địnhchế tài chính, từ đó duy trì lòng tin vào hệ thống tài chính nói chung và bảo vệnhững tiết kiệm cá nhân
- Khuyến khích các hệ thống thanh toán hiệu quả và ổn định, có thểgiảm việc tích tụ rủi ro cùng loại, tăng cường khả năng quản lý rủi ro của cácđịnh chế tài chính riêng lẻ và ngăn chặn các ảnh hưởng dây chuyền cũng nhưcác vụ khủng hoảng tài chính
- Ngăn chặn các hành vi lừa đảo, lũng đoạn, giao dịch nội gián và các
vi phạm khác của các CTCK
Đảm bảo sự công bằng:
Trang 24Sự công bằng là một phương tiện để bảo vệ sự cạnh tranh và đảm bảotính trung thực, lành mạnh của các hoạt động DVCK Muốn hoạt động quản lý
có hiệu quả cần phải có biện pháp đảm bảo tính công bằng của các hoạt độngDVCK
Tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nhỏ và kém tinh thông nghiệp vụ đầu
tư vào các loại tài sản chính hợp lý với họ và bảo vệ họ khỏi các vi phạm củacác CTCK
Đảm bảo hiệu quả:
Một hệ thống dịch vụ chứng khoán mà quản lý được xem là có hiệu quảcần phải được xem xét cả về khía cạnh tiết kiệm chi phí và lợi ích thu được.Tính hiệu quả tỷ lệ thuận với kết quả và tỷ lệ nghịch với chi phí Kết quả đượcđánh giá chủ yếu thông qua việc thực hiện chức năng huy động vốn dễ, rẻ,luân chuyển vốn, phân bổ và sử dụng nguồn vốn một cách hợp lý, thu được lợi
từ các dịch vụ chứng khoán mang lại…
1.2.3 Chức năng và nhiệm vụ quản lý Nhà nước đối với các hoạt động Dịch vụ Chứng khoán của các Công ty Chứng khoán
Chức năng QLNN đối với các hoạt động Dịch vụ Chứng khoán của các CTCK
- Quản lý là một hình thức đặc biệt của hoạt động điều hành, là sảnphẩm của tiến trình phân công lao động và chuyên môn hoá việc quản lý Ởhầu hết các nước đang phát triển, các chủ thể quản lý các hoạt động DVCK cóhai chức năng chính: Duy trì sự ổn định của các hoạt động DVCK; tạo điềukiện để phát triển các hoạt động DVCK, làm cho các hoạt động DVCK có thểcạnh tranh và thích ứng với những thay đổi của thị trường
- Với chức năng ổn định các hoạt động DVCK, tức là phải tạo lập mộtthị trường có kỷ luật, an toàn, trật tự, bảo vệ lợi ích giữa các bên, đảm bảo pháttriển bền vững đóng góp cho nền kinh tế thì các nhà quản lý phải xác định
Trang 25được nên cho phép đối tượng nào tham gia vào các hoạt động DVCK, tiêuchuẩn tham gia gồm những yếu tố gì, xác định phải quản lý cái gì và giám sátcái gì Với chức năng phát triển thì các nhà quản lý phải tạo động lực thúc đẩy
và tạo điều kiện tối đa cho các hoạt động DVCK ở các CTCK Các chức năngnày được sử dụng vào hoàn cảnh khác nhau, tuy nhiên trong hoạt động QLNNthì các chức năng này thường được áp dụng một cách đồng bộ
Nhiệm vụ QLNN đối với các hoạt động DVCK của các CTCK
QLNN đối với các hoạt động DVCK của các CTCK được cụ thể hoá ởmột số nhiệm vụ sau:
- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về các hoạt động DVCKcủa các CTCK; Xây dựng chiến lược, chính sách, kế hoạch hoạt động vàphát triển các hoạt động DVCK của các CTCK với từng bước đi cụ thể vàthích hợp với điều kiện văn hoá, kinh tế, chính trị, xã hội, dân trí và cácđiều kiện khác
- Cấp, gia hạn, đình chỉ, thu hồi các loại giấy phép liên quan đến việchoạt động DVCK và thu lệ phí cấp giấy phép theo quy định của pháp luật
- Tổ chức và quản lý thị trường Giao dịch Chứng khoán có tổ chức vàquản lý các tổ chức trung gian, tổ chức phụ trợ trong hoạt động DVCK
- Xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy của TTCK như: Cơ quan quản lýNhà nước, Sở Giao dịch Chứng khoán, thị trường Giao dịch Chứng khoán, thịtrường lưu ký Chứng khoán, Công ty Chứng khoán, Công ty quản lý quỹ…
- Tăng cường sự phối hợp giữa các tổ chức, các cá nhân là thành viêntham gia các hoạt động Dịch vụ Chứng khoán để tạo được sự thống nhất trongmọi hoạt động của TTCK
- Điều chỉnh, xử lý các hành vi sai phạm trong hoạt động DVCK nhưmua bán gian lận, đầu cơ,… tạo công bằng và bảo vệ lợi ích cho nhà đầu tư.Mặt khác, tạo các điều kiện thuận lợi, khuyến khích những hoạt động tích cực
Trang 26trên thị trường.
- Thực hiện công tác kiểm tra định kỳ, bất thường nhằm phát hiện cáchành vi vi phạm pháp luật, thực hiện tổng kết thống kê nhằm tổng hợp cáchoạt động DVCK của các CTCK
1.2.4 Các nguyên tắc cơ bản trong quản lý Nhà nước đối với hoạt động Dịch vụ Chứng khoán của các Công ty Chứng khoán.
Nguyên tắc thống nhất quản lý về chính trị và kinh tế
Nguyên tắc này cũng được áp dụng trong QLNN đối với các hoạt độngDVCK của các CTCK Các hoạt động DVCK của các CTCK không chỉ manglại lợi ích mang tính kinh tế cho cả CTCK và TTCK mà còn có cả các yếu tốchính trị trong đó Chính vì thế, trong quản lý các hoạt động này, sự kết hợpgiữa kinh tế và chính trị là một yêu cầu bắt buộc
Nguyên tắc tập trung dân chủ
- Tập trung dân chủ là tập trung điều hành vào một cơ quan quyềnlực cao nhất Đây là cơ quan vạch ra đường lối, điều lệ, quy chế, phươnghướng, đường lối, mục tiêu tổng quát và đề ra các biện pháp cơ bản, chủyếu để thực hiện Tính dân chủ trong quản lý thể hiện ở chỗ mọi người cóthể tham gia bàn bạc, đóng góp ý kiến để tìm ra các biện pháp khả thi nhấtcho quá trình thực hiện
- Nếu sự tập trung quyền hạn bị lạm dụng trong quản lý các hoạt độngDVCK của các CTCK thì sẽ làm hỏng các chức năng lành mạnh của TTCK
Do đó, người làm công tác quản lý cần có sự điều chỉnh mức độ dân chủ tuỳtheo sự phát triển của các hoạt động DVCK của các CTCK với sự tập trungquyền lực quản lý nhất định
Nguyên tắc kết hợp giữa các lợi ích kinh tế
Trang 27Trên thực tế luôn có lợi ích khác nhau giữa chủ thể và khách thể quản
lý, có sự mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích toàn xã hội.Vai trò của công tác quản lý lúc này là phải tìm cách kết hợp, thoả mãn các lợiích theo đúng nhu cầu, đảm bảo cho các lợi ích không đối lập nhau, hỗ trợthúc đẩy nhau phát triển Vấn đề này đòi hỏi công tác quản lý phải chú trọngtới từng loại lợi ích trong từng mặt hoạt động như đầu tư, huy động vốn, phânchia lợi nhuận, ban hành các quy định…
Nguyên tắc hiệu quả
- Tiết kiệm là hạn chế chi phí đến mức tối thiểu mà vẫn đem lại hiệuquả tối đa Tiết kiệm là nhằm để giảm thiểu chi phí nhưng chỉ có ý nghĩa khithực hiện nó mang tính hiệu quả Hiệu quả là kết quả cuối cùng của hoạt độngđược đo bằng giá trị, vật phẩm, thời gian tác động,…Tiết kiệm và hiệu quảluôn đi với nhau và nó là thước đo để đánh giá kết quả cuối cùng của quản lý
- Các hoạt động DVCK của các CTCK là mô hình tiêu biểu nhất về tínhhiệu quả vì bản thân các hoạt động này đã mang trong nó tính tiết kiệm chi phí
và nhằm tới hiệu quả kinh tế cao nhất vì đây là môi trường thuận lợi nhất chocác nguồn vốn từ các nhà đầu tư Quá trình đầu tư thông qua hoạt động DVCKcủa các CTCK được thực hiện với chi phí thấp nhưng mang lại hiệu quả cao
Vì vậy, đảm bảo nguyên tắc này tức là đảm bảo cho các hoạt động DVCK củacác CTCK được hoạt động hiệu quả và phát huy những chức năng vốn có của
nó Nguyên tắc này được coi là tiêu chí áp dụng cho bất kì chính sách nào bởimỗi chính sách đem lại lợi ích cũng kèm theo đó là chi phí Nếu chi phí lớnhơn lợi ích đem lại thì việc áp dụng các chính sách đó là không có tác dụng
Trang 281.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý Nhà nước đối với hoạt động Dịch vụ Chứng khoán của các Công ty Chứng khoán.
Hoạt động QLNN đối với hoạt động DVCK của các CTCK chịu tácđộng của nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm:
- Các nhân tố kinh tế: Quá trình QLNN đối với các hoạt động DVCK
của các CTCK chịu ảnh hưởng chi phối của các yếu tố kinh tế như: Quy môkinh tế, trình độ phát triển nền kinh tế Sự đa dạng về hình thức tồn tại vàtính phức tạp trong hoạt động DVCK của các CTCK và các thành phần kinh tếtham gia TTCK sẽ đặt ra yêu cầu đối với công tác QLNN là phải có các chínhsách, biện pháp phù hợp để dung hoà lợi ích của các thành phần này và khaithác tối đa thế mạnh của họ
- Các nhân tố về chính trị và thể chế Nhà nước: Thể chế chính trị và
đường lối lãnh đạo của Đảng cầm quyền của một Đất nước chi phối đến mụctiêu, phương hướng xây dựng và phát triển TTCK nước đó, trong đó có cáchoạt động DVCK của các CTCK Bên cạnh đó, sự ổn định hay bất ổn về mặtchính trị sẽ có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến các hoạt động DVCK củacác CTCK
- Môi trường pháp lý: Công tác QLNN đối với các hoạt động DVCK
của các CTCK bị chi phối và phụ thuộc vào năng lực hoạt động của các cơquan lập pháp, hành pháp và tư pháp Bên cạnh đó, vấn đề này còn phụ thuộc
cả vào tính chặt chẽ, đầy đủ, nhất quán của các quy định pháp luật cũng như ýthức chấp hành pháp luật của các chủ thể tham gia
- Thực trạng phát triển các hoạt động DVCK của các CTCK: Trong
mỗi hệ thống quản lý, chủ thể quản lý sử dụng các công cụ và phương thứcquản lý tác động lên đối tượng quản lý theo mục tiêu đề ra Ngược lại, đốitượng và khách thể của quản lý cũng phản ứng trở lại đối với chủ thể quản lý.Các hoạt động DVCK của các CTCK là đối tượng quản lý của Nhà nước cho
Trang 29nên thực trạng phát triển của các hoạt động này có tác động đến việc ban hành
và triển khai các chính sách quản lý phát triển của Nhà nước Thực trạng hoạtđộng các DVCK của các CTCK vừa là cơ sở để Nhà nước ban hành các chínhsách, biện pháp khắc phục những tồn tại của các hoạt động DVCK, vừa là căn
cứ để Nhà nước đề ra các biện pháp thúc đẩy thị trường phát triển theo địnhhướng và mục tiêu đề ra
- Xu thế hội nhập quốc tế: Hiện nay thì hội nhập quốc tế đang diễn ra
khá mạnh mẽ trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội, trong đó cóTTCK Việc mở cửa TTCK hội nhập quốc tế sẽ đem lại những lợi ích thiếtthực cho một quốc gia, song cũng nảy sinh những rủi ro và thách thức khôngnhỏ Điều này tác động đến các chính sách quản lý và phát triển các DVCKcủa các CTCK Chính sách QLNN không chỉ phải giải quyết các vấn đề nảysinh do có sự xuất hiện của các yếu tố quốc tế trong các hoạt động DVCK củacác CTCK, mà còn phải tìm ra hướng hội nhập sao cho vừa đảm bảo an toàn,vừa khai thác tốt nhất các lợi ích mà hội nhập mang lại
- Các nhân tố khác: Hoạt động QLNN đối với các DVCK của các
CTCK còn chịu tác động bởi các nhân tố khác như: Trình độ ứng dụng tin họctrong quản lý, truyền thống bản sắc văn hoá dân tộc, trình độ và kinh nghiệmcủa đội ngũ cán bộ quản lý trong ngành chứng khoán và các ngành có liênquan, lịch sử phát triển kinh tế và TTCK …Trong đó yếu tố lịch sử thường đặt
ra các vấn đề về cải cách và hoàn thiện mô hình và tổ chức quản lý
1.2.6 Các biện pháp quản lý Nhà nước đối với hoạt động Dịch vụ Chứng khoán của các Công ty Chứng khoán.
Biện pháp quản lý là tổng thể những cách thức tác động đến cá nhânhay tập thể nhằm khuyến khích họ thực hiện tốt công việc Khác với nguyêntắc quản lý là những yêu cầu bắt buộc phải tuân theo thì biện pháp quản lý lànhững cách thức linh hoạt mà người quản lý có thể tuỳ chọn và sử dụng phốihợp theo ý mình nhằm tạo ra hiệu quả quản lý cao nhất Do đó biện pháp quản
Trang 30lý có rất nhiều, hình thức và cách áp dụng cũng khác nhau Một số biện phápquản lý điển hình thường được sử dụng là:
Biện pháp tuyên truyền, giáo dục
- Các DVCK của các CTCK khá đa dạng, ra đời nhằm phục vụ chủ yếucho các nhà đầu tư đồng thời để thu lợi nhuận cho CTCK, thông qua các hoạtđộng môi giới, tư vấn đầu tư, bảo lãnh phát hành… CTCK làm cầu nối giữangười mua và người bán, cung cấp cho nhà đầu tư các thông tin cần thiết,khuyến nghị các đầu tư mua bán cổ phiếu… làm căn cứ cho nhà đầu tư đưa raquyết định đầu tư
- TTCK Việt Nam còn khá non trẻ, các nhà đầu tư thực sự còn hiểu biết
ít trong lĩnh vực đầu tư chứng khoán Để tạo điều kiện cho các hoạt độngDVCK của các CTCK nói riêng và TTCK nói chung phát triển bền vững vàhiệu quả, Nhà nước cần thiết phải tăng cường phổ biến các kiến thức về TTCKcho nhà đầu tư, cung cấp cho nhà đầu tư kiến thức về các DVCK để nhà đầu
tư lựa chọn cũng như có thể hiểu về những lợi ích của mình khi lựa chọn cácdịch vụ này Đồng thời trang bị cho họ những kĩ năng để họ có thể đầu tư mộtcách hiệu quả nhất, tự chịu trách nhiệm về các quyết định đầu tư, tự đánh giáđược các rủi ro khi tham gia trên thị trường,… Vì thế yếu tố giáo dục, xâydựng tâm lý cho người tham gia thị trường là rất quan trọng
Biện pháp hành chính luật pháp
- Biện pháp này có tác động trực tiếp và có vai trò lớn nhất trong cácbiện pháp quản lý của Chính phủ đặc biệt là trong lĩnh vực DVCK bởi ởnhững lĩnh vực này mọi hoạt động đang đều ở giai đoạn đang hoàn thiện vàbắt đầu phát triển, hơn thế nữa là ngành dịch vụ phức tạp Nhà nước đóng vaitrò chính trong việc điều hành và hướng dẫn Ngoài ra, cho dù ở bất kỳ hoạtđộng DVCK nào thì hình thức quản lý cơ bản nhất vẫn là luật pháp Bởi đây làmột lĩnh vực đầy tính phức tạp thì luật pháp rõ ràng gần như là một điều kiệntiên quyết để có một thị trường hoạt động trong khuôn khổ và ổn định Luật
Trang 31pháp về chứng khoán phải được hiểu là cả một hệ thống gồm Luật Chứngkhoán và các Luật khác như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư… Vì vậy, việcxây dựng một hệ thống luật pháp không chỉ đơn thuần là việc cho ra đời LuậtChứng khoán mà còn bao gồm cả việc điều chỉnh và hoàn thiện dần các luậtliên quan để tạo môi trường pháp lý đầy đủ cho sự hình thành và phát triển cáchoạt động DVCK.
- Trên thực tế, rõ ràng không thể có được một hệ thống luật pháp hoànthiện lý tưởng ngay từ khi các hoạt động DVCK của các CTCK mới hìnhthành Do dó, biện pháp quản lý hành chính là điều cần thiết để điều chỉnh và
xử lý những hành vi có nguy cơ hoặc đã gây thiệt hại cho thị trường, nhất lànhững thị trường mới nổi Điều này còn đúng hơn với ngành DVCK đang cònthiếu những chuyên gia giỏi về kiểm toán, kế toán, hệ thống hành pháp, thiếunhững người có hiểu biết sâu về TTCK
Biện pháp tổ chức
- Tổ chức là định hình các cơ cấu bộ phận tạo thành, xác lập chức năng,quyền hạn, nhiệm vụ và phạm vi hoạt động của từng bộ phận, đặt các bộ phậntrong quan hệ đối tác phù hợp, trong một tổng thể hoàn chỉnh Thể chế hoá tổchức là quá trình Nhà nước quy định cơ cấu tổ chức, vạch ranh giới cho từngcấp quản lý bằng các văn bản pháp luật, các văn bản quy định chức năng, nhiệm
vụ, cơ cấu tổ chức của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, là những cơ quan quản lýNhà nước theo lĩnh vực chuyên môn; Quy định cơ cấu tổ chức, chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn của Doanh nghiệp Nhà nước hoặc cơ cấu tổ chức của cáctập đoàn kinh tế xuyên quốc gia, điều lệ doanh nghiệp, điều lệ công ty…
- Trong quản lý, sự tác động của tổ chức có ý nghĩa hiệu quả và thiếtthực Nó chỉ cho mọi người, mọi cấp biết trước phải hoạt động theo trật tự quyđịnh trước, nhằm đạt được những chỉ tiêu định trước Mặt khác, tổ chức có thểgây cản trở nếu quy định quá chi tiết, cứng nhắc khiến người thừa hành khôngphát huy được sáng kiến, mất tính linh hoạt, sáng tạo
Trang 32- Do đó, bên cạnh công tác tổ chức phải có sự điều khiển trực tiếp, là sựđôn đốc, chỉ đạo cụ thể nhằm điều chỉnh kịp thời những sai lệch so với mụctiêu đề ra Đó là hình thức tác động tích cực và linh hoạt nhất của biện phápquản lý Tổ chức và điều hành cần được thực hiện phối hợp lẫn nhau trong quátrình quản lý.
Biện pháp kinh tế
- Biện pháp quản lý bằng kinh tế là cách thức vận dụng tổng hợp cácđòn bẩy kinh tế để kích thích các cá nhân, tập thể và toàn bộ xã hội thực hiệnđược mục tiêu theo định hướng vạch sẵn Những đòn bẩy này ở phạm vi vĩ mô
là các chính sách kinh tế, các chế tài, các chế độ Thuế, chế độ hạch toán, kếtoán,…Cơ sở lý luận và thực tế của nhiều nước cho thấy chế độ Thuế là mộtcông cụ tích cực trong quản lý các hoạt động DVCK của các CTCK Chế độthuế phù hợp có thể khuyến khích đầu tư vào chứng khoán, làm tăng cầuchứng khoán, là động lực cho TTCK phát triển
- Như vậy, biện pháp kinh tế có tác dụng rất lớn trong lĩnh vực QLNNđối với các hoạt động DVCK trên TTCK Biện pháp này có ưu điểm là không
áp dụng những chỉ thị, mệnh lệnh trực tiếp của chủ thể quản lý nhưng có tácđộng rất thiết thực và sâu rộng
Trang 33CHƯƠNG II THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
2.1 Tổng quan về các công ty chứng khoán và hoạt động dịch vụ chứng khoán của các công ty chứng khoán Việt Nam
2.1.1 Giới thiệu tổng quan về các công ty chứng khoán Việt Nam
- Cùng với sự ra đời của TTCK thì năm 2000 có 3 công ty chứng khoánchính thức đi vào hoạt động gồm: Công ty CP Chứng khoán Sài Gòn (SSI),Công ty CP Chứng khoán Bảo Việt (BVSC), Công ty TNHH Chứng khoánNgân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và 2 mã chứng khoán của 2 công tyniêm yết là REE (Công ty CP Cơ Điện lạnh REE) và SAM (Công ty CP Đầu
tư và Phát triển Sacom) đi vào giao dịch
Bảng 2.1: Số lượng công ty niêm yết, công ty chứng khoán, số tài khoản khách
hàng và mức vốn hóa TT của TTCK VN giai đoạn 2000-2011
(Nguồn: Sở giao dịch chứng khoán HCM và Hà Nội, UBCK Nhà nước)
- Từ năm 2000-2005, TTCK Việt Nam mới thành lập, tâm lý nhà đầu tưcòn ngại ngùng, mới chỉ có số ít tổ chức mà hầu hết là các ngân hàng có khảnăng tài chính vững mạnh đứng ra thành lập các CTCK TTCK Việt Nam cònnon nớt, số nhà đầu tư tham gia thị trường còn ít, không nhiều cá nhân, tổchức mặn mà với thị trường TTCK phát triển chậm, không có biến động lớn.Đến năm 2005 mới chỉ có 41 công ty niêm yết và 14 công ty kinh doanh
Trang 34chứng khoán hoạt động tại trung tâm giao dịch chứng khoán.
- Năm 2006 đánh giá bước nhảy vọt về giá cổ phiếu, khối lượng giaodịch, số nhà đầu tư tham gia thị trường và số lượng các CTCK Thị trường cónhiều chuyển biến tích cực, bức tranh chung của TTCK Việt Nam có sự khởisắc, quy mô thị trường được mở rộng, lòng tin của nhà đầu tư đối với thịtrường được nâng lên Đây là cơ hội lớn cho các CTCK tăng số khách hàngcủa mình Tính đến năm 2006 có 193 công ty niêm yết, 55 công ty chứngkhoán, mức vốn hóa thị trường đạt 22.7% GDP, số tài khoản 120.000 tăng gấpnhiều lần so với năm 2005
- Số lượng CTCK tăng nhanh chóng từ 55 công ty năm 2006 lên 105công ty năm 2010 Tuy nhiên chất lượng của các CTCK tại Việt Nam còn yếu,vừa thừa, vừa thiếu Thừa ở chỗ số lượng các CTCK quá nhiều so với mô hìnhTTCK Việt Nam, còn thiếu ở chỗ thiếu các CTCK mạnh, đủ tiềm lực về vốn,công nghệ cũng như trình độ lãnh đạo, nhân sự để phát triển các dịch vụ chứngkhoán một cách tốt nhất Hiện nay với 102 CTCK là thành viên của Sở có tổngvốn điều lệ trên 34.019,5 tỷ đồng Có 43 CTCK có vốn điều lệ từ 300 tỷ trởlên, có 6 CTCK có vốn điều lệ lớn hơn 1.000 tỷ đồng Hiện nay SSI là CTCK
có vốn điều lệ lớn nhất là hơn 3.500 tỷ đồng
Biểu đồ 2.1 Biểu đồ vốn điều lệ của các CTCK lớn
Trang 35- Hiện nay sau gần 12 năm đi vào hoạt động, trên thị trường chứngkhoán Việt Nam có 105 công ty chứng khoán Trong đó có 102 công ty chứngkhoán là thành viên của Sở giao dịch chứng khoán HCM và 100 công tychứng khoán là thành viên của Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội Theo QĐ62/QĐ – BTC – Phê duyệt đề án tái cấu trúc TTCK thì dự kiến sẽ giảm sốlượng các CTCK xuống còn khoảng 50 CTCK cho phù hợp với điều kiện củaTTCK Việt Nam giai đoạn 2012 -2015.
2.1.2 Thực trạng hoạt động dịch vụ chứng khoán của các công ty chứng khoán Việt Nam
Theo đà phát triển của thị trường, sản phẩm dịch vụ của các CTCKcũng ngày càng đa dạng và phong phú, dần đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư.Các CTCK tăng cường mở rộng cả về quy mô và hoạt động Sự lớn mạnh củacác CTCK không chỉ thể hiện qua việc mở rộng hoạt động ra một số tỉnh-thành phố trong nước như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP HCM, BìnhDương, Cần Thơ mà tiềm lực về vốn và nguồn nhân lực cũng không ngừnggia tăng, góp phần nâng cao năng lực hoạt động của thị trường
Giai đoạn 2000 - 2005
- Kể từ khi thành lập ban đầu mới có 3 công ty chứng khoán cung cấpcác dịch vụ môi giới, tư vấn đầu tư, tư vấn niêm yết, bảo lãnh phát hành chứngkhoán Giai đoạn đầu số lượng các dịch vụ chứng khoán chưa phát triển nhiều.Dần dần khi thị trường phát triển, số lượng các công ty niêm yết tăng, sốlượng tài khoản giao dịch tăng nhanh thì các CTCK tiếp tục cung cấp thêm cácdịch vụ khác nữa ngoài 4 dịch vụ chính trên Các dịch vụ gia tăng giá trị nhưliên kết tài khoản với ngân hàng, báo giá chứng khoán qua điện thoại, theo dõigiao dịch chứng khoán trực tuyến, đặt lệnh giao dịch qua điện thoại, Internet được các CTCK đưa vào áp dụng ngày càng nhiều, đem lại lợi ích thiết thựccho người đầu tư Nguồn vốn điều lệ của các CTCK đã lên tới trên 810 tỷđồng, hoạt động kinh doanh đã ổn định hơn sau một số năm đầu khó khăn, đến
Trang 36năm 2004 các CTCK đều có lãi và đã thực hiện trích quỹ dự phòng tài chính
để tăng vốn điều lệ
- Về kết quả triển khai các hoạt động nghiệp vụ được cấp phép: CácCTCK đã chủ động triển khai mạnh hoạt động tư vấn tài chính doanh nghiệp:cung cấp dịch vụ định giá doanh nghiệp, tư vấn cổ phần hoá, thực hiện đấu giáphát hành cổ phiếu qua CTCK, tư vấn niêm yết và phát hành bổ sung tăng vốnqua TTCK Trong năm 2004, các CTCK đã làm đại lý phát hành cổ phiếu chogần 20 công ty và tư vấn cổ phần hoá cho gần 100 doanh nghiệp, tư vấn niêmyết mới và niêm yết bổ sung cho 10 doanh nghiệp, đây là đóng góp của cácCTCK trong tiến trình đẩy mạnh cổ phần hoá DNNN của nhà nước
- Trong năm 2004 đã có 6/13 CTCK triển khai nghiệp vụ quản lýdanh mục đầu tư với tổng giá trị chứng khoán trong danh mục trên 240 tỷđồng Bên cạnh đó, các CTCK đã thực hiện bảo lãnh phát hành với tổng giátrị là 9.034 tỷ đồng
Giai đoạn năm 2006 –2007:
Giai đoạn này, cùng với sự phát triển không ngừng về quy mô củaTTCK Việt Nam, là sự lớn mạnh của các tổ chức tài chính trung gian, đặc biệt
là các CTCK Sự trưởng thành của các CTCK Việt Nam không chỉ thể hiện về
sự tăng trưởng số lượng và quy mô vốn mà còn thể hiện rõ nét qua phươngthức và chất lượng cung cấp dịch vụ cho khách hàng
Tăng trưởng về số lượng và quy mô của các CTCK
- Tính đến năm 2007, UBCKNN đã cấp phép hoạt động kinh doanh
chứng khoán cho 61 công ty, với tổng số vốn điều lệ đạt 5.735 tỷ đồng.Trong đó, có 43 công ty được cấp phép 4 nghiệp vụ môi giới chứng khoán,
tư vấn đầu tư chứng khoán, tự doanh chứng khoán và bảo lãnh phát hànhchứng khoán
Mặc dù số lượng CTCK đi vào hoạt động từ năm 2007 tăng gấp 3-4 lần
Trang 37so với năm 2006, nhưng kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2007 của nhiềuCTCK vẫn khá tốt, điển hình là các CTCK đã có thời gian hoạt động lâunhư CTCK Sài Gòn (SSI) - lợi nhuận sau thuế đạt 668,5 tỷ đồng, CTCK ACB(ACBS) - lợi nhuận sau thuế đạt 141 tỷ đồng, CtyCK Bảo Việt (BVSC) - lợinhuận sau thuế đạt 156,8 tỷ đồng và một số CTCK tuy mới triển khai hoạtđộng như: CTCK Ngân hàng Sài Gòn Thương tín (SBS) - lợi nhuận sau thuếđạt 125,2 tỷ đồng, CTCK Đại Việt - lợi nhuận sau thuế đạt 39,4 tỷ đồng,CTCK Quốc Tế Việt Nam - lợi nhuận sau thuế đạt 23,7 tỷ đồng.
- Trong quá trình hoạt động, các CTCK luôn đẩy mạnh việc phát triểnmạng lưới, năm 2007, ngoài 56 trụ sở chính, mạng lưới hoạt động của cáccông ty gồm 25 chi nhánh, 14 phòng giao dịch, 24 đại lý nhận lệnh (so vớimạng lưới gồm 12 chi nhánh, 9 phòng giao dịch và 13 đại lý nhận lệnh tại thờiđiểm 31/12/2006) Cùng với việc mở rộng chi nhánh, hoàn thiện bộ máy tổchức, nhiều CTCK đã thực hiện tăng vốn điều lệ nhằm nâng cao năng lực tàichính và đáp ứng quy định vốn pháp định theo yêu cầu của Nghị định 14hướng dẫn Luật Chứng khoán Trong 6 tháng đầu năm 2007, 4 CTCK gồmSao Việt (tăng từ 20 tỷ đồng lên 36 tỷ đồng), CTCK An Bình – ABS (tăng từ
50 tỷ đồng lên 330 tỷ đồng), CtyCK Hà Thành (tăng từ 18 tỷ đồng lên 60 tỷđồng), CTCK Kim Long (tăng từ 18 tỷ đồng lên 315 tỷ đồng)
Nâng cao chất lượng hoạt động
- Về hoạt động môi giới:
Tính đến hết ngày 30/6/2007, số tài khoản giao dịch chứng khoán tạicác CTCK đạt 255.185 tài khoản (tăng 169.001 tài khoản, tương đương 196%
so với thời điểm ngày 31/12/2006) Trong đó, đối với những CTCK đã có bềdày hoạt động, đều chiếm tỷ trọng cao về số lượng nhà đầu tư mở tài khoảngiao dịch như: VCBS có 34.490 tài khoản, chiếm 16,52% tổng số tài khoảntoàn thị trường; BVSC có 34.395 tài khoản, chiếm 13,48%; CTCK Sài Gòn(SSI) có 26.746 tài khoản, chiếm 10,48%; CTCK Ngân hàng Đầu tư (BSC) có
Trang 3824.525 tài khoản, chiếm 9,61% Bên cạnh đó, một số CTCK tuy mới triển khaihoạt động nhưng đã thu hút được khá nhiều nhà đầu tư, như SBS đạt 7.720 tàikhoản, chiếm 3,03% thị phần, ABS đạt 6.104 tài khoản, chiếm 2.39% thị phần,CTCK Vndirect đạt 5.195 tài khoản, chiếm 2.04% thị phần
Tổng giá trị giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư trong tháng 6/2007 qua các CTCK đạt 25.196 tỷ đồng Những CTCK có doanh số môi giới giao dịch lớn đa số là những công ty đã có nhiều năm hoạt động, có nhiều nhà đầu tư mở tài khoản.
- Hoạt động bảo lãnh phát hành, đại lý phát hành
Hoạt động bảo lãnh phát hành của các CTCK 6 tháng đầu năm 2007vẫn tập trung chủ yếu là bảo lãnh phát hành các loại trái phiếu như trái phiếuchính phủ cho Kho bạc Nhà nước, trái phiếu ngân hành, trái phiếu đô thị
Vốn CSH của CTCK (tỷ đồng)
Hình thức BL Số HĐ BL BL(trđ) Giá trị
Trang 39TLS 108.758 451.000 120 Chắc
Như vậy, các CTCK đã thực hiện 4 hợp đồng bảo lãnh phát hành vớihình thức bảo lãnh cam kết chắc chắn Các hợp đồng bảo lãnh nói trên đã thựchiện theo đúng quy định hiện hành do giá trị chứng khoán đã được bảo lãnhkhông vượt quá 50% vốn điều lệ của CTCK Tuy nhiên, số liệu trên cũng chothấy, trong thời gian gần đây, có rất ít CTCK thực hiện việc bảo lãnh pháthành và các công ty chưa chú trọng đầu tư tìm kiếm khách hàng, đào tạo nhân
sự, xây dựng quy trình chuẩn để triển khai nghiệp vụ này
- Hoạt động tư vấn:
Tư vấn đầu tư chứng khoán: Mảng hoạt động này nhìn chung đã bắt
đầu tiến triển với số hợp đồng tư vấn đầu tư chứng khoán của các công ty đạt
55 hợp đồng (tại thời điểm 1/1/2007 chỉ có 6 hợp đồng tư vấn đầu tư) Điềunày cho thấy trong sự phát triển, các CTCK đang dần chuyển sang hướng quantâm, chú trọng hơn đến hoạt động chăm sóc khách hàng Tuy nhiên, so vớikhoảng 255.000 tài khoản giao dịch chứng khoán tại các CTCK thời điểm này,
số hợp đồng trên là không đáng kể và tiềm năng để các CTCK phát triển mảnghoạt động này là không nhỏ Tuy là CTCK được cấp phép cuối năm 2006 vàtriển khai hoạt động chưa lâu, CTCK An Bình hiện đang có số hợp đồng tưvấn đầu tư chứng khoán lớn nhất (50 hợp đồng)
Tư vấn niêm yết: Tổng số hợp đồng tư vấn niêm yết tại thời điểm này
của các CTCK là 100 hợp đồng, trong đó có 9 hợp đồng được ký trong tháng6/2007 (so với 67 hợp đồng tại thời điểm 1/1/2007) Như vậy, hoạt động tưvấn niêm yết có những dấu hiệu khả quan hơn so với thời điểm đầu năm.Những CTCK đang thực hiện nhiều hợp đồng tư vấn niêm yết là CTCK Sài
Trang 40Gòn (30 hợp đồng), CTCK Ngân hàng ACB (14 hợp đồng), CTCK Ngân hàngĐông Nam Á.
Tư vấn khác: Tổng số hợp đồng tư vấn khác tại ngày 30/6/2007 là 305
hợp đồng, trong đó có 77 hợp đồng được ký, 42 hợp đồng được thanh lý trongtháng 6/2007 Các hợp đồng này chủ yếu là hợp đồng tư vấn cổ phần hóa vàbán đấu giá cổ phần Các công ty có nhiều hợp đồng tại thời điểm này là SSI(42 hợp đồng), ACBS (35 hợp đồng), IBS (32 hợp đồng) Nhìn chung, hoạtđộng tư vấn đã có những phát triển đáng kể so với thời gian đầu năm, cácCTCK đã chú trọng hơn đến nghiệp vụ tư vấn Không chỉ những công ty đãhoạt động lâu năm mà những công ty được cấp phép trong năm 2006 cũng đãtriển khai hoạt động này khá tốt
Sự ra đời của hàng loạt các CTCK đã góp phần đáp ứng được nhu cầudịch vụ cho số lượng đông đảo nhà đầu tư đang ngày một gia tăng, đồng thờitạo ra áp lực cạnh tranh buộc các CTCK phải tự hoàn thiện mình, nâng caochất lượng dịch vụ khách hàng và đảm bảo lợi ích cho khách hàng Mặc dùvậy, tỷ lệ người dân Việt Nam tham gia đầu tư chứng khoán vẫn còn rất nhỏ,nên việc số lượng các CTCK gia tăng nhanh trong một khoảng thời gian khángắn đã dẫn đến một số công ty gặp nhiều khó khăn trong hoạt động kinhdoanh Với khả năng tài chính và kinh nghiệm còn hạn chế, vì mục tiêu lợinhuận của mình một số CTCK đã sử dụng những biện pháp cạnh tranh khônglành mạnh, gây ra những ảnh hưởng xấu đến sự phát triển chung của thịtrường, tạo tâm lý lo ngại cho các nhà đầu tư Với số lượng trên 60 CTCK tạithời điểm này được cấp phép và đi vào hoạt động nhưng phải chia nhau mộtthị trường quá nhỏ chỉ với trên dưới 250.000 khách hàng là các nhà đầu tư, tổchức và cá nhân, trong khi đó các CTCK lớn và hoạt động lâu năm như SSI,VCBS, ACBS, BCVS, SBS đã thâu tóm khoảng 85% lượng khách hàng,