Cùng với điều hành chính sách tiền tệ, thanh tra, giám sát ngân hàng thật sự là trụ cột thứ hai để bảo đảm NHNN thực hiện có hiệu quả chức năng quản lýnhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐẾ TÀI
Trong những năm gần đây, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chứcThương mại Thế giới (WTO) và thực hiện lộ trình cam kết mở cửa thị trường tàichính, hệ thống các NHTM có bước phát triển rất nhanh về quy mô và phạm vi hoạtđộng nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro Thị trường tài chính phi ngân hàng (chứngkhoán và bảo hiểm) có sức hấp dẫn cao, các NHTM có xu hướng thâm nhập sâu rộnghơn vào hoạt động này Đặc biệt, những diễn biến gần đây cho thấy các NHTMđang bị thao túng bởi các tập đoàn kinh tế, trở thành công cụ phục vụ cho chính cáctập đoàn này Trong một số trường hợp, các ngân hàng được sử dụng nhằm huyđộng vốn cho các tập đoàn kinh tế (chứ không phải cho nền kinh tế) Ban đầu làtình trạng các NHTM nhà nước huy động vốn cho tập đoàn nhà nước đầu tư tràn lanvào các dự án kém hiệu quả Hiện nay là sự xuất hiện các tập đoàn kinh tế tư nhânlập ra các ngân hàng, từ đó huy động vốn từ dân cư để đầu tư vào các lĩnh vực kinhdoanh của mình Vấn đề đặt ra ở đây là các hoạt động kinh doanh này đã khôngđược các ngân hàng thẩm định mức độ rủi ro một cách đầy đủ và minh bạch Điềunày xóa bỏ đi vai trò sàng lọc, chuyển giao và phân tán rủi ro của hệ thống ngânhàng với tư cách là một trung gian tài chính điển hình Nói cách khác, các ngânhàng trong trường hợp này không những không giúp sàng lọc, phân tán rủi ro màcòn làm gia tăng rủi ro cho dòng vốn trong nền kinh tế Bên cạnh đó, sự phát triểnmạnh mẽ của các dịch vụ ngân hàng cùng với các loại tội phạm mới xuất hiện tronglĩnh vực ngân hàng như rủi ro tác nghiệp, rủi ro hoạt động cho thấy rủi ro đối với cácNHTM ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp hơn
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Hệ thống hóa lý thuyết về nghiệp vụ giám sát từ xa của NHTW
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động giám sát từ xa của NHTW đốivới hoạt động của các Ngân hàng thương mại Việt Nam, những kết quả đạt được
và những tồn tại trong hoạt động GSTX của NHNN Việt Nam
- Hình thành giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện nghiệp vụ GSTX của NHNNVN
Trang 23 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động GSTX của NHNN Việt Nam đối với các NHTM
- Phạm vi nghiên cứu: Do đề cập tới vấn đề GSTX đối với các TCTD là rất rộngnên phạm vi của chuyên đề chỉ tập trung nghiên cứu về nghiệp vụ GSTX của NHTWđối với hoạt động của các NHTM
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, kết hợp với các phương phápthống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp… nhằm làm rõ vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp thu thập, xử lý số liệu: Số liệu thứ cấp được thu thập từ cácBáo cáo thường niên, Bản công bố thông tin, từ cơ quan thống kê, tạp chí… vàđược xử lý trên máy tính
5 KẾT CẤU CỦA CHUYÊN ĐỀ
Ngoài phần mục lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục các bảng số liệu, phụlục, danh mục tài liệu tham khảo, chuyên đề có 85 trang được trình bày như sau:Phần mở đầu
Chương 1: Cơ sở lý luận về nghiệp vụ giám sát từ xa của NHTW đối với hoạt
động của các NHTM
Chương 2: Thực trạng hoạt động giám sát từ xa của Ngân hàng nhà nước Việt
Nam đối với các NHTM
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện nghiệp vụ giám sát từ xa của Ngân
hàng nhà nước Việt Nam đối với các NHTM
Phần kết luận
Trang 3CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIỆP VỤ GIÁM SÁT TỪ XA CỦA NHTW ĐỐI VỚI CÁC NHTM NHẰM ỔN ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NGÀNH NGÂN HÀNG SAU THỜI KỲ
KHỦNG HOẢNG
1.1 Kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ và bài học cho việc ổn định ngành ngân hàng Việt Nam
1.1.1 Nguyên nhân từ cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ
Tháng 8 năm 2007 là thời điểm bùng nổ của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ,
Dòng vốn từ Trung Quốc và các nước mới nổi đổ vào Mỹ trong thập kỷ gầnđây đã làm lãi suất thực giảm xuống thấp, dẫn đến bong bóng giá tài sản trong đó cónhà đất Tuy nhiên bong bóng tài sản và bong bóng nhà đất chỉ là ngòi nổ củakhủng hoảng chứ không phải cái căn gốc của vấn đề
• Fed đã duy trì mức lãi suất quá thấp sau giai đoạn bong bóng chứng khoánngành công nghệ thông tin dotcom cuối năm 2000 Và một hoàn cảnh khó khăn choFed khi mà nước Mỹ phải hứng chịu thêm vụ khủng bố lịch sử 11/9/2001
• Nhiều sản phẩm tài chính mới ra đời tạo ra sự chủ quan giả tạo vì nhiều nhàđầu tư cho rằng họ đã phân tán được rủi ro Ngoài ra những sản phẩm tài chính mớinày (CDO, CDS) cũng làm các định chế tài chính phụ thuộc lẫn nhau nhiềuhơn.Trước tiên về vấn đề các sản phẩm tài chính mới được tạo ra nó thuộc phạm trù
về sự đổi mới tài chính nhằm mục địch tối đa hóa lợi nhuận
Trang 4Với dòng vốn từ Trung Quốc và một số quốc gia mới nổi đổ vào Mỹ kết hợpvới nỗ lực của Fed năm 2001 đã làm lãi suất thực trong nước Mỹ ở mức được cho làthấp so với lịch sử để đối phó với cú vỡ bong bóng chứng khoán công nghệ caoInternet (dotcom) vào cuối năm 2000, cục Dữ trữ Liên bang (Fed) đã cắt giảm lãisuất Liên bang từ 6.5% xuống 3.5% chỉ trong vòng vài tháng Tiếp sau đó là vụ tấncông khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001 Để chống lại sự đổ vỡ của nền kinh tế,Fed tiếp tục hạ lãi suất – xuống hẳn mức 1% vào tháng 7 năm 2003,mức lãi suấtthấp nhất trong vòng nửa thế kỷ qua, và lãi suất đứng yên ở mức đó suốt một nămtròn Mức lãi suất thấp mà Fed duy trì trong giai đoạn 2000 – 2004 và các công cụtài chính mới (CDO…) chỉ là điều kiện cho cuộc khủng hoảng nổ ra Vậy môitrường kinh tế đã thay đổi ra sao khiến các sản phẩm tài chính mới ra đời Đó chính
là lý do 1 và lý do 2 đã được nêu lên ở trên
Tuy nhiên, 3 lý do mà phần lớn mọi người kiện cho cuộc khủng hoảng diễn ra
và lan rộng, vấn đề căn bản quan trọng nhất tạo nên cuộc khủng hoảng này là vấn
đề đến từ hệ thống giám sát của Mỹ Như đã đề cập ở trên, tác giả cho rằng vấn đềcốt lõi mà gây nên cuộc khủng hoảng này đến từ hệ thống giám sát Hệ thống giámsát đã lỏng lẻo ở khâu thứ I (cấp tín dụng) và khâu thứ II (kiểm soát các sản phẩmphái sinh) Những lỏng lẻo từ hệ thống giám sát ở các khâu này đã làm cho “rủi rođạo đức”- Moral hazard gia tăng mạnh mẽ Đó mới là nguyên nhân chủ đạo củakhủng hoảng lần này
Ở trong khâu thứ I, ngân hàng đã cấp tín dụng cho thị trường bất động sảnthông qua hai gói tín dụng thứ nhất với gói có lãi suất cố định trong suốt thời gianvay (Fixed rate mortgages_FRMs), thứ hai là gói tín dụng có lãi suất điều chỉnhtheo thời gian (Adjustabe rate mortgages_ARMs) – một đổi mới trong tài chính củacác ngân hàng tiết kiệm và cho vay ở California năm 1975
Ngân hàng cung cấp tín dụng mua nhà thế chấp trong giai đoạn này với lãi lãisuất tương đối thấp.Tuy nhiên đây là giai đoạn kinh tế khó khăn, mức tăng thu nhậpbình quân trong giai đoạn này rất kém.Đối mặt với hoàn cảnh này, các hãng cho vay
đã trổ đủ tài để cho nhà hợp với túi tiền hơn Công cụ phổ biến nhất trong giai đoạnnày là khoản vay thế chấp mua nhà với lãi suất điều chỉnh _ ARMs Họ đưa ra “mồi
Trang 5nhử” bằng cách ấn định lãi suất trong hai năm đầu thấp hơn cả lãi suất thị trường.
Họ nghĩ rằng, sau hai năm khi lãi suất cao có hiệu lực, thì tài sản thế chấp đó sẽđược đem ra đảo nợ, lợi dụng giá tài sản cao hơn và sinh ra một loạt phí mới chongười cho vay
Những chuẩn mực tín dụng bị sụp đổ, và người ta làm sao cho ngay cả nhữngngười có mức độ xếp hạng tín dụng kém cũng dễ dàng mua nhà ( gọi là khoản vaydưới chuẩn) Phổ biến là loại “Alt – A” (cho người nói dối vay) với ít hoặc hoàntoàn không có giấy tờ chứng minh thu nhập, trong số đó ở mức cực đoan là khoảnvay “Ninja” (con nợ không có nghề nghiệp, không thu nhập, không tài sản), thường
là có sự đồng lõa của cả người môi giới và người cho vay tiền mua nhà
Chất lượng thẩm định tín dụng tồi tệ đến mức kỷ lục năm 2006 có tới hơn88% các con nợ không đủ điều kiện hồ sơ tín dụng.Các khoản vay có chất lượng tồităng nhanh liên tục Ở đây, hệ thống giám sát đã lỏng lẻo trong việc giám sát cáckhoản tín dụng của ngân hàng để cho các tiêu chuẩn tín dụng bị sụp đổ và rủi ro đạođức tung hoành
Một câu hỏi được đặt ra lúc này, các ngân hàng là người thẩm định chất lượngtín dụng, tại sao họ vấn cung cấp những khoản tín dụng đầy rủi ro kia? Câu trả lời làcác ngân hàng sẽ bán hết những khoản vay thế chấp nhiều rủi ro nhất của mình đibằng cách đóng gói chúng lại trong những chứng khoán có tên gọi giấy nợi có thếchấp (Collateralized Debt Obligation - CDO) Những giấy nợ này chuyển dòng tiền
từ hàng ngàn khoản thế chấp thành những lô trái phiếu được “khoanh”, hay đượcxếp hạng với đủ mức độ rủi ro và lợi nhuận phù hợp với các “khẩu vị đầu tư khácnhau” Những khoanh được xếp hạng cao nhất, có lẽ chiếm đến 80% các trái phiếu,
có nguồn tiền chảy vào khá chắc chắn nên được xếp hạng AAA Những trái phiếuđược xếp hạng thấp hơn là trái phiếu phải chịu rủi ro nếu có gì xảy ra nhưng phầnlợi cao hơn.Trên thực tế, các ngân hàng và các hãng xếp hạng tín dụng đã đánh giáquá thấp những rủi ro hàm chứa trong những thứ thậm chí vô lý như khoảnvay“Ninja” nói trên
Chứng khoán hóa được dự tính là sẽ giúp giảm thiểu rủi ro thông qua phânhạng rủi ro và đa dạng hóa trên cơ sở vị trí địa lý.Nhưng thực những biên pháp trên
Trang 6làm gia tăng rủi ro do chúng đã chuyển quyền sở hữu của những khoản vay thế chấp
từ những ngân hàng biết rõ khách hàng của mình là ai sang những nhà đầu tư khôngbiết ai với ai _ một sự bất cân xứng thông tin.Thay vì một ngân hàng hay một cơ sởtiết kiệm chấp thuận cấp một khoản tín dụng rồi lưu nó lại trên sổ sách của mình thìnay các khoản vay lại được những tay môi giới lùng kiếm ra, tạm thời “lưu kho” bởinhững “ngân hàng cho vay thế chấp” đoản vốn; rồi được bán cả mớ cho những ngânhàng đầu tư,từ đây chúng được chế biến thành các CDOs, rồi được đóng dấu phânloại bởi tổ chức xếp hạng tín dụng và cuối cùng được bán cho các tổ chức đầu tưtrên toàn cầu
Chứng khoán hóa và các công cụ phái sinh góp phần lớn vào việc tăngtrưởngGDP mạnh mẽ của Mỹ trong những năm 2002 – 2004 Chứng khoán hoá là chất xúctác mạnh mẽ cho thị trường cho vay thế chấp bất động sản, vai trò lớn nhất của quátrình đó là làm khơi thông dòng vốn đổ vào thị trường bất động sản, giúp cho nhữngkhoản cho vay thế chấp của các ngân hàng không phải nằm im trên bảng cân đối tàisản mà được luân chuyển tiếp tục để tạo vốn cho ngân hàng.Để tung ra mức lãi suấthấp dẫn chào mời những người mua nhà thì các công ty tài trợ địa ốc ở Mỹ đã dùngnhiều “thủ thuật tài chính” và tung ra những sản phẩm vay trả góp mới mà thôngdụng nhất là cái gọi là “khoản cho vay thế chấp với lãi suất thả nổi-ARM” Đi kèmvới quy trình chứng khoán hoá là công cụ phái sinh CDS, định nghĩa của nó như đãnói trong phần trên Nhiều nhà kinh tế đã lên tiếng gay gắt về CDS và thậm chí coi
nó như một thứ công cụ “ma quỷ”, có sức phá hoại mạnh mẽ thị trường tài chính,nhưng cũng rất nhiều chuyên gia không thể phủ nhận sự thông minh và tinh vi của
nó Nhóm nghiên cứu sẽ giải thích chi tiết quy trình chứng khoán hoá và ý nghĩacủa các công cụ phái sinh bằng những minh hoạ sinh động dưới đây:
1.1.2 Bài học về sự ổn định hệ thống tài chính ngân hàng Việt Nam từ cuộc khủng hoảng tài chính ngân hàng của Mỹ
Thứ nhất: Việc giám sát từng tổ chức tài chính và thúc đẩy sự ổn định của cả
hệ thống tài chính là hai hoạt động hỗ trợ, bổ sung cho nhau Từ trước khủng hoảng,Fed đã làm việc với các tổ chức có dịch vụ hỗ trợ thương mại và hệ thống thanh
Trang 7và các bên tham gia thị trường để hoàn thiện quy chế thanh toán các công cụ pháisinh trên thị trường không chính thức Kết quả là đã nâng cao đáng kể tính chínhxác và kịp thời của các thông tin thương mại Cùng với các cơ quan khác, Fed đangxây dựng các mục tiêu và các tiêu chuẩn nghiêm ngặt trong hoạt động của các bêntham gia thị trường
Thứ hai: Hoạt động bảo vệ người tiêu dùng cũng đóng góp vào sự ổn định tài
chính Việc rất nhiều tổ chức tài chính bán nhiều sản phẩm tiêu dùng với tính phứctạp ngày càng tăng cho một bộ phận lớn dân chúng được coi là một trong nhữngnguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng hiện nay.Trong vòng một năm qua, Fed đãphổ biến nhiều thông tin mới về một loạt các sản phẩm tài chính, đáng chú ý nhất làthông tin về thẻ tín dụng tiêu dùng, đồng thời cũng đưa ra qui định cấm một sốnghiệp vụ có tính phức tạp dễ gây thiệt hại cho người tiêu dùng
Thứ ba: Tập trung vào khâu tuyển chọn và đào tạo đội ngũ nhân viên có
hiểu biết, kỹ năng và chuyên môn thuộc nhiều lĩnh vực Fed thường sử dụng cáchtiếp cận đa ngành để giải quyết vấn đề và điều này giúp Fed có được cách nhìn nhậnchính xác hơn đối với các hoạt động tài chính và các rủi ro có thể xảy ra Trong suốtkhủng hoảng này, các thanh tra, chuyên gia kinh tế, kế toán, luật sư, và các chuyêngia về các vấn đề người tiêu dùng đang hợp tác chặt chẽ với nhau Fed phải đảmbảo tiếp tục tăng cường hiểu biết và chuyên môn của đội ngũ chuyên gia để theo kịpnhững khó khăn và thách thức mà Fed sẽ phải đương đầu trong vai trò giám sátngân hàng và trong cả nhiệm vụ truyền thống là ổn định hệ thống tài chính
Thứ tư: Trong tương lai, hoạt động giám sát theo phương thức thận trọng hơn
và trên góc độ vĩ mô hơn, giải quyết những rủi ro cho cả hệ thống tài chính bêncạnh giám sát từng tổ chức riêng lẻ, sẽ giúp tăng cường ổn định tài chính vĩ mô.Quy chế giám sát phải tạo cho Fed khả năng giám sát, đánh giá và trong trường hợpcần thiết giải quyết những rủi ro tiềm tàng trong hệ thống tài chính
Trang 81.2 Ngân hàng Trung ương và vai trò của NHTW trong môi trường tài chính mới 1.2.1 Khái niệm
Ngân hàng trung ương (Central Bank) ở bất cứ quốc gia nào đều là một trongnhững cơ quan có vị thế vô cùng quan trọng, là ngân hàng đứng đầu trong hệ thốngngân hàng Đặc điểm nổi bật của ngân hàng trung ương là không giao dịch, làmnghiệp vụ trực tiếp với các nhà kinh doanh và công chúng, khách hàng của NHTW
là tất cả các ngân hàng khác Ngân hàng trung ương giữ vai trò là ngân hàng của cácngân hàng; bảo quản quỹ dự trữ tiền tệ của các ngân hàng; cho các ngân hàng vayvốn khi cần thiết, thực hiện chính sách tiền tệ tín dụng của nhà nước; cơ quan pháthành tiền tệ trong nước; thanh toán và tín dụng quốc tế với ngân hàng trung ươngcác nước khác; là cơ quan cung cấp dịch vụ tiền tệ Chính phủ
Trong bất cứ một quốc gia nào, Ngân hàng trung ương đều giữ vai trò trọngyếu trong bộ máy quản lý và điều hành vĩ mô, bởi vì ngân hàng trung ương nắmtrong tay những công cụ quản lý vĩ mô, đặc biệt là những công cụ về chính sáchtiền tệ Vì vậy người ta bố trí mô hình tổ chức thích hợp để đảm bảo phát huy đếnmức cao nhất hiệu lực của bộ máy quản lý vĩ mô này Có hai loại mô hình tổ chứcngân hàng trung ương:
i/ NHTW trực thuộc Chính phủ.Theo mô hình này, Ngân hàng trung ương là
một bộ máy của Chính phủ, là một cơ quan chức năng của Chính phủ, chịu sự kiểmsoát toàn diện của Chính phủ và thực hiện mọi chính sách thể chế của chính phủ Sự
đề xuất ngân hàng trung ương trực thuộc chính phủ xuất phát từ quan điểm cho rằngtiền tệ là một bộ phận của chính sách cai trị về tài chính, tiền tệ là phương tiện củachính quyền Mô hình này được áp dụng ở hầu hết các nước, ở Việt Nam cũng được
áp dụng mô hình tổ chức Ngân hàng trung ương như trên Điều 2 của luật Ngânhàng Nhà nước đã khẳng định: “Ngân hàng nhà nước Việt Nam là cơ quan ngang
bộ của Chính Phủ…”
ii/NHTW độc lập Chính phủ.Theo mô hình này, Ngân hàng trung ương
không chịu sự kiểm soát của Chính phủ mà chịu sự kiểm soát và lãnh đạo của Quốchội Trên thế giới hiện có Mỹ và Đức là hai quốc gia áp dụng mô hình tổ chức nói
Trang 9trên Về hệ thống tổ chức của Ngân hàng trung ương nói chung đều được tổ chức bốtrí theo kiểu hình chóp hai cấp:
- Trụ sở ngân hàng trung ương đặt tại Thủ đô
- Các chi nhánh đặt tại các Tỉnh, Thành phố, hoặc khu vực
Tại trụ sở Trung ương sự bố trí thành lập các khâu để thực hiện chức năngnhiệm vụ có tính chuyên ngành cao (hoạch định chính sách, phát hành, tín dụng…),tại các chi nhánh cũng bố trí cơ cấu tổ chức thành các phòng ban để đảm bảo cácnhiệm vụ trên địa bàn
Tuy hệ thống tổ chức bố trí theo kiểu hình chóp gồm trụ sở Trung ương vàcác chi nhánh, nhưng ở mỗi nước lại bố trí các chi nhánh theo nhiều kiểu khác nhau
- Ở Pháp: trụ sở Trung ương đặt tại thủ đô ở Paris, các chi nhánh đặt trên địabàn các Tỉnh, thành phố và khu vực Phần lớn các nước đều áp dụng tổ chức này
- Ở Đức: Trụ sở Ngân hàng trung ương lại được đặt ở thành phố Frankfurt,một trung tâm thương mại lớn chứ không đặt tại thủ đô, còn các chi nhánh thì đượcđặt ở các bang
- Ở Mỹ: có mô hình khá riêng biệt so với các nước Trong toàn nước Mỹngười ta chia làm 12 khu vực và ở mỗi khu vực thành lập một ngân hàng dự trữ liênbang, ngân hàng này đóng vai trò quan trọng, là Ngân hàng trung ương của khuvực Lãnh đạo của 12 ngân hàng dự trữ liên bang là hội đồng các Thống đốc đặt trụ
sở tại thủ đô Washingtơn Toàn bộ hợp thành ngân hàng trung ương Mỹ
- Ở Việt Nam: Điều 2 khoản 2 luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 2010
đã chỉ rõ: Ngân hàng nhà nước Việt Nam là một pháp nhân có vốn pháp định thuộcquyền sở hữu Nhà nước, có trụ sở tại thủ đô Hà Nội
Mỹ: Ngân hàng Trung ương của Mỹ có tên Cục dự trữ Liên bang (Federal
Reserve System-Fed) là sự kết hợp của 12 ngân hàng dự trữ các Bang nằm ở tất cảcác thành phố lớn trên toàn nước Mỹ Nhiệm vụ chính của Cục dự trữ Liên bang làgiám sát và điều tiết các ngân hàng thương mại, thi hành chính sách tiền tệ qua việcmua và bán Trái phiếu Kho bạc (T-bills) và điều chỉnh mức lãi suất
Đức: Ngân hàng dự trữ liên bang Đức không trực thuộc Chính phủ khi thực
hiện các nghiệp vụ của mình, đồng thời có trách nhiệm ủng hộ chính sách kinh tế
Trang 10chung của Chính phủ.Quyền hạn và nghĩa vụ của Ngân hàng dự trữ liên bang Đứcđược quy định trong hiến pháp liên bang, ưu tiên việc đảm bảo tiền tệ bằng cáchchống lạm phát và trợ giúp chính sách của Chính phủ Ngân hàng dự trữ liên bangĐức có một Chủ tịch do Hội đồng ngân hàng bổ nhiệm theo ý kiến của Chính phủ.Hội đồng ngân hàng gồm 21 thành viên là đại diện từ các ngân hàng vùng, Chínhphủ và các quản trị viên ngân hàng Hội đồng họp thường xuyên 2 tuần một lần.
Trung Quốc: Được thành lập ngày 11 tháng 12 năm 1948 trên cơ sở hợp
nhất các ngân hàng Hoa Bắc, ngân hàng Bắc Hải và ngân hàng nông dân Tây Bắc.Trong thời gian từ 1949 đến 1978,đây là ngân hàng duy nhất của toàn Trung Quốc
và đảm đương vai trò ngân hàng trung ương
Từ năm 1995, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc là ngân hàng của chính phủgiữ thực hiện vai trò ngân hàng trung ương của Trung Quốc Năm 1998, ngân hàngtiến hành tái cấu trúc cơ bản Tất cả các chi nhánh địa phương và cấp tỉnh đều bãi
bỏ, Ngân hàng trung ương Trung Quốc mở 9 chi nhánh khu vực, địa giới từng chinhánh không theo địa giới hành chính Năm 2003, Ủy ban thường vụ Quốc hộiTrung Quốc phê chuẩn một đạo luật sửa đổi nhằm tăng cường vai trò của ngân hàngnày trong việc đề ra và thực hiện chính sách tiền tệ với mục đích bảo vệ sự ổn địnhtài chính quốc gia và thiết lập các dịch vụ tài chính
Bộ máy điều hành tối cao của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc gồm Thốngđốc và một số phó thống đốc Vị trí thống đốc được bổ nhiệm hay bãi nhiệmbởi Chủ tịch nước
Ngân hàng trung ương có nhiều nhiệm vụ to lớn, trong đó đặc biệt quantrọng là việc quản lý dự trữ ngoại hối Tính đến cuối quý 1 năm 2007, dự trữ ngoạihối của Trung Quốc đã lên tới hơn 1.200 tỉ USD, đưa Trung Quốc trở thành quốcgia có lượng dự trữ ngoại hối lớn nhất thế giới Số ngoại hối dự trữ của Trung Quốcchủ yếu được đầu tư vào trái phiếu chính phủ nước ngoài, tập trung vào các tráiphiếu có mức độ tín nhiệm cao
Việt Nam: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được thành lập tháng 5/1951, lúc
đầu có tên là Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, đến năm 1960 đổi tên thành Ngânhàng Nhà nước Việt Nam Đây là cơ quan cấp Bộ, trực thuộc Chính phủ, là Ngân
Trang 11hàng Trung ương của nước ta ở Việt Nam, Ngân hàng Trung ương có chức năngquản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng, quản lý nhà nước các dịch vụcông và thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tới doanh nghiệp cóvốn Nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng
Nhiệm vụ quan trọng của NHNN là thực hiện thanh tra, giám sát hoạt độngngân hàng Cùng với điều hành chính sách tiền tệ, thanh tra, giám sát ngân hàng thật
sự là trụ cột thứ hai để bảo đảm NHNN thực hiện có hiệu quả chức năng quản lýnhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng, thực hiện mục tiêu an toàn
hệ thống các TCTD Từ đó, tạo môi trường thuận lợi cho ổn định vĩ mô và tăngtrưởng kinh tế Sự an toàn, lành mạnh của hệ thống các TCTD góp phần tạo môitrường thuận lợi cho các hoạt động thương mại, đầu tư, tài chính phát triển và thúcđẩy tăng trưởng kinh tế nhanh.Ở hầu hết các nền kinh tế trên thế giới, ngành ngânhàng luôn chiếm vị trí trụ cột trong hệ thống tài chính và có vai trò quan trọng đốivới quá trình tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô bởi vị thế trung gian và
sự tập trung tài sản của nền kinh tế trong hệ thống ngân hàng
1.2.2 Vai trò của NHTW đối với sự an toàn của hệ thống tài chính ngân hàng trong môi trường tài chính mới*1
Môi trường tài chính mới là môi trường tài chính bị điều chỉnh bởi những diễnbiến tiêu cực của nhiều định chế tài chính lớn của một số quốc gia trong cuộc khủnghoảng tài chính toàn cầu vừa qua và trong bối cảnh nền tài chính thế giới đã bắt đầu
có những dấu hiệu hồi phục.Vậy, chúng ta cần nghiên cứu vai trò của NHTW để ổndịnh hệ thống tài chính ngân hàng trong thời kỳ này
1.2.2.1 Đánh giá rủi ro của toàn bộ hệ thống
Trước hết, NHTW cần phải đánh giá rủi ro trên toàn bộ hệ thống của mộtquốc gia có cân nhắc đến mối quan hệ giữa nền kinh tế sản xuất và thị trường tàichính và giữa các định chế tài chính với nhau Việc đánh giá này sẽ làm cơ sở chocác hành động chính sách liên quan đến sự ổn định của hệ thống tài chính.Trước khixảy ra cuộc khủng hoảng, các NHTW đã đưa ra lời cảnh báo về tình trạng tích tụ rủi
1* Vai trò của Ngân hàng trung ương trong giai đọan mới PMH (Nguồn Ban thư ký Hội nghị tiền tệ quốc tế và NHTW Nhật Bản)
Trang 12ro thông qua các báo cáo hệ thống tài chính và các nhà lãnh đạo ngân hàng cũngnhư bản thân các đối tượng tham gia thị trường ở chừng mực nào đó đã nhận biếtđược những rủi ro đó Nếu người ta nghiêm chỉnh hành động để cắt giảm các rủi ro
đó, thì cần phải có những hành động chỉnh sửa Nhưng để vượt qua khuôn khổ củacông tác phân tích và thực hiện những hành động chỉnh sửa, thì cần phải thực hiệnviệc đánh giá một cách kỹ lưỡng, cần một ý chí chính trị mạnh mẽ cùng với mộtkhuôn khổ pháp lý đủ mạnh để cho phép thực hiện những hành động có hiệu quảcao Trong bất cứ trường hợp nào, nếu không thực hiện việc đánh giá toàn bộ một
hệ thống, thì không thể thực hiện được các hành động Rõ ràng NHTW có được vịthế đương nhiên để đóng vai trò thực hiện việc đánh giá đó Với chức năng là cơquan chịu trách nhiệm về chính sách tiền tệ, NHTW tập trung vào các điều kiệnkinh tế vĩ mô, có mối quan hệ chặt chẽ với các đối tác thị trường tài chính và có nềnvăn hóa thể chế sẽ quan tâm thích đáng đến công tác nghiên cứu
1.2.2.2 Đánh giá lại việc thực thi chính sách tiền tệ
Thứ hai, NHTW cần phải đánh giá lại việc thực thi chính sách tiền tệ : “chínhsách tiền tệ có thể hoặc cần được thực thi như thế nào trong một môi trường mà ở
đó giá cả tài sản đang tăng, hoạt động tín dụng đang tăng và tình trạng cho vay vượtquá mức cho phép đang diễn ra và nền kinh tế đang tăng trưởng?”
Khi nhìn vào các đối tượng tham gia thị trường và toàn bộ ban lãnh đạo cấpcao của ngân hàng, thì động cơ của họ chịu sự tác động của điều kiện kinh tế vĩ mô
và tài chính Ví dụ điển hình nhất là công cuộc tìm kiếm lãi suất được người tachứng kiến trong cái gọi là Thời kỳ Tiết chế vĩ đại Vấn đề động cơ này chuyển biếnthành mối thách thức đầy khó khăn cho chính sách tiền tệ khi mà tình trạng bongbóng tài sản xuất hiện
Trong điều kiện kinh tế ảm đạm như vậy, việc nâng lãi suất cơ bản ở chừngmực nào đó có tác động ngắn hạn trong việc làm giảm bớt các hoạt động kinh tếgiống như tình trạng bong bóng Mặt khác, nếu NHTW duy trì chính sách tiền tệ rấtnới lỏng, thì sẽ gây ra hậu quả cấp tín dụng tràn lan và cho vay quá mức cho phép.Việc tích tụ các khoản nợ quá mức không thể hạn chế bằng một mình chính sáchtiền tệ, mà cần phải phối hợp hàng loạt các biện pháp chính sách Đồng thời, nếu
Trang 13chính sách tiền tệ không phù hợp, thì tình trạng bong bóng lại càng trở nên nghiêmtrọng hơn, và cuối cùng sẽ nổ tung làm cho nền kinh tế suy giảm trầm trọng
1.2.2.3.Chỉnh sửa lại các quy chế an toàn
NHTW có thể hoặc không phải đóng vai trò là cơ quan quản lý điều tiết tùythuộc vào quy định trong hệ thống pháp luật của từng nước Tuy nhiên, cho dù quyđịnh của hệ thống pháp luật như thế nào đi chăng nữa, thì các NHTW là những cơquan chịu trách nhiệm về sự ổn định của hệ thống tài chính ngân hàng sẽ có thể vàcần phải đóng vai trò xây dựng thông qua việc thiết kế các quy định an toàn Cáchhành xử của các định chế tài chính chịu tác động mạnh mẽ bởi cả môi trường kinh
tế vĩ mô lẫn các quy định an toàn Lấy một ví dụ cụ thể như các quy định an toàn vềyêu cầu vốn pháp định và các thông lệ ngân hàng như yêu cầu trích lập dự phòngrủi ro cần phải được đánh giá lại với mục đích giảm bớt xu hướng thiên về chu kỳ.Một khuôn khổ hướng dẫn các ngân hàng thiết lập quỹ dự phòng rủi ro trong điềukiện kinh tế phát triển để các ngân hàng có thể sử dụng các quỹ dự phòng đó nhằmduy trì chức năng trung gian tài chính của mình trong tình hình kinh tế vĩ mô gặpkhó khăn là điều vô cùng quan trọng
1.2.2.4 Tăng cường việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng
Trong những năm gần đây, các NHTW đã thực hiện nhiều biện pháp để tăngcường tính ổn định và hiệu quả của hệ thống thanh toán, chẳng hạn như các biệnpháp giảm thiểu rủi ro thanh toán phát sinh từ sự khác biệt trong múi giờ trong cácgiao dịch ngoại hối và đẩy mạnh việc kiểm soát hệ thống thanh toán Trong quátrình khủng hoảng, trong lĩnh vực hoạt động của thị trường tiền tệ, các NHTW đã
mở rộng quy mô thế chấp và mạng lưới các đối tác, và các NHTW lớn đã hợp tácvới nhau để cung cấp thanh khoản đô la Mỹ Các biện pháp này đã giúp đỡ cho việcphục hồi sự ổn định của các thị trường tài chính
Tuy nhiên, trong các thị trường tài chính thường xuyên biến động vẫn cònnhiều thách thức Người ta thường nói rằng các thị trường tài chính đang dần dầntrở nên thông suốt theo nghĩa bóng Nhưng thực tế thị trường này còn lâu mới trởnên thông suốt, và chỉ cần nhìn vào bằng chứng được thể hiện trong các giao dịchtài chính và các giao dịch thanh toán là chúng ta sẽ rõ Trong ngày, những lệnh
Trang 14thanh toán từ trong ra và từ ngoài vào hoàn toàn không đồng bộ, và do đó lại xuấthiện yêu cầu tín dụng thêm một ngày nữa Điều này là đặc trưng trong các giao dịchngoại hối, cho dù các rủi ro đó đã giảm đi thông qua việc áp dụng nghiệp vụ thanhtoán kết nối liên tục (CLS) Ngoài ra, tình trạng biến động thị trường có thể bất ngờtăng nhu cầu tài trợ ngắn hạn, do các định chế tài chính yêu cầu bổ sung thế chấptrong khuôn khổ các thỏa thuận ký quỹ Kết quả là trong quá trình thực hiện cácgiao dịch tài chính, tình trạng rò rỉ thanh khoản hoặc ứ đọng thanh khoản tạm thời
là không thể tránh khỏi và do vậy nảy sinh tình trạng ách tắc Trong thời kỳ khủnghoảng, tình trạng thiếu thanh khoản do sự ách tắc như vậy có thể làm cho tình hìnhtrở nên trầm trọng Các NHTW cần phải liên tục đánh giá để làm sao các dịch vụngân hàng có thể khắc phục được những khiếm khuyết đó
1.2.2.5 Tăng cường văn hóa tổ chức và nguồn nhân sự
Công tác tổ chức tại các NHTW không thể phát triển mạnh mẽ nếu như không
có một nền văn hóa phong phú nhấn mạnh đến các mục tiêu căn bản và nếu nhưkhông có lực lượng nhân sự hùng mạnh để thể hiện nền văn hóa đó
Thứ nhất, cả các NHTW lẫn các định chế tài chính cần phải xây dựng một nềnvăn hóa nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc duy trì một viễn cảnh dài hạn Nếukhông, cả hai không thể đạt được mục tiêu một cách bền vững, đó là sự ổn định tàichính và kinh tế vĩ mô dài hạn cho các NHTW và khả năng sinh lời lâu dài cho khuvực tư nhân
Thứ hai, trong trường hợp của các NHTW, người ta phải chuẩn bị sẵn sàng đểkhắc phục những khiếm khuyết của các hợp đồng chưa hoàn chỉnh và các thịtrường Các giao dịch tài chính được hoàn tất bằng việc sử dụng một loạt các hợpđồng và người ta không thể soạn thảo một hợp đồng thể hiện mọi thực trạng trongtương lai Theo thuật ngữ kinh tế học thì không bao giờ tồn tại “các hợp đồng hoànchỉnh” Ví dụ, một NHTW có thể đóng vai trò là một nhà môi giới trung thực hay làmột chất xúc tác trong việc xây dựng một giải pháp theo hướng thị trường cho mộtvấn đề mới phát sinh Để sẵn sàng khắc phục các khiếm khuyết đó, điều tối quantrọng là các NHTW cần có sự nhạy bén với những thay đổi trên các thị trường tàichính và trong hệ thống tài chính Tuy nhiên, vì các NHTW không phải là các tổ
Trang 15chức thiên về lợi nhuận, cho nên có nguy cơ là các NHTW không thể nhanh chóngnhận biết được những thay đổi đó Mặt khác, từng định chế tài chính và các đốitượng khác tham gia thị trường lại không nhất thiết phải đồng hóa những tác động
có thể xảy ra về hành vi của mình lên toàn bộ hệ thống tài chính Không thể duy trì
sự ổn định trong hệ thống tài chính nếu không có sự hợp tác giữa các NHTW vàkhu vực tư nhân
Các NHTW cần có những cán bộ có kỹ năng xuất sắc để thúc đẩy mối quan hệgiữa các định chế tài chính với các đối tượng tham gia thị trường, nắm vững cácthông lệ kinh doanh một cách chi tiết và mài sắc quan điểm vĩ mô của mình Mộttrong những vai trò quan trọng của NHTW là phải phát triển nền văn hóa tổ chức
đó Các NHTW phải xây dựng cho mình một nền văn hóa thừa nhận tầm quan trọngcủa các nỗ lực hợp tác và kịp thời công bố cho dân chúng biết những vấn đề mớinảy sinh trong nền kinh tế của các thị trường tài chính có thể tác động tiêu cực đến
sự ổn định của thị trường tài chính
1.3 Hoạt động giám sát từ xa của NHTW
Hoạt động giám sát là chức năng quan trọng của Ngân hàng trung ươnggiúp cho NHTW tiếp cận được các mặt yếu kém trong hoạt động của các địnhchế tài chính nói chung và các ngân hàng thương mại nói riêng và đánh giáchính xác những yếu tố rủi ro Nói cách khác, giám sát của NHTW theo hướngtích cực được tập trung vào kiểm tra những mặt yếu kém của hoạt động ngânhàng Đối tượng giám sát là tài sản xấu, nợ khó đòi, công tác quản lý Kết quảgiám sát theo các chuẩn mực là cơ sở để NHTW áp dụng giải pháp tác động tíchcực tiếp theo như: để xử lý tài sản, nợ xấu, nợ khó đòi, thông qua nghiệp vụmua bán nợ, hỗ trợ tài chính hoặc yêu cầu sáp nhập, giải thể hoặc phá sản
Ngày nay, hoạt động giám sát an toàn hệ thống đã làm thay đổi cơ bảndiện mạo và nội dung hoạt động giám sát của Ngân hàng trung ương Hoạt độnggiám sát quan trọng đến mức nhiều nước gọi tổ chức này là cơ quan giám sáthoặc như một thành viên của hệ thống giám sát an toàn tài chính quốc gia
Trang 161.3.1 Khái niệm GSTX*2
Giám sát từ xa là quá trình thu thập và xử lý các số liệu báo cáo của cácđịnh chế tài chính để đánh giá việc thực hiện các chỉ tiêu an toàn cơ bản trong hoạtđộng ngân hàng; Hoạt động giám sát từ xa được tiến hành hàng tháng và được thựchiện qua mạng máy tính, kết quả hoạt động giám sát từ xa còn có tác dụng hỗ trợ tốt
để Thanh tra Ngân hàng thực hiện công tác thanh tra tại chỗ
Giám sát từ xa (off-site Surveillance) là việc tổng hợp, phân tích các báocáo định kỳ để đánh giá tình hình hoạt động của ngân hàng
1.3.2 Đặc điểm GSTX
Giám sát từ xa của ngân hàng trung ương về nguyên tắc cơ bản cũng nhưhoạt động giám sát từ xa của các cơ quan thanh tra, giám sát khác Để đạt đượcđầy đủ các mục tiêu mà hoạt động thanh tra giám sát của ngân hàng trung ương
đề ra, đặc biệt đối với quốc gia mà ở đó hệ thống kiểm soát hoạt động ngânhàng còn hạn chế, môi trường pháp lý và kỷ cương thị trường đang trong quátrình hình thành, hoạt động kiểm tra và giám sát hoạt động của các NHTM tuântheo khuôn khổ pháp luật về an toàn tiền tệ
1.3.2.1 Địa điểm tiến hành giám sát
Việc giám sát được thực hiện tại trụ sở của cơ quan giám sát, chứ khôngphải tại trụ sở của các NHTM
1.3.2.2 Nguồn số liệu để giám sát
Giám sát từ xa sử dụng nguồn thông tin từ các NHTM và các nguồnthông tin được thu thập khác Thực hiện chế độ thông tin báo cáo của NHTWđối với các NHTM định kỳ gửi báo cáo theo quy định Đây là nguồn số liệuchính phục vụ cho công tác giám sát từ xa
Ngoài ra, giám sát từ xa còn sử dụng các nguồn thông tin khác được thuthập như: thông tin do các cơ quan thanh tra giám sát khác, BHTG, thông tin từphương tiện thông tin đại chúng
Quyết định số 398 /1999/QĐ-NHNN3 ngày 9/11/1999 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước )
Trang 171.3.2.3 Cách thức giám sát
Việc giám sát được thực hiện liên tục theo định kỳ tháng, quý, năm trên
cơ sở nguồn thông tin từ các NHTM, của các cơ quan thanh tra giám sát khác vàcác nguồn thông tin khác tự thu thập
Hệ thống các chỉ tiêu phân tích, đánh giá dựa trên khuôn khổ CAMELS
và hệ thống các nguyên tắc của Hiệp ước Basel , Basel 2
Xử lý thông tin, phân tích, đánh giá, đưa ra những nhận định về thựctrạng của từng NHTM và của cả hệ thống
Các chương trình giám sát được thực hiện trên mạng máy tính, trên cơ sởphần mềm giám sát xử lý thông tin
cơ quan chức năng để từ đó đưa ra những nhận định phù hợp phục vụ cho côngtác quản lý
1.3.3 Các phương pháp GSTX
Phương pháp giám sát từ xa phụ thuộc vào các yếu tố khuôn khổ luậtpháp, hệ thống kiểm toán, chế độ hạch toán, kỷ luật thông tin báo cáo ở từngnước có vận dụng khác nhau về nội dung, về quy mô của phương pháp này Các
cơ quan giám sát tại các quốc gia có hệ thống giám sát và ngân hàng phát triểnthường sử dụng kết hợp nhiều hệ thống, phương pháp để đánh giá, giám sát rủi
ro, qua đó có điều kiện để phát hiện ra dấu hiệu rủi ro mà ngân hàng có thể gặpphải trong quá trình hoạt động.Các hệ thống được sử dụng thường kết hợpnhững đánh giá định tính và những tính toán định lượng Việc lựa chọn tỉ trọngcủa nhân tố định tính và nhân tố định lượng thay đổi rất khác nhau tùy theotừng quốc gia NHTW ở các quốc gia khác nhau, vận dụng các phương phápgiám sát khác nhau Tuy nhiên về cơ bản gồm những nội dung sau:
Trang 181.3.3.1 Phương pháp giám sát theo CAMELS
Hệ thống CAMELS được xây dựng và các cơ quan giám sát Mỹ sử dụng
từ những năm 1980 Hệ thống xếp hạng theo phương pháp CAMELS đánh giáhoạt động ngân hàng toàn diện, được các thanh tra viên sử dụng để xếp hạngtừng ngân hàng, bao gồm: tính toán với các tiêu chí Vốn, Chất lượng tài sản,Khả năng Quản lý, Thu nhập và Tính thanh khoản để xếp hạng các ngân hàngtheo mức từ 1 đến 5 theo mức độ cần giám sát tăng dần Từ năm 1996, hệ thốngnày mới bổ sung thêm các tiêu chí về mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường
Mô hình giám sát từ xa theo CAMELS hiện đang được nhiều nước trên thế giớithực hiện, chứa đựng đầy đủ những nội dung cần thiết để tiến hành đánh giá xếphạng các tổ chức tín dụng Các thành phần của CAMELS là: C = Capitaladequacy (sự đủ vốn); A = Assets quality (chất lượng tài sản có); M :Management eapacity (năng lực quản lý); E = Eamings (khả năng sinh lời); L =Liquidity (khả năng thanh toán); S = Sensibility to market risk (sự nhạy cảm rủi
lý để xác định, đo lường, kiểm soát và điều chỉnh những rủi ro này Các loạihình và mức độ rủi ro tác động đến hoạt động của một ngân hàng sẽ quyết địnhđến mức vốn Gần duy trì thêm trên mức vốn tối thiểu theo quy định để từ đó cóthể đề phòng những hậu quả xấu mà những rủi ro này có thể có đối với mức vốncủa ngân hàng
- Chất lượng tài sản có (Yếu tố A): Tài sản có của ngân hàng được xem
là có chất lượng, khi ngân hàng quản lý được rủi ro, tránh được sự tập trung tíndụng, tỷ lệ nợ bị phân loại trong tổng dư nợ ở mức chấp nhận được Chất lượngtài sản có được đánh giá dựa trên mức độ, sự phân bổ và tình trạng của các
Trang 19nhóm tài sản không tính cộng dồn và tài sản được giảm lãi suất; mức độ đảmbảo dư nợ, năng lực quản lý và điều hành, việc xừ lý và thu hồi những khoản nợ
có vấn đề Mức đảm bảo dự phòng nợ và khả năng có thể xử lý và thu hồi cáckhoản nợ có vấn đề chính là yếu tố tác động tốt, ở một chừng mực nào đó, đếnkhả năng khắc phục những khó khăn có thể xảy ra với các nhóm nợ Việc đánhgiá chất lượng tài sản có nên xem xét đến các mức độ tập trung tín dụng hoặcđầu tư, bản chất và số lượng của các nhóm nợ đặc biệt, và tính hợp lý của cácchính sách cho vay và các quy trình thủ tục tín dụng
- Năng lực quản lý (Yếu tố M): Giám sát về năng lực quản lý điều hànhcủa Ban điều hành như: trình độ năng lực của Hội đồng quản trị, của Ban giámđốc, trình độ của hệ thống nhân viên, sự hoàn hảo của hệ thống thông tin quản
lý Năng lực quản lý cần được đánh giá dựa trên tất cả các yếu tố được cho làcần thiết đối với hoạt động của ngân hàng trong một môi trường an toàn và cáchoạt động ngân hàng được chấp nhận Do vậy, năng lực quản lý được đánh giádựa trên trình độ học vấn, năng lực điều hành và lãnh đạo, các chính sách vàquy trình quản lý rủi ro, khả năng tuân thủ pháp luật và các quy định, khả nănglên kế hoạch và đối phó với những biến động của môi trường và những kết quả
từ sự thành công trong quản lý Việc đánh giá năng lực quản lý cũng cần xemxét đến những chất lượng của những hoạt động kinh doanh và tất cả các chínhsách cho vay, đầu tư và kinh doanh, cũng như sự tham gia của Ban giám đốc vàcác cổ đông Căn cứ vào đặc trưng và phạm vi hoạt động của ngân hàng, hoạtđộng quản lý có thể xem xét đến một số hoặc tất cả những rủi ro sau: rủi ro tíndụng, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động, hoặc các giao dịch, danh tiếng, chiếnlược, khả năng tuân thủ, tính pháp lý và thanh khoản của ngân hàng
- Khả năng sinh lời (Yếu tố E): Khả năng sinh lời được đánh giá dựa trênkhả năng xử lý với các khoản nợ mất vốn và khả năng đảm bảo mức vốn cầnthiết, xu hướng tăng trưởng của thu nhập, so sánh trong nhóm tương đồng, chấtlượng và các thành phần của thu nhập ròng, mức độ thu nhập của nguồn vốnnhạy cảm với lãi suất Việc đánh giá cũng cần xem xét mối quan hệ với tỷ lệ chitrả cổ tức, với tốc độ tăng trưởng lợi nhuận để lại và mức độ đảm bảo vốn của
Trang 20ngân hàng Mức đảm bảo dự phòng mất nợ và đề phòng với những bất thường,với các giao dịch chứng khoán và với các tác động của thuế cũng được xem xétkhi đánh giá khả năng sinh lời
- Khả năng thanh khoản (Yếu tố L): Mức độ thanh khoản được đánh giátheo khả năng thanh toán nhanh chóng các khoản tiền gửi; tần suất và mức độ
sử dụng nguồn vốn đi vay của ngân hàng; năng lực chuyên môn liên quan đến
cơ cấu tài sản nợ; mức độ sẵn có của tài sản có thể chuyển đổi thành tiền mặt vàmức độ tiếp cận với thị trường tiền tệ hoặc những nguồn vốn khác
Mức độ thanh khoản của một ngân hàng phải được đánh giá theo từnggiai đoạn và từng thời điểm cụ thể Cũng cần phải xem xét đến hiệu quả nóichung của chiến lược quản lý tài sản có - tài sản nợ của ngân hàng cũng nhưmức độ tuân thủ và mức độ đầy đủ của các chính sách về thanh khoản của họ
Về bản chất, số lượng và sử dụng trước các cam kết về tín dụng và bảo lãnhcũng là các yếu tố được đưa vào xem xét
- Sự nhạy cảm rủi ro thị trường (Yếu tố S): Mức độ nhạy cảm với rủi rophản ánh mức độ tại đó những thay đổi về lãi suất, tỉ giá hối đoái, giá tiêu dùnghoặc giá vốn có thể ảnh hưởng đến thu nhập hoặc vốn của một ngân hàng Khingân hàng trong việc xác định, đo lường, giám sát và kiểm soát rủi ro thịtrường; quy mô ngân hàng; bản chất và mức độ phức tạp về các hoạt động kinhdoanh của ngân hàng; và mức độ đầy đủ về vốn và thu nhập liên quan đến mức
độ rủi ro thị trường Đối với nhiều ngân hàng, các rủi ro thị trường chủ yếu xuấtphát từ trạng thái đầu tư theo đúng kỳ hạn và mức độ nhạy cảm với những thayđổi về lãi suất ở một số ngân hàng lớn hơn, các hoạt động ở nước ngoài có thể
là nguyên nhân chủ yếu về rủi ro thị trường và một số khác thì các hoạt độngkinh doanh ngoại hối lại là nguyên nhân chính về rủi ro thị trường
Việc xếp hạng sẽ được sử dụng để đánh giá thực trạng của hệ thống ngânhàng, đưa ra những hoạt động cần thiết cho thanh tra tại chỗ Nội dung của toàn
bộ hoạt động thanh tra tại chỗ sẽ dẫn đến những điều chỉnh cho việc xếp hạngtổng thể CAMELS Mức xếp hạng tổng hợp là kết quả của việc xếp hạng 6 yếu
tố trên Xếp hạng 1 là mức xếp hạng cao nhất với ý nghĩa là tổ chức có hệ thống
Trang 21tốt nhất, đảm bảo chất lượng quản lý rủi ro, gắn liền với một mức độ giám sát ítnhất Xếp hạng 5 là mức xếp hạng xấu nhất, tức là tổ chức này có hoạt động yếukém, không đảm bảo khả năng quản lý rủi ro và đòi hỏi khả năng quản lý rủi ro
và đòi hỏi hoạt động giám sát cao nhất cho tổ chức này
Các mô hình xếp hạng khác
Ngoài ra, có một số mô hình khác được sử dụng ở các cơ quan giám sátkhác nhau hoặc ở các quốc gia khác nhau như ORAP, PATROL nhưng về cơbản, các mô hình đó cũng dựa trên cơ sở các tiêu chí tương đối giống như môhình CAMELS
Phân tích từng ngân hàng bằng nhiều tiêu chí được chuẩn hóa (ORAP):ORAP nhằm phát hiện từ gốc những yếu kém có thể có của các ngân hàng, dựatrên việc nghiên cứu toàn bộ những thành tố của rủi ro gắn với hoạt động vàmôi trường riêng của từng ngân hàng và qua đó bổ sung cho việc tổ chức vàtăng cường hoạt động phòng ngừa Phân tích được thực hiện bằng cách nghiêncứu các số liệu về an toàn và được bổ sung thêm bằng việc đánh giá định lượng
và cách tính các yếu tố gây rủi ro như phân tích hoạt động của ngân hàng, việctuân nhủ các hệ số an toàn, đánh giá định tính và định lượng các cam kết, đánhgiá lkhả năng sinh lời sau cùng, khả năng kiềm chế rủi ro
Như vậy, việc phân tích từng ngân hàng được chuẩn hóa gồm nhiều tiêuchí nêu trên nhằm mục đích xác định những yếu tố gây đổ vỡ, rủi ro cho mộtngân hàng và qua đó yêu cầu ngân hàng đó thực hiện những biện pháp điềuchỉnh trước khi có thể xảy ra những khó khăn
1.3.3.2 Phương pháp phân tích tỉ lệ tài chính và nhóm tương đồng
Hệ thống này sử dụng các tỉ lệ và phân tích theo nhóm tương đồng đểđánh giá các chỉ tiêu với mục đích có thể nhận diện được những vấn đề hoặccác dấu hiệu rủi ro của các ngân hàng để đưa ra cảnh báo sớm Ở từng quốc gia,các cơ quan giám sát sử đụng phương pháp phân tích này với số lượng các tỉ lệtài chính khác nhau như qui mô tài sản, tốc độ tăng trưởng tài sản, cơ cấu tài sản
nợ, cơ cấu tài sản có, qui mô VCSH, tỷ lệ an toàn vốn thiểu, tỷ lệ chi phí trên
Trang 22thu nhập, tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, thị phần vốn huy động, thịphần cho vay, tỷ lệ khả năng thanh khoản,…
Hệ thống giám sát BAKIS được thực hiện vào năm 1997 ở cơ quan giámsát và ngân hàng Trung ương Đức, sử dụng 47 tỉ lệ trong đó: 19 tỉ lệ về rủi rotín dụng, 16 tỉ lệ về rủi ro thị trường, 2 tỉ lệ về khả năng thanh khoản, tỉ lệ vềkhả năng sinh lời để thực hiện giám sát hoạt động của ngân hàng Các tỉ lệ nàyđược phân tích theo tháng, quý, năm để đánh giá khả năng phòng ngừa và chịuđựng rủi ro của từng ngân hàng
Hệ thống phát hiện nhanh rủi ro của ủy ban ngân hàng tại Pháp thực hiệnphân chia các ngân hàng hay tổ chức tín dụng thành nhóm tín dụng tương đồng(GHE): Việc lập nhóm các ngân hàng tương đồng về phương diện hoạt động và
cơ cấu cho thấy là thích hợp nhất để cho phép thực hiện việc phân tích, so sánh
Vì trên thực tế, mỗi nhóm ngân hàng tương đồng được hình thành bởi cácngân hàng có những đặc điểm chung về phương diện hoạt động, quy mô, tầm
cỡ, điều này cho phép định vị được một ngân hàng với các ngân hàng còn lạitrong nhóm (tách xa so với số liệu bình quân chung của nhóm) Việc phân chiacác ngân hàng được căn cứ theo các tiêu chí khách quan được rút ra từ các yếu
tố của bảng cân đối kế toán và các báo cáo khác cùng những số liệu định tính vềngân hàng và việc xác định loại hình ngân hàng để phân chia vào nhóm ngânhàng tương đồng được dựa trên sự kết hợp giữa 2 yếu tố là "khách hàng" và
"sản phẩm" của ngân hàng
1.3.3.3 Phương pháp giám sát dựa trên rủi ro
Giám sát trên cơ sở rủi ro là việc đánh giá NHTM trên các mặt: Mức độ và
xu hướng của rủi ro; hiệu quả của quy trình quản lý rủi ro và khả năng tài chính(vốn) của NHTM để chống đỡ (đối mặt với) các rủi ro có thể xảy ra
Giám sát trên cơ sở rủi ro là phương pháp thanh tra tiên tiến, đánh giá tốt hơn
về rủi ro thông qua việc tách bạch mức độ rủi ro và hệ thống quản trị rủi ro; tậptrung tốt hơn vào việc phát hiện sớm rủi ro mới xuất hiện tại từng NHTM cũng nhưtoàn hệ thống; sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn thông qua việc tập trung vào cáclĩnh vực chứa đựng rủi ro cao, thanh tra tại chỗ sẽ mất ít thời gian hơn tại NHTM
Trang 23Khi thực hiện giám sát trên cơ sở rủi ro, cơ quan Thanh tra Giám sát có khả năngđánh giá tốt hơn năng lực quản lý của NHTM, tính chất phức tạp của hoạt độngkinh doanh và những rủi ro mà NHTM gặp phải; tập trung tối đa nguồn lực để giảiquyết các lĩnh vực có rủi ro cao nhất, làm lành mạnh hoá hoạt động của NHTM, gópphần ổn định hệ thống các NHTM.
Phương pháp này cho phép các cơ quan giám sát đánh giá tổng hợp vềtình hình rủi ro của toàn bộ ngân hàng Cụ thể, các khoản mục hoạt động củangân hàng hoặc nhóm ngân hàng sẽ được phân chia thành từng mục, từ đó phântích tình hình rủi ro, cấu trúc và kiểm soát của ngân hàng dựa trên cơ sở một sốnhững yếu tố nhất định Trên cơ sở đó, mô hình sẽ đưa ra kết quả chấm điểmđối với từng ngân hàng trong những khoảng thời gian nhất định
Sau đó, sử dụng trọng số để kết hợp các phân tích định lượng và đánh giáđịnh tính để đưa ra mức điểm cuối cùng
Một ví dụ đơn giản: ngân hàng thương mại X cho vay một khách hàng tới14,8% vốn tự có Bằng thanh tra tuân thủ, kết luận ngân hàng chấp hành nghiêmpháp luật Tuy nhiên, quan sát trên khía cạnh rủi ro ngân hàng vẫn có thể không thuhồi được nợ do vi phạm quy trình nội bộ về cấp tín dụng dẫn đến thẩm định khôngchính xác về tài chính của khách hàng vay vốn
1.3.3.4 Phương pháp giám sát theo mô hình thống kê
Mô hình thống kê dự báo về tình hình hoạt động của các ngân hàng được
sử dụng phổ biến trong những năm gần đây vì những mô hình này có tác dụngcảnh báo sớm cao Các mô hình này thường sử đụng những kĩ thuật định lượngtiên tiến để dự báo về tình hình hoạt động và mức độ rủi ro dựa trên những sốliệu hiện tại, qua đó cho phép các cơ quan giám sát có thể phân loại những ngânhàng có mức độ rủi ro, nguy cơ đổ vỡ cao hoặc ngân hàng có rủi ro và nguy cơ
đổ vỡ thấp phương pháp này được áp dụng vào đầu những năm 90, xuất phát từnguyên nhân có hàng loạt các ngân hàng bị đổ vỡ ở Mỹ, chi phí để giải quyếtnhững ngân hàng sau khi đổ vỡ là quá lớn
Phương pháp thống kê phân tích tổng thể (SAABA): đây là hệ thống trợgiúp phân tích ngân hàng một cách tự động hóa nhằm phát hiện một cách nhanh
Trang 24nhất có thể những yếu tố gây rủi ro Sự độc đáo của hệ thống này chính là phầnmềm tin học Toàn bộ những thông tin liên quan đến từng ngân hàng lấy từ các cơ
sở dữ liệu khác nhau được tái tạo lại dưới dạng tin học để có thể xử lý một cách tựđộng để có thể xem xét, đánh giá những rủi ro khác nhau của ngân hàng
Những loại hình rủi ro khác nhau được xử lý thích hợp với bản chất củachúng, những rủi ro mang tính định lượng sẽ được tiếp cận qua đánh giá tàichính, những rủi ro định tính sẽ được xử lý bằng hệ thống chuyên gia SAABAtheo một phương pháp dàn dựng đặc thù với mỗi ngân hàng Đối với mỗi ngânhàng thông qua việc sử dụng phương pháp này người sử dụng có thể nắm bắtđược: một bản phân tích tổng hợp về ngân hàng; nhiều phân tích từng phầntương ứng với những khía cạnh chính của rủi ro ngân hàng; một bản trình bàychi tiết về ngân hàng để người sử dụng có thể chọn lựa mức độ chi tiết mongmuốn (đi từ những yếu tố chính của rủi ro đến việc phân tích các số liệu kế toán
và tài chính)
1.3.5 Nguyên tắc giám sát từ xa theo BASEL
Uỷ ban Basel về Thanh tra giám sát ngân hàng đưa ra 25 nguyên tắc cơ bảncần thiết đảm bảo cho hệ thống giám sát hoạt động có hiệu quả Nội dung chính củacác nguyên tắc này theo cụm chủ đề như sau:
* Các nguyên tắc thuộc cụm chủ đề “Điều kiện tiên quyết cho việc giám sát nghiệp vụ ngân hàng hiệu quả”:
Nguyên tắc 1 – Mục đích, tính độc lập, quyền hạn, tính minh bạch và sự hợp tác:
Một hệ thống giám sát ngân hàng hiệu quả phải phân định trách nhiệm rõràng và mục đích của mỗi đơn vị có thẩm quyền giám sát ngân hàng Mỗi đơn vịphải có sự hoạt động độc lập, các quy trình minh bạch, có lực lượng nhân sự đầy đủ
và được quản lý phù hợp, phải chịu trách nhiệm hoàn toàn trước nhiệm vụ đượcgiao Một khuôn khổ pháp lý phù hợp đối với việc giám sát hệ thống ngân hàngcũng rất cần thiết, bao gồm cả các điều liên quan đến cấp phép thành lập mới cácngân hàng và việc giám sát liên tục hoạt động của hệ thống ngân hàng; quyền hạnkiểm tra tính tuân thủ của hệ thống ngân hàng cũng như kiểm tra khi có nghi vấn về
Trang 25tính an toàn và bền vững của hệ thống Các quy định về chia sẻ thông tin giữa các
cơ quan quản lý nhà nước và quy định về bảo mật các thông tin cũng cần phải đượcquy định rõ ràng
* Các nguyên tắc thuộc cụm chủ đề “Cấp phép và cơ cấu”:
Nguyên tắc 2 – Các hoạt động được phép: Các hoạt động được phép của
các tổ chức được cấp phép và chịu sự giám sát dưới tên gọi ngân hàng phải đượcquy định rõ ràng và việc sử dụng cụm từ “ngân hàng” ở tên gọi của tổ chức phảiđược kiểm soát gắt gao
Nguyên tắc 3 – Các tiêu chí cấp phép: Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm
quyền cấp phép phải có quyền đề ra các tiêu chí và từ chối đơn xin cấp Giấy phépthành lập nếu hồ sơ không đáp ứng được các tiêu chuẩn đề ra Quá trình cấp phéptối thiểu phải có sự đánh giá về cơ cấu chủ sở hữu và quản trị ngân hàng, trong đóbao gồm sự phù hợp và khả năng của các thành viên Hội đồng quản trị cũng nhưBan điều hành ngân hàng, chiến lược và kế hoạch hoạt động của ngân hàng, hệthống kiểm soát nội bộ và quản trị rủi ro, điều kiện tài chính dự kiến, bao gồm cảvốn gốc Nếu chủ sở hữu là hoặc tổ chức mẹ là một ngân hàng nước ngoài, ngânhàng đó phải được cơ quan giám sát nước nguyên xứ chấp thuận trước
Nguyên tắc 4 – Chuyển quyền sở hữu lớn: Cơ quan quản lý nhà nước phải
có quyền xem xét và từ chối bất cứ đề xuất chuyển nhượng quyền sở hữu lớn hoặcchuyển nhượng quyền kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp tại các ngân hàng hiện hữucho một bên khác
Nguyên tắc 5 – Giao dịch mua lại lớn: Cơ quan quản lý nhà nước phải có
quyền chuẩn y các giao dịch mua lại lớn hoặc quyết định đầu tư lớn của ngân hàng,ngược lại các tiêu chí đã nêu, bao gồm cả việc thành lập các hoạt động xuyên quốcgia, và phải đảm bảo được rằng, các giao dịch hoặc thay đổi cơ cấu không ảnhhưởng đến an toàn của ngân hàng, không đem đến cho ngân hàng các rủi ro khôngđáng có hoặc gây cản trở đến việc giám sát hệ thống ngân hàng hiệu quả
* Các nguyên tắc thuộc cụm chủ đề “Các quy định và yêu cầu thận trọng”:
Nguyên tắc 6 – An toàn vốn tối thiểu: Cơ quan quản lý nhà nước phải đưa
ra các quy định về an toàn vốn tối thiểu phù hợp đối với các ngân hàng để phản ánh
Trang 26được những rủi ro mà ngân hàng gặp phải, và phải quy định rõ ràng về thành phầncủa vốn, đảm bảo rằng vốn phải có khả năng chịu được lỗ Tối thiểu là đối với cácngân hàng hoạt động quốc tế, các quy định này không được thấp hơn mức mà Uỷban Basel quy định.
Nguyên tắc 7 – Quy trình quản trị rủi ro: Cơ quan quản lý nhà nước phải
đảm bảo rằng, ngân hàng và tập đoàn ngân hàng phải có hệ thống quản trị rủi rotoàn diện (bao gồm cả khả năng kiểm soát rủi ro của Hội đồng quản trị và Ban điềuhành) để phát hiện, đánh giá, xử lý và kiểm soát, giảm thiểu tất cả các rủi ro để đánhgiá tổng thể mức độ đủ vốn của ngân hàng trước các danh mục rủi ro Các quy trìnhquản trị rủi ro này phải phù hợp với quy mô và mức độ phức tạp của tổ chức
Nguyên tắc 8 – Rủi ro tín dụng: Cơ quan quản lý nhà nước phải đảm bảo
rằng các ngân hàng có một quy chế quản lý rủi ro tín dụng cân nhắc tới các rủi rocủa tổ chức với các chính sách an toàn, các quy trình quản lý rủi ro nhằm phát hiện,
đo lường, kiểm tra và kiểm soát rủi ro tín dụng (bao gồm cả rủi ro tác nghiệp) Điềunày cũng bao gồm việc cho vay và đầu tư, đánh giá chất lượng của các khoản nợ vàđầu tư, đồng thời tạo ra một hệ thống quản trị rủi ro liên tục đối với các khoản nợ vàkhoản mục đầu tư đó
Nguyên tắc 9 – Tài sản có rủi ro, dự phòng và dự trữ: Cơ quan quản lý cần
đảm bảo rằng ngân hàng phải xây dựng các chính sách đảm bảo an toàn tối thiểu choviệc quản lý các tài sản có rủi ro, xác định mức dự phòng và dự trữ đủ cho tổ chức
Nguyên tắc 10 – Giới hạn mức cho vay: Cơ quan quản lý rủi ro phải đảm
bảo rằng ngân hàng phải có các chính sách và hệ thống quản trị rủi ro nhằm nhậndạng, quản lý các khoản cho vay lớn trong danh mục, cơ quan quan lý đồng thời cầnphải xây dựng các giới hạn cho vay nhằm hạn chế các ngân hàng tập trung cho vaymột khách hàng hoặc nhóm các khách hàng có liên quan
Nguyên tắc 11 – Rủi ro đối với nhóm khách hàng có liên quan: Nhằm hạn
chế việc cho vay (bao gồm các khoản nợ nội bảng và ngoại bảng) nhóm khách hàng
có liên quan và xác định sự xung đột về lợi ích, cơ quan quản lý cần có những quyđịnh về giới hạn cho vay đối với một khách hàng và một nhóm khách hàng có liênquan, các khoản cho vay này phải được kiểm soát chặt chẽ, đồng thời cần phải có
Trang 27các bước phù hợp nhằm kiểm soát và giảm thiểu rủi ro, việc xóa các khoản nợ nàyđược thực hiện theo các chính sách và quy trình chuẩn mẫu.
Nguyên tắc 12 – Rủi ro quốc gia và rủi ro chuyển đổi: Cơ quan quản lý nhà
nước phải đảm bảo rằng các ngân hàng có các chính sách và quy trình xác định, đolường, theo dõi và kiểm soát rủi ro quốc gia và rủi ro chuyển đổi trong các hoạtđộng cho vay và đầu tư quốc tế, và đồng thời các ngân hàng phải trích lập dự phòngcho các rủi ro này
Nguyên tắc 13 – Rủi ro thị trường: Cơ quan quản lý nhà nước phải đảm bảo
rằng các ngân hàng có các chính sách và quy trình xác định chính xác, đo lường,theo dõi và kiểm soát được các rủi ro thị trường; cơ quan quản lý nhà nước có thẩmquyền đặt ra các định mức cụ thể và/hoặc có thể dùng một khoản vốn cụ thể để xử
lý rủi ro thị trường nếu có lý do chính đáng
Nguyên tắc 14 – Rủi ro thanh khoản: Cơ quan quản lý nhà nước phải đảm
bảo rằng các ngân hàng có một chiến lược quản lý khả năng chi trả có thể tính toánđược mọi rủi ro của tổ chức, ngân hàng phải có chính sách và quy trình để xác định,
đo lường, theo dõi và kiểm soát được rủi ro thanh khoản, và quản lý được khả năngchi trả của mình hàng ngày Cơ quan quản lý nhà nước phải yêu cầu các ngân hàng có
kế hoạch sẵn sàng đối ứng với các vấn đề về thanh khoản có thể phát sinh bất ngờ
Nguyên tắc 15 – Rủi ro tác nghiệp (rủi ro hoạt động): Cơ quan quản lý nhà
nước phải đảm bảo rằng ngân hàng phải có chính sách và quy trình quản lý rủi ro đểnhận dạng, đánh giá, kiểm tra và kiểm soát/giảm thiểu rủi ro hoạt động Các chínhsách và quy trình quản lý rủi ro này phải phù hợp với quy mô và mức độ phức tạpcủa tổ chức
* Các nguyên tắc thuộc cụm chủ đề “Giám sát nghiệp vụ ngân hàng hiệu quả”
Nguyên tắc 16 – Rủi ro lãi suất trong sổ sách ngân hàng: Cơ quan quản lý
nhà nước phải đảm bảo rằng ngân hàng phải có hệ thống quản trị rủi ro có hiệu quảnhằm nhận dạng, đo lường và kiểm tra, kiểm soát rủi ro lãi suất trong sổ sách ngânhàng, bao gồm một chiến lược được Hội đồng quản trị phê duyệt và được thực hiệnbởi ban quản lý cấp cao; chiến lược này cũng cần phải phù hợp với quy mô và mức
độ phức tạp của tổ chức của loại rủi ro
Trang 28Nguyên tắc 17 – Kiểm tra và kiểm toán nội bộ: Cơ quan quản lý nhà nước
phải đảm bảo rằng ngân hàng phải có hệ thống kiểm tra, kiểm soát và kiểm toán nội
bộ phù hợp với quy mô và mức độ phù hợp với loại hình kinh doanh của tổ chức
Nguyên tắc 18 – Lạm dụng các dịch vụ tài chính: Cơ quan quản lý nhà
nước phải đảm bảo được rằng các ngân hàng có chính sách và quy trình, bao gồmcác quy tắc nghiêm ngặt về “nhận biết khách hàng”, nâng cao các tiêu chuẩn đạođức nghề nghiệp trong lĩnh vực tài chính và bảo vệ ngân hàng không bị lợi dụng,một cách vô tình hay cố ý, vào các hoạt động phạm pháp
Nguyên tắc 19 – Phương pháp giám sát: Một hệ thống giám sát ngân hàng
hiệu quả yêu cầu các cơ quan quản lý nhà nước xây dựng và duy trì sự hiểu biết sâusắc về hoạt động của từng ngân hàng và tập đoàn ngân hàng, đồng thời cả hệ thốngngân hàng, tập trung vào sự an toàn và tính bền vững, cũng như sự ổn định của toàn
hệ thống ngân hàng
Nguyên tắc 20 – Kỹ thuật giám sát: Một hệ thống giám sát ngân hàng hiệu
quả phải bao gồm cả thanh tra tại chỗ và kiểm soát từ xa và sự liên hệ mật thiết giữa
cơ quan quản lý nhà nước với ban điều hành của ngân hàng
* Các nguyên tắc thuộc cụm chủ đề “Yêu cầu về thông tin”:
Nguyên tắc 21 – Thông tin giám sát: Cơ quan quản lý nhà nước phải có các
phương tiện thu thập, xem xét và phân tích các báo cáo về an toàn hoạt động và cácchỉ số thống kê do các ngân hàng gửi về trên cơ sở đơn lẻ và tổng hợp, đồng thờiphải có phương tiện để xác minh tính trung thực của các báo cáo này thông quahoặc là thanh tra tại chỗ hoặc thuê các chuyên gia độc lập
* Các nguyên tắc thuộc cụm chủ đề “Quyền hạn hợp pháp của Chuyên gia giám sát”
Nguyên tắc 22 – Kế toán và công bố công khai: Cơ quan quản lý nhà nước
phải đảm bảo được rằng mỗi ngân hàng phải duy trì việc ghi chép sổ sách đầy đủ vàtheo đúng các chuẩn mực kế toán được quốc tế công nhận, và công bố công khaithường xuyên các thông tin phản ánh đúng tình trạng tài chính và lợi nhuận củangân hàng
Trang 29* Các nguyên tắc thuộc cụm chủ đề “Nghiệp vụ ngân hàng đa quốc gia”
Nguyên tắc 23 – Quyền xử lý vi phạm của cơ quan quản lý nhà nước: Cơ
quan quản lý nhà nước phải có công cụ hỗ trợ họ đưa ra các biện pháp xử lý viphạm kịp thời Trong đó bao gồm khả năng thu hồi Giấy phép hoạt động hoặc cảnhbáo việc thu hồi Giấy phép hoạt động
Nguyên tắc 24 – Giám sát hợp nhất: Một yếu tố nhạy cảm của việc giám sát
hệ thống ngân hàng là cơ quan quản lý nhà nước giám sát các tập đoàn ngân hàngtrên cơ sở hợp nhất, theo dõi sát sao, và áp dụng tất cả các quy tắc đảm bảo an toànđối với tất cả các khía cạnh kinh doanh mà tập đoàn thực hiện trên toàn cầu
Nguyên tắc 25 – Quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước nước sở tại và nước nguyên xứ: Việc giám sát hợp nhất xuyên biên giới đòi hỏi sự hợp tác và trao
đổi thông tin giữa cơ quan quản lý nhà nước nước sở tại với các cơ quan quản lý cóliên quan, chủ yếu là các cơ quan quản lý nhà nước của nước nguyên xứ Các cơquan quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng phải yêu cầu các hoạt động tạinước sở tại của ngân hàng nước ngoài được thực hiện theo cùng một tiêu chuẩn nhưđối với các tổ chức trong nước
1.3.4 Kinh nghiệm Quốc tế sau khủng hoảng về nghiệp vụ giám sát từ xa của NHTW
1.3.4.1 Kinh nghiệm của Mỹ
Khủng hoảng cho thấy một số tổ chức tín dụng đã có những thiếu sót nghiêmtrọng ở một hoặc các mặt như vấn đề an toàn vốn, xây dựng kế hoạch thanh khoảnhiệu quả và công tác quản lý rủi ro.Cuộc khủng hoảng cũng đã nhấn mạnh sự cầnthiết phải tăng cường tính thận trọng và hiệu lực của các cơ quan giám sát nhằmđảm bảo rằng các tiêu chuẩn đặt ra phải được thực hiện
* Bài học về tăng cường quản lý vốn, quản lý thanh khoản và quản lý rủi ro:
Quản lý vốn: Kể từ khi bắt đầu khủng hoảng, các cơ quan giám sát Mỹ đã
thực hiện giám sát vốn rất chặt chẽ Fed đã thực hiện giám sát chặt chẽ tỷ lệ vốn củacác tổ chức tài chính tương ứng với mức độ rủi ro của tài sản và trao đổi đánh giávới các nhà quản lý cấp cao của các tổ chức này Fed cũng đã xem xét lại các quyđịnh về quản lý vốn của mình Chẳng hạn như, vào đầu năm 2009, Fed đã ban hành
Trang 30Hướng dẫn dành cho các công ty quản lý ngân hàng trong giám sát cổ tức, hoạtđộng mua lại vốn, hoàn trả vốn (công ty quản lý ngân hàng là công ty quản lý mộthoặc nhiều ngân hàng).Fed thực hiện Chương trình Đánh giá Giám sát Vốn liênngành Chương trình này nhằm đảm bảo rằng các tổ chức ngân hàng lớn nhất và cótầm quan trọng ảnh hưởng tới hệ thống ngân hàng nhất có đủ nguồn vốn và có thểduy trì hoạt động cho vay ngay cả khi các điều kiện kinh tế vĩ mô trở nên tồi tệ hơn.Hơn 150 nhà kiểm tra, giám sát, và các nhà kinh tế học của Fed, Cơ quan Quản lýtiền tệ, và Công ty Bảo hiểm tiền gửi Fed đã hợp tác để kiểm tra và đánh giá khảnăng lãi lỗ của 19 tổ chức lớn, là những đơn vị nắm giữ hai phần ba tài sản của hệthống Mỹ Việc đánh giá mang tính toàn diện, nghiêm túc và có sự phối hợp caogiữa các cơ quan giám sát Fed sẽ sử dụng các kết quả đánh giá này để nâng caohiệu quả công tác thanh tra,giám sát trong tương lai.
Quản lý thanh khoản: Khủng hoảng cũng cho thấy tầm quan trọng của việc
quản lý thanh khoản hiệu quả.Hàng ngày, Fed theo dõi trạng thái thanh khoản củacác tổ chức tài chính lớn và thảo luận với quản lý cấp cao của các tổ chức này vềcác chiến lược thanh khoản, các diễn biến chính của thị trường và rủi ro thanhkhoản Qua hơn ba năm, Fed thấy rằng để có được khả năng thanh khoản đầy đủ đòihỏi một tổ chức phải có nhiều hơn những tài sản có tính thanh khoản cao so vớinhững tài sản mà các ngân hàng nắm giữ trong điều kiện bình thường; các tổ chứctài chính còn phải dự tính đến trạng thái thanh khoản khi thị trường rơi vào hoàncảnh khó khăn Fed cũng yêu cầu các tổ chức phải lưu tâm xem xét những rủi rophát sinh từ nhu cầu thanh khoản cho các khoản ngoại bảng
Quản lý rủi ro:Sau vốn và thanh khoản thì nhân tố chính thứ ba đảm bảo hệ
thống ngân hàng hoạt động an toàn và lành mạnh là quản lý rủi ro hiệu quả Khủnghoảng đã bộc lộ sự yếu kém của hệ thống quản lý rủi ro của nhiều tổ chức tài chính.Fed đang tăng cường nỗ lực làm việc với các ngân hàng để nâng cao hoạt động xácđịnh rủi ro của các tổ chức này Chẳng hạn như, Fed nhấn mạnh tầm quan trọng củaviệc thử độ căng nhằm phát hiện những rủi ro không nhận thấy được bằng các môhình thống kê thông thường, ví dụ, những biến động lớn bất thường của thị trường,
Trang 31giảm thanh khoản, tình hình khó khăn kéo dài của thị trường, hoặc những thay đổi
cơ cấu trong thị trường
Đổi mới tài chính có thể làm lợi cho người tiêu dùng, cho hệ thống tài chính,
và lớn hơn là làm lợi cho nền kinh tế; nhưng nó cũng có những rủi ro và những rủi
ro này phải được nhìn nhận đúng Đổi mới tài chính ở một số lĩnh vực ví dụ như đổimới các sản phẩm tín dụng cơ cấu và cho vay thế chấp ở một mức độ nào đó đã đẩynhanh cuộc khủng hoảng hiện nay Do đó, Fed đang yêu cầu các ngân hàng đánhgiá toàn diện hơn hậu quả không được dự tính trước có thể xảy ra khi sử dụng cáccông cụ tài chính mới cũng như khả năng hoạt động của các công cụ tài chính nàytrong điều kiện thị trường không thuận lợi
Khi khủng hoảng nổ ra, Fed đã tăng cường giám sát các tổ chức tài chính vềnội dung quản lý rủi ro tín dụng đối tác, và yêu cầu các tổ chức tài chính nâng caonhận thức và hiểu biết về các mối liên hệ và các tác động rủi ro chủ chốt trong hệthống tài chính Các tổ chức này phải phân tích hành động tự vệ của họ trong giaiđoạn khó khăn có thể gây áp lực lên các đối tác chính như thế nào, đặc biệt là khicác thành viên khác trên thị trường cũng thực hiện những biện pháp tương tự
Một phần quan trọng trong quản lý rủi ro là việc nhìn nhận mối quan hệ giữachế độ khuyến khích nhân viên và việc chấp nhận rủi ro, chẳng hạn như trong việcxây dựng và thực hiện chế độ lương thưởng Tiền thưởng và các khoản đền bù khácphải tạo thành động lực cho nhân viên ở các cấp làm việc theo hướng tăng cường sựphát triển dài hạn của tổ chức tài chính Fed đã làm việc tại các diễn đàn quốc tế vềvấn đề tiền thưởng và đền bù; và kết quả là Ban Ổn định Tài chính đã ban hành vănbản Những nguyên tắc mới về chế độ lương thưởng tốt Có thể rút ra một bài họcquan trọng từ khủng hoảng là cơ cấu lương thưởng và tác động của nó lên động cơchấp nhận rủi ro của nhân viên là một vấn đề liên quan đến sự phát triển an toàn vàlành mạnh
Một trong những bài học chính rút ra từ khủng hoảng là thông tin trong nội
bộ về các rủi ro phải kịp thời và hiệu quả Fed đang đặt ưu tiên cao vào việc đảmbảo rằng Hội đồng quản trị và Ban điều hành của các tổ chức tín dụng phải được
Trang 32báo cáo đầy đủ về các rủi ro mà tổ chức của họ phải đương đầu và họ phải tham giatích cực vào việc quản lý các rủi ro đó.
Thông tin giám sát: Khủng hoảng đã cho thấy yêu cầu phải sửa đổi cơ
chế giám sát và thông tin nội bộ của Fed Fed đã cập nhật và đẩy mạnh quá trìnhphổ biến thông tin giám sát trong hệ thống của mình nhằm thiết lập các ưu tiên giámsát, nhìn nhận các vấn đề nổi lên và đưa ra các chỉ đạo giám sát kịp thời Trong lĩnhvực bảo vệ người tiêu dùng, gần đây Fed đã điều chỉnh Chương trình kiểm tra tuânthủ nhằm đảm bảo chương trình phù hợp hơn với những diễn biến và tình hình mớicủa thị trường
Thực sự là trong những thời điểm tốt, khi rủi ro thấp và tình hình tài chínhsáng sủa, các bên tham gia thị trường tài chính có thể trở nên lạc quan quá mức vàphạm phải những sai lầm đắt giá Một phần công việc của các nhà giám sát là phảingăn chặn được xu hướng này Muốn vậy, thông tin giám sát phải rõ ràng, có hiệulực và được chuyển trực tiếp tới Hội đồng quản trị, Quản lý cấp cao để những vấn
đề nổi cộm được quan tâm đúng mức và giải quyết thỏa đáng
* Bài học về giám sát tập đoàn:
Khi xem xét các bài học từ khủng hoảng thì một vấn đề nữa được quan tâm
là vai trò của giám sát tập đoàn Khủng hoảng đã cho thấy việc quản lý rủi ro kịpthời và hiệu quả ở cấp độ cả tập đoàn thực sự quan trọng đối với các tổ chức tàichính lớn, và tất cả các tổ chức tài chính có tầm ảnh hưởng quan trọng tới hệthống phải được giám sát chặt chẽ ở mức tập đoàn
Theo Đạo luật Gramm-Leach-Bliley năm 1999, Fed có chức năng giám sáttập đoàn tất cả các công ty quản lý ngân hàng bao gồm cả các công ty quản lý tàichính (công ty quản lý ngân hàng có đủ điều kiện trở thành công ty quản lý tàichính nếu ngân hàng con của công ty đó có vốn đủ lớn và được quản lý tốt) Fed đãthực hiện vai trò này rất nghiêm túc Trước khi bắt đầu khủng hoảng, Fed đã tăngcường giám sát các công ty quản lý ngân hàng trong khuôn khổ của Đạo luật Nămngoái, Fed đã ban hành Hướng dẫn giám sát tập đoàn tổng thể Hướng dẫn quy địnhcác thanh tra viên tập trung vào các lĩnh vực chính khi giám sát các tập đoàn lớn cónhiều công ty con Chẳng hạn như thanh tra viên phải đặc biệt chú ý đến các hoạt
Trang 33động có khả năng tác động đến không chỉ tập đoàn đó mà còn có thể ảnh hưởng đếntoàn hệ thống tài chính.
Hướng dẫn này cũng cung cấp những chỉ dẫn rõ ràng hơn giúp các thanh traviên đánh giá năng lực của một tổ chức ngân hàng nhằm xác định và quản lý rủi rocủa toàn tổ chức đó Chẳng hạn, quá trình đánh giá việc quản lý rủi ro tín dụng của
cả tập đoàn bắt đầu từ việc xem xét tổng thể ở mức tập đoàn, sau đó sẽ xem xét đếntừng hoạt động, như hoạt động tín dụng bán lẻ hoặc cho vay thế chấp, nhằm đảmbảo rằng các hoạt động này được quản lý theo những quy định chung áp dụng cho
cả tập đoàn Hướng dẫn cũng tái khẳng định rằng các thanh tra viên phải đánh giácác điều kiện tài chính và rủi ro của các công ty con phi ngân hàng của một công tyquản lý ngân hàng nhằm phát hiện khả năng những công ty con này có tác độngkhông thuận tới các ngân hàng chi nhánh hoặc tới cả tập đoàn
Giám sát tập đoàn cũng nâng cao khả năng đánh giá của Fed đối với năng lựctuân thủ quy định, quy chế và pháp luật của các tổ chức Năm ngoái, Fed đã banhành Hướng dẫn giám sát đối với rủi ro tuân thủ
Theo các điều khoản của Đạo luật Gramm-Leach-Bliley, Fed với tư cách là
cơ quan giám sát mức tập đoàn bị giới hạn khả năng thực hiện kiểm tra, xây dựngbáo cáo hoặc thực hiện các nghiệp vụ đối với các công ty con chịu sự giám sát của
cơ quan quản lý khác Tuân thủ theo các quy định của Đạo luật, Fed đã hợp tác vớicác cơ quan quản lý khác, và khi có thể Fed sử dụng thông tin và các phân tích mànhững cơ quan này cung cấp Fed đã xây dựng được mối quan hệ tốt với các cơquan quản lý khác và sẽ tiếp tục tăng cường mối quan hệ này trong tương lai.Hướng dẫn giám sát tập đoàn cũng làm rõ những trường hợp mà Fed phải thực hiệnvai trò tích cực hơn với tư cách là một cơ quan giám sát tập đoàn
Tuy nhiên, những hạn chế trong luật hiện thời đặt ra những thách thức đốivới giám sát tập đoàn, chẳng hạn như sự khác nhau về cách thức giám sát giữa các
cơ quan giám sát ngân hàng và các cơ quan quản lý bảo hiểm, chứng khoán hay sựkhác nhau về thời gian giám sát, nguồn và ưu tiên giám sát Xem xét cơ cấu tàichính của Mỹ, Fed hy vọng rằng Quốc hội sẽ xem xét sửa đổi các điều khoản củaĐạo luật Gramm-Leach-Bliley để giúp việc giám sát tập đoàn có đủ các công cụ và
Trang 34thẩm quyền cần thiết thực hiện giám sát và giải quyết các mối lo ngại về an toàn vàlành mạnh trong tất cả các bộ phận của một tổ chức.
Hoạt động bảo vệ người tiêu dùng cũng đóng góp vào sự ổn định tài chính.Việc rất nhiều tổ chức tài chính bán nhiều sản phẩm tiêu dùng với tính phức tạpngày càng tăng cho một bộ phận lớn dân chúng được coi là một trong nhữngnguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng hiện nay Gần đây, Fed đã phổ biến nhiềuthông tin mới về một loạt các sản phẩm tài chính, đáng chú ý nhất là thông tin vềthẻ tín dụng Hiện Fed đang nghiên cứu việc phổ biến các thông tin liên quan đếnnghiệp vụ cho vay thế chấp Tuy nhiên, kể cả việc phổ biến thông tin ra công chúng đãđược thực hiện ở mức tốt nhất thì vẫn có thể là chưa đủ Vì vậy, Fed cũng đang xemxét lại các quy định về cho vay thế chấp và thẻ tín dụng để cấm một số nghiệp vụ
Khả năng tăng cường ổn định tài chính của Fed phụ thuộc vào đội ngũ nhânviên có hiểu biết, kỹ năng và chuyên môn thuộc nhiều lĩnh vực Fed thường sử dụngcách tiếp cận đa ngành để giải quyết vấn đề và điều này giúp Fed có được cách nhìnnhận chính xác hơn đối với các hoạt động tài chính và các rủi ro có thể xảy ra.Trong suốt khủng hoảng này, các thanh tra, chuyên gia kinh tế, kế toán, luật sư, vàcác chuyên gia về các vấn đề người tiêu dùng đang hợp tác chặt chẽ với nhau Fedphải đảm bảo tiếp tục tăng cường hiểu biết và chuyên môn của đội ngũ chuyên gia
để theo kịp những khó khăn và thách thức mà Fed sẽ phải đương đầu trong vai trògiám sát ngân hàng và trong cả nhiệm vụ truyền thống là ổn định hệ thống tài chính
Trang 35Trong tương lai, hoạt động giám sát theo phương thức thận trọng hơn và trêngóc độ vĩ mô hơn, giải quyết những rủi ro cho cả hệ thống tài chính bên cạnh giámsát từng tổ chức riêng lẻ, sẽ giúp tăng cường ổn định tài chính vĩ mô Quy chế giámsát phải tạo cho Fed khả năng giám sát, đánh giá và trong trường hợp cần thiết giảiquyết những rủi ro tiềm tàng trong hệ thống tài chính.
Giám sát thận trọng vĩ mô gồm có các cấu phần:
+ Giám sát những nghiệp vụ có khả năng tác động lớn và có ảnh hưởng lantruyền nhanh tới hệ thống tài chính, chẳng hạn như nghiệp vụ cho vay thế chấp dướichuẩn trong các tổ chức và các thị trường hơn là chỉ giám sát ở cấp độ từng công tyhoặc từng ngành
+ Đánh giá những rủi ro hệ thống tiềm tàng trong hoạt động quản lý rủi ro,rủi ro do gia tăng đòn bẩy tài chính một cách rộng rãi hay do sự thay đổi của sảnphẩm tài chính và thị trường
+ Phân tích khả năng tác động lẫn nhau giữa các công ty tài chính hoặc giữacác công ty với thị trường, ví dụ như khả năng tác động qua lại giữa các công ty cómối liên hệ chặt chẽ với nhau
+ Đảm bảo rằng các tổ chức có tầm ảnh hưởng quan trọng tới hệ thống phảichịu sự giám sát tương xứng với mức rủi ro gây ra cho hệ thống tài chính trongtrường hợp tổ chức này sụp đổ
+ Đưa ra cơ chế giải quyết an toàn khi phải giải thể các tổ chức có tầm ảnhhưởng quan trọng tới hệ thống
+ Đảm bảo rằng cơ sở hạ tầng tài chính trọng yếu, bao gồm cả các tổ chứcthực hiện dịch vụ thương mại, thanh toán, phải vững chắc
+ Nghiên cứu để giảm thiểu tác động cùng chiều chu kỳ kinh tế của các quyđịnh về vốn và các quy định tiêu chuẩn khác
+ Nhận biết những lỗ hổng pháp lý bao gồm cả những lỗ hổng trong lĩnh vựcbảo vệ người tiêu dùng và nhà đầu tư, do những lỗ hổng này có thể gây ra những rủi
ro cho toàn hệ thống
Những diễn biến trong giai đoạn khủng hoảng đã cho thấy những yếu kémtrong quản lý rủi ro ở khu vực tư nhân và trong cả công tác giám sát hệ thống tài
Trang 36chính của cơ quan quản lý Nhu cầu cấp thiết hiện nay là phải áp dụng bài học từcuộc khủng hoảng để tăng cường hệ thống thể chế kể từ việc xây dựng các qui địnhpháp quy cho đến triển khai thực hiện trong hoạt động hàng ngày.
1.3.4.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Về giám sát phòng ngừa rủi ro: Do mức độ mở cửa lĩnh vực ngân hàng lớn
nên sẽ đem đến một số rủi ro nhất định Trung Quốc cũng nhận thức được rằngtrong quá trình mở cửa sẽ phát sinh nhiều rủi ro khác nhau Do vậy, việc nâng caonăng lực thanh tra giám sát, sử dụng nhiều hơn nữa các phương pháp thanh tra hệthống, đa dạng và đặc thù để đảm bảo sự an toàn, lành mạnh của hệ thống ngânhàng là rất cần thiết, qua đó quá trình mở cửa sẽ diễn ra thuận lợi hơn
Quá trình mở cửa lĩnh vực ngân hàng của Trung Quốc đi kèm với thanh traphòng ngừa nghiêm ngặt theo các chuẩn mực và thông lệ quốc tế tốt nhất Nguyêntắc thanh tra ngân hàng cơ bản của Trung Quốc là “ thực hành thanh tra tổng hợp,quản lý rủi ro, tăng cường kiểm soát nội bộ và nâng cao tình minh bạch” trong khitrọng tâm của công tác thanh tra là giám sát các loại hình rủi ro chủ yếu của cácngân hàng thương mại và các rủi ro hệ thống ngân hàng Mục đích của phương pháptiếp cận này là củng cố hệ thống quản lý rủi ro và kiểm soát của các ngân hàngthương mại, yêu cầu có một mức độ minh bạch cao hơn để có thể áp dụng kỷ luậtthị trường đối với các ngân hàng
Trong giai đoạn mở cửa tiếp theo, Trung Quốc hướng tới việc thực hiện Cácnguyên tắc cơ bản về Thanh tra Ngân hàng hiệu quả do Uỷ ban Basel về Thanh trangân hàng đề ra để tăng cường tính hiệu quả và minh bạch của công tác thanh tra.Tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động ngân hàng Do việc xây dựngmột khuôn khổ pháp lý hoàn chỉnh luôn là ưu tiên hàng đầu của quá trình mở cửa
Kết luận chương 1:
Chương 1 tác giả đã hệ thống hóa một số vấn đề khái quát về NHTW, mô hìnhNHTW, vai trò của NHTW trong môi trường tài chính mới và cơ sở lý luận về hoạtđộng giám sát từ xa của NHTW đối với các NHTM, kinh nghiệm của các nướctrong việc thực hiện GSTX để ổn định khu vực tài chính sau thời kỳ khủng hoảnglàm cơ sở để phân tích thực trạng hoạt động GSTX của NHNN Việt Nam trongchương 2
Trang 37CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT TỪ XA CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐỐI VỚI CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
2.1 Giới thiệu chung về Ngân hàng nhà nước Việt Nam
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của NHNN Việt Nam
Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, Việt Nam là nước thuộc địa nửa phongkiến dưới sự thống trị của thực dân Pháp Hệ thống tiền tệ, tín dụng ngân hàng đượcthiết lập và hoạt động chủ yếu phục vụ chính sách thuộc địa của Nhà nước Pháp ởViệt Nam Trong suốt thời kỳ thuộc địa, sự hình thành và phát triển của hệ thốngtiền tệ, tín dụng đều do Chính phủ Pháp xếp đặt, bảo hộ thông qua Ngân hàng ĐôngDương Thực chất, Ngân hàng Đông Dương hoạt động với tư cách là một Ngânhàng phát hành Trung ương, đồng thời là một ngân hàng kinh doanh đa năng baogồm các nghiệp vụ ngân hàng thương mại và nghiệp vụ đầu tư
Sau Cách mạng tháng 8, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của chínhquyền cách mạng là phải từng bước xây dựng nền tiền tệ độc lập, tự chủ, công cụquan trọng của chính quyền để xây dựng và bảo vệ đất nước Nhiệm vụ này dần trởthành hiện thực khi bước sang năm 1950, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhândân Việt Nam ngày một tiến triển mạnh mẽ với những chiến thắng vang dội trênkhắp các chiến trường và vùng giải phóng không ngừng được mở rộng Sự chuyểnbiến của cục diện cách mạng đòi hỏi công tác kinh tế, tài chính phải được củng cố
và phát triển theo yêu cầu mới Trên cơ sở chủ trương chính sách mới về tài kinh tế mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (tháng 2/ 1951) đã đề ra, ngày 6 tháng
chính-5 năm 19chính-51, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 1chính-5/SL thành lập Ngân hàngQuốc gia Việt Nam với các nhiệm vụ chủ yếu là: Quản lý việc phát hành giấy bạc
và tổ chức lưu thông tiền tệ, quản lý Kho bạc nhà nước, thực hiện chính sách tíndụng để phát triển sản xuất, phối hợp với mậu dịch để quản lý tiền tệ và đấu tranhtiền tệ với địch
Trang 38Sự ra đời của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam là một bước ngoặt lịch sử, làkết quả nối tiếp của quá trình đấu tranh xây dựng hệ thống tiền tệ, tín dụng độc lập,
tự chủ, đánh dấu bước phát triển mới, thay đổi về chất trong lĩnh vực tiền tệ, tíndụng ở nước ta Từ đó đến nay, gắn liền với sự phát triển của từng thời kỳ cáchmạng, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam (từ tháng 1/1960 đến nay là Ngân hàng Nhànước Việt Nam) đã từng bước lớn mạnh và phát triển, góp phần quan trọng vào việcxây dựng, củng cố, hoàn thiện thể chế tiền tệ, tín dụng và hệ thống Ngân hàng ViệtNam, phục vụ tích cực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Quá trình phát triển của hệ thống Ngân hàng Việt Nam kể từ khi Ngân hàngQuốc gia Việt nam ra đời đến nay có thể chia thành 4 thời kỳ như sau:
(i)Thời kỳ 1951-1954: Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được thành lập và
hoạt động độc lập tương đối trong hệ thống tài chính, thực hiện trọng trách đầu tiên:Phát hành giấy bạc Ngân hàng, thu hồi giấy bạc Tài chính; Thực hiện quản lý Khobạc Nhà nước góp phần tăng thu, tiết kiệm chi, thống nhất quản lý thu chi ngânsách; Phát triển tín dụng ngân hàng phục vụ sản xuất, lưu thông hàng hóa, tăngcường lực lượng kinh tế quốc doanh và đấu tranh tiền tệ với địch
(ii) Thời kỳ 1955-1975: Đây là thời kỳ cả nước kháng chiến chống Mỹ, miền
Bắc vừa xây dựng, chiến đấu, vừa chi viện cho cách mạng giải phóng miền Nam.Trong thời kỳ này, Ngân hàng Quốc gia thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Củng cố thị trường tiền tệ, giữ cho tiền tệ ổn định, góp phần bình ổn vật giá,tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc khôi phục kinh tế trong chiến tranh phá hoạibằng không quân của Mỹ ở miền Bắc
- Phát triển công tác tín dụng nhằm phát triển sản xuất lương thực, đẩy mạnhkhôi phục và phát triển nông, công, thương nghiệp, góp phần thực hiện hai nhiệm
vụ chiến lược: xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và giải phóngmiền Nam
(iii) Thời kỳ 1975-1985: Là giai đoạn khôi phục kinh tế sau chiến tranh giải
phóng và thống nhất nước nhà Nhiệm vụ cụ thể của ngành Ngân hàng là tiến hànhthiết lập hệ thống Ngân hàng thống nhất trong cả nước và thanh lý hệ thống Ngânhàng của chế độ cũ ở miền Nam Theo đó, Ngân hàng Quốc gia của chính quyền
Trang 39Việt Nam Cộng hòa đã được quốc hữu hóa và sáp nhập vào hệ thống Ngân hàngNhà nước Việt Nam, cùng thực hiện nhiệm vụ thống nhất tiền tệ trong cả nước, pháthành các loại tiền mới của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, thu hồi cácloại tiền cũ ở cả hai miền Nam- Bắc vào năm 1978 Trong giai đoạn này, hệ thốngNgân hàng Nhà nước về cơ bản vẫn hoạt động như là một công cụ ngân sách, chưathực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ theo nguyên tắc thị trường
(iv) Thời kỳ 1986 đến nay: Là quá trình đổi mới căn bản và toàn diện hệ thống
Ngân hàng Việt Nam:
- Tháng 7/1987: Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 218/CT cho phép làmthử việc chuyển hoạt động của Ngân hàng sang kinh doanh XHCN
- Tháng 3/1988: Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 53/HĐBT với địnhhướng cơ bản là chuyển hẳn hệ thống ngân hàng sang hoạt động kinh doanh
- Tháng 5/1990: Hội đồng Nhà nước thông qua và công bố 2 Pháp lệnh về ngânhàng (Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác
xã tín dụng và công ty tài chính) Sự ra đời của 2 Pháp lệnh Ngân hàng đã chínhthức chuyển cơ chế hoạt động của hệ thống Ngân hàng Việt Nam từ một cấp sanghai cấp, trong đó Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước vềhoạt động kinh doanh tiền tệ, ngân hàng và thực thi nhiệm vụ của một Ngân hàngtrung ương; các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng kinh doanh tiền tệ, tíndụng, thanh toán, ngoại hối và dịch vụ ngân hàng trong khuôn khổ pháp luật
- Tháng 10/1993, quan hệ hợp tác giữa Việt nam và cộng đồng tài chính quốc tế(Quỹ Tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á) được táilập và khơi thông
- Ngày 2/12/1997, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật Các tổ chức tíndụng được Quốc hội khóa X chính thức thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày1/10/1998
- Ngày 16/6/2010 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các tổ chức tíndụng được Quốc hội khóa XII chính thức thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày01/01/2011 Theo đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan ngang bộ củaChính phủ, là Ngân hàng trung ương của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa ViệtNam Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạtđộng ngân hàng và ngoại hối; thực hiện chức năng Ngân hàng trung ương về phát
Trang 40hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ choChính phủ Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền; bảođảm sự an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng; bảo đảm sự
an toàn, hiệu quả của hệ thống thanh toán quốc gia; góp phần thúc đẩy phát triểnkinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của NHNN Việt Nam
NHNN Việt Nam được tổ chức thành một hệ thống tập trung thống nhất gồm
bộ máy điều hành và hoạt động nghiệp vụ tại trụ sở chính đặt tại Hà Nội và mạnglưới chi nhánh các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các văn phòng đại diệncủa nước ngoài và các đơn vị trực thuộc
Sơ đồ cơ cấu tổ chức NHNN Việt Nam