1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế

117 272 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 2,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để giành thế chủ động trong tiến trình hộinhập kinh tế quốc tế, hệ thống ngân hàng Việt Nam cần cải tổ cơ cấu một cách mạnh mẽ để trở thành hệ thống ngân hàng đa dạng về hình thức, có kh

Trang 1

Có thể nói, việc chính thức là thành viên của WTO đem lại cho Việt Namnhững cơ hội và cũng đặt ra nhiều thách thức Muốn thành công chúng ta phải thấyđược hết thách thức, tận dụng cơ hội để đẩy lùi thách thức Suy cho cùng cơ hội vàthách thức chính là động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.

Ngân hàng là một trong những lĩnh vực được mở cửa mạnh nhất sau khi ViệtNam gia nhập WTO, thách thức lớn nhất của ngành ngân hàng là đối mặt với sự cạnhtranh ngày càng quyết liệt mạnh mẽ hơn Để giành thế chủ động trong tiến trình hộinhập kinh tế quốc tế, hệ thống ngân hàng Việt Nam cần cải tổ cơ cấu một cách mạnh

mẽ để trở thành hệ thống ngân hàng đa dạng về hình thức, có khả năng cạnh tranh cao,hoạt động an toàn và hiệu quả, huy động tốt các nguồn vốn trong xã hội và mở rộngđầu tư đáp ứng nhu cầu của phát triển đất nước.Là một người đang công tác trong lĩnhvực đào tạo về ngân hàng,với mong muốn các Ngân hàng thương mại Việt Nam pháttriển bền vững trong xu thế hội nhập tôi đã quyết định thực hiện chuyên đề nghiên cứu

với đề tài: “Năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế”

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Hệ thống hóa lý thuyết về hội nhập quốc tế và cạnh tranh trong kinh doanh

Trang 2

- Phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của các Ngân hàngthương mại Việt Nam, những kết quả đạt được và những tồn tại, tìm ra nguyên nhâncủa những vấn đề còn tồn tại.

- Hình thành giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của cácNgân hàng thương mại Việt Nam, đảm bảo an toàn và phát triển bền vững trong tìnhhình hội nhập kinh tế quốc tế

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu: Là những vấn đề liên quan đến hội nhập quốc tế vànăng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại Việt Nam trong điều kiện hội nhậpquốc tế

- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của các Ngânhàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, kết hợp với các phương phápthống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp… nhằm làm rõ vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp thu thập, xử lý số liệu: Số liệu thứ cấp được thu thập từ cácBáo cáo thường niên, Bản công bố thông tin, từ cơ quan thống kê, tạp chí… vàđược xử lý trên máy tính

- Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sẽ sử dụng (luận cứ rõ cáchtiếp cận, thiết kế nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sẽ sử dụng, so sánh vớicác phương thức giải quyết tương tự khác, nêu được tính mới, tính độc đáo, tính sángtạo của đề tài)

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: sưu tầm tài liệu thông qua các kết quả nghiêncứu đã có ở nước ngoài cũng như trong nước làm cơ sở lý luận cũng như phân tích sosánh thực tế

5 Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nói chung và của ngân hàngthương mại nói riêng là vấn đề được mọi quốc gia đặt lên hàng đầu, khi nền kinh tếngày càng bị ảnh hưởng sâu sắc bởi tiến trình hội nhập, tăng khả năng cạnh tranh là

con đường dẫn tới thành công của bất kỳ ngân hàng nào Chính vì vậy, đề tài “Năng

Trang 3

lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế” được thực hiện là có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao.

6 KẾT CẤU CỦA CHUYÊN ĐỀ

Ngoài phần mục lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục các bảng số liệu, phụlục, danh mục tài liệu tham khảo, chuyên đề có 115 trang được trình bày như sau:

Trang 4

CHƯƠNG IHỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CẠNH TRANH TRONG KINH DOANH

NGÂN HÀNG

1.1 Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng thời kỳ hậu WTO.

1.1.1 Các khái niệm cơ bản về hội nhập quốc tế

Để tìm hiểu khái niệm “Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng” chúng

ta lần lượt tìm hiểu các khái niệm “Toàn cầu hóa kinh tế”, “Khu vực hóa kinh tế”, “Hội nhập kinh tế quốc tế”, “ Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ”

Toàn cầu hóa kinh tế: Là một quá trình trong quan hệ quốc tế làm tăng sự phụ

thuộc lẫn nhau về mọi mặt của đời sống xã hội (từ kinh tế, chính trị, an ninh, văn hóađến môi trường …) giữa các quốc gia

Khu vực hóa kinh tế: Là hiện tượng trong quan hệ kinh tế quốc tế, bao gồm

các hoạt động hợp tác kinh tế giữa một số nước tập hợp thành những nhóm khu vực(dưới dạng định chế/tổ chức) có mức độ liên kết kinh tế khác nhau

Toàn cầu hóa và Khu vực hóa là quá trình hình thành và phát triển các thịtrường toàn cầu và khu vực, làm tăng sự tương tác và phụ thuộc lẫn nhau, trước hết

về kinh tế, giữa các nước thông qua sự gia tăng các luồng giao lưu hàng hóa vànguồn lực qua biên giới giữa các quốc gia cùng với sự hình thành các định chế, tổ chứcquốc tế nhằm quản lý các hoạt động và giao dịch kinh tế quốc tế

Toàn cầu hóa, khu vực hóa kinh tế ngày càng được khẳng định là một quá trìnhtất yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất thế giới và là một xu thế lớn của quan hệquốc tế hiện đại Quá trình này được thúc đẩy bởi các nhân tố như sau:

+ Sự tiến bộ khoa học và công nghệ

+ Sự quốc tế hóa cá hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là vai trong ngày càngtăng của các công ty xuyên quốc gia

+ Chính sách mở cửa, tự do hóa thương mại và đầu tư ở các nước

Hội nhập kinh tế quốc tế: là quá trình chủ động gắn kết nền kinh tế thị trường

của từng nước với kinh tế khu vực và kinh tế thế giới thông qua các nỗ lực tự do hóa

Trang 5

nhập quốc tế thực chất cũng là sự chủ động tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, khuvực hóa Nói cách khác, hội nhập bao hàm các nỗ lực về mặt chính sách và thực hiệncủa các quốc gia để tham gia vào các định chế, tổ chức kinh tế toàn cầu và khu vực.Quá trình hội nhập làm cho nền kinh tế mỗi nước ngày càng liên kết chặt chẽ vớicác nền kinh tế thành viên khác, từ đó làm cho nền kinh tế thế giới phát triển theohướng tạo ra một thị trường chung thống nhất trong đó những cản trở đối với sự giaolưu và hợp tác quốc tế giảm và dần dần mất đi, sự cạnh tranh trở nên gay gắt Bởi vậyhội nhập kinh tế quốc tế cũng có nghĩa là tham gia vào cuộc cạnh tranh kinh tế ở cảtrong và ngoài nước Ngày nay, để khỏi bị gạt ra ngoài lề của sự phát triển, các quốcgia đều nỗ lực hội nhập vào xu thế chung, ra sức cạnh tranh kinh tế vì sự tồn tại và pháttriển của mình.

Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ: là quá trình mà các nước,các khu vực thực hiện mở cửa cho sự tham gia của các yếu tố bên ngoài vào lĩnh vựctài chính - tiền tệ, bao gồm vốn đầu tư (trực tiếp và gián tiếp), công nghệ, tín dụng

và lao động có trình độ chuyên môn cao

Hội nhập quốc tế về tài chính - tiền tệ là thực hiện quá trình tự do hóa tàichính tức là xóa bỏ các hạn chế, các định hướng hay ràng buộc trong việc phân bổnguồn lực tín dụng Tự do hóa tài chính cũng đồng nghĩa với việc mở rộng cạnh tranhcủa các định chế tài chính, cùng với việc chấm dứt phân biệt đối xử về pháp lý giữacác loại hoạt động khác nhau.Tự do hóa tài chính bao gồm tự do hóa lãi suất, tự dohóa tỷ giá hối đoái, giảm thiểu tỷ lệ dự trữ bắt buộc, xóa bỏ bao cấp vốn thông qua chỉđịnh tín dụng, tự do hóa các hoạt động của các tổ chức tài chính trong nước và quốc

tế trên nền tảng của tự do hóa các tài khoản vãng lai và tài khoản vốn

Hội nhập quốc tế là xu hướng phát triển tất yếu của kinh tế thế giới, nhất là đốivới các quốc gia đang phát triển Hội nhập quốc tế nhằm mở cửa nền kinh tế, thựchiện tự do hóa thương mại, dịch vụ để gia nhập vào cuộc canh tranh quốc tế bìnhđẳng và cùng phát triển trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực ngân hàng

1.1.2 Khái niệm hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng

Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng là quá trình mở cửa để đưa hệ

Trang 6

hoạt động ngân hàng không còn bó hẹp trong phạm vi một nước, một khu vực mà mởrộng trên phạm vi toàn cầu Hoạt động ngân hàng phải tuân thủ theo quy luật thịtrường và các nguyên tắc kinh doanh quốc tế, hoạt động ngân hàng được thực hiệntheo tín hiệu thị trường mà không bị ngăn chặn bởi các biện pháp quản lý hành chính.Lãi suất, tỷ giá và hoạt động tín dụng… đều do thị trường quyết định.

Quá trình hội nhập của hệ thống ngân hàng có thể hiểu là quá trình cải cáchtừng bước hệ thống ngân hàng xuất phát từ yêu cầu thực tế của quá trình toàn cầu hóanền kinh tế quốc gia, vì có như vậy hệ thống ngân hàng mới có thể đảm nhiệm vàphát huy được vai trò trung gian tài chính của mình trong bối cảnh nền kinh tế mớivới nhiều biến động phức tạp của thị trường quốc tế nói chung và thị trường nội địanói riêng

Thực hiện hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng đòi hỏi chính phủ vàNHNN phải xóa bỏ những ưu đãi, tiến tới cạnh tranh bình đẳng giữa các ngân hàngtrong và ngoài nước Do đó, mức độ hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng cómối quan hệ chặt chẽ với mức độ tự do hóa tài chính - tiền tệ Việc thực hiện tự dohóa tài chính - tiền tệ càng sâu rộng có hiệu quả thì việc hội nhập ngân hàng càngthuận lợi

Cho đến nay, cả lý luận và thực tiễn phát triển của các nền kinh tế thế giớiđều khẳng định rằng: một quốc gia muốn tồn tại, phát triển ổn định và bền vững cầnphải chủ động hội nhập quốc tế, đặc biệt là chủ động hội nhập thành công lĩnh vực tàichính ngân hàng – lĩnh vực nhạy cảm và trọng yếu của nền kinh tế quốc dân

1.1.3 Các nội dung về hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng.

Quá trình cam kết mở cửa trong lĩnh vực ngân hàng bao gồm các nội dung:

Một là, các thành viên không được ban hành thêm hay áp dụng những biện

pháp được nêu dưới đây, dù ở quy mô vùng hay trên toàn lãnh thổ (trừ khi có quy địnhtrong danh mục cam kết cụ thể):

- Hạn chế số lượng nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng dưới hình thức quotatheo số lượng để độc quyền, toàn quyền cung cấp dịch vụ ngân hàng đáp ứng nhucầu kinh tế

- Hạn chế về tổng số các hoạt động tác nghiệp hay tổng số dịch vụ ngân hàng đầu

Trang 7

ra tính theo số lượng đơn vị dưới hình thức quota theo số lượng hay yêu cầu phải đápứng các nhu cầu kinh tế.

- Hạn chế tổng trị giá các giao dịch về dịch vụ ngân hàng và tài sản dù dưới hìnhthức quota theo số lượng hay yêu cầu phải đáp ứng các nhu cầu kinh tế

- Hạn chế tổng số người được tuyển dụng trong lĩnh vực cụ thể hay một nhàcung cấp dịch vụ được phép tuyển dụng và những người cần thiết liên quan trựctiếp tới việc cung cấp dịch vụ ngân hàng dưới hình thức quota theo số lượng hay phảiđáp ứng nhu cầu kinh tế

Hai là, mỗi thành viên sẽ dành cho dịch vụ ngân hàng hay nhà cung cấp dịch vụ

ngân hàng của bất kỳ thành viên nào khác sự đãi ngộ không kém phần thuận lợi hơn

sự đãi ngộ với những điều kiện, điều khoản và những hạn chế đã được thỏa thuận vàquy định trên danh mục cam kết cụ thể của các thành viên mới

Ba là, trừ khi gặp phải tình huống phải bảo vệ cán cân thanh toán, một thành

viên sẽ không áp dụng hạn chế về thanh toán và chuyển tiền quốc tế cho các dịch vụvãng lai liên quan đến cam kết cụ thể của mình

Bốn là, một nước thành viên sẽ cho phép người cung cấp dịch vụ ngân hàng

của các nước thành viên khác được đưa ra các dịch vụ mới trên lãnh thổ của mình

Năm là, mỗi nước thành viên sẽ dành cho người cung cấp dịch vụ ngân hàng

của bất kỳ nước thành viên nào khác quyền được thành lập và mở rộng hoạt độngtrong lãnh thổ nước mình kể cả việc mua lại các doanh nghiệp hiện tại hay một tổ chứcthương mại

Sáu là, mỗi nước thành viên sẽ cho phép người cung cấp dịch vụ ngân hàng

tiếp cận hệ thống thanh toán bù trừ do nhà nước điều hành và tiếp cận các thể thứccấp vốn và tái cấp vốn trong quá trình kinh doanh thông thường

Bảy là, các thành viên cam kết rằng trong những trường hợp nhất định, trợ cấp

có thể tác động bóp méo dịch vụ thương mại, các thành viên sẽ tiến hành đàm phánnhằm định ra những quy tắc đa biên cần thiết để tránh những bóp méo đó

Tám là, mỗi thành viên sẽ trả lời không chậm trễ khi có yêu cầu của bất kỳ

thành viên nào khác về những thông tin cụ thể về bất kỳ biện pháp nào được ápdụng chung hay về hiệp định quốc tế

Trang 8

với các nước đang phát triển.

Hội nhập kinh tế cũng góp phần thúc đẩy quá trình thu hút nguồn vốn đầu tư,tạo điều kiện giúp các NHTM phát triển các mối quan hệ đại lý, thanh toán quốc tế,tài trợ thương mại, hợp tác đầu tư và trao đổi công nghệ Hơn nữa, việc Việt Namgia nhập WTO cũng thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước chủ động trong việcnâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường để tồn tại và phát triển, không chỉ

ở trong nước mà còn mở rộng hoạt động ra nước ngoài.Việc thực hiện hội nhậpquốc tế nói chung và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng nói riêng đều hàmchứa trong đó cả những cơ hội và thách thức Việc nghiên cứu chúng sẽ giúp chúng

ta tận dụng những cơ hội và chuẩn bị những điều kiện tốt nhất đối đầu với thách thức

1.1.4.1 Những cơ hội.

Hội nhập quốc tế mang lại nhiều cơ hội kinh tế cho mỗi quốc gia và toàn thếgiới Những thành tựu thời gian qua mà các nước đang phát triển đạt được có sự gópphần không nhỏ của quá trình hội nhập này, các cơ hội thể hiện ở những mặt chủ yếusau đây:

Một là, nhờ hội nhập quốc tế mà các ngân hàng trong nước có thể bổ sung

được nguồn vốn hoạt động từ các nguồn bên ngoài, tiếp cận được các công nghệngân hàng tiên tiến, mở rộng hoạt động kinh doanh về ngoại hối, chứng khoán quốc

tế, phát triển các dịch vụ ngân hàng mới, tạo điều kiện cho các ngân hàng trong nước

đa dạng hóa hình thức kinh doanh, phân tán rủi ro

Hai là, hội nhập sẽ tăng sức ép cạnh tranh từ bên ngoài, buộc các NHTM

trong nước phải cải tiến quản lý, tuân thủ các nguyên tắc thị trường, đổi mới kiểmsoát nội bộ, phòng ngừa rủi ro và giám sát an toàn hoạt động, mở rộng phạm vi cungcấp dịch vụ tốt hơn, cải thiện vị thế của mỗi ngân hàng trên thị trường thế giới

Ba là, hội nhập vào cộng đồng tài chính quốc tế, cùng với dòng vốn vào là kinh

nghiệm quản lý, kỹ thuật phòng ngừa rủi ro, công nghệ và sản phẩm mới được đưavào thị trường nội địa Các yếu tố này làm tăng hiệu quả cung cấp dịch vụ của cácngân hàng và các tổ chức tài chính, tăng cường khả năng quản lý rủi ro đối với cáchoạt động tài chính trong nước và quốc tế

Bốn là, hội nhập đã thúc đẩy sự phát triển và trao đổi các dịch vụ tài chính,

Trang 9

ngân hàng giữa các nước Các nước đang phát triển, nơi mà các ngân hàng trongnước thường có chi phí hoạt động cao và lợi nhận thấp hơn các đối thủ cạnh tranhnước ngoài thì sự xuất hiện của ngân hàng nước ngoài trên thị trường nội địa sẽ cóảnh hưởng tích cực Do sức ép cạnh tranh tăng lên đã thúc đẩy các ngân hàng nộiđịa hoạt động hiệu quả hơn, nâng cao chất lượng dịch vụ để giữ vững và phát triểnthị phần, quản lý chặt chẽ chi phí để có lợi nhuận.

Năm là, việc hình thành các tập đoàn ngân hàng lớn cùng với quá trình mở

rộng hoạt động của chúng trên thế giới sẽ tạo cho ngân hàng này có nhiều lợi thếtrong cạnh tranh cũng như khả năng đối phó với những biến động thị trường Sựtham gia của các ngân hàng nước ngoài có tên tuổi này trên thị trường nội địa sẽ

có ảnh hưởng tích cực trong việc cải thiện các quy định giám sát và phòng ngừarủi ro, tuân thủ các chuẩn mực quốc tế về kế toán, công bố công khai Mặt khác,những ngân hàng ở các nước đang phát triển muốn thâm nhập vào thị trường cácnước cần phải đảm bảo đáp ứng được các yêu cầu và tiêu chuẩn của những thịtrường này mới nhận được giấy phép hoạt động

1.1.4.2 Những thách thức

Thứ nhất, hội nhập xuất hiện sự thâm nhập của ngân hàng nước ngoài có thể gây

khó khăn cho nền kinh tế và đe dọa đến chủ quyền kinh tế quốc gia Mở cửa cho sựtham gia của NHNNg quá mức có thể gây ra hiện tượng những ngân hàng nướcngoài lớn chi phối hoạt động cả hệ thống ngân hàng quốc gia và sự lệ thuộc của nềnkinh tế vào một số ít ngân hàng nước ngoài

Thứ hai, hoạt động của NHNNg trên thị trường nội địa với những sản phẩm

mới cùng với các giao dịch trên một phạm vi rộng lớn và với tốc độ rất nhanh sẽgây khó khăn cho việc kiểm soát của các cơ quan quản lý, giám sát của từng quốcgia Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ và các sản phẩm dịch vụ ngân hànghiện đại làm cho nhiều hoạt động ngân hàng thoát khỏi sự kiểm soát của các cơ chếgiám sát đã đặt ra

Thứ ba, các NHNNg hoạt động trên thị trường nội địa tạo ra áp lực cạnh

tranh gay gắt, có thể gây ra những xung đột về lợi ích giữa các nhóm khác nhau,

Trang 10

ảnh hưởng đến đặc quyền kinh doanh của các ngân hàng trong nước.

Thứ tư, trong môi trường vốn luân chuyển tự do giữa các nước, kích thích

các tổ chức trong nước nhận vốn vay nước ngoài một cách thiếu thận trọng Nếunhững tổ chức kinh tế có hệ số nợ nước ngoài cao bị mất khả năng trả nợ sẽ ảnhhưởng tiêu cực đến hệ thống ngân hàng Do hiện tượng phản ứng theo kiểu “ hành

vi đám đông” có thể dẫn tới nhiều tổ chức có hệ số nợ cao đổ vỡ, nguy cơ này sẽnhanh chóng bị khuếch đại gây kho khăn cho hệ thống ngân hàng

1.2 Cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh ngân hàng thời kỳ hậu WTO.

1.2.1 Lý luận chung về cạnh tranh.

1.2.1.1 Khái niệm về cạnh tranh

Cạnh tranh là hiện tượng tự nhiên, là mâu thuẫn quan hệ giữa các cá thể có

chung một môi trường sống khi cùng quan tâm tới một đối tượng nào đó Tronghoạt động kinh tế, cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất,người tiêu dùng) nhằm giành lấy những vị thế lợi hơn trong sản xuất, tiêu thụ haytiêu dùng hàng hóa để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình Cạnh tranh có thể xảy

ra giữa những nhà sản xuất với nhau hoặc có thể xảy ra giữa người sản xuất vớingười tiêu dùng khi người sản xuất muốn bán hàng hóa với giá cao, người tiêu dùnglại muốn mua được với giá thấp Cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích, đặc biệt chongười tiêu dùng Người sản xuất phải tìm mọi cách để làm ra sản phẩm có chấtlượng hơn, đẹp hơn, có chi phí sản xuất rẻ hơn, có tỷ lệ tri thức khoa học, công nghệcao hơn để đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của khách hàng Cạnh tranh làm cho ngườisản xuất năng động hơn, nhạy bén hơn, nắm bắt tốt hơn nhu cầu của khách hàng,thường xuyên cải tiến kỹ thuật, áp dụng những tiến bộ, những nghiên cứu mới nhấtvào sản xuất; hoàn thiện cách thức tổ chức sản xuất, quản lý sản xuất để nâng caonăng xuất, chất lượng và hiệu quả kinh tế

Thuật ngữ “cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnhvực như kinh tế, thương mại, thể thao, …; cũng như thường xuyên được nhắc tớitrong sách báo chuyên môn, diễn đàn kinh tế, các phương tiện thông tin đại chúng

và thuật ngữ này được sự quan tâm của nhiều đối tượng khác nhau, từ nhiều góc độkhác nhau, dẫn đến có rất nhiều khái niệm khác nhau về cạnh tranh

Trang 11

Tiếp cận ở góc độ đơn giản thì cạnh tranh là hành động ganh đua, đấu tranhcác cá nhân, các nhóm, loài chống lại các cá nhân hay các nhóm, các loài khác vìmục đích giành được sự tồn tại, sống còn, giành được lợi nhuận, địa vị, sự kiêuhãnh, các phần thưởng hay những thứ khác Trong kinh tế chính trị học thì cạnhtranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóanhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùnghàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình Cạnh tranh có thể xảy ragiữa những người sản xuất với người tiêu dùng; giữa người tiêu dùng với nhau đểmua được hàng rẻ hơn; giữa những người sản xuất để có những điều kiện tốt hơntrong sản xuất và tiêu thụ.

Có quan điểm cho rằng, cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữacác nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụhàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch Paul Anthony Samuelson và WilliamNordhaus lại cho rằng, cạnh tranh là sự đối đầu giữa các doanh nghiệp cạnh tranhvới nhau để giành khách hàng hoặc thị phần Michael Porter thì cho rằng, cạnhtranh là giành lấy thị phần Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoảnlợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có, kết quả quátrình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cảithiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi

Từ các quan điểm trên, có thể hiểu rằng, cạnh tranh trong kinh tế thị trường

là sự đối đầu giữa các chủ thể tham gia thị trường để giành những điều kiện thuậnlợi nhất trong sản xuất, tiêu thụ, tiêu dùng hàng hóa nhằm thu lại nhiều lợi ích nhấtcho chính họ

Cạnh tranh của một doanh nghiệp, một ngành, một quốc gia là mức độ mà ở

đó trong các điều kiện về thị trường tự do và công bằng, có thể sản xuất ra các sảnphẩm hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường, đồng thời tạo raviệc làm và nâng cao được thu nhập thực tế

Một doanh nghiệp được xem là có sức cạnh tranh khi nó có thể thường xuyênđưa ra các sản phẩm thay thế, mà các sản phẩm này có mức giá thấp hơn so với các

Trang 12

tính về chất lượng hay dịch vụ ngang bằng hay tốt hơn.

1.2.1.2 Lợi thế cạnh tranh.

Lợi thế cạnh tranh là những gì làm cho doanh nghiệp nổi bật hay khác biệt sovới các đối thủ cạnh tranh Đó là những thế mạnh mà tổ chức có hoặc khai thác tốthơn những đối thủ cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh cũng chỉ là khái niệm tương đối khi

so sánh một doanh nghiệp với đối thủ và nhận thức cách khách hàng đánh giá vềdoanh nghiệp, khi tương lai thay đổi thì thang đo giá trị về lợi thế cạnh tranh cũng

sẽ thay đổi, ít, nhiều hoặc hoàn toàn

Lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp được thể hiện ở hai khía cạnh sau:

- Chi phí: Theo đuổi mục tiêu giảm chi phí đến mức thấp nhất có thể được.Doanh nghiệp nào có chi phí thấp thì doanh nghiệp đó có nhiều lợi thế hơn trong quátrình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Chi phí thấp mang lại cho doanh nghiệp tỷ

lệ lợi nhuận cao hơn mức bình quân trong ngành bất chấp sự hiện diện của các lựclượng cạnh tranh mạnh mẽ

- Sự khác biệt hóa: Là lợi thế cạnh tranh có được từ những khác biệt xoayquanh sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp bán ra thị trường Những khácbiệt này có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức, như: sự điển hình về thiết kế hay danhtiếng sản phẩm, công nghệ sản xuất, đặc tính sản phẩm, dịch vụ khách hàng, mạnglưới bán hàng

1.2.1.3 Các yếu tố góp phần tạo nên lợi thế cạnh tranh trong doanh nghiệp

Lợi thế cạnh tranh là một trong những thế mạnh mà doanh nghiệp có hoặc cóthể huy động để có thể cạnh tranh thắng lợi Để có thể tạo được lợi thế cạnh tranh, cácdoanh nghiệp cần nghiên cứu các yếu tố sau:

- Nguồn gốc sự khác biệt: So với đối thủ cạnh tranh, doanh nghiệp có gì vượttrội hơn về mặt giá cả sản phẩm, chất lượng sản phẩm hàng hóa, chất lượng sảnphẩm dịch vụ, mạng lưới phân phối

- Thế mạnh của doanh nghiệp về cơ sở vật chất, nhà xưởng, trang thiết bị kỹ thật

- Khả năng phát triển sản phẩm mới, đổi mới dây chuyền công nghệ, hệ thốngphân phối

- Chất lượng của sản phẩm dịch vụ : thỏa mãn được nhu cầu ngày càng tăngcủa khách hàng

Trang 13

- Khả năng đối ngoại: Khả năng liên kết với các doanh nghiệpp khác hoặc liêndoanh với nước ngoài, hoặc sử dụng sự trợ giúp của các tổ chức trong cạnh tranh.

- Khả năng tài chính: Khả năng của doanh nghiệp trong việc quản lý chi phí,huy động vốn và thanh toán các nghĩa vụ tài chính

- Sự thích nghi của tổ chức: Sự mềm dẻo của tổ chức để thích ứng với sự thayđổi của môi trường Sự thích nghi của hệ thống quyền lực lãnh đạo và tổ chức hànhchính trong lĩnh vực hoạt động

- Khả năng tiếp thị: Nhiều doanh nghiệp thành công nhờ vào việc cố gắngcung cấp nhiều giá trị hơn cho khách hàng, phát triển sản phẩm mới, nâng cao chấtlượng dịch vụ, phục vụ và phân phối sản phẩm

1.2.2 Cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh ngân hàng

1.2.2.1 Khái niệm và đặc trưng về cạnh tranh của NHTM.

Cạnh tranh của NHTM là khả năng tạo ra và sử dụng có hiệu quả các lợi thế

so sánh, để giành phần thắng trên thị trường trong việc thu hút khách hàng,mở rộngthị phần, xây dựng uy tín, thương hiệu nhằm khẳng định vị trí của ngân hàng vượtlên khỏi các ngân hàng khác trong cùng lĩnh vực hoạt động ấy

Môi trường hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại (NHTM) có

sự cạnh tranh ngày càng gay gắt Do xuất phát từ những đặc thù của hoạt động kinhdoanh ngân hàng và những ảnh hưởng của hoạt động ngân hàng đối với nền kinh tế,cạnh tranh của NHTM có những đặc trưng riêng Đó là:

Một là, các NHTM vừa cạnh tranh gay gắt vừa hợp tác với nhau

Cũng như bất kỳ một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào, trong hoạt độngcủa mình, các ngân hàng luôn phải cạnh tranh gay gắt với nhau để mở rộng thịtrường và thu hút khách hàng nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.Tính chất gay gắttrong cạnh tranh ngân hàng xuất phát từ đặc thù của sản phẩm, dịch vụ ngân hàng là

có tính tương đồng cao và rất dễ bị bắt chước.Mặt khác, trong cạnh tranh, các ngânhàng không chỉ sử dụng các công cụ mang tính truyền thống như phí, lãi suất, cácdịch vụ ngân hàng, mà còn sử dụng công nghệ hiện đại để đa dạng hoá các sảnphẩm dịch vụ, đưa ra các kênh phân phối mới và nâng cao chất lượng các sản

Trang 14

vốn, mạng lưới, công nghệ có hạn trong khi nhu cầu, đòi hỏi về sản phẩm, dịch vụngân hàng ngày càng cao nên các ngân hàng cũng phải liên kết với nhau để cùngcung cấp một hay một số sản phẩm dịch vụ nhất định cho khách hàng Vì vậy, đểtránh đổ vỡ toàn hệ thống cũng như tiết kiệm chi phí, đảm bảo an toàn trong kinhdoanh, các NHTM một mặt cạnh tranh với nhau, một mặt lại hợp tác chặt chẽ vớinhau trong cung cấp các sản phẩm dịch vụ cho khách hàng.

Hai là, cạnh tranh ngân hàng luôn phải hướng tới một thị trường lành mạnh ,

tránh khả năng xảy ra rủi ro hệ thống: Các NHTM phải cạnh tranh lành mạnh thôngqua cung cấp các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng có chất lượng, đáp ứng ngày càngtốt hơn nhu cầu của khách hàng.Ngân hàng là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, đivay để cho vay nên nếu các ngân hàng cạnh tranh không lạnh mạnh, hoặc cạnhtranh thông qua việc tăng lãi suất huy động tiền gửi, giảm lãi suất cho vay hay giảmphí dịch vụ, nới lỏng các điều kiện tín dụng

Ngân hàng là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, đi vay để cho vay lại nếu cácngân hàng cạnh tranh không lành mạnh, hoặc cạnh tranh thông qua việc tăng lãisuất huy động tiền gửi, giảm lãi suất cho vay, phí dịch vụ, nới lỏng các điều kiện tíndụng sẽ làm cho nguồn thu của các ngân hàng giảm sút, nguy cơ tiềm ẩn rủi ro tíndụng tăng cao dẫn đến rủi ro hệ thống Vì vậy, mặc dù cạnh tranh với nhau tronghoạt động, các NHTM vẫn liên kết với nhau, có thể thoả thuận để giữ mặt bằng giá

cả phù hợp, đảm bảo lợi ích chung Rủi ro trong hoạt động ngân hàng có tính lây lanrất lớn Nếu một ngân hàng có nguy cơ phá sản, khách hàng đồng loạt đến rút tiềm,gây tâm lý hoang mang cho khách hàng gủi tiền tại các ngân hàng thương mại khac.Điều này dễ dẫn đến khả nawgn đổ vỡ theo hiệu ứng domino mang tính hệ thốngtrong đó tất cả các NHTM đều bị ảnh hưởng và tác động đến toàn bộ nền kinh tếquốc dân

Ba là, cạnh tranh ngân hàng phụ thuộc mạnh mẽ vào các yếu tố bên ngoàingân hàng như môi trường kinh doanh, doanh nghiệp, dân cư, tập quán dân tộc, hạtầng cơ sở…Cũng như bất kỳ doanh nghiệp nào,ngân hàng hoạt động và cạnh tranhvới nhau trong những môi trường và điều kiện kinh tế nhất định Hoạt động kinhdoanh trong lĩnh vực ngân hàng chịu sự chi phối của luật pháp, các sản phẩm dịch

Trang 15

vụ ngân hàng đưa ra nhằm đáp ứng nhu cầu của những đối tượng khách hàng cụthể Khách hàng của ngân hàng là các đơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần của nềnkinh tế Do vậy, hoạt động kinh doanh ngân hàng cũng như sự cạnh tranh giữa cácngân hàng luôn chịu sự tác động của môi trường bên ngoài ngân hàng.Với mỗi môitrường kinh doanh nhất định, điều kiện kinh tế nhất định, khu vực địa lý nhất định,ngân hàng cần có những chính sách phù hợp để đưa ra các sản phẩm, dịch vụ đápứng nhu cầu của khách hàng, thu hút khách hàng, giành ưu thế trong cạnh tranh.

Bốn là, cạnh tranh ngân hàng nằm trong vùng ảnh hưởng thường xuyên

của thị trường tài chính quốc tế Cùng với quá trình mở cửa, hội nhập nền kinh tế, sựgiao thoa về kinh tế giữa các quốc gia ngày càng mạnh mẽ Các ngân hàng tăngcường hợp tác với các ngân hàng nước ngoài cũng như mở rộng hoạt động kinhdoanh của mình ra thị trường các nước trên thế giới Lộ trình hội nhập đòi hỏi cácNHTM trongnước phải tuân thủ các quy định quốc tế về hoạt động ngân hàng và sựtác động của phía đối tác Mỗi sự thay đổi của tỷ giá, lãi suất của các loại ngoại tệliên quan, điều kiện kinh tế trên thế giới, chính sách tiền tệ của các nước… đều ảnhhưởng và tác động đến hoạt động kinh doanh của các NHTM trong nước Dovậy,trong cạnh tranh, các ngân hàng cũng phải có những chính sách thích hợp đểđối phó với những biến động của thị trường tài chính quốc tế

1.2.2.2 Các nhân tố tác động đến mức độ cạnh tranh của các NHTM.

* Các nhân tố thuộc môi trường vi mô

- Các NHTM mới tham gia thị trường: Các NHTM mới tham gia thị trường

với những lợi thế quan trọng như: mở ra những tiềm năng mới, có động cơ và ướcvọng giành được thị phần, đã tham khảo kinh nghiệm từ những NHTM đang hoạt động,

có được những thống kê đầy đủ và dự báo về thị trường…Như vậy, bất kể thực lực củaNHTM mới là thế nào, thì các NHTM hiện tại đã thấy một mối đe dọa về khả năngthị phần bị chia sẻ; ngoài ra, các NHTM mới có những kế sách và sức mạnh mà cácNHTM hiện tại chưa thể có thông tin và chiến lược ứng phó

- Các NHTM hiện tại: Đây là những mối lo thường trực của các NHTM trong

kinh doanh Đối thủ cạnh tranh ảnh hưởng đến chiến lược hoạt động kinh doanh

Trang 16

đẩy ngân hàng phải thường xuyên quan tâm đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượngcác dịch vụ cung ứng để chiến thắng trong cạnh tranh.

- Sức ép từ phía khách hàng Một trong những đặc điểm quan trọng của ngành

ngân hàng là tất cả các cá nhân, tổ chức kinh doanh sản xuất hay tiêu dùng, thậm chí

là các ngân hàng khác cũng đều có thể vừa là người mua các sản phẩm dịch vụ ngânhàng, vừa là người bán sản phẩm dịch vụ cho ngân hàng Những người bán sản phẩmthông qua các hình thức gửi tiền, lập tài khoản giao dịch hay cho vay đều có mongmuốn là nhận được một lãi suất cao hơn; trong khi đó những người mua sản phẩm (vayvốn) lại muốn mình chỉ phải trả một chi phí vay vốn nhỏ hơn thực tế Như vậy, ngânhàng sẽ phải đối mặt với sự mâu thuẫn giữa hoạt động tạo lợi nhuận có hiệu quả vàgiữ chân được khách hàng cũng như có được nguồn vốn thu hút rẻ nhất có thể

- Sự xuất hiện các dịch vụ mới Sự ra đời ồ ạt của các tổ chức tài chính trung

gian đe dọa lợi thế của các NHTM khi cung cấp các dịch vụ tài chính mới cũngnhư các dịch vụ truyền thống vốn vẫn do các NHTM đảm nhiệm Các trung giannày cung cấp cho khách hàng những sản phẩm mang tính khác biệt và tạo cho ngườimua sản phẩm có cơ hội chọn lựa đa dạng hơn, thị trường ngân hàng mở rộng hơn.Điều này tất yếu sẽ tác động làm giảm đi tốc độ phát triển của các NHTM, suy giảmthị phần Ngày nay, người ta cho rằng, khi các NHTM mạnh lên nhờ sự rèn luyệntrong cạnh tranh, thì hệ thống NHTM sẽ mạnh hơn và có sức đàn hồi tốt hơn sau các

cú sốc của nền kinh tế

* Các nhân tố thuộc môi trường bên trong ngân hàng

Bên cạnh các nhân tố khách quan tác động đến năng lực cạnh tranh của cácNHTM, trên thực tế, nhóm các nhân tố thuộc về nội tại của hệ thống NHTM cũngảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của các ngân hàng này, chúng bao gồm:

- Năng lực điều hành của ban lãnh đạo ngân hàng

- Quy mô vốn và tình hình tài chính của NHTM

- Công nghệ cung ứng dịch vụ ngân hàng

- Chất lượng nguồn nhân lực

- Cấu trúc tổ chức

- Danh tiếng và uy tín của NHTM

Trang 17

- Bên cạnh đó, đặc điểm sản phẩm và đặc điểm khách hàng của NHTM cũng

là nhân tố chi phối đến khả năng cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh của NHTM

Cụ thể:

Đặc điểm sản phẩm: Cạnh tranh trong kinh doanh của NHTM bị chi phối bởi

các đặc điểm hoạt động kinh doanh của nó Sản phẩm chính sử dụng trong hoạtđộng kinh doanh của NHTM là tiền, đó là loại sản phẩm có tính xã hội và có tínhnhạy cảm cao, chỉ một biến động nhỏ (thay đổi lãi suất) cũng có ảnh hưởng to lớnđến hoạt động kinh doanh của các NHTM nói riêng và hoạt động của toàn xã hội nóichung Từ đặc điểm này dẫn đến cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng trở nên quyếtliệt Có nghĩa là, chính vì sản phẩm kinh doanh có tính nhạy cảm cao đã làm tăng tínhcạnh tranh trong hoạt động kinh doanh của NHTM

Đặc điểm khách hàng: Khách hàng của NHTM không phải là khách hàng luôn

“trung thành” mà rất dễ bị lôi kéo và thay đổi quan hệ giao dịch Mức độ trungthành của khách hàng phụ thuộc vào sự đối xử của NHTM với họ, mà cao nhất là lợiích trực tiếp thu được từ quan hệ giao dịch với ngân hàng Khách hàng có thể ngay lậptức thay đổi quan hệ với ngân hàng để tìm mối lợi lớn hơn nếu họ biết rằng mức lãi mà

họ nhận được cao (nếu là sản phẩm bán) và mức lãi suất thấp (nếu là sản phẩm mua)

so với ngân hàng họ quan hệ Vì khách hàng thường có thể vừa là người mua vừa làngười bán của nhiều sản phẩm dịch vụ cùng một lúc nên khi họ thay đổi quan hệ vớingân hàng có thể dẫn đến sự mất mát lớn hơn rất nhiều so với khách hàng của mộtdoanh nghiệp thông thường Các đặc điểm nêu trên được coi là các nhân tố về phíaNHTM tạo nên tính cạnh tranh cao của kinh doanh ngân hàng

1.2.2.3 Các công cụ cạnh tranh trong kinh doanh của các NHTM.

Cạnh tranh bằng giá Giá cả phản ánh giá trị của sản phẩm, giá cả có vai

trò quan trọng đối với quyết định của khách hàng Đối với các NHTM, giá cảchính là lãi suất và mức phí áp dụng cho các dịch vụ cung ứng cho các khách hàngcủa mình Trong việc xác định mức lãi suất và phí, các NHTM luôn phải đối mặtvới những mâu thuẫn: Nếu như NHTM quan tâm tới khả năng cạnh tranh để mởrộng thị phần, thì cần phải đưa ra các mức lãi suất và phí ưu đãi cho các khách

Trang 18

thể khiến NH bị lỗ Nhưng nếu NHTM chỉ chú trọng đến thu nhập thì phải đưa ramức lãi suất và phí sao cho đáp ứng được mục tiêu tăng thu nhập, tuy nhiên, điềunày có thể dẫn đến NH sẽ bị mất dẫn KH, giảm thị phần trong kinh doanh, bởi suycho cùng thì NH luôn quan tâm tới mục tiêu tối thượng là tối đa hoá lợi nhuận, mà

để đạt được điều đó thì cần phải tiết giảm các chi phí đầu vào Điều này có nghĩa làcạnh tranh bằng giá cả đang trở thành một biện pháp nghèo nàn nhất, vì nó làmgiảm bớt lợi nhuận của các NHTM

Xuất phát từ mâu thuẫn trên, việc định giá theo đúng ngang giá trị thị trường

sẽ cho phép các NHTM giữ được khách hàng, duy trì và phát triển thị trường Trênthực tế, việc vận dụng nhân tố giá để cạnh tranh chỉ phù hợp khi xâm nhập thịtrường mới và để vận dụng tốt công cụ này, các NHTM thường đưa ra mức lãi suấtthấp hơn mức lãi suất của các đối thủ nhằm lôi kéo khách hàng và chiếm lĩnh thịtrường Lãi suất và phí là tín hiệu phản ánh tình hình biến động của thị trường, làthông số qua đó các NHTM có thể nắm bắt được khả năng thanh toán của KH cũngnhư khả năng cạnh tranh của các đối thủ trên thương trường

Do vậy, việc xác định lãi suất trên thị trường là quan trọng, song theo dõithông tin phản hồi từ khách hàng là rất cần thiết để NHTM đưa ra mức lãi suất vàphí có tính cạnh tranh Đôi khi lãi suất và phí mà các NHTM xác định chỉ thu đượclợi nhuận nhỏ, hoà vốn thậm chí chịu thua lỗ tạm thời để đạt được mục đích chiếmlĩnh thị trường

Cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ Trong nền kinh tế hiện đại ngày nay,

khi mà khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, sản phẩm ra đời ngày càng phongphú đa dạng, tạo thuận lợi cho sự lựa chọn của người tiêu dùng và đặt nhà kinh doanhtrước các áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt.Vì thế, việc nâng cao chất lượng sảnphẩm hàm ý phải thỏa mãn cao nhất những yêu cầu đòi hỏi từ phía khách hàng

Theo quan niệm của khách hàng, một sản phẩm ngân hàng có chất lượng phảiđáp ứng được tốt nhất, nhiều nhất nhu cầu mong muốn của khách hàng, đem lại chokhách hàng một tập hợp tiện ích và lợi ích Do vậy, khi đánh giá một sản phẩm ngânhàng có chất lượng, khách hàng thường dựa vào các tiêu chí sau:

- Mức độ tham gia của khách hàng vào quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ

Trang 19

1.3 Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại.

1.3.1 Quan niệm về năng lực cạnh tranh

Điểm lại lý thuyết cạnh tranh và năng lực cạnh tranh trong lịch sử có thể thấyhai trường phái tiêu biểu: Trường phái cổ điển và trường phái hiện đại Trường phái

cổ điển với các đại biểu tiêu biểu như A.Smith, John Stuart Mill, Darwin và K.Mác

đã có những đóng góp nhất định trong lý thuyết cạnh tranh sau này Trường pháihiện đại với hệ thống lý thuyết đồ sộ với 3 quan điểm tiếp cận: Tiếp cận theo tổchức ngành với đại diện là trường phái Chicago và Harvard; Tiếp cận tâm lý với đạidiện là Meuger, Mises, Chumpeter, Hayek thuộc trường phái Viên; Tiếp cận “cạnhtranh hoàn hảo” phát triển lý thuyết của Tân cổ điển

Hiện nay, còn nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh trên cáccấp độ: quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm Và hiện chưa có một lý thuyết nàohoàn toàn có tính thuyết phục về vấn đề này, do đó không có lý thuyết “chuẩn” vềnăng lực cạnh tranh Tuy nhiên hai hệ thống lý thuyết với hai phương pháp đánh giáđược các quốc gia và các thiết chế kinh tế quốc tế sử dụng nhiều nhất: Phương phápthứ nhất do Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) thiết lập trong bản Báo cáo cạnh tranhtoàn cầu; Phương pháp thứ hai do Viện Quốc tế về quản lý và phát triển (IMD) đềxuất trong cuốn Niên giám cạnh tranh thế giới Cả hai phương pháp trên đều do một

Trang 20

số Giáo sư đại học Harvard như Michael Porter, Jeffrey Shach và một số chuyên giacủa WEF như Cornelius, Mache Levison tham gia xây dựng.

Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện các cam kết quốc tế ViệtNam từng bước mở cửa dịch vụ ngân hàng, nhằm hướng đến xây dựng hệ thốngngân hàng cạnh tranh bình đẳng trên bình diện quốc tế theo khuôn khổ pháp lý phùhợp và thống nhất Hơn bao giờ hết sự cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ngàycàng trở nên gay gắt, thách thức đối với các NHTMVN càng gia tăng khi Chính phủViệt Nam tháo dỡ rào cản đối với các ngân hàng thương mại nước ngoài(NHTMNNg) và tiến đến xóa bỏ những bảo hộ của Nhà nước đối với ngân hàngtrong nước Vì vậy đánh giá chính xác năng lực và vị thế cạnh tranh của NHTMVNtrong điều kiện hiện nay là yêu cầu cần thiết

Năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng ngân hàng đó tạo ra, duy trì vàphát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần; đạt được mức lợi nhuậncao hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng, đồng thời đảm bảo hoạt động

an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợicủa môi trường kinh doanh

Trong cạnh tranh những lợi thế NHTM đang có có thể thay đổi khi các đốithủ không ngừng nỗ lực đổi mới, cải tiến để giành lợi thế cạnh tranh về phía mình

Do vậy năng lực cạnh tranh của NHTM là một khái niệm động, bao gồm cả việcngân hàng phải liên tục duy trì và phát triển năng lực cạnh tranh

Nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM là nâng cao sức mạnh và lợi thếcủa ngân hàng so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏicủa khách hàng để thu lợi ngày càng cao

Nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM nhằm mục đích tạo ra các dịch

vụ ngân hàng đa năng với giá cả cạnh tranh để thu hút khách hàng, chiếm lĩnh thịtrường nhưng vẫn đảm bảo an toàn kinh doanh và đạt tỷ suất lợi nhuận cao Đây làviệc làm thường xuyên của các NHTM để giành thế chủ động trong cạnh tranh,được coi là điều kiện sống còn của các ngân hàng trong bối cảnh cạnh tranh ngàycàng gay gắt của ngành ngân hàng hiện nay

1.3.2 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM

Trang 21

Hội nhập quốc tế là động lực thúc đẩy cải cách, buộc các ngân hàng trongnước phải hoạt động theo nguyên tắc thị trường, khắc phục những nhược điểm còntồn tại, phát huy những điểm mạnh vốn có trên cơ sở tập trung đầu tư vào tri thức

và công nghệ Trong quá trình hội nhập và mở cửa thị trường tài chính trong nước,khuôn khổ pháp lý sẽ hoàn thiện và phù hợp dần với thông lệ quốc tế, dẫn đến sựhình thành môi trường kinh doanh bình đẳng và từng bước phân chia lại thị phầngiữa các nhóm ngân hàng Vì vậy, muốn tồn tại và đững vững trong cạnh tranh thìcác NHTM cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình

Hơn nữa, trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, khi mà các cam kết quốc tế bắtbuộc phải được thực hiện, chúng ta phải chấp nhận mở cửa hơn nữa thị trường tàichính, dịch vụ ngân hàng và Nhà nước có trách nhiệm tạo một sân chơi bình đẳngkhông bảo hộ.Một điều tất yếu, lúc đó các ngân hàng nước ngoài, các tổ chức tíndụng dưới nhiều hình thức khác nhau sẽ có cơ hội xâm nhập thị trường trong nước

Và như vậy buộc các NHTM nội địa phải nâng cao năng lực cạnh tranh để tồn tại vàphát triển

Nền kinh tế của chúng ta với xuất phát điểm thấp lại trong thời gian dài đượcquản lý theo cơ chế quản lý hành chính bao cấp, điều này làm giảm khả năng cạnhtranh, tính năng động của nền kinh tế Khi đất nước bước vào thời kỳ hội nhậpchúng ta phải đối mặt với những đối thủ cạnh tranh mạnh hơn chúng ta về tiềm lựctài chính, về kinh nghiệm kinh doanh và rất nhiều những lợi điểm khác Để không

bị thua ngay trên “sân nhà” buộc chúng ta phải tìm mọi biện pháp để nâng cao nănglực cạnh tranh của mình.Ngoài ra, khủng hoảng kinh tế đã và đang tác động tới mọilĩnh vực ngành nghề buộc các định chế tài chính nói chung và các Ngân hàngthương mại nói riêng phải thay đổi tư duy để vận hành và cung cấp sản phẩm, dịch

vụ một cách hiệu quả hơn Trong bối cảnh đó, các ngân hàng trong nước đã phảitìm đến sự trợ giúp của công nghệ thông tin để đổi mới chính mình, tạo điều kiệncho các ngân hàng phát triển bền vững hơn nhờ việc đa dạng hóa các dịch vụ, tối đahóa lợi ích, xây dựng lợi thế cạnh tranh riêng biệt

Trong nền kinh tế hàng hoá hiện nay, việc có nhiều nhà cung cấp cùng cung

Trang 22

khách hàng là luôn thay đổi Do đó đòi hỏi có nhiều sản phẩm được sản xuất ra đểđáp ứng cùng một nhu cầu Làm thế nào để đánh bại được các đối thủ, thu hút vàgiữ chân khách hàng nhằm bán được hàng và kiếm được lợi nhuận Vì vậy, nângcao năng lực cạnh tranh, tạo một ưu thế nổi trội sovới các đối thủ là một nhiệm vụ sốngcòn của các nhà cung cấp.Sự cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ tài chính đang ngàycàng trở lên quyết liệt khi ngân hàng và các đối thủ cạnh tranh mở rộng danh mục dịchvụ.Lúc này, ngân hàng không chỉ cạnh tranh với các đối thủ trực tiếp là các NHTMkhác mà còn là các định chế tài chính đang không ngừng phát triển khác như: hiệp hộitín dụng, các công ty chứng khoán, các công ty tài chính, công ty bảo hiểm…Áp lựccạnh tranh đóng vai trò như một lực đẩy tạo ra sự phát triển của ngân hàng.

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và ứng dụng công nghệ trong việc cungcấp dịch vụ ngân hàng làm cho cạnh tranh của các NHTMVN trở nên không có giớihạn về không gian và thời gian đã buộc các NHTM phải chú trọng và củng cốnhững lợi thế cạnh tranh của mình để duy trì được thị phần

1.3.3 Các tiêu thức đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM

Năng lực cạnh tranh được đánh giá dựa trên các yếu tố định tính và định lượng

1.3.3.1 Các chỉ tiêu định tính.

 Uy tín và thương hiệu của NHTM: Uy tín và thương hiệu của ngân

hàng là những dấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sảnphẩm dịch vụ nào đó được cung cấp bởi một NHTM Thương hiệu là một loại tàisản của NHTM, thường được cấu thành từ một cái tên, hay các chữ, các cụm từ,một logo, một biểu tượng, một hình ảnh hay sự kết hợp của các yếu tố trên Uytín và thương hiệu được thể hiện số năm hoạt động và chất lượng dịch vụ màmột NHTM cung cấp cho khách hàng Một ngân hàng thương mại được gọi là

có thương hiệu khi được nhiều khách hàng thừa nhận và đánh giá cao vềchất lượng dịch vụ

 Năng lực công nghệ : Công nghệ ngân hàng bao gồm những công nghệ

mang tính tác nghiệp như hệ thống thanh toán điện tử, hệ thống ngân hàng bán lẻ,máy rút tiền tự động và các hệ thống thông tin quản lý MIS, hệ thống cảnh báo rủiro Các hệ thống này có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ cung cấp cho

Trang 23

khách hàng cũng như khả năng quản lý, quản trị hoạt động của nhà quản lý ngân hàng.Theo tính toán và kinh nghiệm của các ngân hàng nước ngoài, công nghệ thông tin cóthể làm giảm 76% chi phí hoạt động ngân hàng Do đó công nghệ là nhân tố quan trọngphản ánh năng lực cạnh tranh của NHTM, thể hiện qua các mặt sau:

Khả năng trang bị công nghệ mới: Với tốc độ phát triển nhanh của công nghệ

ngân hàng, sự bùng nổ thông tin, và mức độ thay đổi thường xuyên nhu cầu dịch vụngân hàng trong nền kinh tế, công nghệ hiện tại không đủ khả năng cung cấp thôngtin, công cụ phục vụ công tác quản lý, điều hành và phát triển dịch vụ sẽ làm mất đi

cơ hội kinh doanh của ngân hàng Vì thế, năng lực công nghệ phải bao gồm khả năngđổi mới các công nghệ hiện tại về mặt kỹ thuật, kinh tế và trang bị công nghệ mới,hiện đại, thể hiện ở mức đầu tư về vốn, nhân lực cho phát triển công nghệ, các kếhoạch chiến lược trong việc tập trung nguồn lực phát triển công nghệ mới

Mức độ đáp ứng của công nghệ ngân hàng đối với nhu cầu của khách hàng và nhu cầu quản lý của ngân hàng: Thể hiện ở số và chất lượng các công cụ,

các báo cáo, các thông tin mà công nghệ thực hiện phục vụ cho công tác quản trị,quản lý cho ngân hàng Và số, chất lượng các dịch vụ được tạo ra từ hệ thống côngnghệ hiện tại của ngân hàng có thể đáp ứng nhu cầu về dịch vụ ngân hàng củakhách hàng Ngân hàng sở hữu một cơ sở công nghệ tốt và biết phát huy tối đa chứcnăng của công nghệ đó khả năng cạnh tranh sẽ được tăng cường mạnh mẽ

Tính liên kết và độc đáo của công nghệ: Do đặc tính phải đổi mới, chi phí

đổi mới rất cao và ảnh hưởng của công nghệ rất lớn đến hoạt động kinh doanh nênkhông NHTM nào có thể ngay lập tức thay thế toàn bộ công nghệ cũ bằng côngnghệ mới Điều này đòi hỏi công nghệ cũ và mới phải có tính liên kết cao để giảmthiểu chi phí và rủi ro trong quá trình cải tiến, đổi mới mà vẫn phát huy được tínhnăng của công nghệ mới Ngoài ra các ngân hàng cần đầu tư phát triển, trang bịnhững công nghệ độc đáo nhằm tạo sự khác biệt cho sản phẩm dịch vụ để thu hútkhách hàng.Trong lĩnh vực ngân hàng, công nghệ đang ngày càng đóng vai trò như

là một trong những nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất của mỗingân hàng

Trang 24

 Nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực là nguồn lực không thể thiếu của bất kỳ

doanh nghiệp cũng như ngân hàng nào.Năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực củamột doanh nghiệp nói chung thể hiện ở những yếu tố nhứ: trình độ chuyên môn đàotạo, trình độ thành thạo nghiệp vụ và kỹ năng tác nghiệp, động cơ phấn đấu, mức độcam kết gắn bó với doanh nghiệp Nhân sự của một ngân hàng là yếu tố mang tínhkết nối các nguồn lực của ngân hàng, đồng thời cũng là cái gốc của mọi cảitiến hay đổi mới Trình độ hay kỹ năng của người lao động là những chỉtiêu quan trọng thể hiện chất lượng của nguồn nhân lực Động cơ phấn đấu vàmức độ cam kết gắn bó cũng là những chỉ tiêu quan trọng phản ánh một ngân hàng

có lợi thế cạnh tranh từ nguồn nhân lực của mình hay không

Ngân hàng là một ngành đòi hỏi người lao động phải có kinh nghiệm

và trình độ cao được tích luỹ theo thời gian Rõ ràng, nếu một ngân hàng có tốc độluân chuyển nhân viên cao sẽ không phải là một ngân hàng có lợi thế vềnguồn nhân lực Quá trình tuyển dụng và đào tạo một chuyên viên ngân hàngthường rất tốn kém cả về thời gian và công sức Hiệu quả của các chính sáchnhân sự, đặc biệt là chính sách tuyển dụng, cơ chế thù lao là một chỉ tiêu quantrọng để đánh giá khả năng duy trì một đội ngũ nhân sự chất lượng cao của mộtngân hàng

Năng lực quản trị, điều hành và cơ cấu tổ chức:

+ Cơ cấu tổ chức: Mô hình tổ chức phụ thuộc rất lớn vào quy mô và chức nănghoạt động của ngân hàng, phản ánh cơ chế phân bổ các nguồn lực phù hợp với quy

mô, trình độ quản lý của ngân hàng, phù hợp với đặc trưng cạnh tranh và yêu cầucủa thị trường Sự phù hợp thể hiện ở sự phân chia phù hợp nhiệm vụ và quyền hạncủa các phòng ban chức năng, các bộ phận quản lý và tác nghiệp, các đơn vị trựcthuộc, vừa có tính liên kết, hỗ trợ và mức độ phối hợp giữa các bộ phận này trongviệc triển khai chiến lược kinh doanh, các hoạt động nghiệp vụ hàng ngày và khảnăng thích nghi và thay đổi của cơ cấu trước những biến động Cơ cấu tổ chức cókhả năng phát huy năng lực của đội ngũ cán bộ nhân viên cao sẽ giúp ngân hàngthực hiện hiệu quả các công việc và tiết kiệm chi phí hoạt động

Trang 25

+ Cơ chế vận hành: Cơ chế vận hành của ngân hàng thể hiện ở cơ chế quản lý,quy chế tổ chức, điều hành hoạt động kinh doanh của ngân hàng, bao gồm hệ thốngcác quy chế, quy trình nghiệp vụ của ngân hàng Cơ chế vận hành tốt sẽ phát huysức mạnh tổng hợp của ngân hàng Hệ thống các quy trình nghiệp vụ đầy đủ, thốngnhất là cơ sở để nâng cao chất lượng các dịch vụ ngân hàng.

+ Năng lực của bộ máy lãnh đạo, cán bộ và nhân viên: Bộ máy lãnh đạo, cán bộ

và nhân viên là nhân tố kết nối các nguồn lực của ngân hàng, năng lực của họ thểhiện ở các yếu tố: trình độ đào tạo, số năm kinh nghiệm, khả năng tự học tập, mứcthành thạo nghiệp vụ, động cơ phấn đấu, mức độ cam kết, tác phong làm việc

Bộ máy lãnh đạo đề ra phương hướng hoạt động, quản trị, kiểm soát và điềuhành toàn bộ hoạt động của ngân hàng do đó hiệu quả hoạt động kinh doanh vàtriển vọng phát triển của NHTM phụ thuộc chủ yếu vào năng lực của bộ máy lãnhđạo Trong điều kiện cạnh tranh, năng lực của bộ máy lãnh đạo càng được coi trọnghơn do cơ hội của các NHTM là như nhau, sự phát triển của ngân hàng sẽ phụ thuộcnhiều hơn vào tầm nhìn và khả năng nắm bắt cơ hội, đề ra chiến lược phù hợp củaban lãnh đạo Ngoài chỉ tiêu về trình độ, năng lực của bộ máy lãnh đạo còn thể hiệnqua các yếu tố: mức độ chi phối và khả năng giám sát của hội đồng quản trị; chấtlượng và hiệu lực thực hiện của các chiến lược kinh doanh; khả năng ứng phó vớinhững thay đổi của thị trường; sự tăng trưởng trong kết quả hoạt động kinh doanh Cán bộ, nhân viên ngân hàng là những người trực tiếp thực hiện các nghiệp vụngân hàng, cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng, thực hiện chiến lược,định hướng của ban lãnh đạo ngân hàng Vì vậy năng lực của đội ngũ cán bộ, nhânviên còn được phản ánh ở khả năng ứng phó xử lý các tình huống nhanh, đạo đức

và thái độ phục vụ, tác phong chuyên nghiệp, mức độ thành thạo nghiệp vụ

 Hệ thống kênh phân phối và mức độ đa dạng hóa các dịch vụ cung cấp:

Hệ thống kênh phân phối luôn là một yếu tố quan trọng trong hoạt động củacác ngân hàng thương mại Hệ thống kênh phân phối của ngân hàng thương mạiđược thể hiện ở số lượng các chi nhánh và các đơn vị trực thuộc khác(như

sở giao dịch) và sự phân bổ các chi nhánh theo địa lý lãnh thổ Việc triển khai các

Trang 26

giảm tác động của một mạng lưới chi nhánh rộng khắp đối với năng lực cạnh tranhcủa một ngân hàng Tuy nhiên, vai trò của một mạng lưới chi nhánh rộnglớn vẫn rất có ý nghĩa, đặc biệt là trong điều kiện các dịch vụ truyền thốngcủa ngân hàng vẫn còn phát triển Hiệu quả của mạng lưới chi nhánh rộngcũng là một chỉ tiêu quan trọng, thể hiện thông qua tính hợp lý trong phân bố chinhánh ở các vùng, miền cũng như vấn đề quản lý, giám sát hoạt động của các chinhánh.Mức độ đa dạng hoá các dịch vụ cung cấp cũng là một chỉ tiêu phảnánh năng lực cạnh tranh của một ngân hàng Một ngân hàng có nhiều loạihình dịchvụ cung cấp phù hợp với nhu cầu thị trường và năng lực quản lý của ngânhàng sẽ là một ngân hàng có lợi thế cạnh tranh Sự đa dạng hoá các dịch vụ một mặttạo cho ngân hàng phát triển ổn định hơn, mặt khác cho phép ngân hàng phát huylợi thế nhờ quy mô.Tất nhiên, sự đa dạng hoá các dịch vụ cần phải đượcthực hiện trong tương quan so với các nguồn lực hiện có của ngân hàng.Nếu không,việctriển khai quá nhiều dịch vụ có thể khiến ngân hàng kinh doanhkhông hiệu quả do dàn trải quá mức các nguồn lực.

1.2.2.2 Các chỉ tiêu định lượng.

 Năng lực tài chính: Năng lực tài chính của một NHTM là khả năng tạo lập

nguồn vốn và sử dụng vốn phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngânhàng Đây là thước đo sức mạnh của NHTM tại một thời điểm nhất định, đồng thờiphản ánh tiềm năng, triển vọng phát triển trong tương lai của ngân hàng, gồm cácchỉ tiêu sau:

* Quy mô vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu của NHTM bao gồm vốn điều

lệ, các quỹ dự trữ bổ sung và các tài sản khác Quy mô vốn chủ sở hữu có thể thay

đổi trong quá trình hoạt động của NHTM

Hoạt động ngân hàng gặp rất nhiều rủi ro do chịu tác động lớn từ môitrường kinh tế và đối tượng khách hàng đa dạng, vốn chủ sở hữu là nguồn tài chínhquan trọng hàng đầu để chống đỡ các rủi ro Đây là nguồn vốn quan trọng dùng đểđánh giá năng lực tài chính của ngân hàng vì nó cung cấp tài chính cho các hoạtđộng kinh doanh của NHTM, quyết định sức mạnh và khả năng cạnh tranh củangân hàng trong tất cả các hoạt động

Trang 27

Đối với hoạt động huy động vốn: vốn tự có lớn tạo niềm tin cho khách hàng

do có chức năng bảo vệ người gửi tiền nên được khách hàng lấy làm căn cứ khi lựachọn ngân hàng để gửi tiền, chỉ tiêu này càng lớn càng thu hút khách hàng gửi tiền

Đối với hoạt động cho vay và đầu tư: Quy mô vốn cho vay và đầu tư bị giớihạn bởi các tỷ lệ về giới hạn tín dụng trong mối tương quan với vốn tự có, do đóvốn tự có càng lớn, càng tăng khả năng cho vay của ngân hàng đối với nhiều đốituợng khách hàng và nhiều khách hàng lớn, đồng thời nó là cơ sở để khách hàng tintưởng vào năng lực cho vay và giải ngân của ngân hàng Ngân hàng còn có thể đạtmức lãi suất cho vay hợp lý, cạnh tranh nhờ vào lợi thế quy mô

Đối với hoạt động cung cấp dịch vụ thanh toán và các dịch vụ ngân hàngkhác: vốn chủ sở hữu là nguồn đầu tư công nghệ, trang thiết bị máy móc để pháttriển dịch vụ mới và tăng năng suất, tính nhanh chóng, hiệu quả, an toàn tiện chocác dịch vụ ngân hang hiện tại tăng cường tính cạnh tranh của ngân hàng

Mặt khác, vốn chủ sở hữu quyết định việc mở rộng quy mô, phạm vi hoạt động của ngân hàng Vốn tự có còn được dùng xác định quy mô huy động vốn, các

tỷ lệ giới hạn tín dụng đối với khách hàng, các tỷ lệ về an toàn hoạt động để làm căn cứ quản lý và kiểm soát hoạt động của các NHTM Ở Việt Nam, các tỷ lệ này được quy định trong luật ngân hàng sẽ được đề cập trong những phần sau Trong

xu thế hội nhập, nâng cao tính cạnh tranh của vốn tự có là yêu cầu khách quan đối với mỗi NHTM để đáp ứng các chuẩn mực quốc tế trong hoạt động ngân hàng và

mở rộng hoạt động ra thị trường tài chính quốc tế

* Mức độ an toàn vốn Theo quy định của Basel 1, một tổ chức tài chính

được gọi là đủ vốn khi hệ số đủ vốn (Capital Adequacy Ratio – CAR) đạt tốithiểu 8% giữa vốn tự có so với tổng tài sản “Có” rủi ro chuyển đổi (RWA)

Trang 28

Theo đó, ngân hàng có mức vốn tốt là ngân hàng có CAR > 10%, có mứcvốn thích hợp khi CAR > 8%, thiếu vốn khi CAR < 8%, thiếu vốn rõ rệt khi CAR

< 6% và thiếu vốn trầm trọng khi CAR < 2%

Vốn cấp 1, cấp 2 và cấp 3: Thành tựu cơ bản của Basel I là đã đưa ra đượcđịnh nghĩa mang tính quốc tế chung nhất về vốn của ngân hàng và một cái gọi là tỷ

lệ vốn an toàn của ngân hàng Tiêu chuẩn này quy định:

Vốn cấp 1 ≥ Vốn cấp 2 + Vốn cấp 3Vốn cấp 1 là lượng vốn dự trữ sẵn có và các nguồn dự phòng được công bố,như là khoản dự phòng cho các khoản vay, bao gồm: Vốn chủ sở hữu; Dự trữ công

bố (Lợi nhuận giữ lại); Lợi ích thiểu số (minority interest) tại các công ty con, cóhợp nhất báo cáo tài chính; Lợi thế kinh doanh (goodwill)

Vốn cấp 2 (Vốn bổ sung) gồm: Lợi nhuận giữ lại không công bố; Dự phòng

đánh giá lại tài sản; Dự phòng chung/dự phòng thất thu nợ chung; Công cụ vốn hỗnhợp; Vay với thời hạn ưu đãi; Đầu tư vào các công ty con tài chính và các tổ chứctài chính khác

Vốn Cấp 3 (Dành cho rủi ro thị trường) = Vay ngắn hạn

Tài sản đã điều chỉnh rủi ro (RWA) = ∑ (Tài có nội bảng x Hệ số rủi ro) + ∑(Tài sản ngoại bảng x Hệ số chuyển đổi x Hệ số rủi ro)

Basel I đưa ra trọng số rủi ro gồm 3 mức: quốc gia 0%; ngân hàng 20%;doanh nghiệp 100% Trọng số rủi ro không phản ánh độ nhạy cảm rủi ro trong mỗiloại này

Basel II sử dụng khái niệm“Ba trụ cột”:

(1) Trụ cột thứ I: liên quan tới việc duy trì vốn bắt buộc Theo đó, tỷ lệ vốnbắt buộc tối thiểu (CAR) vẫn là 8% của tổng tài sản có rủi ro như Basel I Tuynhiên, rủi ro được tính toán theo ba yếu tố chính mà ngân hàng phải đối mặt: rủi rotín dụng, rủi ro vận hành (hay rủi ro hoạt động) và rủi ro thị trường So với Basel I,cách tính chi phí vốn đối với rủi ro tín dụng có sự sửa đổi lớn, đối với rủi ro thịtrường có sự thay đổi nhỏ, nhưng hoàn toàn là phiên bản mới đối với rủi ro vậnhành Trọng số rủi ro của Basel II bao gồm nhiều mức (từ 0% -150% hoặc hơn) vàrất nhạy cảm với xếp hạng

Trang 29

(2) Trụ cột thứ II: liên quan tới việc hoạch định chính sách ngân hàng, Basel

II cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách những “công cụ” tốt hơn so vớiBasel I Trụ cột này cũng cung cấp một khung giải pháp cho các rủi ro mà ngânhàng đối mặt, như rủi ro hệ thống, rủi ro chiến lược, rủi ro danh tiếng, rủi ro thanhkhoản và rủi ro pháp lý, mà hiệp ước tổng hợp lại dưới cái tên rủi ro còn lại(residual risk)

(3) Trụ cột thứ III: Các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cáchthích đáng theo nguyên tắc thị trường Basel II đưa ra một danh sách các yêu cầubuộc các ngân hàng phải công khai thông tin, từ những thông tin về cơ cấu vốn,mức độ đầy đủ vốn đến những thông tin liên quan đến mức độ nhạy cảm của ngânhàng với rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro vận hành và quy trình đánh giá củangân hàng đối với từng loại rủi ro này

* Chất lượng tài sản có: Tài sản của ngân hàng được thể hiện ở bên trái của

bảng cân đối kế toán, trong đó phần lớn tài sản tập trung ở khoản mục cho vay

và đầu tư Đây là phần tài sản mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng,đồng thời là tài sản có tính rủi ro cao nhất Vì vậy, đánh giá chất lượng tài sảnchủ yếu tập trung vào chất lượng của loại tài sản cơ bản hình thành nên tài sản cócủa ngân hàng thương mại đó chính là chất lượng hoạt động tín dụng, thể hiệnqua các chỉ tiêu sau:

“Nợ quá hạn” là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi

đã quá hạn.Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao chứng tỏ chất lượng tín dụngcủa ngânhàng đó kém

Trang 30

“Nợ xấu” (NPL) là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 quy định tại

Điều 6 hoặc Điều 7 Quyết định 493

Hai chỉ tiêu nợ quá hạn và nợ xấu phản ánh chất lượng của hoạt động tíndụng của một ngân hàng thương mại Điều này cho thấy một ngân hàng cóchính sách tín dụng hợp lý, quy trình cấp tín dụng và kiểm soát tín dụng củangân hàng có hiệu quả hay không

Ngoài ra, chỉ tiêu mức độ tập trung tín dụng cũng cho biết mức độ tậptrung cho vay của ngân hàng đối với một ngành kinh tế Tỷ trọng dư nợ cho vaytừng ngành tăng cao đồng nghĩa với việc khi có biến động xã hội lớn đối vớingành kinh tế này thì sẽ làm giảm chất lượng tài sản của ngân hàng đó

 Năng lực hoạt động Thị phần phán ánh quy mô hoạt động của NHTM

trên thị trường và cũng là yếu tố thể hiện năng lực cạnh tranh của một NHTM.Thị phần của mỗi NHTM trên thị trường được phán ánh qua số lượng kháchhàng, khả năng huy động vốn, qui mô dư nợ,…

* Khả năng huy động vốn: Hoạt động huy động vốn cung cấp nguồn vốn

chủ yếu cho các hoạt động sinh lời của ngân hàng NHTM có khả năng huy độngvốn tốt có nhiều cơ hội để mở rộng quy mô kinh doanh, tăng lợi nhuận…do đó phánánh năng lực hoạt động, uy tín và khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị

trường Các chỉ tiêu phán ảnh khả năng huy động vốn của NHTM:

- Quy mô, thị phần và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động;

- Triển vọng phát triển các nhóm nguồn vốn huy động trong tương laiCác chỉ tiêu trên càng cao chứng tỏ năng lực cạnh tranh của ngân hàng về việchuy động vốn tốt và ngân hàng có tiềm năng phát triển mở rộng qui mô hoạt độnghuy động vốn

* Khả năng cho vay và đầu tư: Phán ánh năng lực sử dụng vốn của ngân

hàng, thể hiện qua các chỉ tiêu sau :

- Quy mô dư nợ tín dụng

- Tốc độ tăng trưởng hoạt động tín dụng, đầu tư:

Trang 31

Đây là các chỉ tiêu tuyệt đối và tương đối phán ánh mức độ mở rộng hay thu hẹptín dụng Quy mô và thị phần lớn hơn so với các kỳ trước, tốc độ tăng trưởng tíndụng, đầu tư cao, đồng nghĩa với việc khả năng cho vay và đầu tư càng được mởrộng.Việc tìm kiếm, khai thác và lựa chọn được nhiều khách hàng, lĩnh vực tốt đểcho vay và đầu tư sẽ giúp hạn chế rủi ro, hơn nữa mang lại thu nhập lớn, tăng cườngkhả năng cạnh tranh cho ngân hàng.

 Hiệu quả hoạt động kinh doanh

Hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng có thể được đánh giáthông qua những chỉ tiêu cụ thể như: giá trị tuyệt đối của lợi nhuận sau thuế, tốc

độ tăng trưởng lợi nhuận, cơ cấu của lợi nhuận (cho biết lợi nhuận được hìnhthành từ nguồn nào, từ hoạt động kinh doanh thông thường hay từ các khoản thunhập bất thường), tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản có (ROA), tỷ suất lợi nhuậntrên vốn chủ sở hữu (ROE) và tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM)

* Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA): Chỉ tiêu này phản ánh

tính hiệu quả của việc sử dụng tài sản của ngân hàng, cho biết bình quân một đơn vịtài sản được sử dụng vào hoạt động kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêu đơn vị lợinhuận ròng

Các ngân hàng thường sử dụng ROA để đo lường mối quan hệ sinh lời của tàisản và nguồn vốn bởi vì một bộ phận nguồn vốn được sử dụng tạo nên tài sảnkhông sinh lời và có một bộ phận tài sản sinh lời lại tham gia tạo nên thu nhập chongân hàng Do vậy, nếu ROA lớn chúng tỏ hiệu quả kinh doanh của ngân hàngthương mại tốt, cơ cấu tài sản hợp lý.Tuy nhiên, nếu ROA quá lớn sẽ làm cho cácnhà quản trị lo lắng vì rủi ro nhìn chung luôn đi song hành với lợi nhuận

* Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE): ROE là chỉ tiêu

được các ngân hàng quan tâm đến nhiều nhất, cho thấy khả năng sinh lời từ mộtđồng vốn của chủ, số lợi nhuận ròng mà một cổ đông có được

Trang 32

Do vậy, các ngân hàng luôn cố gắng tăng chỉ tiêu ROE để tăng tínhhấp dẫn đối với các cổ đông bằng phương pháp như: kiểm soát chi tiêu, đầu tư,quản lý rủi ro có hiệu quả… Tuy nhiên, việc tăng ROE quá cao so với ROA chứng

tỏ nguồn vốn tự có của ngân hàng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn

và do vậy ảnh hưởng đến mức độ lành mạnh trong hoạt động của ngân hàngthương mại

* Tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM): là chỉ tiêu phản ánh trung bình một đơn

vị tài sản có sinh lời sẽ tạo ra bao nhiêu đơn vị lãi thuần (chênh lệch giữa thu nhậplãi và chi phí lãi)

Đây là chỉ tiêu đo lường thu nhập lãi ròng trên một đồng tổng tài sản sinhlời, phản ánh năng lực của hội đồng quản trị, ban lãnh đạo và cán bộ, nhân viênngân hàng trong việc duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu từ lãi so với mứctăng chi phí lãi Do đó được các NHTM quan tâm theo dõi để dự báo khả năng lãithông qua việc kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và việc tìm kiếm những nguồnvốn có chi phí thấp.Nếu ngân hàng không có chiến lược điều chỉnh cơ cấu thu nhậpthì khi mức độ canhh tranh của các ngân hàng càng cao sẽ dẫn đến việc làm cho tỷ

lệ thu nhập lãi thuần có xu hướng giảm

Các chỉ tiêu về khả năng sinh lời phán ánh năng lực cạnh tranh của NHTM vì

có năng lực cạnh tranh tốt ngân hàng mới giành được thắng lợi, tạo ra mức sinh lờicao Mặt khác NHTM có mức sinh lời cao có điều kiện tăng quy mô lợi nhuận giữlại, làm gia tăng vốn tự có để mở rộng mạng lưới giao dịch, nâng cấp công nghệ,phát triển các hoạt động để duy trì và tăng cường khả năng thu hút khách hàng gửitiền vào ngân hàng, tạo ra lợi thế cạnh tranh cho ngân hàng

Trang 33

 Khả năng đảm bảo an toàn thanh khoản.

* Khả năng thanh khoản: là khả năng của ngân hàng trong việc đáp ứng

nhu cầu thanh toán tiền của khách hàng, được tạo lập bởi tính thanh khoản của tàisản và tính thanh khoản của nguồn vốn Khả năng thanh khoản của ngân hàng đượcthể hiện thông qua các chỉ tiêu như:

Khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại là việc ngân hàng có khảnăng tính toán và duy trì một lượng tiền mặt và các tài sản có tính thanh khoản đủ để đápứng nhu cầu rút tiền của người gửi tiền cũng như những tài sản nợ đến hạn phải trảkhác.Việc quản lý rủi ro thanh khoản đối với ngân hàng thương mại là rất quan trọng.Sựthiếu hụt thanh khoản của một ngân hàng có thể có dẫn đến ngân hàng chỉ đang

từ chỗ phải đối phó với rủi ro thanh khoản đến chỗ phải đối mặt với rủi ro phásản và có những tác động nghiêm trọng đến toàn hệ thống ngân hàng

* Tỷ lệ dự trữ sơ cấp trong tổng tài sản Dự trữ sơ cấp của ngân hàng

thương mại gồm tiền mặt, các khoản coi như tiền mặt và các khoản tiền gửi, đây làcác tài sản có tính thanh khoản cao nhất, do đó tỷ lệ này càng cao khả năng thanhkhoản của ngân hàng càng tốt

* Tỷ lệ cho vay/Tiền gửi của khách hàng: Hệ số này được duy trì ổn định,

không vượt quá 1 là dấu hiệu cho thấy khả năng thanh khoản của ngân hàng luônđược duy trì Tuy nhiên, duy trì cụ thể ở mức nào còn phụ thuộc vào khả năng quản

lý, quản trị rủi ro và khả năng huy động của từng ngân hàng

Để duy trì an toàn thanh khoản ngân hàng cần phải duy trì các tỷ lệ về thanhkhoản ở mức phù hợp, tuy nhiên việc duy trì mức thanh khoản thế nào cần phải tính đến sự hợp lý giữa việc đáp ứng cầu thanh khoản và việc sử dụng nguồn vốn một cách tốt nhất vì tính thanh khoản liên quan trực tiếp đến tính sinh lời của

NHTM Điều này đòi hỏi mỗi ngân hàng phải có chiến lược quản trị, quản lý thanh khoản hợp lý trong từng thời kỳ kinh doanh

Trang 34

 Năng suất lao động của CBNV Năng suất lao động của CBNV phán ảnh hiệu

quả sử dụng lao động của mỗi NHTM và cũng là một yếu tố thể hiện năng lực cạnhtranh của NHTM Năng suất lao động được thể hiện qua các chỉ tiêu như:

- Tổng tài sản bình quân/người,

- Dư nợ bình quân/người,

- Lợi nhuận bình quân/người

1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của NHTM

Hoạt động của các ngân hàng thương mại thịu tác động của nhiều nhân tố,chính những nhân tố này đã ảnh hường một cạc trực tiếp hoặc gián tiếp tới nănglực cạnh tranh của ngân hàng.Có thể chia các nhân tố ảnh hưởng này thành hainhóm lớn: Các nhân tố thuộc bản thân cá NHTM và nhóm các nhân tố khách quan

Sơ đồ 1.1: Môi trường cạnh tranh của NHTM

1.2.3.1 Các yếu tố thuộc bản thân các ngân hàng thương mại.

* Ban điều hành.Ban điều hành được hiểu ở đây là bao gồm từ Hội

đồng quản trị/sáng lập đến Ban tổng giám đốc/CEO Đây là những người cóvài trò điều hành chiến lược, có tầm nhìn và định vị các mục tiêu lâu dài.Nhiệm vụ của nhà chiến lược phải phân tích và phán đoán được năng lực của

Trang 35

chính ngân hàng mình và các thế lực cạnh tranh trong môi trường ngành để xác địnhcác cơ hội và đe dọa đối với ngân hàng mình.Vì vậy, nếu ban điều hành khôngnhận thức được áp lực cạnhtranh trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay sẽ hếtsức nguy hiểm đến sự tồn vongcủa NHTM.Tuy nhiên, chỉ nhận thức thôi thìchưa đủ, yêu cầu đặt ra là ban điều hành phải huy động nguồn lực để tổ chức thựchiện các kế hoạch nhằm biến các nhận thức thành các hành động cụ thể Các kếhoạch hành động vừa đảm bảo phù hợpvới nguồn lực của NHTM, thu được các kếtquả tương ứng và phải phù hợp vớitốc độ thực hiện với các đối thủ khác, nếukhông sẽ bị chậm hoặc tụt hậu so vớicác đối thủ.

* Chất lượng nguồn nhân lực.Ngân hàng là doanh nghiệp hoạt động kinh

doanh trong lĩnh vực dịch vụ,vì vậy có thể nói chất lượng nhân viên ngân hàng làmột yếu tố quan trọng để tạo nên sức mạnh cạnh tranh của các NHTM Tronghoạt động sản xuất kinh doanh dù công nghệ có hiện đại tới đâu, dù có tự độnghoá cao đến mức nào thì vẫn cần có con người điều khiển, giám sát mọi hoạt động.Đặc biệt trong lĩnh vực dịch vụ (như lĩnh vực ngân hàng) thì vai trò của con ngườicàng trở nên quan trọng vì quá trình sản xuất diễn ra đồng thời với quá trình tiêuthụ, sản phẩm dịch vụ được tạo ra ngay trong quá trình giao tiếp, trao đổi giữacán bộ, nhân viên ngân hàng với khách hàng Chất lượng sản phẩm dịch vụ

do chính các cán bộ, nhân viên đó quyết định nên, do đó những cán bộ, nhânviên ngân hàng có ảnh hưởng lớn tớinăng lực cạnh tranh của ngân hàng

* Cơ sở vật chất và kỹ thuật Trong thời đại ngày nay, với tốc độ phát

triển như vũ bão của khoa học công nghệ nói chung, công nghệ tronglĩnh vực ngân hàng nói riêng thì ngân hàng nào có chính sách áp dụngcông nghệ hiện đại, khả năng thích ứng công nghệ mới cao và có thể kếthợp với công nghệ của các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới sẽ tạo

ra cho khách hàng nhiều tiện ích, phục vụ khách hàng tốt hơn, chính là đã tạo

ra sức hấp dẫn đối với khách hàng.Cơ sở vật chất còn được thể hiện qua mạnglưới các vị trí, đại điểm kinh doanh, quy trình sản phẩm… Ở những nơiđông dân cư, gần nhưng trung tâm thương mại lớn sẽ có nhiều khả năng tiếp cận

Trang 36

với khách hàng hơn và ngược lại.Quy trình sản phẩm tốt sẽ giúp khả năng xử lý cácgiao dịch nhanh

1.2.3.2 Các nhân tố khách quan.

Bên cạnh môi trường vi mô thì môi trường vĩ mô cũng có những tác động tớinăng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại, nói đến môi trường vĩ mônghĩa là bao gồm những môi trường cơ bản như: môi trường kinh tế, môi trườngvănhoá – xã hội, môi trường tự nhiên, môi trường chính trị và pháp luật

* Môi trường kinh tế: Môi trường kinh tế có ý nghĩa đối với toàn bộ hệ

thống ngân hàng Một nền kinh tế có tốc độ phát triển cao sẽ tạo cơ hội cho đầu tư

mở rộng hoạt động ngân hàng và ngược lại.Còn mức lãi suất sẽ quyết định tớimức cầu cho doanh nghiệp, nên các ngân hàng thường đưa ra các mức lãi suất hấpdẫn với doanh nghiệp.Chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái ảnh hưởng mạnhđến hoạt động kinh doanh ngân hàng, có thể đem lại cho ngân hàng một vậnhội kinh doanh tốt hoặc cũng có thể là nguy cơ phá sản Tỷ lệ lạm phátcũng ảnh hưởng tới hoạt động của ngân hàng thông qua việc ảnh hưởng tới

sự nhiệt tình của các nhà đầu tư đối với các dự án Nghiên cứu các chỉ tiêu củamôi trường kinh tế cũng như chiều hướng phát triển của toàn bộ nền kinh tế là cơ sởquan trọng để các nhà chiến lược đầu tư, đổi mới mình

* Môi trường văn hoá – xã hội Một số yếu tố về văn hóa-xã hội có thể ảnh

hưởng tới năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại, cụ thể là tác động đên nhucầu và nguồn nhân lực.Những đặc điểm xã hội ảnh hưởng tới nhu cầu đốivới các dịch vụ ngânhàng đó là: lòng tin của dân chúng đối với các ngân hàng,thói quen tiêu tiền và tiết kiệm của người dân, trình độ dân trí và khả năng hiểu biết

về các dịch vụ của ngân hàng, mức thu nhập của người dân…Có thể nói ngân hàng

là ngành kinh doanh dựa trên “lòng tin” Ngân hàng là người giữ tiền cho ngườidân cũng như các doanh nghiệp, ngân hàng chính là người giữ hầu bao của nềnkinh tế Nếu ngân hàng không tạo được niềm tin trong dân chúng thìchắc chắn hoạt động ngân hàng sẽ không thể tồn tại Thói quen tiêu dùng củangười dân ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của các ngân hàng, đặc biệt là tập quán

sử dụng tiền tệ Nếu người dân có thói quen sử dụng tiền mặt nhiều thì rõ

Trang 37

ràng ngân hàng sẽ bị hạn chế trong kinh doanh Mức tiết kiệm của ngườidân càng cao càng ảnh hưởng đến nguồn cung ứng tín dụng cho các ngânhàng.Trình độ dân trí cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới nhu cầu

sử dụng dịch vụ ngân hàng Dịch vụ ngân hàng là một loại dịch vụ cao cấp, khôngphải ai cũng tự tin để giao dịch với ngân hàng Trình độ dân trí càng cao thìkhả năng phổ biến các dịch vụ ngân hàng hiện đại càng thuận lợi, dễ dàng và có cơhội để đổi mới của ngân hàng cũng sẽ cao hơn Mức thu nhập của người dân sẽ làyếu tố quyết định tới nhu cầu đối với các dịch vụ ngân hàng, thu nhập có cao thìngười dân mới có khả năng tiếp cận cũng như là có nhu cầu sử dụng các dịch

vụ ngân hàng và ngược lại.Bên cạnh đó, một số đặc điểm văn hoá – xã hội ảnhhưởng tới nguồn nhân lực trong lĩnh vực ngân hàng như: quan điểm về doanh nhân

và kinh doanh, quan điểm về sự giàu có, quan điểm về thăng tiến, quan điểm về đạođức nghề nghiệp,quan điểm về học tập và tự đào tạo, quan điểm về sự gắn bóvới nghề nghiệp,quan điểm về rủi ro và thất bại… Ngân hàng là một loại hìnhdoanh nghiệp Một đất nước phải coi trọng doanh nghiệp và doanh nhânthì các doanh nghiệp nước đó mới có điều kiện thuận lợi để phát triển Bêncạnh đó, ngân hàng còn là một ngành dịch vụ đòi hỏi nguồn nhân lực phải có trình

độ nhất định, sự thành công của ngân hàng đòi hỏi phải có những cá nhân xuấtsắc, có tham vọng kinh doanh, làm giàu và thăng tiến Nếu một đất nước màngười dân coi trọng những giá trị trên thì những người có những phẩm chất đó sẽ

có điều kiện phát triển và ngân hàng có nhiều cơ hội để tuyển chọn đượcnguồn nhân lực có nhiều phẩm chất đối với sự phát triển của mình Ngân hàngđồng thời cũng là ngành chịu nhiều rủi ro nhất, vì thế những nhân viênngân hàng phải là những người có khả năng phát hiện và đánh giáđược rủi ro, dám chấp nhận rủi ro, đồng thời là người có sự thận trọng cần thiết,tôntrọng các yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp Coi trọng đạo đức cũng làmột phẩm chất quan trọng đối với các nhân viên ngân hàng Việc coi trọng đạo đức

là cơ sở để ngân hàng giữ chữ tín đối với khách hàng, là chỗ dựa cho niềmtin củacông chúng đối với ngân hàng Một xã hội coi trọng đạo đức cũng là

Trang 38

sự đòi hỏi về mức độ tích lũy kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm nên tập quán

về sự gắn bó với nghề nghiệp cũng có ý nghĩa rất quan trọng Nếu người dân ở mộtnước có thói quen ít thay đổi chỗ làm việc và thường gắn bó với một doanh nghiệpnào đó trong một thời gian dài thì các ngân hàng nước đó sẽ có lợi thế trong việc duytrì và liên tục nâng cao trình độ đội ngũ nhân viên của mình, trên cơ sở

đó để nâng cao lợi thế cạnh tranh Rất nhiều mảng hoạt động của ngân hàngđòi hỏi người lao động phải có trình độ cao và kinh nghiệm tích luỹ liên tục Ngânhàng cũng là một ngành có tốc độ đổi mới và cải tiến rất cao, vì vậy khả năng

tự học, tự đào tạo của các nhân viên sẽ có ý nghĩa quyết định đối với việcduy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh của mỗi ngân hàng.Một xã hội coitrọng việc học tập, rèn luyện cũng là một lợi thế đối với ngành ngân hàng củanước đó

* Môi trường tự nhiên: Môi trường tự nhiên bao gồm nhiều yếu tố ảnh

hưởng tới ngân hàng như: môi trường khí hậu, sinh thái, tổng dân số, tỷ lệ phát triểndân số, xu thế thay đổivề nhân khẩu học hay vị trí địa lý mà ngân hàng có trụ sở haychi nhánh…Môi trường khí hậu ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh củacác doanh nghiệp và đời sống của các cá nhân, tổ chức – khách hàng của ngânhàng,từ đó ảnh hưởng tới chính hoạt động của ngân hàng.Môi trường dân số cũng làmột yếu tố rất đáng quan tâm, các thông tin về tổng số dân, tỷ lệ tăng dân số,cấu trúc dân sô… sẽ giúp ngân hàng có thể dự đoán về thị trường hiện tại cũngnhư tương lai của ngân hàng Căn cứ vào những thông tin trên, ngân hàng xác địnhđược đoạn thị trường mục tiêu của mình để có những chiến lược, chính sách cụthể cho phù hợp nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh của ngân hàng đó.Vị trí củacác ngân hàng cũng rất quan trọng, vì một trong những đặc tính của ngành dịch vụ

là sản phẩm dịch vụ không nhìn thấy, chất lượng sản phẩm dịch vụ đó nhưthế nào tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố Cái mà khách hàng nhìn thấy đầu tiên đó là cơ

sở hạ tầng của ngân hàng, và vị trí địa lý của nó là một yếu tố mà nhiềukhách hàng quan tâm Một ngân hàng đóng tại vị trí trung tâm rõ ràngsẽ được nhiềukhách hàng biết đến và chiếm được cảm tình ban đầu của họ Đâychính là một lợithế mà các ngân hàng phải khai thác

Trang 39

* Môi trường pháp luật và chính trị Chính phủ có vai trò quan trọng đối với

bất kì một ngành nào, đặc biệt đối với ngành ngân hàng – người thủ quỹ củatoàn nền kinh tế Chính phủ tác động đến sự phát triển của ngân hàng trướchết với vai trò của người quản lý, giám sát của toàn hệ thống thông qua vaitrò của Ngân hàngTrung ương Sự hoạt động an toàn và lành mạnh của hệ thốngngân hàng thương mại là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế ở một quốc gia

Do mối liên kết rất chặt chẽ của toàn bộ hệ thống ngân hàng thương mại, sự đổ vỡcủa một ngân hàng thường gây ra những hậu quả rất to lớn và có khả năng gây rahiệu ứng lan truyền lên toàn bộ hệ thống Hơn nữa, ngành ngân hàng có mối quan

hệ mật thiết với tất cả các ngành khác trong nền kinh tế, sự đổ vỡ của hệ thống ngânhàng sẽ gây khó khăn cho tất cả ngành đó.Vì thế, hoạt động của các NHTMphải chịu sự quản lý và giám sát hết sức chặt chẽ của các cơ quan nhà nước nóichung và của ngân hàng trung ương nói riêng Ngoài chức năng của một ngườiquản lý, giám sát các hoạt động của hệ thống ngân hàng, chính phủ còn là chủ

sở hữu, là con nợ và chủ nợ lớn, thậm chí lớn nhất của các ngân hàng thươngmại Chính phủ cũng đồng thời là người hoạch định đường lối phát triểnchung của toàn ngành và điều phối nỗ lực chungcủa toàn bộ hệ thống ngân hàngcũng như toàn bộ nền kinh tế Chính phủ có thể có những chính sách tác độngđến cung cầu, đến ổn định kinh tế vĩ mô, đến các điều kiện nhân tố sản xuất,các ngành liên quan và phụ trợ của ngành ngân hàng để tạo thuận lợi hay kìm hãm

sự phát triển của ngành ngân hàng Đánh giá vai trò của chính phủ trong việcduy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại ở mộtnước vì vậy rất cần thiết.Vai trò của Chính phủ thể hiện nhưng không giới hạn ởnhững nội dung: sự đầy đủ, tính đồng bộ và hiệu lực thi hành của các quyđịnh pháp luật, các chínhsách liên quan đến hoạt động ngân hàng, năng lực vàhiệu quả hoạt động của hệthống ngân hàng thương mại, vai trò của Chính phủvới tư cách là chủ sở hữu,con nợ, chủ nợ của các ngân hàng thương mại,hiệu quả của các chính sách, các biện pháp ưu đãi trong lĩnh vực ngân hàng vàcác lĩnh vực liên quan…Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh

Trang 40

cạnh tranh của một ngân hàng thương mại của một nước như trình bày ở trên

đã thể hiện tương đốitoàn diện năng lực cạnh tranh hiện tại cũng như khảnăng duy trì và phát triểntrong tương lai của các ngân hàng thương mại

1.3.5 Các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng trên phương diện lý thuyết

Nếu hiểu năng lực cạnh tranh giữa các ngân hàng là khả năng dành chiếnthắng trong cuộc “ganh đua” kinh tế, thì cái gốc (nguồn gốc) của khả năng đó nằm

ở quy mô, trình độ và chất lượng nguồn lực về tài chính, kỹ thuật công nghệ, quản

lý và thương mại của ngân hàng Do vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh, thực chất lànâng cao “quy mô, trình độ và chất lượng nguồn lực về tài chính, kỹ thuật, quản lý

và thương mại của ngân hàng” Với cách tiếp cận hệ thống, trên giác độ lý thuyết,các ngân hàng có thể chiến thắng trong cuộc cạnh tranh bằng và thông qua một sốphương pháp cơ bản sau:

1.3.5.1 Nâng cao năng lực của ngân hàng trên các phương diện tài chính, công nghệ, nhân lực, quản lý

Không thể chiến thắng nếu nguồn lực tài chính yếu và bị động Chiến lượctài chính là một trong những chiến lược chức năng quan trọng nhất để thực hiệnchiến lược cạnh tranh tổng quát của ngân hàng

Công nghệ là công cụ cạnh tranh then chốt Công nghệ quyết định sự khácbiệt sản phẩm trên các phương diện chất lượng, thương hiệu và giá cả Đổi mớicông nghệ là một yêu cầu mang tính chiến lược Với những ngân hàng giữ bảnquyền sáng chế hoặc có bí quyết công nghệ thì phương thức giữ gìn bí quyết là yếu

tố quan trọng tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng

Suy cho cùng năng lực cạnh tranh được thực hiện chủ yếu bằng và thông quacon người - nguồn lực quan trọng nhất của ngân hàng Để có đội ngũ người laođộng có trình độ chuyên môn cao, ngân hàng phải có chiến lược đào tạo và giữngười tài Để nâng cao năng suất lao động và tạo điều kiện cho người lao động sángtạo mỗi ngân hàng phải có chiến lược đào tạo nghiệp vụ chuyên sâu, phù hợp vớiyêu cầu của mình Đồng thời, từng ngân hàng phải chú trọng xây dựng chính sáchđãi ngộ như chính sách lương, thưởng hợp lý để giữ ổn định lực lượng lao động của

Ngày đăng: 06/11/2015, 16:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
17. “Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia”, NXB Giao thông vận tải, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải
1. Báo cáo thường niên Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam 2004, 2005, 2006 Khác
2. Micheal E.Porter, Chiến lược cạnh tranh, NXB Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội - 1996 Khác
3. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Vụ chiến lược phát triển ngân hàng (2006), Kỷ yếu, Các công trình nghiên cứu khoa học ngành Ngân hàng (Quyển 5,6), NXB Văn hóa - Thông tin Khác
4. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Vụ chiến lược phát triển ngân hàng (2007), Kỷ yếu, Các công trình nghiên cứu khoa học ngành Ngân hàng (Quyển7), NXB Văn Hóa - Thông tin Khác
5. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Vụ chiến lược phát triển ngân hàng (2005), Kỷ yếu hội thảo khoa học, Chiến lược phát triển dịch vụ ngân hàng đến năm 2010 và tầm nhìn 2020, NXB Phương Đông Khác
6. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Vụ chiến lược phát triển ngân hàng (2005), Kỷ yếu hội thảo khoa học, Tăng cường sự gắn kết giữa đào tạo nguồn nhân lực và hoạt động của các Tổ chức Tín dụng ở Việt Nam, NXB Thống kê Khác
7. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Vụ chiến lược phát triển ngân hàng (2006), Kỷ yếu hội thảo khoa học, Xây dựng mô hình Tập đoàn Tài chính - Ngân hàng ở Việt Nam, NXB Văn hóa - Thông tin Khác
8. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Vụ chiến lược phát triển ngân hàng (2006), Kỷyếu hội thảo khoa học, Công nghệ và dịch vụ Ngân hàng hiện đại, NXB Văn hóa - Thông tin Khác
9. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Vụ chiến lược phát triển ngân hàng (2007), Kỷ yếu hội thảo khoa học, Phát triển dịch vụ bán lẻ của các Ngân hàng thương mại Việt Nam, NXB Văn hóa - Thông tin Khác
13. Quản trị Ngân hàng Thương mại, PGS. TS Trần Huy Hoàng (chủ biên), NXB Lao động 2007 Khác
14. Ủy ban Quốc gia về hợp tác Kinh tế Quốc tế, Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới- Thời cơ và thách thức, NXB Lao động Khác
16. Ngô Quốc Kỳ, 2002, Tác động của Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ đối với Hệ thống pháp luật Việt Nam - Về việc thực thi Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, NXB Chính trị quốc gia Khác
18. Báo cáo thường niên của Ngân hàng nhà nước.19. Một số Website Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Môi trường cạnh tranh của NHTM - Năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Sơ đồ 1.1 Môi trường cạnh tranh của NHTM (Trang 34)
Bảng 1: Quy mô vốn điều lệ của một số NHTM của các quốc gia trong khu vực - Năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Bảng 1 Quy mô vốn điều lệ của một số NHTM của các quốc gia trong khu vực (Trang 64)
Bảng 2: Tỷ trọng tổng tài sản của các NHTM so với toàn hệ thống (%) - Năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Bảng 2 Tỷ trọng tổng tài sản của các NHTM so với toàn hệ thống (%) (Trang 67)
Bảng 3: Số liệu về khả năng sinh lời của các NHTM năm 2010 - Năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Bảng 3 Số liệu về khả năng sinh lời của các NHTM năm 2010 (Trang 71)
Bảng 5: So sánh lĩnh vực Ngân hàng Việt Nam với các nước trong khu vực - Năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Bảng 5 So sánh lĩnh vực Ngân hàng Việt Nam với các nước trong khu vực (Trang 74)
Bảng 4: Tỷ lệ dư nợ/tiền gửi khách hàng (thời điểm 31/12/2007, 2008, 2009, 2010). - Năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Bảng 4 Tỷ lệ dư nợ/tiền gửi khách hàng (thời điểm 31/12/2007, 2008, 2009, 2010) (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w