1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bàn về quá trình cung cấp nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp theo chế độ kế toán hiện hành

46 260 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 233 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một sinh viên Đại học Kinh tế quốc dân,nhận thức sâu sắc về vai trò của kế toán trong việc quản lý nguyên vật liệu cùng với việc hoàn thiện chế độ kế toán trong thời kỳ hội nhập nên e

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trải qua hơn 20 năm xóa bỏ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung đi theo nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, kinh tế nước ta không ngừng phát triển và đạt được nhiều thành tựu đáng kể Các ngành nghề kinh doanh ngày càng đa dạng và hiệu quả Cũng từ đó mà nảy sinh sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp,mọi doanh nghiệp đều phải xây dựng một bộ máy quản

lý hoàn thiện, khoa học, chuyên nghiệp thì mới có thể điều hành hoạt động SXKD đạt hiệu quả, có sức cạnh tranh

Đối với các doanh nghiệp sản xuất, nguyên vật liệu thường chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ chi phí sản xuất Vì vậy, quản lý chi phí thực chất là quản lý chi phí về nguyên vật liệu Trong cơ chế thị trường, để tạo được một thị trường rộng lớn cho sản phẩm của mình, doanh nghiệp phải coi” uy tín – chất lượng- giá cả “lên hàng đầu muốn đạt được điều đó, trước hết doanh nghiệp quan tâm tới việc tiết kiệm triệt để chi phí nguyên vật liệu mà vẫn đảm bảo giá thành, nâng cao chất lượng, số lượng sản phẩm

Kế toán với vai trò là công cụ đắc lực phải tính toán và quản lý như thế nào cho đáp ứng được nhu cầu trên

Là một sinh viên Đại học Kinh tế quốc dân,nhận thức sâu sắc về vai trò của kế toán trong việc quản lý nguyên vật liệu cùng với việc hoàn thiện chế

độ kế toán trong thời kỳ hội nhập nên em quyết định đi sâu nghiên cứu đề tài

“Bàn về quá trình cung cấp nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp theo chế độ kế toán hiện hành”.

Đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận thì được chia làm 3 phần chính:

Phần 1: Cơ sở lý luận chung về kế toán nguyên vật liệu ở các doanh

nghiệp theo chế độ kế toán hiện hành.

Trang 2

Phần 2: Thực trạng công tác hạch toán nguyên vật liệu trong các

doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.

Phần 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác hạch toán kế toán

nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp.

Do trình độ và thời gian hạn chế nên đề án không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự giúp đỡ, bổ sung của các thầy cô giáo để bản

đề án của em trở nên hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên

Phạm Hà Hải Trang

Trang 3

1.1 Khái niệm về nguyên vật liệu.

Doanh nghiệp là 1 tế bào của nền kinh tế quốc dân, tế bào có khỏe mạnh thì nền kinh tế mới phát triển và để tế bào khỏe mạnh thì mọi hoạt động của nó phải

có tính tuần hoàn, thông suốt Cũng như vậy, một doanh nghiệp nói chung hay một doanh nghiệp sản xuất nói riêng, muốn tồn tại và phát triển thì mọi hoạt động của nó phải liên tục, sản phẩm dịch vụ làm ra phải được tiêu thụ trên thị trường, đảm bảo cho các doanh nghiệp bù đắp được chi phí và có lãi

Để có được những sản phẩm mẫu mã đẹp, đa dạng về chủng loại, chất lượng cao, giá cả cạnh tranh cũng như các dịch vụ nhanh chóng, gọn nhẹ, hấp dẫn khách hàng, các doanh nghiệp đều phải có đối tượng lao động của mình

đó là đầu vào của quá trình sản xuất, dịch vụ, nó quyết định đến giá cả chất lượng của mặt hàng Đối với doanh nghiệp sản xuất thì nguyên vật liệu có vai trò quan trọng trong vấn đề đó

Đối tượng lao động là tất cả mọi vật có trong thiên nhiên mà lao động của con người có thể tác động vào biến chúng thành những vật có ích phục vụ cho đời sống con người.Nguyên liệu, vật liệu trong doanh nghiệp là những đối tượng lao động mua ngoài hoặc tự chế biến dùng cho mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Một quá trình sản xuất luôn phải đủ 3 yếu tố: tư liệu sản xuất, đối tượng lao động và sức lao động Ba yếu tố đó kết hợp với nhau tạo nên giá trị và giá

Trang 4

trị sử dụng của sản phẩm mới, thuộc vào tài sản lưu động của doanh nghiệp.Trong quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm mới, vật liệu tham gia ngay vào giai đoạn đầu của quá trình sản xuất và toàn bộ giá trị của vật liệu được kết chuyển hết 1 lần vào chi phí kinh doanh trong kỳ Dưới tác động của lao động, vật liệu bị tiêu hao toàn bộ hoặc bị thay đổi hình thái vật chất ban đầu

để cấu thành thực thể của sản phẩm Như vậy, nguyên vật liệu tạo nên giá trị

và giá trị sử dụng của sản phẩm mới do vậy nó là yếu tố chủ chốt quan trọng của mọi quá trình sản xuất Mỗi một doanh nghiệp có một hình thái kinh doanh riêng do đó tùy thuộc vào đặc điểm của mình mà có loại hình nguyên vật liệu phù hợp

1.2.Đặc điểm của nguyên vật liệu

- Nguyên vật liệu có hình thái biểu hiện ở dạng vật hóa

- Nguyên vật liệu chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh nhất định Khi tham gia vào chu kỳ sản xuất mới dưới dạng tác động của lao động chúng bị tiêu hao toàn bộ hoặc thay đổi hình thái vật chất ban đầu để tạo ra hình thái vật chất của sản phẩm

- Việc tiến hành sản xuất có thuận lợi hay không là phụ thuộc rất nhiều vào quá trình cung cấp nguyên vật liệu có kịp thời, đầy đủ và đúng tiêu chuẩn chất lượng hay không Quá trình cung cấp sẽ góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, giúp sản phẩm có thể cạnh tranh trên thị trường

1.3.Vị trí, vai trò của nguyên vật liệu trong doanh nghiệp.

Trong nền kinh tế thị trường, với sự phát triển đa dạng của các loại hình doanh nghiệp, các thành phần kinh tế cho phép các doanh nghiệp tự tìm ra hướng đi, giải pháp tốt nhất nhằm chủ động trong sản xuất kinh doanh phù hợp và hiệu quả

Hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường chịu tác dộng của các quy luật kinh tế khắt khe như quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh,

Trang 5

quy luật giá cả….Đó chính là những thuận lợi và cũng chính là những trở ngại đối với doanh nghiệp Điều này buộc các doanh nghiệp phải không ngừng hiện đại hóa công nghệ sản xuất, nâng cao trình độ tay nghề nhằm nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm giúp cho doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển

Thông thường, đối với doanh nghiệp sản xuất thì giá trị nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn và chủ yếu trong giá trị sản phẩm

Do vậy, vật liệu không chỉ quyết định về mặt số lượng của sản phẩm mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của sản phẩm tạo ra Nguyên vật liệu

có đảm bảo đúng quy cách, chủng loại và đa dạng thì sản phẩm sản xuất mới đạt được yêu cầu và phục vụ nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của xã hội.Xuất phát từ vai trò, đặc điểm của nguyên vật liệu thì việc tổ chức kế toán nguyên vật liệu một cách khoa học, hợp lý có ý nghĩa thiết thực và hiệu quả trong việc quản lý, phấn đấu hạ giá thành sản phẩm và kiểm soát được tài sản của doanh nghiệp Vì vậy, tổ chức kế toán nguyên vật liệu là không thể thiếu được trong toàn bộ công tác quản lý kinh tế tài chính của doanh nghiệp

1.4.Yêu cầu quản lý

Xuất phát từ vị trí, vai trò của nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất: sản xuất không thể tiến hành được nếu khồngcó nguyên vật liệu Chất lượng nguyên vật liệu kém thì chất lượng sản phẩm cũng kém làm ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm Để thấy được việc kiểm tra chất lượng, sử dụng hợp lý, tiết kiệm trên cơ sở các định mức và dự toán chi phí có ý nghĩa quan trọng trong việc hạ thấp chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm, tăng thu nhập tích lũy cho doanh nghiệp

Do đó cần phải tổ chức tốt công việc ghi chép, phản ánh tình hình xuất dùng, sử dụng vật liệu trong quá trình sản xuất Mặt khác quản lý vật liệu là yêu cầu khách quan của mọi nền xã hội Tuy vậy do trình độ sản xuất khác nhau nên

Trang 6

phạm vi, mức độ và phương pháp quản lý nguyên vật liệu cũng khác nhau.

Trong nền sản xuất thị trường, sản xuất ngày càng mở rộng và phát triển trên cơ sở thỏa mãn không ngừng nhu cầu vật chất của con người trong xã hội nên việc sử dụng tiết kiệm, hợp lý và có khoa học nguồn nguyên vật liệu ngày càng được coi là yêu cầu của phương thức sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường nhằm đạt tới mục tiêu hao phí ít nhất mà hiệu quả thu được cao nhất

Để quản lý tốt vật liệu phải quản lý chặt chẽ ở tất cả các khâu: thu mua, bảo quản, dự trữ, sử dụng nguyên vật liệu mà cụ thể là:

- Ở khâu thu mua: phải quản lý việc thu mua theo kế hoạch để đảm bảo tiến độ cung cấp vật liệu cho quá trình sản xuất được thực hiện liên tục, không

bị ứ đọng, thiếu hụt ở khâu dự trữ này Quản lý nguyên vật liệu cả về số lượng, chất lượng, chủng loại và giá cả để sao cho vật liệu thu mua về phải phù hợp với quá trình sản xuất, hạ thấp chi phí nguyên vật liệu một cách tối

đa, đảm bảo chất lượng sản phẩm Ngoài ra còn phải quản lý cả quá trình thanh toán với người cung cấp, đảm bảo uy tín của doanh nghiệp

- Ở khâu bảo quản: phải tổ chức tốt hệ thống kho hàng, bến bãi, phương tiện cân,đo, đong, đếm một cách hợp lý, tránh mất mát, hư hỏng và phải thực hiện đúng chế độ quy định, phù hợp với tính chất lý hóa của mỗi loại nguyên vật liệu

- Ở khâu dự trữ: cần đảm bảo một lượng dự trữ nhất định để quá trình sản xuất không bị gián đoạn Muốn vậy phải quản lý nguyên vật liệu bằng việc xác định mức dự trữ tối thiểu, tối đa cho từng loại nguyên vật liệu để đảm bảo tính đồng bộ cho vật tư trong sản xuất, phải dự trữ sao cho không vượt mức dự trữ tối đa để tránh tình trạng ứ đong vốn

- Ở khâu sử dụng: cần sử dụng một cách hợp lý, tiết kiệm, tuân thủ theo các định mức tiêu hao đã đề ra

Nói tóm lại quản lý chặt chẽ vật liệu từ khâu thu mua, bảo quản, dự trữ đến sử dụng là một trong những nội dung quan trọng trong công tác quản lý

Trang 7

tài sản ở doanh nghiệp.

1.5 Sự cần thiết của công tác kế toán nguyên vật liệu

Hạch toán kế toán là khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin của các hoạt động kinh tế, tài chính cho quản lý kinh tế nhằm đề ra các biện pháp kiểm tra, giám sát toàn bộ hoạt động kinh tế của đơn vị một cách đúng đắn Còn kế toán nguyên vật liệu cũng là việc ghi chép phản ánh tổng hợp số liệu

về tình hình mua, vận chuyển, bảo quản, tình hình nhập xuất tồn kho nguyên vật liệu

Để đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời, đúng chủng loại vật liệu cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cần phải dực vào kế toán nguyên vật liệu Mặt khác một doanh nghiệp sản xuất không chỉ có hai, ba loại nguyên vật liệu mà có rất nhiều loại khác nhau Làm thế nào để tiến hành quản lý nguyên vật liệu theo từng loại, nhóm, thứ trong mỗi ngày có rất nhiều nghiệp vụ liên quan tới nguyên vật liệu Làm thế nào để có thể cung cấp nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất để sản xuất được hoạt động liên tục Tất cả những điều đó cũng chứng minh một cách khách quan rằng: tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu là rất cần thiết bởi nó có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý nguyên vật liệu Để thực hiện được yêu cầu quản lý thì kế toán nguyên vật liệu thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:

1 Thực hiện đánh giá, phân loại vật liệu phù hợp với nguyên tắc, yêu cầu quản lý thống nhất của nhà nước, yêu cầu quản trị của doanh nghiệp

2 Tổ chức ghi chép, phản ánh tổng hợp số liệu về tình hình thu mua, vận chuyển, bảo quản, tình hình nhập- xuất- tồn kho vật liệu Tính giá thực tế nguyên vật liệu đã thu mua và nhập kho, kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch thu mua nguyên vật liệu cả về số lượng, chủng loại, giá cả đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời cho quá trình sản xuất kinh doanh

3 Áp dụng đúng đắn các phương pháp kỹ thuật và hạch toán vật liệu, hướng dẫn, kiểm tra các bộ phận, đơn vị trong doanh nghiệp thực hiện đầy đủ

Trang 8

chế độ hạch toán ban đầu về nguyên vật liệu, mở các sổ, thẻ kế toán chi tiết, thực hiện hạch toán vật liệu theo đúng chế độ, phương pháp quy định đảm bảo

sự thống nhất trong công tác kế toán

4 Kiểm tra việc chấp hành chế độ bảo quản, dự trữ và sử dụng nguyên vật liệu phát hiện ngăn ngừa và đề xuất những biện pháp xử lý vật tư thừa, thiếu, ứ đọng kém phẩm chất Tính toán xác định chính xác số lượng và giá trị vật liệu thực tế đưa vào sử dụng đã tiêu hao trong quá trình sản xuất, phân bổ chính xác giá trị đã tiêu hao vào các đối tượng sử dụng

5 Tham gia kiểm kê đánh giá vật liệu theo đúng chế độ nhà nước quy định, lập các báo cáo về vật liệu phục vụ công tác lãnh đọa và quản lý, tiến hành phân tích kinh tế, tình hình thu mua, bảo quản dự trữ và sử dụng vật liệu nhằm phục vụ công tác quản lý một cách hợp lý nhằm hạ giá thành

Như vậy, kế toán vật liệu là công cụ quản lý vật liệu, thông qua việc đo lường, tính toán, ghi chép, phân loại, tổng hợp các nghiệp vụ liên quan đến vật liệu bằng hệ thống các phương pháp khoa học của kế toán như chứng từ, tài liệu…mà biết được thông tin một cách đầy đủ, kịp thời, chính xác về tình hình tài sản nói chung về tình hình nguyên vật liệu nói riêng để từ đó người

có trọng trách có các biện pháp quản lý vật liệu sao cho hợp lý, có hiệu quả nhất Vì thế có thể khẳng định lại rằng: để phát huy chức năng, vai trò của công tác quản lý vật liệu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đòi hỏi công tác kế toán nguyên vật liệu cũng phải khoa học, hợp lý Đây cũng là nhu cầu tất yếu nhằm cung cấp thông tin một cách đầy đủ, kịp thời và chính xác đáp ứng yêu cầu của cơ quan quản lý nền kinh tế thị trường

có sự điều tiết của nhà nước

Trang 9

II Phân loại và tính giá nguyên vật liệu

2.1 Phân loại nguyên vật liệu

Phân loại nguyên vật liệu là sắp xếp các thứ nguyên vật liệu cùng loại với nhau theo một đặc trưng nhất định nào đó thành từng nhóm để thuận lợi cho việc quản lý và hạch toán

Nguyên vật liệu sử dụng trong doanh nghiệp bao gồm nhiều loại có công dụng khác nhau được sử dụng ở nhiều bộ phận khác nhau, có thể được bảo quản, dự trữ trên nhiều địa bàn khác nhau Do vậy để thống nhất công tác quản lý nguyên vật liệu giữa các bộ phận có liên quan, phục vụ cho yêu cầu phân tích, đánh giá tình hình cung cấp,sử dụng nguyên vật liệu cần phải phân loại nguyên vật liệu

Có rất nhiều cách phân loại nguyên vật liệu, hiện nay cách chủ yếu là phân laọi nguyên vật liệu theo tác dụng của nó đối với qúa trình sản xuất.Theo cách này thì nguyên vật liệu được phân ra thành các loại như sau:

- Nguyên liệu, vật liệu chính: (bao gồm cả nửa thành phẩm mua ngoài)

Đối với các doanh nghiệp sản xuất nguyên vật liệu chính là đối tượng lao động chủ yếu cấu thành nên thực thể sản phẩm như sắt , thép trong các doanh nghiệp chế tạo máy, cơ khí, xây dựng cơ bản, bong trong các doanh nghiệp kéo sợi, vải trong doanh nghiệp may….Đối với nửa thành phẩm mua ngoài với mục đích tiếp tục quá trình sản xuất sản phẩm ví như : Sợi mua ngoài trong các nhà máy dệt cũng được coi là nguyên vật liệu chính

- Vật liệu phụ: là đối tượng lao động nhưng không phải là cơ sở vật chất

chủ yếu để hình thành nên sản phẩm mới.Vật liệu phụ chỉ có vai trò phụ trợ trong quá trình sản xuất kinh doanh được sử dụng kết hợp với vật liệu chính

để nâng cao tính năng chất lượng của sản phẩm , hoặc được sử dụng để đảm bảo cho công cụ lao động hoạt động bình thường, hoặc để phục vụ cho yêu cầu kỹ thuật, nhu cầu quản lý

Trang 10

- Nhiên liệu: là thứ để tạo ra năng lượng cung cấp nhiệt lượng bao gồm

các loại ở thể rắn, lỏng, khí dung để phục vụ cho công nghệ sản xuất sản phẩm cho các phương tiện vận tải máy móc thiết bị hoạt động trong quá trình sản xuất kinh doanh như dầu, xăng, than….Nhiên liệu thực chất là vật liệu phụ để tách thành một nhóm riêng do vai trò quan trọng của nó nhằm mục đích quản lý và hạch toán thuận tiện hơn

- Phụ tùng thay thế: bao gồm các loại phụ tùng, chi tiết dung để thay thế

sửa chữa máy móc thiết bị sản xuất phương tiện vận tải

- Thiết bị và vật liệu xây dựng cơ bản: là các vật liệu, thiết bị phục vụ

cho hoạt động xây dựng cơ bản , tái tạo tài sản cố định

- Phế liệu thu hồi: là những loại phế liệu thu hồi từ quá trình sản xuất để

sử dụng hoặc bán ra ngoài

Việc phân chia này giúp cho doanh nghiệp tổ chức các tài khoản chi tiết

dễ dàng hơn trong việc quản lý và hạch toán nguyên vật liệu.Tuy nhiên do quá trình sản xuất cụ thể được tiến hành ở các doanh nghiệp khác nhau nên việc phân loại nguyên vật liệu như trên chỉ mang tính chất tương đối.Ngoài ra có thể phân loại nguyên vật liệu theo các loại sau:

- Căn cứ vào nguồn thu nhập, nguyên vật liệu được chia thành

+ Nguyên vật liệu mua ngoài: mua từ thị trường trong nước hoặc mua nhập khẩu

+ Nguyên vật liệu từ gia công chế biến

+ Nguyên vật liệu thu ngoài gia công sản xuất

+ Nguyên vật liệu nhập góp vốn

- Căn cứ vào chức năng nguyên vật liệu đối với quá trình sản xuất thì nguyên vật liệu bao gồm:

+ Nguyên vật liệu trực tiếp dùng cho chế tạo sản phẩm và sản xuất

+ Nguyên vật liệu dùng cho các nhu cầu khác: phục vụ ở các phân xưởng, tổ đội sản xuất, cho nhu cầu bán hàng quản lý doanh nghiệp

Trang 11

2.2 Tính giá nguyên vật liệu

Tính giá nguyên vật liệu là cách xác định giá trị của chúng theo từng nguyên tắc nhất định.Theo quy định hiện hành kế toán nhập, xuất, tồn nguyên vật liệu phải phản ánh theo giá trị kinh tế , khi xuất kho cũng phải xác định giá trị thực tế xuất kho theo đúng phương pháp quy định Sau đây là một số phương pháp xác định giá nguyên vật liệu

2.2.1 Tính giá nguyên vật liệu theo giá thực tế

* Giá trị thực tế vật liệu nhập kho.

- Đối với nguyên vật liệu ngoài là trị giá vốn thực tế nhập kho

đơn)

+ Chi phí khâu

Thuế nhập khẩu (nếu có)

Chi phí mua thực tế gồm: Chi phí vận chuyển, bốc dỡ, bảo quản, chi phí thuê kho, thuê bãi, tiền phạt, tiền bồi thường…

+ Đối với các đơn vị tính thuế VAT thep phương pháp khấu trừ thì giá mua thực tế là giá không thuế VAT đầu vào

+ Đối với các đơn vị tính thuế VAT trực tiếp và là cơ sở kinh doanh không thuộc đối tượng chịu thuế thì giá mua thực tế là giá mua đã có thuế VAT

+ Đối với nguyên vật liệu mua vào sử dụng đồng thời cả hai hoạt động chịu thuế và không chịu thuế VAT thì về nguyên tắc phải hạch toán riêng và chỉ được khấu trừ VAT đầu vào đối với phần nguyên vật liệu chịu thuế VAT đầu ra

+ Trường hợp không thể hạch toán riêng thì toàn bộ VAT đầu vào của nguyên vật liệu đều phản ánh trên tài khoản 133 (1331) đến cuối kỳ kế toán mới phân bổ VAT đầu vào được khấu trừ theo tỷ lệ phần trăm giữa doanh thu chịu thuế VAT trên tổng doanh thu bán hàng của doanh nghiệp.Số thuế VAT

Trang 12

không được khấu trừ sẽ phản ánh vào giá tồn hàng bán (632) trường hợp số tồn kho quá lớn thì sẽ được phản ánh vào tài khoản 142(1422).

+ Trường hợp nguyên vật liệu doanh nghiệp thu mua của các cá nhân hoặc tổ chức sản xuất đem bán sản phẩm của chính họ ( thường là nguyên vật liệu thuộc hàng nông sản) thì phải lập bảng kê thu mua hoa hồng và sẽ được khấu trừ VAT theo tỷ lệ 2% trên tổng giá trị hàng mua vào.Trường hợp khấu trừ này không được áp dụng đối với các doanh nghiệp thu mua nguyên vật liệu để xuất khẩu hoặc để sản xuất hàng xuất khẩu

- Đối với vật liệu do doanh nghiệp tự gia công chế biến thì giá thực tế nguyên vật liệu là giá vật liệu xuất gia công , chế biến, cộng với các chi phí gia công chế biến Chi phí chế biến gồm : chi phí nhân công, chi phí khấu hao máy móc thiết bị và các khoản chi phí khác

- Đối với vật liệu thuê ngoài gia công chế biến

Chi phí thuê ngoài gia công gồm: tiền thực gia công phải trả chi phí vận chuyển đến cơ sở gia công và ngược lại

- Đối với vật liệu nhận vốn góp liên doanh thì giá thực tế là giá trị vật liệu do hội đồng gia công đánh giá

- Đối với vật liệu do nhà nước cấp hoặc được tặng thì giá trị thực tế được tính là giá trị của vật liệu ghi trên biên bản bàn giao hoặc ghi theo giá trị vật

Trang 13

hiến tặng, thưởng tương đương với giá thị trường.

- Đối với phế liệu thu hồi : được đánh giá theo giá ước tính hoặc giá thực

* Giá trị thực tế vật liệu xuất kho

Vật liệu trong doanh nghiệp được thu mua nhập kho thường xuyên từ nhiều nguồn khác nhau Do vậy giá thực tế của từng lần , từng đợt nhập cũng không hoàn toàn giống nhau vì trong khi xuất kho kế toán phải tính toán xác định giá thực tế xuất kho cho các đối tượng sử dụng theo phương pháp tính giá thực tế xuất kho đã được đăng ký áp dụng trong các niên độ kế toán Để tính trị giá thực tế của nguyên vật liệu xuất kho cho các doanh nghiệp có thể

áp dụng một trong các phương pháp sau

* Phương pháp tính giá theo giá đích danh.

Phương pháp này được áp dụng với các vật liệu có giá trị cao, các loại vật tư đặc chủng.Giá thực tế của vật liệu xuất kho được căn cứ vào đơn giá thực tế của vật liệu nhập kho theo từng lô,từng loạt nhập, và số lượng xuất

Sử dụng phương pháp đích danh sẽ tạo thuận lợi cho kế toán trong việc tính toán giá thành vật liệu được chính xác, phản ánh được mối quan hệ cân đối giữa hiện vật và giá trị nhưng có nhược điểm là phải theo dõi chi tiết giá vật liệu nhập kho theo từng lần nhập nếu không vật liệu xuất kho sẽ không sát với giá thực tế của thị trường

* Phương pháp tính giá theo giá bình quân gia quyền.

Phương pháp này thích hợp với những doanh nghiệp có ít danh điểm vật tư.Theo phương pháp này căn cứ vào giá thực tế vật liệu tồn đầu kỳ và nhập kho trong kỳ, kế toán xác định giá bình quân của một đơn vị vật liệu Căn cứ vào lượng vật liệu xuất trong kỳ và giá đơn vị bình quân để xác định giá thực tế của vật liệu xuất trong kỳ

Trang 14

Trị giá thực tế tồn đầu kỳ + giá trị thực tế nhập kho

Số lượng tồn đầu kỳ + Số lượng nhập trong kỳ Tính theo phương pháp này sẽ có kết quả chính xác , nhưng nó đòi hỏi doanh nghiệp phải hạch toán được chặt chẽ về một số lượng của từng loại vật liệu,công việc tính toán phức tạp đòi hỏi trình độ cao

* Phương pháp tính giá theo giá thực tế nhập trước xuất trước.

Theo phương pháp này vật liệu nhập trước được xuất dùng hết mới xuất dùng đến lần nhập sau Do đó, giá vật liệu xuất dùng được tính hết theo giá nhập kho lần trước, xong mới tính theo giá nhập kho lần sau.Như vậy giá thực

tế vật liệu tồn cuối kỳ chính là giá thực tế vật liệu nhập kho thuộc các lần mua

* Phương pháp tính giá theo giá thực tế nhập sau xuất trước

Theo phương pháp này, những vật liệu mua sau sẽ được xuất trước tiên phương pháp này ngược lại với phương pháp nhập trước xuất trước

2.2.2 Tính giá vật liệu theo giá hạch toán

Việc dùng giá thực tế để hạch toán vật liệu thường áp dụng trong các doanh nghiệp có quy mô không lớn, chủng loại vật tư không nhiều.Đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn, khối lượng chủng loại vật tư nhiều tình hinh nhập xuất diễn ra thường xuyên thì việc xác định giá thực tế của vật liệu hàng là rất khó khăn tốn nhiều chi phí Trong những trường hợp đó để đảm bảo theo dõi kịp thời việc giá hạch toán là giá tạm tính hay giá kế hoạch được quy định thống nhất trong phạm vi doanh nghiệp và được sử dụng trong kỳ chúng ta có thể tiến hành đánh giá hạch toán theo các bước sau:

* Hàng ngày sử dụng giá hạch toán theo giá thực tế để có số liệu ghi vào tài khoản sổ kế toán tổng hợp và báo cáo kết quả theo công thức

Trang 15

Trị giá thực tế VL tồn đầu kỳ + trị giá thực tế VL nhập

Hệ số giá vật liệu =

Trị giá hạch toán VL tồn đầu kỳ + trị giá hạch toán VL nhập trong kỳGiá thực tế Giá vật liệuthực tế xuất = xuất kho X Hệ số giátrong kỳ trong kỳ Tùy thuộc vào đặc điểm, yêu cầu, trình độ quản lý của doanh nghiệp

mà hệ số giá vật liệu có thể tính riêng cho từng thứ từng loại hoặc cả loại vật liệu.Tuy có nhiều phương pháp tính giá vật liệu nhưng mỗi doanh nghiệp chỉ được áp dụng một trong những phương pháp đó vì mỗi phương pháp có ưu điểm và nhược điểm riêng nên áp dụng phương pháp nào cho phù hợp với đặc điểm , quy mô là vấn đề đặt ra cho mỗi doanh nghiệp.III.Nội dung công tác kế toán nguyên vật liệu

Mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có liên quan đến nhập –xuất vật liệu đều phải lập chứng từ kế toán một cách kịp thời, đầy đủ, chính xác theo đúng chế độ ghi chép ban đầu về vật liệu đã được Nhà nước ban hành.Nó là cơ sở để tiến hành ghi chép trên thẻ kho và trên sổ kế toán để kiểm tra giám sát tình hình biến động và số hiện có của từng thứ vật liệu.Thực hiện việc quản lý có hiệu quả vật liệu phục vụ kịp thời , đầy đủ nhu cầu vật liệu cho hoạt động sản xuất

Theo chế độ kế toán quy định các văn bản chứng từ liên quan tới kế

-Phiếu nhập kho Mẫu số 01-VT

Trang 16

-Phiếu xuất kho Mẫu số 02-VT-Biên bản kiểm nghiệm Mẫu số 03-VT-Phiếu báo vật tư còn lại cuối kỳ Mẫu số 04-VT-Biển bản kiểm kê vật tư Mẫu số 05-VT

-Bảng kê mua hàng Mẫu số 06-VT

-Bảng phân bổ NVL Mẫu số 07-VT-Hóa đơn GTGT ( bên bán lập) Mẫu số 01 GTKT -3LL-Hóa đơn bán hàng thông thường ( bên bán lập ) Mẫu số 02 GTTT-3LL-Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ Mẫu số 03 PXK -3LL Trong đó có hóa đơn GTGT, hóa đơn bán hàng thông thường, phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ là chứng từ bắt buộc còn lại mang tính

Quy trình lập và luân chuyển chứng từ về NVL được khái quát qua sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1: Quy trình lập và luân chuyển chứng từ về NVL

KT

Bộ phận cung ứng

Thủ kho Kế

toán NVL

Bộ phận

kế hoạch

sx, kd

Lập phiếu nhập kho, phiếu xuất kho

Nhận vật tư, xuất vật tư

Ghi sổ

Bảo quản lưu trữ

Ký hợp đồng mua hàng, duyệt lệnh xuất

Trang 17

3.2.1 Phương pháp thẻ song song

- Tại kho: Việc ghi chép tình hình nhập –xuất –tồn kho hàng ngày do thủ kho tiến hành trên thẻ kho và chỉ theo dõi về mặt số lượng Khi nhận được các chứng từ nhập, xuất vật liệu thủ kho phải tiến hành kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp của chứng từ rồi ghi sổ số dư thực nhập thực xuất chứng từ và thẻ

kho.Định kỳ thủ kho chuyển ( hoặc kế toán xuống kho nhận) các chứng từ nhập xuất đã được phân loại theo từng thứ vật liệu cho phòng kế toán

- Tại phòng kế toán: kế toán sử dụng sổ ( thẻ ) kế toán chi tiết vật liệu để ghi chép tình hình nhập, xuất, tồn kho theo chỉ tiêu hiện vật và giá trị Hàng ngày hoặc định kỳ sau khi nhận được các chứng từ nhập, xuất kho vật liệu do thủ kho nộp, kế toán kiểm tra ghi đơn giá, tính thành tiền và phân loại chứng

từ và vào sổ chi tiết vật liệu

Cuối kỳ kế toán tiến hành cộng sổ và tính ra số tồn kho cho từng loại vật liệu đồng thời tiến hành đối chiếu số liệu trên sổ kế toán chi tiết vật liệu với thẻ kho tương ứng Căn cứ vào các sổ chi tiết vật liệu kế toán lấy số liệu

để ghi vào Bảng tổng hợp nhập xuất tồn vật liệu

Trang 18

Sơ đồ 1.2 Hạch toán chi tiết NVL theo phương pháp thẻ song song

Ghi chú:

Ưu điểm: Phương pháp này đơn giản trong khâu ghi chép, dễ kiểm tra đối chiếu, dễ phát hiện sai sót đồng thời cung cấp thông tin nhập, xuất và tồn kho của từng danh điểm NVL kịp thời, chính xác

Nhược điểm: Ghi chép trùng lặp giữa thủ kho và kế toán ở chỉ tiêu số lượng, làm tăng khối lượng công việc của kế toán, tốn nhiều công sức và thời gian

Điều kiện vận dụng: Thích hợp với các DN thực hiện công tác kế toán máy và các DN thực hiện kế toán bằng tay trong điều kiện DN có ít danh điểm vật tư, trình độ chuyên môn của cán bộ kế toán còn hạn chế

3.2.2 Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển

Taị kho: Thủ kho sử dụng thẻ kho để ghi chép giống như phương pháp thẻ song song

Thẻ kho

Thẻ quầy

Bảng tổng hợp NXT

Sổ kế toán tổng hợp

Sổ kế toán chi tiết Phiếu nhập kho

Phiếu xuất kho

: Ghi hàng ngày

: Ghi cuối kỳ

: Đối chiếu

Trang 19

Tại phòng kế toán: Kế toán mở sổ đối chiếu luân chuyển NVL theo từng kho, cuối tháng trên cơ sở phân loại chứng từ nhập, xuất NVL theo từng danh điểm và theo từng kho, kế toán lập Bảng kê nhập vật liệu, Bảng kê xuất vật liệu Rồi ghi vào sổ đối chiếu luân chuyển Cuối kỳ đối chiếu thẻ kho với sổ đối chiếu luân chuyển

Sơ đồ 1.3: Hạch toán chi tiết NVL theo phương pháp sổ đối chiếu luân

chuyển

Ưu điểm: Tiết kiệm công tác lập sổ kế toán so với phương pháp thẻ song song, giảm nhẹ khối lượng ghi chép của kế toán, tránh việc ghi chép trùng lặp Nhược điểm: Khó kiểm tra, đối chiếu, khó phát hiện sai sót và dồn công việc vào cuối kỳ nên hạn chế chức năng kiểm tra thường xuyên, liên tục, hơn nữa làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các khâu kế toán khác

Điều kiện vận dụng: Phương pháp này thích hợp với những DN có nhiều danh điểm vật tư nhưng số lượng chứng từ nhập xuất không nhiều, không có điều kiện bố trí riêng từng nhân viên kế toán chi tiết vật liệu để theo dõi tình hình nhập xuất hàng ngày

Phiếu nhập kho

Thẻ kho

Thẻ quầy Sổ đối chiếu luân chuyển Sổ kế toán tổng hợp

Phiếu xuất kho

Bảng kê nhập NVL

Bảng kê xuất NVL

Trang 20

Sơ đồ 1.4: Hạch toán chi tiết NVL theo phương pháp sổ số dư

Sổ kế toán tổng hợp

Phiếu giao nhận chứng từ nhập

Phiếu giao nhận chứng từ xuất

Sổ số dư

Phiếu giao nhận chứng từ xuất Phiếu giao nhận chứng từ xuất

Trang 21

Điều kiện vận dụng: Thích hợp với những DN có nhiều danh điểm vật tư

và số lần nhập xuất của mỗi loại nhiều, đồng thời nhân viên kế toán và thủ kho của DN phải có trình độ chuyên môn cao

3.3 Hạch toán tổng hợp NVL theo phương pháp KKTX

3.3.1 Đặc điểm phương pháp KKTX

Hạch toán tổng hợp NVL theo phương pháp KKTX là phương pháp theo dõi thường xuyên, liên tục sự biến động nhập, xuất, tồn vật liệu trên sổ kế toán

Sử dụng phương pháp này có thể tính được trị giá vật tư nhập, xuất, tồn tại bất kỳ thời điểm nào trên sổ tổng hợp Trong phương pháp này, tài khoản NVL được phản ánh theo đúng nội dung tài khoản tài sản

Phương pháp này thường được áp dụng ở các DN có giá trị NVL lớn

3.3.2 Tài khoản sử dụng

Tài khoản 152 "Nguyên vật liệu"

TK này dùng để theo dõi giá trị hiện có, biến động tăng giảm của các loại NVL theo giá thực tế

Kết cấu TK 152:

-Bên Nợ:

+ Giá thực tế của NVL nhập kho

+ Trị giá NVL thừa phát hiện khi kiểm kê

-Bên Có:

+ Giá thực tế NVL xuất kho dùng cho sản xuất, xuất bán, thuê ngoài gia công chế biến hoặc góp vốn liên doanh

+ Trị giá NVL được giảm giá, CKTM hoặc trả lại người bán

+ Trị giá NVL thiếu hụt phát hiện khi kiểm kê

-Dư Nợ:

+ Giá thực tế NVL tồn kho

Trang 22

TK 152 có thể mở chi tiết theo từng loại NVL tuỳ theo yêu cầu quản lý của

DN Tài khoản 151 "Hàng mua đi đường"

TK này dùng để phản ánh giá trị các loại NVL mà DN đã mua, đã chấp nhận thanh toán với người bán nhưng cuối kỳ chưa về nhập kho

+ Giá trị NVL đi đường chưa về nhập kho

Ngoài ra, hạch toán tổng hợp NVL theo phương pháp KKTX còn sử dụng 1 số tài khoản liên quan khác như tài khoản 111, 112, 133, 141, 331, 515

3.3.3 Ph ươ ng pháp k toán ế

Hạch toán tổng hợp tăngNVL:

*Tăng do mua ngoài:

Trường hợp 1: Vật liệu và hoá đơn cùng về

Căn cứ vào hoá đơn, phiếu nhập kho và các chứng từ liên quan kế toán ghi:

Nợ TK 152: Giá thực tế

Nợ TK 1331: Thuế GTGT được khấu trừ

Có TK 111, 112, 331, 141, 311 tổng thanh toán

Trường hợp 2: Vật tư về trước, hoá đơn về sau

Khi vật tư về làm thủ tục nhập kho, lưu phiếu nhập vào tập hồ sơ hàng chưa

có hoá đơn

+ Nếu trong kỳ hoá đơn về: hạch toán như trường hợp 1

+ Cuối kỳ hoá đơn chưa về, kế toán ghi:

Trang 23

Nợ TK 133 : Thuế GTGT được khấu trừ

Có TK 331 : Giá thanh toán trừ (-) giá tạm tính

Trường hợp 3: Hoá đơn về trước, vật tư về sau:

Khi hoá đơn về lưu hoá đơn vào tập hồ sơ hàng đang đi đường

+ Nếu trong kỳ vật tư về, hạch toán giống trường hợp 1

+ Cuối kỳ vật tư chưa về, kế toán ghi:

Ngày đăng: 06/11/2015, 16:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1:  Quy trình lập và luân chuyển chứng từ về NVL - Bàn về quá trình cung cấp nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp theo chế độ kế toán hiện hành
Sơ đồ 1.1 Quy trình lập và luân chuyển chứng từ về NVL (Trang 16)
Sơ đồ 1.2   Hạch toán chi tiết NVL theo phương pháp thẻ song song - Bàn về quá trình cung cấp nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp theo chế độ kế toán hiện hành
Sơ đồ 1.2 Hạch toán chi tiết NVL theo phương pháp thẻ song song (Trang 18)
Sơ đồ 1.3: Hạch toán chi tiết NVL theo phương pháp sổ đối chiếu luân - Bàn về quá trình cung cấp nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp theo chế độ kế toán hiện hành
Sơ đồ 1.3 Hạch toán chi tiết NVL theo phương pháp sổ đối chiếu luân (Trang 19)
Sơ đồ 1.4:     Hạch toán chi tiết NVL theo phương pháp sổ số dư - Bàn về quá trình cung cấp nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp theo chế độ kế toán hiện hành
Sơ đồ 1.4 Hạch toán chi tiết NVL theo phương pháp sổ số dư (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w