- Phát triển sản phẩm và dịch vụ trên thị trường: Công ty chứng khoán và các nhân viên hoạt động trong lĩnh vực dịch vụchứng khoán ở các Công ty chứng khoán đóng vai trò làm cấu nối giữa
Trang 1để lưu thông vốn.
Ở Việt Nam, từ khi chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tậptrung sang cơ chế xã hội chủ nghĩa đã đặt ra yêu cầu phải hình thành và pháttriển từng bước TTCK và quan điểm này đã được thể hiện trong các văn kiệnchính thức của Đảng và Nhà nước Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII củaĐảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra yêu cầu chuẩn bị các điều kiện cần thiết đểtừng bước xây dựng TTCK phù hợp với điều kiện và định hướng phát triểnkinh tế-xã hội của đất nước Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này,Chính phủ đã tiến hành hàng loạt các bước chuẩn bị để thành lập và đưa vàovận hành TTCK Với việc chủ động xây dựng khung pháp lý, xây dựng môhình TTCK, tạo dựng bộ máy QLNN chuyên ngành, thành lập các cơ quan tổchức thị trường và chuẩn bị các điều kiện cần thiết khác mà bước đi đầu tiên làthành lập TTGDCK Tp.HCM, tháng 7/2000, TTCK nước ta chính thức ra đời
và đi vào hoạt động, mở ra kênh huy động vốn trung và dài hạn mới cho nềnkinh tế, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Sựgóp mặt của TTCK ở Việt Nam còn là một sự bổ xung hoàn chỉnh cho mộtcấu trúc thị trường tài chính theo hướng phát triển nền tài chính phù hợp vớichính sách xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
và thêm một lần nữa khẳng định đường lối nhất quán của Đảng phù hợp với xuhướng quốc tế hoá và đưa nền kinh tế hội nhập khu vực và quốc tế
Trang 21.2 Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài
TTCK Việt Nam không hình thành một cách tự phát mà xuất phát từchủ trương của Đảng và Nhà nước Nhà nước đóng vai trò là người xây dựng
và tạo lập thị trường Bởi vậy Nhà nước cũng là chủ thể quản lý mọi hoạt độngcủa TTCK theo yêu cầu của các quy luật kinh tế, đảm bảo tính công khai,minh bạch của thị trường Đó là yêu cầu mang tính khách quan, xuất phát từchức năng nhiệm vụ QLNN
Với mục đích đi sâu tìm hiểu những vấn đề về QLNN đối với hoạt độngdịch vụ chứng khoán của các Công ty chứng khoán Việt Nam, em đã chọn đề
tài luận văn là: “Quản lý Nhà nước đối với Hoạt động dịch vụ chứng khoán của các Công ty chứng khoán Việt Nam”
1.3 Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hoá và làm rõ một số một số nội dung cơ bản về Dịch vụchứng khoán ở các công ty chứng khoán, và quản lý Nhà nước đối với cáchoạt động Dịch vụ chứng khoán của các công ty chứng khoán
- Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động quản lý Nhà nước đối với cáchoạt động Dịch vụ chứng khoán của các công ty chứng khoán Việt Nam trongthời gian qua, từ đó chỉ ra các kết quả đạt được và hạn chế
-Đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý Nhà nước đối với các hoạt độngDịch vụ chứng khoán của các công ty chứng khoán Việt Nam
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận cơ bản về thị trườngchứng khoán, nghiên cứu thống kê, phân tích số liệu, nắm bắt thông tin từ cácphương tiện thông tin đại chúng nhằm tìm ra những thành công và những thấtbại của Nhà Nước đối với các hoạt động Dịch vụ chứng khoán của các công tychứng khoán Việt Nam
Trang 31.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của Nhà nước trong quản lý đối với cáchoạt động Dịch vụ chứng khoán của các công ty chứng khoán Việt Nam Vaitrò này được biều hiện qua các hoạt động cụ thể của Nhà nước trong quản lýcác hoạt động Dịch vụ chứng khoán của các công ty chứng khoán Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Về cơ sở lý thuyết, tập trung nghiên cứu nộidung cơ bản của Công ty chứng khoán và các hoạt động dịch vụ của các Công
ty chứng khoán và QLNN đối với hoạt động dịch vụ của các Công ty chứngkhoán Về phân tích đánh giá thực tiễn thì luận văn đã tập trung nghiên cứuthực trạng QLNN đối với hoạt động dịch vụ chứng khoán của các Công tychứng khoán Việt Nam Đồng thời, luận văn cũng nghiên cứu và đề xuất một
số giải pháp để hoàn thiện công tác QLNN đối với hoạt động dịch vụ chứngkhoán của các Công ty chứng khoán Việt Nam
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Trong thời gian qua, việc giám sát đánh giá các công ty chứng khoáncủa Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã được thực hiện nhưng còn mang nặngtính thủ công, không thống nhất, chỉ dừng lại ở mức đánh giá chỉ tiêu mangtính định lượng và chủ yếu dựa trên cơ sở các báo cáo tài chính của các công
ty Với điều kiện và tình hình thị trường cho thấy việc áp dụng các phươngpháp đánh giá chủ yếu có tính chất định lượng là không đáp ứng đầy đủ yêucầu về quản lý cũng như đòi hỏi cấp bách về tình hình tài chính lành mạnh củacác tổ chức trung gian trên thị trường Chính vì vậy, việc thực hiện đề tài này
có tính thực tiễn cao
1.7 Kết cấu của Luận văn
Chương I: Tổng quan nghiên cứu về Quản lý Nhà nước đối với hoạtđộng dịch vụ chứng khoán của các Công ty Chứng khoán
Trang 4Chương II: Một số vấn đề lý luận về Hoạt động dịch vụ chứng khoáncủa các Công ty Chứng khoán và Quản lý Nhà nước đối với hoạt động dịch vụchứng khoán của các Công ty Chứng khoán.
Chương III:Thực trạng quản lý Nhà nước đối với hoạt động dịch vụchứng khoán của các Công ty Chứng khoán Việt Nam
Chương IV: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý NhàNước đối với hoạt động dịch vụ chứng khoán của các Công ty Chứng khoánViệt Nam
Trang 5CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1 Công ty Chứng khoán và các hoạt động dịch vụ chứng khoán của các Công ty chứng khoán
1.1.1 Khái niệm Công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán là những công ty hoạt động trong lĩnh vựcchứng khoán, có thể đảm nhận một hoặc nhiều trong số các nghiệp vụ chính
là môi giới, quản lý quỹ đầu tư, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứngkhoán và tự doanh
Theo Quyết định số 27/2007/QĐ-BTC ban hành ngày 24/04/2007 của
Bộ trưởng Bộ Tài chính thì Công ty chứng khoán là Tổ chức có tư cách phápnhân, hoạt động kinh doanh chứng khoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộcác hoạt động: Môi giới chứng khoán, tự doanh, bảo lãnh phát hành, tư vấnđầu tư chứng khoán
Đặc điểm của Công ty chứng khoán:
Đặc điểm về vốn: Công ty chứng khoán muốn thành lập phải đáp ứngyêu cầu về mức vốn pháp định mà luật pháp quy định Mức vốn pháp định đốivới từng loại hình kinh doanh được quy định lần lượt như sau: Môi giới chứngkhoán; Tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán; quản lý danh mục đầu tưchứng khoán, bảo quản chứng khoán, cho vay chứng khoán mức vốn phápđịnh là 3 tỷ đồng; Tự doanh chứng khoán là 12 tỷ đồng; Bảo lãnh và phát hànhchứng khoán là 22 tỷ đồng
Trang 6Đặc điểm về nhân sự và đội ngũ lãnh đạo: Đây là lĩnh vực hoạt động cónghiệp vụ phức tạp, có độ rủi ro cao, mức độ ảnh hưởng tới đời sống kinh tế
xã hội lớn nên đòi hỏi nhân viên và lãnh đạo CTCK phải là người có trình độnhất định, có tư cách đạo đức nghề nghiệp và có chứng chỉ hành nghề do cơquan thẩm quyền cấp, bên cạnh đó đối với đội ngũ lãnh đạo đòi hỏi phải cótrình độ quản lý, không vi phạm pháp luật, có giấy phép đại diện do cơ quan
có thẩm quyền cấp
Đặc điểm về cơ sở vật chất kỹ thuật: Công ty chứng khoán phải đápứng yêu cầu về trụ sở phù hợp cho việc kinh doanh chứng khoán (sàn giaodịch, hệ thống trang thiết bị )
Đặc điểm về xung đột lợi ích giữa quyền lợi của khách hàng và Công tychứng khoán: Bên cạnh việc cung ứng dịch vụ tốt nhất cho khách hàng thìgiữa Công ty chứng khoán và khách hàng đôi khi xảy ra mâu thuẫn về lợi ích,đặc điểm này tạo ra sự khác biệt trong hoạt động của Công ty chứng khoántrên TTCK so với các loại hình kinh doanh trong các lĩnh vực khác Ví dụ:Hoạt động tự doanh hiện nay được xem là một trong những hoạt động quantrọng nhất của các công ty chứng khoán tại Việt Nam trong việc nâng cao lợinhuân Tuy nhiên, do nghiệp vụ tự doanh và môi giới dễ nảy sinh xung đột lợiích nên nhà nước thường quy định các công ty chứng khoán phải tổ chức thựchiện 2 nghiệp vụ ở 2 bộ phận riêng biệt nếu công ty chứng khoán đó được thựchiện cả 2 nghiệp vụ
1.1.2 Mô hình hoạt động của Công ty chứng khoán:
Trên thế giới hiện nay có 2 loại mô hình hoạt động của công ty chứngkhoán:
- Công ty chuyên doanh chứng khoán:
Theo mô hình này, hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các công
ty độc lập, chuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận; các ngânhàng không được trực tiếp tham gia kinh doanh chứng khoán
Trang 7Ưu điểm của mô hình này:
- Hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng
- Tạo điều kiện cho TTCK phát triển do tính chuyên môn hóa cao hơn
Mô hình này được áp dụng ở nhiều nước như Mỹ, Nhật, Canada…
- Công ty đa năng kinh doanh tiền tệ và chứng khoán:
Theo mô hình này, các ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách làchủ thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ
Mô hình này có ưu điểm là ngân hàng có thể đa dạng hóa, kết hợp nhiều lĩnhvực kinh doanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro cho hoạt động kinh doanh chung, khảnăng chịu đựng các biến động của TTCK là cao Mặt khác, ngân hàng tậndụng được thế mạnh về vốn để kinh doanh chứng khoán; khách hàng có thể sửdụng được nhiều dịch vụ đa dạng và lâu năm của ngân hàng
Tuy nhiên, mô hình này bộc lộ một số hạn chế như không phát triểnđược thị trường cổ phiếu do các ngân hàng có xu hướng bảo thủ, thích hoạtđộng tín dụng truyền thống hơn là bảo lãnh phát hành cổ phiếu, trái phiếu Mặtkhác, theo mô hình này, nếu có biến động trên TTCK sẽ ảnh hưởng mạnh đếnhoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng, dễ dẫn đến các cuộc khủng hoảngtài chính
Do những hạn chế trên mà trước đây Mỹ và nhiều nước khác đã ápdụng mô hình này, nhưng sau cuộc khủng hoảng năm 1933, đa số các nước đãchuyển sang mô hình chuyên doanh chứng khoán, chỉ có Đức vẫn duy trì đếnngày nay
Tại Việt Nam, do quy mô các ngân hàng thương mại nói chung là rấtnhỏ bé, và đặc biệt vốn dài hạn rất thấp, hoạt động của các ngân hàng thươngmại Việt Nam chủ yếu trong lĩnh vực tín dụng thương mại ngắn hạn, tronghoạt động của TTCK thuộc lĩnh vực vốn dài hạn Khả năng khắc phục nhữngđiểm yếu này của ngân hàng Việt Nam còn rất lâu dài Do đó, để bảo vệ an
Trang 8toàn cho các ngân hàng, Nghị định 144/CP về chứng khoán và TTCK quyđịnh các Ngân hàng thương mại muốn kinh doanh chứng khoán phải tách ramột phần vốn tự có của mình thành lập một Công ty chứng khoán chuyêndoanh trực thuộc, hạch toán độc lập với ngân hàng.
1.1.3 Khái niệm dịch vụ chứng khoán
Dịch vụ chứng khoán là việc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằmmục đích sinh lợi Vì vậy, dịch vụ chứng khoán là hoạt động do các tổ chứckinh doanh chứng khoán cung cấp cho khách hàng như: Môi giới chứngkhoán, bảo lãnh phát hành, quản lý tài sản, tư vấn tài chính nhằm mục đíchsinh lợi
1.1.4 Các hoạt động Dịch vụ Chứng khoán:
1.1.4.1 Môi giới chứng khoán:
- Khái niệm môi giới: Là hoạt động nghiệp vụ mang tính chuyên nghiệpcao, yêu cầu người môi giới phải có kỹ năng, có chuyên môn, có trình độnghiệp vụ, có đạo đức nghề nghiệp, đồng thời yêu cầu phải có môi trường hỗtrợ khá đa dạng , bao gồm bộ máy tổ chức, môi trường pháp luật, văn hóa, xãhội cùng với trang thiết bị cần thiết
Như vậy: nghề môi giới chứng khoán là công việc chuyên môn của các
cá nhân và tổ chức theo sự phân công lao động xã hội, đó là làm trung giangiúp cho việc mua, bán chứng khoán được thực hiện, kết nối nhu cầu của bênmua với nhu cầu của bên bán chứng khoán
- Chức năng của hoạt động môi giới chứng khoán: Có hai chức năngchính là Cung cấp thông tin, tư vấn cho khách hàng và Cung cấp sản phẩm vàdịch vụ tài chính giúp khách hàng thực hiện các giao dịch theo yêu cầu và lợiích của khách hàng
- Vai trò của hoạt động môi giới: Vai trò trung gian, kênh huy động vốnhiệu quả cho đầu tư và phát triển kinh tế; Giảm chi phí giao dịch; Tư vấn đầu
Trang 9tư chứng khoán; Tạo ra sản phẩm mới, phát triển sản phẩm và dịch vụ; Cảithiện môi trường kinh doanh.
1.1.4.2 Tư vấn đầu tư chứng khoán:
- Khái niệm: Là việc thu thập, xử lý thông tin, đưa ra lời khuyên, phântích tình huống hoặc thực hiện một số công việc có tính chất cung cấp dịch vụcho khách hàng Cũng có thể hiểu hoạt động này là hoạt động phân tích, đưa
ra khuyến nghị liên quan đến mua bán, nắm giữ chứng khoán hoặc công bố vàphát hành các ấn phẩm có liên quan đến chứng khoán
- Những nguyên tắc cơ bản của hoạt động tư vấn đầu tư:
Nguyên tắc trung thực và công bằng; Nguyên tắc bảo mật thông tin chokhách hàng; Nguyên tắc tư vấn khách quan; Nguyên tắc đầy đủ và chi tiết;Nguyên tắc tư vấn theo khả năng của khách hàng; Nguyên tắc thông tin hỗ trợ
- Vai trò của hoạt động tư vấn: Cung cấp thông tin đầy đủ và chi tiếtcho nhà đầu tư về thu nhập, rủi ro của các loại chứng khoán, về các cơ hội đầu
tư, xu hướng đầu tư và phát triển của TTCK, cung cấp thông tin, phân tích báocáo tài chính của tổ chức phát hành; Cung cấp thông tin về các quy định phápluật liên quan đến nhà đầu tư trên TTCK; Nâng cao uy tín của mình trên thịtrường, tận dụng được mối quan hệ tốt với khách hàng đến tư vấn; Tạo lợinhuận cho công ty chứng khoán và bản thân tư vấn viên
1.1.4.3 Quản lý danh mục đầu tư:
Công ty chứng khoán: Nhận vốn và ủy quyền của khách hàng; Đầu tưvốn của khách hàng vào chứng khoán (mua/bán) nhằm mục đích vốn củakhách hàng đạt được mức sinh lời tối ưu nhất
Khách hàng: Không trực tiếp thực hiện đầu tư mà ủy quyền cho công tychứng khoán đầu tư thay mình Mục đích: có tiền tích lũy; Mong muốn tiềncủa mình sinh lời trên mức thông thường; chấp nhận đôi chút mạo hiểm;không có đủ điều kiện chuyên môn cần thiết để tự đầu tư hiệu quả
Trang 10- Tư vấn tài chính: Tư vấn cổ phần hóa, tư vấn phát hành, tư vấn niêmyết, tư vấn sát nhập, mua bán doanh nghiệp
- Bảo lãnh phát hành:
+ Khái niệm: Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc tổ chức bảo lãnhgiúp tổ chức phát hành thực hiện thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổchức việc phân phối chứng khoán, nhận mua một phần hay toàn bộ chứngkhoán còn lại chưa phân phối hết và giúp bình ổn giá chứng khoán trong giaiđoạn đầu sau khi phát hành
+ Vai trò của bảo lãnh phát hành: Qua hoạt động tư vấn tài chính, tổchức bảo lãnh giúp tổ chức phát hành xem xét lại công tác quản lý tài chính,phát hiện ra các mặt tích cực cũng như các yếu kém, từ đó tư vấn cho tổ chứcphát hành các biện pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính, nâng cao hiệuquả sử dụng vốn huy động được từ đợt phát hành; Mang lại nguồn thu nhậpkhá tốt cho các tổ chức bảo lãnh phát hành, đặc biệt vào những giai đoạn nềnkinh tế đang cần vốn
- Lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán:
Hệ thống lưu ký chứng khoán là một trong các thành tố cốt yếu trongcấu trúc hạ tầng của thị trường chứng khoán, đóng vai trò quản lý, lưu giữ và
xử lý thông tin về sở hữu chứng khoán của người đầu tư thông qua hệ thốngcác sổ sách theo dõi và quản lý thông tin dưới dạng tài khoản chứng khoán ghi
sổ, đồng thời còn thực hiện chức năng liên quan đến thanh toán giao dịch, thựchiện quyền cho người sở hữu như quyền nhận cổ tức, lãi trái phiếu, phát hànhthêm
+ Vai trò của hệ thống lưu ký chứng khoán:
Các hoạt động nghiệp vụ phát sinh trong hệ thống lưu ký như thanhtoán giao dịch, ghi nhận quyền sở hữu của người đầu tư đều hướng đến mụctiêu cuối cùng là tạo sự tiện dụng tối đa, nhưng cũng an toàn để tránh gây ra
Trang 11các rủi ro cho người đầu tư; Hệ thống lưu ký là tiền đề cho việc thiết lập cáchình thức tổ chức thị trường giao dịch quy mô lớn, thông qua hệ thống chứngkhoán sẽ được lưu ký tập trung, và thông tin sở hữu chứng khoán sẽ đượcTrung tâm lưu ký quản lý dưới hình thức ghi sổ tài khoản, thay vì các nhà đầu
tư tự mình nắm giữ chứng chỉ chứng khoán một cách phân tán
- Hoạt động phụ trợ của các công ty chứng khoán: Tư vấn tái cơ cấu tàichính; Tư vấn mua bán, sát nhập doanh nghiệp; Nghiệp vụ tín dụng; Nghiệp
vụ mua ký quỹ
1.1.5 Vai trò của Dịch vụ Chứng khoán:
- Giảm chi phí giao dịch:
Trên thị trường của những hàng hóa thông thường, để tiến hành giaodịch, người mua và người bán phải gặp gỡ nhau, thỏa thuận giá cả, kiểm trachất lượng hàng hóa Tuy nhiên, trên TTCK, do hàng hóa là những sản phẩmtài chính bậc cao, vì vậy không dễ gì mà khách hàng có thể tiếp cận mua báncũng như kiểm tra chất lượng; nếu có thì chi phí để thu thập, xử lý các thôngtin liên quan đến các loại CK và tiến hành giao dịch là rất lớn Để tạo thuận lợicho khách hàng, CTCK sẽ đứng ra làm các công việc đó, bởi vì chỉ có CTCKhoạt động chuyên nghiệp mới có thể trang trải được khoản chi phí khổng lồ
ấy Như vậy, vai trò của các hoạt động dịch vụ chứng khoán là tiết kiệm chiphí cho từng giao dịch cụ thể cũng như hoạt động tổng thể của toàn thị trường,nhờ đó giúp nâng cao tính thanh khoản cho các loại chứng khoán nói riêng vàcho TTCK nói chung
- Phát triển sản phẩm và dịch vụ trên thị trường:
Công ty chứng khoán và các nhân viên hoạt động trong lĩnh vực dịch vụchứng khoán ở các Công ty chứng khoán đóng vai trò làm cấu nối giữa ngườicác nhà đầu tư với nhau và với tổ chức phát hành, nắm bắt được nhu cầu củakhách hàng Nhờ đó, sản phẩm dịch vụ cũng cấp cho nhà đầu tư ngày càng đa
Trang 12dạng, khách hàng ngày càng nhiều, dẫn đến khả năng thu hút được khối lượnglớn vốn nhàn rỗi trong xã hội phục vụ tăng trưởng kinh tế.
- Cải thiện môi trường kinh doanh:
Vai trò cải thiện môi trường kinh doanh của hoạt động dịch vụ chứngkhoán được thể hiện ở các khía cạnh cơ bản sau đây:
Thông qua các hoạt động dịch vụ chứng khoán sẽ góp phần hình thànhnền văn hóa đầu tư
Các hoạt động dịch vụ chứng khoán của các Công ty chứng khoán khixâm nhập sâu rộng vào cộng đồng các doanh nghiệp và nhà đầu tư thì sẽ làmột yếu tố quan trọng tạo ra thói quen và ý thức đầu tư cho họ Trong nềnkinh tế quốc dân, lượng vốn nhàn rỗi tồn tại trong đại bộ phận dân chúng là rấtlớn, trong khi đó nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh cũng như phát triểnkinh tế ngày một tăng Công ty chứng khoán đem những sản phẩm tài chínhgiới thiệu cho những khách hàng tiềm năng, giải thích cho họ cách sử dụngcũng như những lợi ích mà chúng có thể đem lại Như vậy, lâu dần các hoạtđộng dịch vụ chứng khoán sẽ hình thành nên thói quen đầu tư vào tài sản tàichính thay vì sử dụng tiền dư thừa một cách lãng phí Tham gia vào hoạt độngđầu tư tài chính, dần dần họ sẽ tích lũy được những kinh nghiệm cần thiết, biếtchấp nhận rủi ro để mong tìm kiếm những khoản lợi nhuận lớn cho mình Mặtkhác, niềm tin của nhà đầu tư vào các công ty CK cũng được nâng lên, họ cóthể sẵn sàng ủy thác cho công ty chứng khoán thực hiện các dịch vụ, trao đổimua bán… mà họ có nhu cầu
- Tăng chất lượng và hiệu quả của dịch vụ nhờ cạnh tranh:
Một công ty chứng khoán muốn hoạt động hiệu quả thì cần thiết phải thuhút được nhiều khách hàng đến với mình Trong đó các hoạt động dịch vụchứng khoán nắm vai trò chủ đạo Các nhân viên hoạt động trong lĩnh vựcdịch vụ bằng các mối quan hệ, bằng chất lượng dịch vụ của mình thu hút đượccàng nhiều khách hàng đến với công ty mình càng tốt Muốn vậy, các nhân
Trang 13viên môi giới phải luôn luôn trau dồi và nâng cao kiến thức nghiệp vụ, tạođiều kiện giúp đỡ các nhà đầu tư, bên cạnh đó công ty cũng phải không ngừngcải tiến các dịch vụ để giữ chân khách hàng Nếu không làm được như vậy thìkhách hàng sẽ tìm đến các công ty khác có chất lượng phục vụ tốt hơn, dẫnđến doanh thu từ các dịch vụ chứng khoán giảm, hiệu quả hoạt động của toàncông ty cũng bị giảm sút.
1.2 Quản lý Nhà nước đối với hoạt động Dịch vụ Chứng khoán của các Công ty Chứng khoán.
1.2.1 Khái niệm về Quản lý Nhà nước đối với hoạt động Dịch vụ Chứng khoán của các Công ty Chứng khoán.
Khi xã hội loài người xuất hiện thì nhu cầu quản lý cũng hình thành.Trình độ quản lý phát triển theo sự phát triển của xã hội qua các phương thứcsản xuất khác nhau Ngày nay, trong ba yếu tố cơ bản quyết định tới sự pháttriển của xã hội là sức lao động, tri thức và trình độ quản lý thì quản lý đượccoi là yếu tố quan trọng hàng đầu
“Quản lý là sự tác động liên tục, có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng bị quản lý) trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội … thông qua hệ thống pháp luật, các chính sách, các nguyên tắc, các quy định và bằng các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra mội trường và tạo điều kiện cho sự phát triển của đối tượng
bị quản lý”.
Quy mô của quản lý có thể khác nhau: toàn cầu, khu vực, quốc gia,ngành, đơn vị… Quy mô khác nhau thì tính chất của quản lý cũng khác nhau.Quản lý ở phạm vi quốc gia được coi là quản lý Nhà nước, quản lý ở một đơn
vị kinh doanh được coi là quản lý kinh doanh (quản trị kinh doanh)…
Dịch vụ Chứng khoán là một lĩnh vực hoạt động trong nền kinh tế mộtquốc gia Vì vậy:
Trang 14“Quản lý Nhà nước đối với hoạt động Dịch vụ Chứng khoán của các Công ty Chứng khoán là sự quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với các hoạt động xây dựng, vận hành và phát triển các hoạt động Dịch vụ Chứng khoán của các Công ty Chứng khoán”.
1.2.2 Mục tiêu Quản lý Nhà nước đối với hoạt động Dịch vụ Chứng khoán của các Công ty Chứng khoán.
+ Đảm bảo sự trung thực
Đặc tính của khu vực chứng khoán là rủi ro hệ thống, một biến cố nhỏcũng gây ra sự bất ổn cho nền kinh tế Vì vậy, trong quản lý nhà nước, việcbảo đảm tính trung thực, cạnh tranh lành mạnh của hoạt động dịch vụ chứngkhoán nói riêng và Thị trường Chứng khoán nói chung là mục tiêu quan trọng.Một số hoạt động cần thiết nhằm giảm tối thiểu rủi ro hệ thống và khuyếnkhích tham gia thị trường như:
- Các biện pháp an toàn để đảm bảo khả năng thanh toán của một địnhchế tài chính, từ đó duy trì lòng tin vào hệ thống tài chính nói chung và bảo vệnhững tiết kiệm cá nhân
- Khuyến khích các hệ thống thanh toán hiệu quả và ổn định, có thểgiảm việc tích tụ rủi ro cùng loại, tăng cường khả năng quản lý rủi ro của cácđịnh chế tài chính riêng lẻ và ngăn chặn các ảnh hưởng dây chuyền cũng nhưcác vụ khủng hoảng tài chính
- Ngăn chặn các hành vi lừa đảo, lũng đoạn, giao dịch nôi gián và các
vi phạm khác của các Công ty chứng khoán
+ Đảm bảo sự công bằng
Sự công bằng là một phương tiện để bảo vệ sự cạnh tranh và đảm bảotính trung thực, lành mạnh của các hoạt động Dịch vụ Chứng khoán Muốnhoạt động quản lý có hiệu quả cần phải có biện pháp đảm bảo tính công bằngcủa các hoạt động Dịch vụ Chứng khoán
Trang 15Tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nhỏ và kém tinh thông nghiệp vụ đầu
tư vào các loại tài sản chính hợp lý với họ và bảo vệ họ khỏi các vi phạm củacác công ty chứng khoán
+ Đảm bảo hiệu quả
Một hệ thống dịch vụ chứng khoán mà quản lý được xem là có hiệu quảcần phải được xem xét cả về khía cạnh tiết kiệm chi phí và lợi ích thu được.Tính hiệu quả tỷ lệ thuận với kết quả và tỷ lệ nghịch với chi phí Kết quả đượcđánh giá chủ yếu thông qua việc thực hiện chức năng huy động vốn dễ, rẻ,luân chuyển vốn, phân bổ và sử dụng nguồn vốn một cách hợp lý, thu được lợi
từ các dịch vụ chứng khoán mang lại…
1.2.3 Chức năng, nhiệm vụ quản lý Nhà nước đối với các hoạt động Dịch vụ Chứng khoán của các Công ty Chứng khoán
+ Chức năng quản lý Nhà nước đối với các hoạt động Dịch vụ Chứng khoáncủa các Công ty Chứng khoán
Quản lý là một hình thức đặc biệt của hoạt động điều hành, là sản phẩmcủa tiến trình phân công lao động và chuyên môn hoá việc quản lý Ở hầu hếtcác nước đang phát triển, các chủ thể quản lý các hoạt động Dịch vụ Chứngkhoán có hai chức năng chính: Duy trì sự ổn định của các hoạt động Dịch vụChứng khoán; tạo điều kiện để phát triển các hoạt động Dịch vụ Chứng khoán,làm cho các hoạt động Dịch vụ Chứng khoán có thể cạnh tranh và thích ứngvới những thay đổi của thị trường
Với chức năng ổn định các hoạt động Dịch vụ Chứng khoán, tức là phảitạo lập một thị trường có kỷ luật, an toàn, trật tự, bảo vệ lợi ích giữa các bên,đảm bảo phát triển bền vững đóng góp cho nền kinh tế thì các nhà quản lý phảixác định được nên cho phép đối tượng nào tham gia vào các hoạt động Dịch
vụ Chứng khoán, tiêu chuẩn tham gia gồm những yếu tố gì, xác định phảiquản lý cái gì và giám sát cái gì Với chức năng phát triển thì các nhà quản lýphải tạo động lực thúc đẩy và tạo điều kiện tối đa cho các hoạt động Dịch vụ
Trang 16Chứng khoán ở các Công ty chứng khoán Các chức năng này được sử dụngvào hoàn cảnh khác nhau, tuy nhiên trong hoạt động quản lý Nhà nước thì cácchức năng này thường được áp dụng một cách đồng bộ.
+ Nhiệm vụ quản lý Nhà nước đối với các hoạt động Dịch vụ Chứng khoáncủa các Công ty Chứng khoán
Quản lý nhà nước đối với các hoạt động Dịch vụ Chứng khoán của cácCông ty Chứng khoán được cụ thể hoá ở một số nhiệm vụ sau:
Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về các hoạt động Dịch vụChứng khoán của các Công ty Chứng khoán; Xây dựng chiến lược, chínhsách, kế hoạch hoạt động và phát triển các hoạt động Dịch vụ Chứng khoáncủa các Công ty Chứng khoán với từng bước đi cụ thế và thích hợp với điềukiện văn hoá, kinh tế, chính trị, xã hội, dân trí và các điều kiện khác
Cấp, gia hạn, đình chỉ, thu hồi các loại giấy phép liên quan đến việchoạt động dịch vụ chứng khoán và thu lệ phí cấp giấy phép theo quy định củapháp luật
Tổ chức và quản lý thị trường Giao dịch Chứng khoán có tổ chức vàquản lý các tổ chức trung gian, tổ chức phụ trợ trong hoạt động Dịch vụChứng khoán
Xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy của TTCK như: Cơ quan quản lýNhà nước, Sở Giao dịch Chứng khoán, thị trường Giao dịch Chứng khoán, thịtrường lưu ký Chứng khoán, Công ty Chứng khoán, Công ty quản lý quỹ…
Tăng cường sự phối hợp giữa các tổ chức, các cá nhân là thành viêntham gia các hoạt động Dịch vụ Chứng khoán để tạo được sự thống nhất trongmọi hoạt động của TTCK
Điều chỉnh, xử lý các hành vi sai phạm trong hoạt động Dịch vụ Chứngkhoán như mua bán gian lận, đầu cơ,… tạo công bằng và bảo vệ lợi ích cho
Trang 17nhà đầu tư Mặt khác, tạo các điều kiện thuận lợi, khuyến khích những hoạtđộng tích cực trên thị trường.
Thực hiện công tác kiểm tra định kỳ, bất thường nhằm phát hiện cáchành vi vi phạm pháp luật, thực hiện tổng kết thống kê nhằm tổng hợp cáchoạt động Dịch vụ Chứng khoán của các Công ty Chứng khoán
1.2.4 Các nguyên tắc cơ bản trong quản lý Nhà nước đối với hoạt động Dịch
vụ Chứng khoán của các Công ty Chứng khoán.
+ Nguyên tắc thống nhất quản lý về chính trị và kinh tế
Nguyên tắc này cũng được áp dụng trong quản lý Nhà nước đối với cáchoạt động Dịch vụ Chứng khoán của các Công ty Chứng khoán Các hoạtđộng Dịch vụ Chứng khoán của các Công ty Chứng khoán không chỉ mang lạilợi ích mang tính kinh tế cho cả Công ty chứng khoán và thị trường chứngkhoán mà còn có cả các yếu tố chính trị trong đó Chính vì thế, trong quản lýcác hoạt động này, sự kết hợp giữa kinh tế và chính trị là một yêu cầu bắtbuộc
+ Nguyên tắc tập trung dân chủ
Tập trung dân chủ là tập trung điều hành vào một cơ quan quyền lực caonhất Đây là cơ quan vạch ra đường lối, điều lệ, quy chế, phương hướng, đườnglối, mục tiêu tổng quát và đề ra các biện pháp cơ bản, chủ yếu để thực hiện.Tính dân chủ trong quản lý thể hiện ở chỗ mọi người có thể tham gia bàn bạc,đóng góp ý kiến để tìm ra các biện pháp khả thi nhất cho quá trình thực hiện
Nếu sự tập trung quyền hạn bị lạm dụng trong quản lý các hoạt độngDịch vụ Chứng khoán của các Công ty Chứng khoán thì sẽ làm hỏng các chứcnăng lành mạnh của TTCK Do đó, người làm công tác quản lý cần có sự điềuchỉnh mức độ dân chủ tuỳ theo sự phát triển của các hoạt động Dịch vụ Chứngkhoán của các Công ty Chứng khoán với sự tập trung quyền lực quản lý nhấtđịnh
Trang 18+ Nguyên tắc kết hợp giữa các lợi ích kinh tế
Trên thực tế luôn có lợi ích khác nhau giữa chủ thể và khách thể quản
lý, có sự mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích toàn xã hội.Vai trò của công tác quản lý lúc này là phải tìm cách kết hợp, thoả mãn các lợiích theo đúng nhu cầu, đảm bảo cho các lợi ích không đối lập nhau, hỗ trợthúc đẩy nhau phát triển Vấn đề này đòi hỏi công tác quản lý phải chú trọngtới từng loại lợi ích trong từng mặt hoạt động như đầu tư, huy động vốn, phânchia lợi nhuận, ban hành các quy định…
+ Nguyên tắc hiệu quả
Tiết kiệm là hạn chế chi phí đến mức tối thiểu mà vẫn đem lại hiệu quảtối đa Tiết kiệm là nhằm để giảm thiểu chi phí nhưng chỉ có ý nghĩa khi thựchiện nó mang tính hiệu quả Hiệu quả là kết quả cuối cùng của hoạt động được
đo bằng giá trị, vật phẩm, thời gian tác động,…Tiết kiệm và hiệu quả luôn đivới nhau và nó là thước đo để đánh giá kết quả cuối cùng của quản lý
Các hoạt động Dịch vụ Chứng khoán của các Công ty Chứng khoán là
mô hình tiêu biểu nhất về tính hiệu quả vì bản thân các hoạt động này đã mangtrong nó tính tiết kiệm chi phí và nhằm tới hiệu quả kinh tế cao nhất vì đây làmôi trường thuận lợi nhất cho các nguồn vốn từ các nhà đầu tư Quá trình đầu
tư thông qua hoạt động Dịch vụ Chứng khoán của các Công ty Chứng khoánđược thực hiện với chi phí thấp nhưng mang lại hiệu quả cao Vì vậy, đảm bảonguyên tắc này tức là đảm bảo cho các hoạt động Dịch vụ Chứng khoán củacác Công ty Chứng khoán được hoạt động hiệu quả và phát huy những chứcnăng vốn có của nó Nguyên tắc này được coi là tiêu chí áp dụng cho bất kìchính sách nào bởi mỗi chính sách đem lại lợi ích cũng kèm theo đó là chi phí.Nếu chi phí lớn hơn lợi ích đem lại thì việc áp dụng các chính sách đó làkhông có tác dụng
Trang 191.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý Nhà nước đối với hoạt động Dịch vụ Chứng khoán của các Công ty Chứng khoán.
Hoạt động quản lý Nhà nước đối với hoạt động Dịch vụ Chứngkhoán của các Công ty Chứng khoán chịu tác động của nhiều yếu tố khácnhau, bao gồm:
+ Các nhân tố kinh tế:
Quá trình quản lý Nhà nước đối với các hoạt động Dịch vụ Chứngkhoán của các Công ty Chứng khoán chịu ảnh hưởng chi phối của các yếu tốkinh tế như: Quy mô kinh tế, trình độ phát triển nền kinh tế Sự đa dạng vềhình thức tồn tại và tính phức tạp trong hoạt động Dịch vụ Chứng khoán củacác Công ty Chứng khoán và các thành phần kinh tế tham gia TTCK sẽ đặt rayêu cầu đối với công tác quản lý Nhà nước là phải có các chính sách, biệnpháp phù hợp để dung hoà lợi ích của các thành phần này khi khai thác tối đathế mạnh của họ
+ Các nhân tố về chính trị và thể chế Nhà nước:
Thể chế chính trị và đường lối lãnh đạo của Đảng cầm quyền của mộtĐất nước chi phối đến mục tiêu, phương hướng xây dựng và phát triển thịtrường Chứng khoán nước đó, trong đó có các hoạt động Dịch vụ Chứngkhoán của các Công ty Chứng khoán Bên cạnh đó, sự ổn định hay bất ổn vềmặt chính trị sẽ có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến các hoạt động Dịch
vụ Chứng khoán của các Công ty Chứng khoán
Trang 20+ Thực trạng phát triển các hoạt động Dịch vụ Chứng khoán của các Công tyChứng khoán.
Trong mỗi hệ thống quản lý, chủ thể quản lý sử dụng các công cụ vàphương thức quản lý tác động lên đối tượng quản lý theo mục tiêu đề ra.Ngược lại, đối tượng và khách thể của quản lý cũng phản ứng trở lại đối vớichủ thể quản lý Các hoạt động Dịch vụ Chứng khoán của các Công ty Chứngkhoán là đối tượng quản lý của Nhà nước cho nên thực trạng phát triển của cáchoạt động này có tác động đến việc ban hành và triển khai các chính sách quản
lý phát triển của Nhà nước Thực trạng hoạt động các Dịch vụ Chứng khoáncủa các Công ty Chứng khoán vừa là cơ sở để Nhà nước ban hành các chínhsách, biện pháp khắc phục những tồn tại của các hoạt động Dịch vụ Chứngkhoán, vừa là căn cứ để Nhà nước đề ra các biện pháp thúc đẩy thị trường pháttriển theo định hướng và mục tiêu đề ra
+ Các nhân tố khác:
Hoạt động quản lý Nhà nước đối với các Dịch vụ Chứng khoán của cácCông ty Chứng khoán còn chịu tác động bởi các nhân tố khác như: Trình độứng dụng tin học trong quản lý, truyền thống bản sắc văn hoá dân tộc, trình độ
Trang 21và kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ quản lý trong ngành chứng khoán và cácngành có liên quan, lịch sử phát triển kinh tế và thị trường Chứng khoán …Trong đó yếu tố lịch sử thường đặt ra các vấn đề về cải cách và hoàn thiện môhình và tổ chức quản lý.
1.2.6 Các biện pháp quản lý Nhà nước đối với hoạt động Dịch vụ Chứngkhoán của các Công ty Chứng khoán
Biện pháp quản lý là tổng thể những cách thức tác động đến cá nhânhay tập thể nhằm khuyến khích họ thực hiện tốt công việc Khác với nguyêntắc quản lý là những yêu cầu bắt buộc phải tuân theo thì biện pháp quản lý lànhững cách thức linh hoạt mà người quản lý có thể tuỳ chọn và sử dụng phốihợp theo ý mình nhằm tạo ra hiệu quả quản lý cao nhất Do đó biện pháp quản
lý có rất nhiều, hình thức và cách áp dụng cũng khác nhau Một số biện phápquản lý điển hình thường được sử dụng là:
+ Biện pháp tuyên truyền, giáo dục
Các dịch vụ chứng khoán của các Công ty chứng khoán đa dạng, ra đờinhằm phục vụ chủ yếu cho các nhà đầu tư đồng thời để thu lơi nhuận cho công
ty chứng khoán, thông qua các hoạt động môi giới, tư vấn đầu tư, bảo lãnhphát hành… công ty chứng khoán làm cầu nối giữa người mua và người bán,cung cấp cho nhà đầu tư các thông tin cần thiết, khuyến nghị các đầu tư muabán cổ phiếu… làm căn cứ cho nhà đầu tư đưa ra quyết định của mình
Thị trường chứng khoán Việt Nam còn khá non trẻ, các nhà đầu tư thực
sự còn thiếu nhiều hiểu biết trong lĩnh vực đầu tư của mình
Để tạo điều kiện cho các hoạt động dịch vụ chứng khoán của các Công
ty chứng khoán nói riêng và thị trường chứng khoán nói chung phát triển bềnvững và hiệu quả, Nhà nước cần thiết phải tăng cường phổ biến các kiến thức
về thị trường chứng khoán cho nhà đầu tư, cung cấp cho nhà đầu tư kiến thức
về các dịch vụ chứng khoán để nhà đầu tư lựa chọn cũng như có thể hiểu vềnhững lợi ích của mình khi lựa chọn các dịch vụ này, trang bị cho họ những kĩ
Trang 22năng để họ có thể đầu tư một cách hiệu quả nhất, tự chịu trách nhiệm về cácquyết định đầu tư của mình, tự phòng chống được các rủi ro khi tham gia trênthị trường,… Vì thế yếu tố giáo dục, xây dựng tâm lý cho người tham gia thịtrường là cực kì quan trọng
+ Biện pháp hành chính luật pháp
Biện pháp này có tác động trực tiếp và có vai trò lớn nhất trong cácbiện pháp quản lý của Chính phủ đặc biệt là trong lĩnh vực Dịch vụ Chứngkhoán bởi ở những lĩnh vực này mọi hoạt động đang đều ở giai đoạn đanghoàn thiện và bắt đầu phát triển, hơn thế nữa là ngành dịch vụ phức tạp Nhànước đóng vai trò chính trong việc điều hành và hướng dẫn Ngoài ra, cho dù
ở bất kỳ hoạt động dịch vụ chứng khoán nào thì hình thức quản lý cơ bản nhấtvẫn là luật pháp Bởi đây là một lĩnh vực đầy tính phức tạp thì luật pháp rõràng gần như là một điều kiện tiên quyết để có một thị trường hoạt động trongkhuôn khổ và ổn định Luật pháp về chứng khoán phải được hiểu là cả một hệthống gồm Luật Chứng khoán và các Luật khác như Luật Doanh nghiệp, LuậtĐầu tư… Vì vậy, việc xây dựng một hệ thống luật pháp không chỉ đơn thuần
là việc cho ra đời Luật Chứng khoán mà còn bao gồm cả việc điều chỉnh vàhoàn thiện dần các luật liên quan để tạo môi trường pháp lý đầy đủ cho sựhình thành và phát triển các hoạt động Dịch vụ Chứng khoán
Trên thực tế, rõ ràng không thể có được một hệ thống luật pháp hoànthiện lý tưởng ngay từ khi các hoạt động Dịch vụ Chứng khoán của các Công
ty Chứng khoán mới hình thành Do dó, biện pháp quản lý hành chính là điềucần thiết để điều chỉnh và xử lý những hành vi có nguy cơ hoặc đã gây thiệthại cho thị trường, nhất là những thị trường mới nổi Điều này còn đúng hơnvới ngành Dịch vụ Chứng khoán đang còn thiếu những chuyên gia giỏi vềkiểm toán, kế toán, hệ thống hành pháp, thiếu những người có hiểu biết về Thịtrường Chứng khoán
Trang 23+ Biện pháp tổ chức
Tổ chức là định hình các cơ cấu bộ phận tạo thành, xác lập chức năng,quyền hạn, nhiệm vụ và phạm vi hoạt động của từng bộ phận, đặt các bộ phậntrong quan hệ đối tác phù hợp, trong một tổng thể hoàn chỉnh Thể chế hoá tổchức là quá trình Nhà nước quy định cơ cấu tổ chức, vạch ranh giới cho từngcấp quản lý bằng các văn bản pháp luật, các văn bản quy định chức năng, nhiệm
vụ, cơ cấu tổ chức của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, là những cơ quan quản lýNhà nước theo lĩnh vực chuyên môn; Quy định cơ cấu tổ chức, chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn của Doanh nghiệp Nhà nước hoặc cơ cấu tổ chức của cáctập đoàn kinh tế xuyên quốc gia, điều lệ doanh nghiệp, điều lệ công ty…
Trong quản lý, sự tác động của tổ chức có ý nghĩa hiệu quả và thiếtthực Nó chỉ cho mọi người, mọi cấp biết trước phải hoạt động theo trật tự quyđịnh trước, nhằm đạt được những chỉ tiêu định trước Mặt khác, tổ chức có thểgây cản trở nếu quy định quá chi tiết, cứng nhắc khiến người thừa hành khôngphát huy được sáng kiến, mất tính linh hoạt, sáng tạo
Do đó, bên cạnh công tác tổ chức phải có sự điều khiển trực tiếp, là sựđôn đốc, chỉ đạo cụ thể nhằm điều chỉnh kịp thời những sai lệch so với mụctiêu đề ra Đó là hình thức tác động tích cực và linh hoạt nhất của biện phápquản lý Tổ chức và điều khiển cần được thực hiện phối hợp lẫn nhau trongquá trình quản lý
+ Biện pháp kinh tế
Biện pháp quản lý bằng kinh tế là cách thức vận dụng tổng hợp các đònbẩy kinh tế để kích thích các cá nhân, tập thể và toàn bộ xã hội thực hiện đượcmục tiêu theo định hướng vạch sẵn Những đòn bẩy này ở phạm vi vĩ mô làcác chính sách kinh tế, các chế tài, các chế độ Thuế, chế độ hạch toán, kế toán,
…Cơ sở lý luận và thực tế của nhiều nước cho thấy chế độ Thuế là một công
cụ tích cực trong quản lý các hoạt động Dịch vụ Chứng khoán của các Công tyChứng khoán Chế độ thuế phù hợp có thể khuyến khích đầu tư vào chứng
Trang 24khoán, làm tăng cầu chứng khoán, là động lực cho Thị trường Chứng khoánphát triển Nhiều quốc gia áp dụng chế độ hạch toán kinh tế độc lập cho các
Sở Giao dịch Chứng khoán, tạo nguồn thu nhập cho các Sở Giao dịch Chứngkhoán, để chính các Sở Giao dịch Chứng khoán này duy trì được vai trò tựquản và thực hiện được những chương trình khoa học, áp dụng được nhữngcông nghệ cần thiết cho quản lý…
Như vậy, biện pháp kinh tế có tác dụng rất lớn trong lĩnh vực quản lýNhà nước đối với các hoạt động Dịch vụ Chứng khoán trên Thị trường Chứngkhoán Biện pháp này có ưu điểm là không áp dụng những chỉ thị, mệnh lệnhtrực tiếp của chủ thể quản lý nhưng có tác động rất thiết thực và sâu rộng
Trang 25CHƯƠNG II THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM
2.1 Tổng quan về các công ty chứng khoán và hoạt động dịch vụ chứng khoán của các công ty chứng khoán Việt Nam
2.1.1 Giới thiệu tổng quan về các công ty chứng khoán Việt Nam
Ngày 28/11/1996, Chính phủ ra nghị định thành lập Uỷ Ban ChứngKhoán Nhà Nước
Ngày 11/7/1998, Thủ tướng Chính Phủ quyết định thành lập 2 trungtâm giao dịch chứng khoán thuộc UBCKNN
20/7/2000, Trung tâm giao dịch chứng khoán TP HCM chính thức đivào hoạt động với: 4 CTCK
Trong những năm đầu, thị trường chứng khoán Việt Nam còn non nớt,
số nhà đầu tư tham gia thị trường còn ít, không nhiều cá nhân, tổ chức mặn màvới việc thành lập CTCK Thị trường chứng khoán phát triển chậm, không cóbiến động lớn Đến 05/05/2001 mới chỉ có 5 công ty niêm yết và 7 công tykinh doanh chứng khoán hoạt động tại trung tâm giao dịch chứng khoán
Thị trường chứng khoán Việt Nam tiếp tục phát triển chậm chạp trong cácnăm tiếp theo Số lượng các CTCK sau 3 năm hoạt động chỉ là 12 công ty vớitổng số vốn điều lệ là 465 tỷ đồng, thực hiện tất cả các nghiệp vụ chứng khoán
Các năm tiếp theo thị trường có nhiều chuyển biến tích cực, bức tranhchung của Thị trường chứng khoán Việt Nam có sự khởi sắc, quy mô thị trườngđược mở rộng, lòng tin của nhà đầu tư đối với thị trường được nâng lên Đây là
cơ hội lớn cho các công ty chứng khoán tăng số khách hàng của mình
Trang 26Trong năm 2005, Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội chính thức
đi vào hoạt động là một động lực lớn cho TTCK và cũng là một cơ hội lớn chocác CTCK
Theo đà phát triển của thị trường, sản phẩm dịch vụ của các Công tychứng khoán cũng ngày càng đa dạng và phong phú, dần đáp ứng nhu cầu củathị trường Các Công ty chứng khoán tăng cường mở rộng cả về quy mô vàhoạt động Sự lớn mạnh của các CTCK không chỉ thể hiện qua việc mở rộnghoạt động ra một số tỉnh-thành phố trong nước như Hà Nội, Hải Phòng, ĐàNẵng, TP HCM, Bình Dương, Cần Thơ mà tiềm lực về vốn và nguồn nhânlực cũng không ngừng gia tăng, góp phần nâng cao năng lực hoạt động của thịtrường
2.1.2 Thực trạng dịch vụ chứng khoán của các công ty chứng khoán Việt Nam
+ Giai đoạn 2000 - 2005:
Qua 5 năm hoạt động đã có 14 CTCK được thành lập và hoạt động trênTTCK Năm 2005, cả 14 công ty đều có lãi Các CTCK SSI, Bảo Việt, ACB,VCBS đều có mức lợi nhuận trên 30%
Chất lượng hoạt động của các Công ty chứng khoán:
Tính đến năm 2004, các công ty chứng khoán mở rộng hoạt động nghiệp
vụ, có kết quả kinh doanh và tiềm năng phát triển khả quan:
Cùng với sự gia tăng về số lượng, chất lượng các loại hình dịch vụ vàtiện ích phục vụ người đầu tư cũng ngày càng được nâng cấp và đa dạng hoá.Các dịch vụ như môi giới, tư vấn đầu tư chứng khoán, bảo lãnh phát hànhchứng khoán…được các công ty chứng khoán đầu tư nhằm đáp ứng nhu cầungày càng tăng của khách hàng Các dịch vụ gia tăng giá trị như liên kết tàikhoản với ngân hàng, báo giá chứng khoán qua điện thoại, theo dõi giao dịchchứng khoán trực tuyến, đặt lệnh giao dịch qua điện thoại, Internet được cácCTCK đưa vào áp dụng ngày càng nhiều, đem lại lợi ích thiết thực cho người
Trang 27đầu tư Nguồn vốn điều lệ của các CTCK đã lên tới trên 810 tỷ đồng, hoạtđộng kinh doanh đã ổn định hơn sau một số năm đầu khó khăn, đến năm 2004các CTCK đều có lãi và đã thực hiện trích quỹ dự phòng tài chính để tăng vốnđiều lệ Cụ thể:
Về kết quả triển khai các hoạt động nghiệp vụ được cấp phép: CácCTCK đã chủ động triển khai mạnh hoạt động tư vấn tài chính doanh nghiệp:cung cấp dịch vụ định giá doanh nghiệp, tư vấn cổ phần hoá, thực hiện đấu giáphát hành cổ phiếu qua CTCK, tư vấn niêm yết và phát hành bổ sung tăng vốnqua thị trường chứng khoán Trong năm 2004, các CTCK đã làm đại lý pháthành cổ phiếu cho gần 20 công ty và tư vấn cổ phần hoá cho gần 100 doanhnghiệp, tư vấn niêm yết mới và niêm yết bổ sung cho 10 doanh nghiệp, đây làđóng góp của các CTCK trong tiến trình đẩy mạnh cổ phần hoá DNNN củanhà nước
Trong năm 2004 đã có 6/13 CTCK triển khai nghiệp vụ quản lý danhmục đầu tư với tổng giá trị chứng khoán trong danh mục trên 240 tỷ đồng Bêncạnh đó, các CTCK đã thực hiện bảo lãnh phát hành với tổng giá trị là 9.034 tỷ+ Giai đoạn năm 2006 – 2007:
Trước tiên cần phải khẳng định giai đoạn 2006 – 2007 là thời kỳ bùng
nổ mạnh mẽ của thị trường chứng khoán nói chung và công ty CK nói riêng
Sự gia tăng mạnh mẽ cả về số lượng, quy mô và mở rộng nghiệp vụ của cácông ty CK là rất đáng kinh ngạc
Khi thị trường phát triển trong giai đoạn nóng, số lượng CTCK dù tăngnhanh vẫn chưa thể đáp ứng được đòi hỏi giao dịch của nhà đầu tư, cũng nhưnhu cầu về môi giới, tư vấn đầu tư… Có thể thấy sự quá tải của các CTCKtrong giai đoạn 2006 – 2007 trong việc thực hiện các nghiệp vụ môi giới, tưvấn niêm yết Mặt khác, số lượng CTCK tuy tăng nhưng về cơ bản, số lượngchi nhánh vẫn hạn chế (tính đến cuối năm 2007 chỉ có 45 chi nhánh/78 CTCK
So sánh với các nước, ví dụ tại Nhật Bản hay Hàn Quốc, các CTCK thường có
Trang 28và tiềm năng phát triển của thị trường, thiết nghĩ với số lượng CTCK như hiệnnay chưa phải là nhiều, nhất là trong điều kiện thị trường phát triển mạnh,không bị sụt giảm như những năm 2006 – 2007.
Trong các dịch vụ chứng khoán cơ bản của một công ty chứng khoángồm: Môi giới; tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán, bảo lãnh phát hànhchứng khoán…thì môi giới là mang lại nguồn lợi lớn nhất, đó là thời điểm giáchứng khoán lên như diều gặp gió và thường xuyên xanh sàn Với các chức năngcòn lại, CTCK kiếm thêm duy trì hoạt động Một trong những nguồn thu lớn nhấtcủa các công ty CK đến từ mảng môi giới, hiện đang được tính ở mức 0,2-0,3%tổng giá trị giao dịch của các nhà đầu tư (cá biệt có công ty thu đến 0,5%) Nếutính trung bình thị trường TP.HCM và Hà Nội đạt tổng giá trị giao dịch hơn 1.000
tỷ đồng/phiên thì cứ mỗi phiên 55 CTCK “xơi” chừng 2-3 tỷ đồng
+ Giai đoạn nửa cuối năm 2007 cho đến nay:
Đây là giao đoạn thị trường chứng khoán có nhiều sự thay đổi Cáccông ty chứng khoán cũng chịu ảnh hưởng lớn do sự biến động của thị trường
Theo thống kê của UBCKNN, khoảng 35 công ty chứng khoản thuộcdiện phải tăng vốn hoặc cắt bớt nghiệp vụ đã thực hiện gần như đầy đủ Bảolãnh phát hành chứng khoán ngốn nhiều vốn nhất (165 tỷ đồng) được nhiềucông ty chứng khoán chọn cắt giảm, như các công ty Tràng An, Quốc Tế, HàNội, Thủ Đô, SME, Quốc Gia, Việt Tín Thị trường hiện tập trung vào hainghiệp vụ chính: môi giới và tư vấn đầu tư, vốn cần thiết cho hai mảng nàycũng chỉ có 35 tỷ đồng
Sự thua lỗ của CTCK là hình ảnh chung, phù hợp với diễn biến TTCKsuy giảm và kém thanh khoản trong năm 2008 Những CTCK có nghiệp vụchính là môi giới và tư vẫn thua lỗ Trường hợp CTCK Tầm Nhìn, vốn điều lệ
là 25 tỷ đồng, dủ cho nghiệp vụ môi giới, nhưng sau 2 năm hoạt động, doanh
Trang 29thu năm 2007, 2008 chỉ đạt hơn 3 tỷ đồng, khoản lỗ tổng cộng lên đến hơn 13
tỷ đồng dẫn đến vốn chủ sở hữu của công ty này chỉ còn non nửa (11,2 tỷđồng) Một số CTCK dù đã đi vào hoạt động từ trước năm 2007, nhưng doanhthu vẫn rất khiêm tốn, thể hiện hoạt động môi mới chưa hiệu quả, như trườnghợp của CTCK Nam Việt, doanh thu các năm 2007, 2008 chỉ đạt lần lượt 30triệu đồng và 277 triệu đồng
Trong những năm gần đây, lượng dịch vụ mà công ty chứng khoáncung cấp ra thị trường ngày càng phong phú và đa dạng, phục vụ được nhu cầucủa các nhà đầu tư, các tổ chức phát hành cũng như phát triển các nghiệp vụphụ trợ để theo kịp nhu cầu thị trường Ngoài các nghiệp vụ cơ bản là môi giớichứng khoán, tư vấn, bảo lãnh phát hành, các Công ty chứng khoán còn đưa rarất nhiều dịch vụ mới nhằm thu hút khách hàng Nếu như ở giai đoạn đầu pháttriển của thị trường chứng khoán, nhà đầu tư đến Công ty chứng khoán chỉ vớinhu cầu được tư vấn đầu tư, chọn mã cổ phiếu thì giờ đây họ có thể lựa chọnđược hỗ trợ quản lý danh mục đầu tư, được gia tăng cơ hội đầu tư bằng cácnghiệp vụ như ứng trước tiền bán, repo chứng khoán, cầm cố chứng khoán,…Với các doanh nghiệp, đến với Công ty chứng khoán giờ đây không chỉ làđược tư vấn niêm yết, tư vấn cổ phần hóa mà còn là tư vấn mua bán sáp nhập(M&A), tư vấn về hoạt động quan hệ nhà đầu tư (IR) tại chính doanh nghiệp.Song song với đa dạng về mặt số lượng dịch vụ, các Công ty chứng khoáncũng ngày càng nâng cao chất lượng các dịch vụ của mình Việc cung cấp dịch
vụ không chỉ dừng lại ở bán được hàng mà chăm sóc khách hàng cũng là vấn
đề luôn được quan tâm Đây chính là một trong những yếu tố quyết định trongviệc giữ chân khách hàng cũ và thu hút khách hàng mới trong chiến lược pháttriển mạng lưới khách hàng của các Công ty chứng khoán
Trang 302.2 Thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động dịch vụ chứng khoán của các Công ty Chứng khoán Việt Nam
2.2.1 Thực trạng ban hành các văn bản quản lý nhà nước đối với hoạt động dịch vụ chứng khoán của các Công ty Chứng khoán Việt Nam
Hoạt động dịch vụ chứng khoán của các Công ty Chứng khoán là mộtphần trong TTCK liên quan tới các nghiệp vụ kinh doanh của các Công tychứng khoán do vậy nó chịu sự điều chỉnh của các văn bản pháp luật về TTCKnói chung và các văn bản về Công ty chứng khoán và nghiệp vụ kinh doanhcủa Công ty chứng khoán nói riêng
Giai đoạn đầu thị trường chứng khoán mới đi vào hoạt động, khung pháp
lý và chính sách phát triển thị trường CK cũng như các công ty CK vẫn chưahoàn thiện Chúng ta chưa có Luật chứng khoán, hệ thống các văn bản vềchứng khoán và thị trường CK hiện hành có tính pháp lý chưa cao và cònnhiều bất cập Các văn bản pháp quy ở mức thấp vì vậy không bao trùm đượchết phạm vi hoạt động của thị trường cũng như các hoạt động của các Công tychứng khoán, chưa tạo ra được một thể chế hoàn chỉnh theo nguyên lý hoạtđộng vốn có của nó Điều này đã gây khó khăn cho các công ty CK trong việchoạt động cũng như chấp hành luật Văn bản pháp lý cao nhất về chứng khoán
và thị trường chứng khoán là Nghị định số 144/2003/NĐ-CP của Chính phủ(Nghị định 144), sau 5 năm vận hành cho thấy hệ thống văn bản pháp luật vềchứng khoán còn hạn chế, chưa đầy đủ và đồng bộ, cụ thể như việc giám sátcác hoạt động giao dịch trên trung tâm giao dịch CK còn hạn chế, Nghị định
144 không bao hàm hết các hành vi vi phạm và chưa xác định rõ nguyên tắc
xử phạt cũng như thẩm quyền xử phạt vi phạm trong hoạt động chứng khoán
và thị trường chứng khoán Hạn chế này có ảnh hưởng đến sự công khai, minhbạch của khuôn khổ pháp lý trên phương diện quản lý Nhà nước cũng như bảo
vệ lợi ích của nhà đầu tư, trong khí đó năng lực trình độ của cán bộ quản lý,các nhân viên hành nghề trong lĩnh vực dịch vụ chứng khoán chưa đáp ứng
Trang 31được với yêu cầu phát triển lâu dài của thị trường Điều này cũng dễ hiểu vì thịtrường CKVN là một thị trường non trẻ, thiếu kinh nghiệm.
Chất lượng hoạt động và cung cấp dịch vụ trên thị trường CK chưa cao,tính minh bạch và hiệu quả còn hạn chế, thể hiện ở chất lượng công tác công
bố thông tin, chất lượng hoạt động của trung tâm giao dịch CK cũng như cácthành viên thị trường Các biểu hiện vi phạm trên thị trường ở một số CTCKcũng như công ty niêm yết đã ảnh hưởng đến lòng tin của công chúng đầu tư,các giải pháp phát triển thị trường chưa đồng bộ
Nguyên nhân của tình trạng trên là do: tính chủ động, hiệu quả trongcông tác quản lý, giám sát hoạt động Thị trường CK chưa cao Chưa có mộtchương trình hành động thống nhất để phát huy vai trò và khả năng của cácthành viên thị trường trong nỗ lực chung để phát triển thị trường CK, đặc biệt
là vai trò phối kết hợp của các Bộ, ngành, địa phương với cơ quan quản lý Nhànước về chứng khoán và thị trường CK còn hạn chế Đồng thời, năng lực vàkinh nghiệm thực tiễn của cán bộ quản lý cũng như nhân viên hành nghề còn
có hạn chế nhất định; chưa xây dựng và thực hiện chuẩn mực đạo đức nghềnghiệp của tổ chức và người kinh doanh chứng khoán
Hiện nay dịch vụ chứng khoán của các Công ty chứng khoán chịu sựđiều chỉnh của các văn bản pháp lý sau:
Cho đến thời điểm hiện tại, Luật Chứng khoán ban hành ngày29/6/2006 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán banhành ngày 24/11/2010 vẫn là văn bản pháp lý cao nhất về chứng khoán vàTTCK ở Việt Nam
Sự cần thiết ban hành Luật Chứng Khoán:
Sau 5 năm kể từ khi Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố HồChí Minh chính thức khai trương hoạt động (20/7/2000), thị trường chứngkhoán đã đạt được những kết quả bước đầu quan trọng Quy mô của thị trường
Trang 32ngày càng được mở rộng, thu hút được sự tham gia của nhà đầu tư trong vàngoài nước, huy động được nguồn vốn khá lớn cho đầu tư và phát triển…
Mặc dù đã đạt được những kết quả đáng kể, song hoạt động của thịtrường còn có những khó khăn, hạn chế nhất định Thị trường chứng khoáncòn nhỏ bé, chưa trở thành một kênh huy động vốn dài hạn có hiệu quả chođầu tư phát triển; thị trường thiếu vắng các nhà đầu tư có tổ chức như quỹ đầu
tư, công ty đầu tư chứng khoán nên ảnh hưởng đến tính ổn định của thịtrường; chất lượng hoạt động, cung cấp dịch vụ trên thị trường chứng khoánchưa cao, tính minh bạch và hiệu quả còn hạn chế
Những hạn chế của thị trường chứng khoán nói trên là do nhiều nguyênnhân khác nhau, trong đó khuôn khổ pháp lý là một trong những nguyên nhânquan trọng nhất Văn bản pháp lý cao nhất về chứng khoán và thị trườngchứng khoán là Nghị định số 144/2003/NĐ-CP của Chính phủ (Nghị định144), sau 5 năm vận hành cho thấy hệ thống văn bản pháp luật về chứng khoáncòn hạn chế, chưa đầy đủ và đồng bộ, thể hiện trên các mặt chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, về việc phát hành chứng khoán ra công chúng: Nghị định 144chỉ điều chỉnh hoạt động phát hành chứng khoán ra công chúng của các công
ty cổ phần, không điều chỉnh việc phát hành cổ phiếu của các doanh nghiệpnhà nước cổ phần hoá, việc phát hành chứng khoán của các tổ chức tín dụng,các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển đổi thành công ty cổ phần.Điều này làm hạn chế việc phát triển thị trường sơ cấp, đồng thời tạo ra sự bấtbình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp trong việc phát hành chứng khoán
ra công chúng
Thứ hai, về thị trường giao dịch chứng khoán: Nghị định 144 chỉ điềuchỉnh hoạt động giao dịch chứng khoán tại các Trung tâm giao dịch chứngkhoán, do vậy, các giao dịch chứng khoán trên thị trường tự do đang diễn rakhá sôi động mà không có sự quản lý của Nhà nước
Trang 33Thứ ba, về tổ chức và hoạt động của Trung tâm giao dịch chứng khoán:Nghị định 144 quy định Trung tâm giao dịch chứng khoán là đơn vị sự nghiệp
có thu, điều này là không phù hợp với thông lệ quốc tế Theo thông lệ quốc tế,các Trung tâm giao dịch chứng khoán thường tổ chức theo mô hình công ty.Tính độc lập của Trung tâm giao dịch chứng khoán không cao, đặc biệt làcông tác quản trị điều hành còn mang tính hành chính, thẩm quyền về giám sátcác hoạt động giao dịch trên Trung tâm giao dịch chứng khoán còn hạn chế
Thứ tư, về giám sát và xử lý vi phạm: Nghị định 144 không bao hàm hếtcác hành vi vi phạm và chưa xác định rõ nguyên tắc xử phạt cũng như thẩmquyền xử phạt vi phạm trong hoạt động chứng khoán và thị trường chứngkhoán Hạn chế này có ảnh hưởng đến sự công khai, minh bạch của khuôn khổpháp lý trên phương diện quản lý nhà nước cũng như bảo vệ lợi ích của nhàđầu tư
Thứ năm, về khả năng phát triển thị trường và hội nhập: Nghị định 144
có những quy định chưa được rõ ràng và chuẩn mực theo nguyên tắc thịtrường, vì vậy sẽ có khó khăn khi thị trường phát triển ở trình độ cao và khiViệt Nam hội nhập với thị trường vốn quốc tế
Trong điều kiện kinh tế phát triển cao, nhu cầu vốn cho đầu tư phát triểnlớn, đòi hỏi phi phát triển thị trường chứng khoán trở thành kênh huy động vốnquan trọng cho nền kinh tế Để đạt được mục tiêu phát triển quy mô thị trườngchứng khoán từ 10 - 15% GDP vào năm 2010, đồng thời tạo ra khuôn khổpháp luật nhằm quản lý thị trường hoạt động có hiệu quả và lành mạnh, đápứng với điều kiện hội nhập đòi hỏi cần phải hoàn chỉnh thể chế về chứngkhoán và thị trường chứng khoán, trong đó quan trọng nhất là ban hành LuậtChứng khoán Từ thực trạng hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Namnói trên, có thể thấy rằng việc ban hành Luật Chứng khoán mang tính cần thiếtkhách quan thể hiện qua các nội dung cơ bản sau:
Trang 341 Luật Chứng khoán ra đời góp phần hoàn chỉnh thể chế về kinh tế thịtrường ở nước ta, quán triệt tinh thần đổi mới của Đảng và Nhà nước thể hiệntrong Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX và lần thứ X.
2 Luật Chứng khoán ra đời khắc phục những khiếm khuyết, bất cậptrong khuôn khổ pháp luật chứng khoán và thị trường chứng khoán (Nghị định144), đồng bộ hoá với Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư mà Quốc hội đã thôngqua Điều này hết sức quan trọng vì tạo ra môi trường pháp luật ổn định chocác nhà đầu tư
3 Luật Chứng khoán ra đời tạo điều kiện hình thành khuôn khổ phápluật trong việc quản lý, giám sát thị trường, đảm bảo nguyên tắc hoạt động thịtrường: công khai, công bằng, minh bạch và bảo vệ lợi ích hợp pháp của cácnhà đầu tư
4 Luật Chứng khoán ra đời tạo điều kiện cho thị trường chứng khoánphát triển nhanh và bền vững; tăng cường khả năng huy động vốn của Chínhphủ, các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán cho đầu tư phát triển; tạođầu tư gián tiếp có khả năng khơi thông nguồn vốn nước ngoài vào Việt Nam,đồng thời tạo cơ hội để các nhà đầu tư Việt Nam đầu tư ra nước ngoài
Một số Nội dung chính của Luật Chứng khoán đối với Các Công tychứng khoán và Nghiệp vụ kinh doanh của Công ty Chứng khoán:
Đối với các công ty Chứng khoán, Luật Chứng khoán quy định được tổchức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần theoLuật Doanh nghiệp năm 2005 do UBCKNN cấp Giấy phép thành lập và hoạtđộng Giấy phép này đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, thaycho hai giấy như hiện nay Ngoài ra, Các điều kiện cấp Giấy phép thành lập
và hoạt động công ty chứng khoán được quy định rõ ràng, chi tiết trong Luậttheo hướng đơn giản hơn so với Nghị định 144, loại bỏ những điều kiện mangtính định tính, theo đó chỉ bao gồm điều kiện về trụ sở, trang thiết bị phục vụhoạt động kinh doanh chứng khoán, có đủ số vốn pháp định và Giám đốc hoặc
Trang 35Tổng giám đốc và các nhân viên thực hiện nghiệp vụ kinh doanh chứng khoánphải có chứng chỉ hành nghề Riêng điều kiện về mức vốn pháp định sẽ doChính phủ quy định cụ thể vì đây là chỉ tiêu định lượng có thể thay đổi theotình hình phát triển của thị trường.
Đối với Nghiệp vụ kinh doanh Chứng khoán của các Công ty chứngkhoán: Luật quy định công ty chứng khoán được thực hiện các nghiệp vụ môigiới, tự doanh, bảo lãnh phát hành và tư vấn đầu tư chứng khoán Một điểmkhác so với Nghị định 144 là để tránh xung đột lợi ích và bảo vệ quyền, lợi íchhợp pháp của nhà đầu tư, Luật Chứng khoán quy định công ty chứng khoánkhông được thực hiện nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư
Luật Chứng khoán thể hiện vai trò của Nhà nước trong việc ban hànhcác văn bản quy phạm pháp luật, cấp các loại Giấy phép, Giấy chứng nhận,thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán Theo đó,Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứngkhoán, Bộ Tài chính chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện chức năngquản lý nhà nước về thị trường chứng khoán Trong Luật quy định rõ Uỷ banChứng khoán Nhà nước (UBCKNN) là cơ quan thuộc Bộ Tài chính nhưngđược thực hiện một số chức năng và thẩm quyền nhất định như cấp các loạigiấy phép, giám sát, thanh tra, xử lý vi phạm hành chính trong hoạt độngchứng khoán và thị trường chứng khoán nhằm bảo đảm tính độc lập cần thiết
và thực quyền của UBCKNN trong việc quản lý cũng như thực hiện các vấn
đề nghiệp vụ về chứng khoán và thị trường chứng khoán Bộ Tài chính thựchiện chức năng ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền và chỉđạo UBCKNN thực hiện chiến lược, kế hoạch, chính sách, chế độ về chứngkhoán và thị trường chứng khoán
Ngoài ra còn có một số văn bản pháp lý khác điều chỉnh hoạt độngcủa Công ty Chứng khoán và các hoạt động dịch vụ của công ty chứngkhoán như sau:
Trang 36- Quyết định số 27/2007/QĐ-BTC ngày 24/4/2007 của Bộ Tài chính Vềviệc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động công ty chứng khoán;
- Quyết định số 126/2008/QĐ-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính
về việc sửa đổi một số điều của Quyết định số 27/2007/QĐ-BTC ngày24/4/2007;
- Thông tư số 97/2007/TT-BTC ngày 08/8/2007 của Bộ Tài chínhHướng dẫn về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực CK và TTCK;
- Nghị định số 85/2010/NĐ-CP ngày 02/8/2010 của Chính phủ về việc
trong các hoạt động kinh doanh chứng khoán thuộc về công ty chứngkhoán, pháp luật một số nước chỉ cho phép một công ty chứng khoán thựchiện một số hoạt động nhất định mà không được thực hiện toàn bộ các hoạtđộng kinh doanh chứng khoán thuộc về công ty chứng khoán Tuy nhiên, cũng
có nước cho phép thực hiện tất cả các loại hình dịch vụ kinh doanh trong mộtcông ty chứng khoán nhưng phải phải bảo đảm tách biệt các hoạt động kinhdoanh này Điểm chung nhất trong pháp luật các nước đều có quy định kinhdoanh chứng khoán là ngành nghề kinh doanh có điều kiện Vì vậy để đượckinh doanh, công ty chứng khoán phải thoả mãn những điều kiện mà pháp luật
Trang 37quy định và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép thành lậphoạt động
Điều kiện để cấp giấy phép bao gồm điều kiện về vốn, nhân sự và cơ sởvật chất Điều kiện về vốn được đưa ra căn cứ vào mức độ rủi ro tương ứngvới từng hoạt động nghiệp vụ, những nghiệp vụ rủi ro cao thì đòi hỏi vốn cao
và ngược lại Điều kiện về nhân sự được đặt ra do tính chất đặc thù của hoạtđộng kinh doanh chứng khoán, cụ thể: người điều hành và nhân viên thực hiệnnghiệp vụ kinh doanh chứng khoán phải có lý lịch tốt, có trình độ chuyên môn
và tuân thủ đạo đức nghề nghiệp Điều kiện cơ sở vật chất được đạt ra vì công
ty chứng khoán thường có chức năng lưu giữ các chứng khoán và giấy tờ cầnthiết, phải công bố thông tin cho người đầu tư…vì vậy cần có phương tiện cầnthiết để bảo đảm an toàn và công bố thông tin đầy đủ, thuận tiện
Ở Việt Nam Luật chứng khoán quy định: “Kinh doanh dịch vụ chứngkhoán là thực hiện một trong các nghiệp vụ môi giới chứng khoán, bảo lãnhphát hành chứng khoán; tư vấn đầu tư chứng khoán, lưu ký chứng khoán, quản
lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán” Tại điều
67 Luật chứng khoán Việt Nam chỉ rõ: Công ty chứng khoán được thực hiệnmột, một số hoặc toàn bộ nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán dưới đây theogiấy phép được cấp: Môi giới chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán,
tư vấn đầu tư chứng khoán Công ty chứng khoán được thực hiện nghiệp vụlưu ký chứng khoán khi được cấp giấy phép thực hiện nghiệp vụ môi giớichứng khoán hoặc tự doanh chứng khoán Ngoài các nghiệp vụ kinh doanhtheo giấy phép được cấp, công ty chứng khoán được cung cấp các dịch vụ tưvấn tài chính và các dịch vụ tài chính khác
Đồng thời Luật chứng khoán Việt Nam có quy định cụ thể các điềukiện cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho công ty chứng khoán tương tựnhư pháp luật các nước khác
Trang 38Thứ nhất, Luật chứng khoán đã quy định chi tiết các điều kiện cấp giấyphép, hồ sơ xin cấp giấy phép, trình tự và thời hạn cấp giấy phép, bổ sung giấyphép, thay đổi trong hoạt động, nghĩa vụ của công ty chứng khoán, các hạn chếđối với công ty chứng khoán nhằm bảo đảm an toàn trong hoạt động…Luậtchứng khoán được xây dựng trên nguyên tắc chi tiết đến mức tối đa có thể,nhằm bảo đảm tính thực thi, giảm bớt các văn bản hướng dẫn dưới luật
Thứ hai, Luật đã quy định theo hướng cải cách thủ tục hành chínhnhằm đơn giản hoá về mặt thủ tục và rút ngắn được thời gian thực hiện cáccông việc có tính thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhânthực hiện đầy đủ các thủ tục của mình Chẳng hạn, trước khi có Luật Chứngkhoán việc thành lập và hoạt động của công ty chứng khoán khá phức tạp phảitrải qua rất nhiều bước Đầu tiên, tổ chức cá nhân phải làm hồ sơ xin cấp giấyphép gửi UBCKNN Sau khi được UBCKNN chấp thuận về mặt nguyên tắcviệc cấp giấy phép kinh doanh chứng khoán thì tổ chức cá nhân xin cấp giấyphép phải tiến hành đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanhnghiệp Sau khi hoàn tất thủ tục đăng ký kinh doanh, UBCKNN mới chínhthức cấp giấy phép kinh doanh chứng khoán cho doanh nghiệp đăng ký Hiệnnay, theo khoản 2, Điều 66 Luật Chứng khoán quy định : “Giấy phép thành lập
và hoạt động công ty chứng khoán đồng thời có giá trị là giấy chứng nhậnđăng ký kinh doanh” Hoặc về thời hạn cấp giấy phép thành lập hoạt động chocông ty chứng khoán trước đây quy định tối đa không quá 60 ngày kể từ ngàyUBCKNN nhận được hồ sơ hợp lệ Luật chứng khoán quy định thời hạn cấpGiấy phép thành lập và hoạt động cho công ty chứng khoán tối đa là 30 ngày
kể từ ngày UBCKNN nhận đủ hồ sơ hợp lệ Hoặc về thời hạn cấp chứng chỉhành nghề kinh doanh chứng khoán, trước đây quy định: Trong thời hạn tối đa
là 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, UBCKNN thông báo bằng vănbản việc cấp chứng chỉ hành nghề kinh doanh chứng khoán” Theo luật chứngkhoán hiện nay quy định: Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơhợp lệ, UBCKNN cấp chứng chỉ hành nghề chứng khoán
Trang 39Thứ ba, về điều kiện và thủ tục cấp giấy phép, Luật chứng khoán đãquy định đơn giản, rõ ràng và thực chất hơn Chẳng hạn về cấp giấy phépthành lập hoạt động cho công ty chứng khoán trước đây quy định 5 điều kiện,hiện nay Luật chứng khoán chỉ quy định 3 điều kiện: Một là, có trụ sở chính
và trang thiết bị phục vụ hoạt động kinh doanh chứng khoán (đối với tổ chứcxin phép chỉ thực hiện nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán thì không phảiđáp ứng điều kiện về trang thiết bị); Hai là, có đủ vốn pháp định theo quyđịnh; Ba là, Giám đốc và các nhân viên thực hiện nghiệp vụ kinh doanh chứngkhoán phải có chứng chỉ hành nghề chứng khoán Về hồ sơ xin cấp giấy phépthành lập hoạt động của công ty chứng khoán cũng được đơn giản hóa hơn
Theo điều 71, Luật chứng khoán hiện quy định: công ty chứng khoán
có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được tổ chức dưới hình thức công tyliên doanh hoặc công ty TNHH, công ty cổ phần 100% vốn nước ngoài doUBCKNN cấp giấy phép thành lập và hoạt động Về điều kiện để được cấpgiấy phép thành lập và hoạt động cho công ty chứng khoán có vốn đầu tư nướcngoài thì ngoài các điều kiện giống với quy định cho công ty chứng khoántrong nước Luật còn quy định thêm điều kiện: Bên nước ngoài phải là phápnhân đang hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng Bên cạnh đó, Luậtcòn cho phép công ty chứng khoán nước ngoài mở chi nhánh hoạt động tạiViệt Nam (Điều 72) hoặc được mở văn phòng đại diện tại Việt Nam sau khiđăng ký với UBCKNN
Thứ tư, vấn đề cấp giấy phép hành nghề chứng khoán
Một trong những điều kiện để cấp giấy phép thành lập và hoạt động chocông ty chứng khoán là: Giám đốc (Tổng Giám đốc), các nhân viên kinhdoanh của công ty chứng khoán phải có chứng chỉ hành nghề kinh doanhchứng khoán
Trước đây, pháp luật quy định: Chứng chỉ hành nghề kinh doanh chứngkhoán được cấp cho các cá nhân theo đề nghị của công ty chứng khoán nơi cá
Trang 40nhân đó làm việc hoặc theo đề nghị của người đại diện thành viên sáng lập,người đại diện cổ đông sáng lập, chủ sở hữu tổ chức xin phép kinh doanhchứng khoán đối với trường hợp xin cấp chứng chỉ hành nghề kinh doanhchứng khoán cùng với việc xin cấp phép kinh doanh chứng khoán, khi đápứng đủ các điều kiện Chứng chỉ hành nghề kinh doanh chứng khoán có thờihạn là 03 năm kể từ ngày cấp Chứng chỉ hành nghề kinh doanh được gia hạntheo đề nghị của công ty chứng khoán nơi người hành nghề làm việc Mỗi lầngia hạn tối đa không quá ba năm Chứng chỉ hành nghề được gia hạn khi nhânviên hành nghề đạt yêu cầu trong kỳ thi sát hạch lại do UBCKNN tổ chức.
Trường hợp người hành nghề kinh doanh chứng khoán không đạt yêucầu trong kỳ thi sát hạch để gia hạn chứng chỉ hành nghề kinh doanh chứngkhoán, người hành nghề kinh doanh chứng khoán tạm thời không được làmviệc tại các bộ phận kinh doanh cho tới khi được gia hạn chứng chỉ hành nghềkinh doanh chứng khoán
Người hành nghề không còn làm việc cho công ty chứng khoán thì bịthu hồi chứng chỉ hành nghề; Nếu sau 01 năm kể từ ngày bị thu hồi chứng chỉhành nghề, người hành nghề tiếp tục làm việc cho một công ty chứng khoánthì phải làm thủ tục thi sát hạch trước khi xin cấp chứng chỉ hành nghề Trongtrường hợp này, công ty chứng khoán nơi người hành nghề làm việc làm hồ sơxin cấp chứng chỉ hành nghề kinh doanh theo quy định
Trường hợp người hành nghề chuyển sang làm việc cho một công tychứng khoán khác, công ty chứng khoán này phải làm thủ tục xin đổi lạichứng chỉ hành nghề kinh doanh cho cá nhân đó Nếu chứng chỉ hành nghềkinh doanh chứng khoán còn thời hạn, cá nhân đó được UBCKNN xét đổi lạichứng chỉ hành nghề kinh doanh không phải tham gia kiểm tra sát hạch.Chứng chỉ hành nghề kinh doanh chứng khoán được đổi lại chỉ có giá trị trongthời hạn còn lại của chứng chỉ cũ