Ngày nay, xu hướng hội nhập và phát triển cả trên các mặt kinh tế, văn hoá, xã hội, chính trị đã và đang trở thành nhu cầu tất yếu của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển. Ngày 07112006 đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển của nước ta, đó là việc Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới WTO. Sự kiện này vừa là cơ hội, vừa là thách thức của toàn nền kinh tế nói chung và của ngành bảo hiểm nói riêng. Ngành bảo hiểm Việt Nam với hơn 40 năm trưởng thành và phát triển đã và đang khẳng định được sự lớn mạnh của mình trong nền kinh tế. Số lượng các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm ngày càng nhiều, cạnh tranh trên thị trường ngày càng trở nên gay gắt, các doanh nghiệp bảo hiểm liên tục đưa ra thị trường những sản phẩm bảo hiểm mới phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, tăng thêm sự lựa chọn cho người tham gia bảo hiểm. Bảo Minh một doanh nghiệp bảo hiểm lớn thứ ba trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam, đang tích cực đưa ra những chiến lược sản phẩm cho mục tiêu chiếm lĩnh thị trường, trở thành doanh nghiệp bảo hiểm hàng đầu Việt Nam. Và một sản phẩm mới của Bảo Minh đã ra đời trong thời gian qua là sản phẩm Bảo hiểm Hộ gia đình. Đây là một sản phẩm bảo hiểm trọn gói đầu tiên trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam. Với sứ mệnh tiên phong, Bảo Minh đã thực hiện triển khai sản phẩm bảo hiểm này như thế nào, có đem lại những kết quả như mục tiêu ban đầu đặt ra cho công ty hay không? Xuất phát từ thực tế đó, sau một thời gian thực tập tại công ty Bảo Minh Hà Nội, tác giả đã chọn đề tài “Tình hình triển khai sản phẩm Bảo hiểm Hộ gia đình tại Công ty Bảo Minh Hà Nội” để làm luận văn tốt nghiệp. Kết cấu luận văn gồm ba chương: Chương I: Lý luận chung về bảo hiểm thương mại và sản phẩm bảo hiểm trọn gói. Chương II: Thực trạng triển khai sản phẩm trọn gói Bảo hiểm Hộ gia đình tại Bảo Minh Hà Nội. Chương III: Một số kiến nghị cho việc triển khai sản phẩm Bảo hiểm Hộ gia đình của Bảo Minh Hà Nội. Bài viết này đã được hoàn thành với sự hướng dẫn và giúp đỡ của cô giáo TS. Phạm Thị Định và các cán bộ phòng khai thác số 7 thuộc Công ty Bảo Minh Hà Nội. Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của cô giáo TS. Phạm Thị Định và các anh chị phòng khai thác số 7 đã giúp đỡ em hoàn thành tốt bài viết này Trong quá trình làm bài, mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng và đã qua nhiều lần trao đổi góp ý của cô giáo hướng dẫn thực tập, nhưng với một khoảng thời gian thực tập và nghiên cứu có hạn nên bài viết chắc chắn không tránh khỏi những khiếm khuyết. Xin kính mong các thầy cô giáo và bạn đọc góp ý, xây dựng để tác giả có thể hoàn thiện bài viết của mình. Xin chân thành cảm ơn Sinh viên thực hiện: Phan Thị Thuý Hằng Lớp : Bảo hiểm 46B
Trang 1CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM VÀ CÁC SẢN
PHẨM BẢO HIỂM 3
I.Khái quát chung về bảo hiểm thương mại 3
1.Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm thương mại 3
2.Vai trò, tác dụng của bảo hiểm thương mại 5
3.Khái niệm và bản chất của bảo hiểm thương mại 8
4.Những nguyên tắc chung trong hoạt động bảo hiểm thương mại 10 4.1 Nguyên tắc 1: Số đông bù số ít 10
4.2 Nguyên tắc 2: Nguyên tắc rủi ro có thể được bảo hiểm 11
4.3 Nguyên tắc 3: Nguyên tắc phân tán rủi ro 12
4.4 Nguyên tắc 4: Nguyên tắc trung thực tuyệt đối 12
4.5 Nguyên tắc 5: Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm 13
5 Phân loại bảo hiểm thương mại 13
II Sản phẩm bảo hiểm trọn gói 14
1.Khái niệm và tác dụng của sản phẩm bảo hiểm trọn gói 14
1.1.Các khái niệm 14
1.2 Tác dụng của sản phẩm bảo hiểm trọn gói 16
2.Đặc điểm của sản phẩm bảo hiểm trọn gói 19
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI SẢN PHẨM TRỌN GÓI - SẢN PHẨM BẢO HIỂM HỘ GIA ĐÌNH TẠI BẢO MINH HÀ NỘI 23
Trang 2I Sự ra đời và phát triển của Bảo Minh Hà Nội 23
Trang 33.Tình hình hoạt động kinh doanh 26
II Sản phẩm bảo hiểm trọn gói: “Bảo hiểm hộ gia đình” 32
1.Giới thiệu về sản phẩm “bảo hiểm hộ gia đình” của Bảo Minh 32
2.Tính ưu việt và mới mẻ của sản phẩm 41
3.Quan điểm của Bảo Minh về sản phẩm 42
4.Cơ hội và thách thức đối với việc triển khai sản phẩm “Bảo hiểm Hộ gia đình” 43
4.1 Điều kiện kinh tế - xã hội 43
4.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội cả nước nói chung 43
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của TP Hà Nội 47
4.2 Tình hình cạnh tranh trên thị trường Bảo hiểm phi nhân thọ .50
5 Điểm mạnh và điểm yếu của Bảo Minh Hà Nội 61
III Tình hình triển khai sản phẩm bảo hiểm hộ gia đình tại Bảo Minh Hà Nội 63
1.Qúa trình triển khai sản phẩm 63
2.Kết quả đạt được 68
3.Hạn chế và nguyên nhân 70
4 Đánh giá chung 74
Trang 5I.Định hướng của Bảo Minh Hà Nội trong việc triển khai sản
phẩm Bảo hiểm Hộ gia đình 77
II Những khó khăn, vướng mắc khi triển khai sản phẩm Bảo hiểm Hộ gia đình 78
III Một số kiến nghị 83
1.Hoàn thiện sản phẩm 83
2.Phát triển thị trường 84
3.Phát triển nhân lực và quản lý nhân lực 86
4.Lựa chọn mạng lưới đại lý phù hợp 87
5.Giải pháp khác 89
IV.Điều kiện thực hiện các giải pháp trên 90
KẾT LUẬN 91
Phụ lục 1: Biểu phí bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới 92
Phụ lục 2:BIỂU PHÍ BẢO HIỂM SỨC KHOẺ GIA ĐÌNH 96
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 6Hình 2.1: Biểu đồ doanh thu (2003-2007) 28
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy 26
Sơ đồ 3.1: Mô hình tổ chức đại lý theo lãnh thổ 87
Sơ đồ 3.2: Mô hình mạng lưới đại lý theo trình độ của đại lý 89
Bảng 2.1 Doanh thu phí và cơ cấu doanh thu phí theo nghiệp vụ bảo hiểm (2003-2007) 27
Bảng 2.2 Tình hình bồi thường của các nghiệp vụ ( 2004-2007) 31
Bảng 2.3 Tỷ lệ phí bảo hiểm áp dụng cho cấu trúc ngôi nhà 40
Bảng 2.4: Doanh thu, tốc độ tăng trưởng và thị phần của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam (2007) 53
Bảng 2.5: Doanh thu, tốc độ tăng trưởng và thị phần về nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới của một số công ty bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam (2007) .56
Bảng 2.6: Doanh thu, tốc độ tăng trưởng và thị phần về nghiệp vụ bảo hiểm con người của một số doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam(2007) 58
Bảng 2.7: Tỷ lệ giảm phí bảo hiểm sức khoẻ gia đình theo số lượng người tham gia 66
Bảng 2.8: Tỷ lệ giảm phí bảo hiểm nhà tư nhân do không có tổn thất trong những năm liên tục 67
Bảng 3.1: Doanh thu và tỷ trọng doanh thu một số nghiệp vụ của nhóm khách hàng Hộ gia đình 81
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, xu hướng hội nhập và phát triển cả trên các mặt kinh tế, vănhoá, xã hội, chính trị đã và đang trở thành nhu cầu tất yếu của bất kỳ quốc gianào trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển Ngày 07/11/2006 đãđánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triểncủa nước ta, đó là việc Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của
Tổ chức Thương mại thế giới WTO Sự kiện này vừa là cơ hội, vừa là tháchthức của toàn nền kinh tế nói chung và của ngành bảo hiểm nói riêng
Ngành bảo hiểm Việt Nam với hơn 40 năm trưởng thành và phát triển
đã và đang khẳng định được sự lớn mạnh của mình trong nền kinh tế Sốlượng các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm ngày càngnhiều, cạnh tranh trên thị trường ngày càng trở nên gay gắt, các doanhnghiệp bảo hiểm liên tục đưa ra thị trường những sản phẩm bảo hiểm mớiphù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, tăng thêm sự lựa chọn chongười tham gia bảo hiểm
Bảo Minh - một doanh nghiệp bảo hiểm lớn thứ ba trên thị trường bảohiểm phi nhân thọ Việt Nam, đang tích cực đưa ra những chiến lược sảnphẩm cho mục tiêu chiếm lĩnh thị trường, trở thành doanh nghiệp bảo hiểmhàng đầu Việt Nam Và một sản phẩm mới của Bảo Minh đã ra đời trongthời gian qua là sản phẩm Bảo hiểm Hộ gia đình Đây là một sản phẩm bảohiểm trọn gói đầu tiên trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam Với
sứ mệnh tiên phong, Bảo Minh đã thực hiện triển khai sản phẩm bảo hiểmnày như thế nào, có đem lại những kết quả như mục tiêu ban đầu đặt ra chocông ty hay không? Xuất phát từ thực tế đó, sau một thời gian thực tập tại
công ty Bảo Minh Hà Nội, tác giả đã chọn đề tài “Tình hình triển khai sản phẩm Bảo hiểm Hộ gia đình tại Công ty Bảo Minh Hà Nội” để làm luận
Trang 8văn tốt nghiệp
Kết cấu luận văn gồm ba chương:
Chương I: Lý luận chung về bảo hiểm thương mại và sản phẩm bảohiểm trọn gói
Chương II: Thực trạng triển khai sản phẩm trọn gói - Bảo hiểm Hộ giađình tại Bảo Minh Hà Nội
Chương III: Một số kiến nghị cho việc triển khai sản phẩm Bảo hiểm
Hộ gia đình của Bảo Minh Hà Nội
Bài viết này đã được hoàn thành với sự hướng dẫn và giúp đỡ của côgiáo TS Phạm Thị Định và các cán bộ phòng khai thác số 7 thuộc Công tyBảo Minh Hà Nội Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của côgiáo TS Phạm Thị Định và các anh chị phòng khai thác số 7 đãgiúp đỡ em hoàn thành tốt bài viết này!
Trong quá trình làm bài, mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng và đã quanhiều lần trao đổi góp ý của cô giáo hướng dẫn thực tập, nhưng với mộtkhoảng thời gian thực tập và nghiên cứu có hạn nên bài viết chắc chắn khôngtránh khỏi những khiếm khuyết Xin kính mong các thầy cô giáo và bạn đọcgóp ý, xây dựng để tác giả có thể hoàn thiện bài viết của mình
Xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện: Phan Thị Thuý Hằng
Lớp : Bảo hiểm 46B
Trang 9CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM VÀ CÁC SẢN
PHẨM BẢO HIỂM
I Khái quát chung về bảo hiểm thương mại
1 Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm thương mại.
Trong cuộc sống sinh hoạt cũng như hoạt động sản xuất kinh doanhhàng ngày dù đã luôn chú ý ngăn ngừa và đề phòng nhưng con người vẫn cónguy cơ gặp phải những rủi ro bất ngờ Các rủi ro đó do nhiều nguyên nhân:
- Các rủi ro do thiên nhiên gây ra như bão, lũlụt, hạn hán, động đất, sét, lốc, sóng thần, dịch bệnh,… làm ảnh hưởng đếnsản xuất, đến đời sống và đến sức khoẻ của con người;
- Các rủi ro do sự phát triển của khoa học vàcông nghệ Khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển tạo điều kiện thuận lợicho cuộc sống của con người; nhưng mặt khác cũng gây ra nhiều tai nạn bấtngờ như tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tai nạn ô tô,… và làm tăngnguy cơ mất việc làm của người lao động;
- Các rủi ro do môi trường xã hội Những rủi
ro này chịu tác động của nhiều yếu tố và ảnh hưởng trực tiếp đến mọi thànhviên trong xã hội như ốm đau, dịch bệnh, mất việc làm, trộm cắp, hỏa hoạn,
…
Bất kể do nguyên nhân gì, khi rủi ro xảy ra thường gây cho con ngườinhững khó khăn trong cuộc sống như mất hoặc giảm thu nhập, phá hoạinhiều tài sản làm ngưng trệ sản xuất và kinh doanh của các tổ chức, doanhnghiệp, cá nhân,… và làm ảnh hưởng đến đời sống kinh tế - xã hội nóichung
Để đối phó với các rủi ro, con người đã có nhiều biện pháp khác nhau
Trang 10nhằm kiểm soát cũng như khắc phục hậu quả của các rủi ro gây ra Hiện nay,theo quan điểm của các nhà quản lý rủi ro có hai nhóm biện pháp đối phó vớicác rủi ro và hậu quả do rủi ro gây ra – đó là nhóm các biện pháp kiểm soátrủi ro và nhóm các biện pháp tài trợ rủi ro.
gồm các biện pháp né tránh rủi ro, ngăn ngừa tổn thất, giảm thiểu rủi ro Cácbiện pháp này thường được sử dụng để ngăn chặn hoặc giảm thiểu khả năngxảy ra rủi ro
Tránh né rủi ro là biện pháp được sử dụng thường xuyên trong cuộcsống Mỗi người, mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh đều lựa chọn những biệnpháp thích hợp để né tránh rủi ro có thể xảy ra, tức là loại trừ cơ hội dẫn đếntổn thất Tuy nhiên né tránh rủi ro chỉ có thể hiệu quả với những rủi ro có thểlường trước được Nhưng trong cuộc sống có rất nhiều rủi ro bất ngờ khôngthể tránh né được
Ngăn ngừa tổn thất – các biện pháp ngăn ngừa tổn thất đưa ra cáchành động nhằm làm giảm tổn thất hoặc làm giảm mức độ thiệt hại do tổnthất gây ra Biện pháp này có hiệu quả đối với những tổn thất có thể kiểmsoát được như dùng bình chữa cháy để dập tắt những đám cháy nhỏ, tuynhiên nếu là một đám cháy lớn khó kiểm soát thì thiệt hại là rất lớn và biệnpháp này không phát huy được tác dụng
Giảm thiểu tổn thất – người ta có thể giảm thiểu tổn thất thông quacác biện pháp làm giảm giá trị thiệt hại khi tổn thất đã xảy ra Biện pháp nàylàm hạn chế hậu quả của tổn thất, tuy nhiên nếu hâụ qủa tổn thất là rất lớn thìbiện pháp này không có ý nghĩa nhiều
Mặc dù biện pháp kiểm soát rủi ro rất có hiệu quả trong việc ngăn chặnhoặc giảm thiểu rủi ro nhưng khi rủi ro đã xảy ra, người ta không thể lường
Trang 11hết được hậu quả.
- Nhóm các biện pháp tài trợ rủi ro bao gồmcác biện pháp chấp nhận rủi ro và bảo hiểm Đây là các biện pháp được sửdụng trước khi rủi ro xảy ra với mục đích khắc phục các hậu quả tổn thất dorủi ro gây ra nếu có
Chấp nhận rủi ro – đây là hình thức mà người gặp phải tổn thất tựchấp nhận khoản tổn thất đó Một trường hợp điển hình của chấp nhận rủi ro
là tự bảo hiểm Có rất nhiều cách thức khác nhau trong biện pháp chấp nhậnrủi ro, tuy nhiên có thể phân chia làm hai nhóm: chấp nhận rủi ro thụ động
và chấp nhận rủi ro chủ động Trong chấp nhận rủi ro thụ động người ta gặptổn thất không có sự chuẩn bị trước và có thể đi vay mượn để khắc phục hậuquả tổn thất Đối với chấp nhận rủi ro chủ động, người ta lập ra quỹ dự trữ,
dự phòng và quỹ này chỉ được sử dụng khi rủi ro xảy ra gây tổn thất hoặcnếu đi vay thì sẽ bị động và còn gặp phải các vấn đề gia tăng về lãi suất…
Bảo hiểm – đây là một phần quan trọng trong các chương trình quản
lý rủi ro của các tổ chức cũng như cá nhân Theo quan điểm của các nhàquản lý rủi ro, bảo hiểm là sự chuyển giao rủi ro trên cơ sở hợp đồng Theoquan điểm xã hội, bảo hiểm không chỉ là chuyển giao rủi ro mà còn là sựgiảm rủi ro do việc tập trung một số lớn các rủi ro cho phép có thể tiên đoán
về tổn thất khi chúng xảy ra Bảo hiểm là công cụ đối phó với hậu quả tổnthất do rủi ro gây ra, có hiệu quả nhất Như vậy, bảo hiểm ra đời là đòi hỏikhách quan của cuộc sống, của hoạt động sản xuất kinh doanh
Do nhu cầu của con người, hoạt động bảo hiểm ngày càng phát triển vàkhông thể thiếu đối với mỗi cá nhân, doanh nghiệp và mỗi quốc gia Ngàynay, sư giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các quốc gia ngày càng phát triển thìbảo hiểm cũng ngày càng được mở rộng
Trang 122 Vai trò, tác dụng của bảo hiểm thương mại.
Bảo hiểm có nguồn gốc từ rất xa xưa trong lịch sử nền văn minh nhânloại mà thậm chí cho tới bây giờ người ta vẫn chưa xác định được bảo hiểmxuất hiện từ khi nào Có người cho rằng bảo hiểm xuất hiện lần đầu tiên tạisông Dương Tử - Trung Quốc với hình thức các hội thuyền đóng góp mộtkhoản tiền để “bảo hiểm” cho các con thuyền chở hàng; có nghiên cứu lạicho rằng thời Tiền sử, thời Cổ đại, Thời Trung cổ và thời Cận đại, có cáckho lúa nơi mọi người dự trữ lương thực để sử dụng trong trường hợp khẩncấp Kinh nghiệm cho thấy rằng đôi khi cũng xảy ra mất mùa hoặc quân xâmlược ngăn cản người dân thu hoạch Mặc dù mội hộ gia đình có thể tự đềphòng cho những trường hợp xấu nói trên, tuy nhiên, những thị dân đã sớmnhận ra rằng việc dự trữ chung hoặc theo từng cộng đồng có hiệu quả hơn
Đó là một vết tích của việc tổ chức các hoạt động dịch vụ bảo hiểm Từ xaxưa con người đã biết tổ chức một cộng đồng người đóng góp một khoảnnhỏ để đối phó với những rủi ro có thể xảy ra nhằm ổn định cuộc sống Vàngày nay, với sự phát triển của nền kinh tế, bảo hiểm ngày càng thể hiện rõvai trò của nó.Vai trò của bảo hiểm được thể hiện:
chính cho người tham gia trước tổn thất do rủi ro gây ra
Rủi ro do thiên tai hay tai nạn bất ngờ đều gây thiệt hại về kinh tế, ảnhhưởng đến thu nhập, đời sống, sản xuất kinh doanh của các cá nhân, doanhnghiệp tham gia bảo hiểm, chưa kể đến những thiệt hại về người Tổn thất đó
sẽ được bảo hiểm trợ cấp hoặc bồi thường về tài chính để người tham gia bảohiểm nhanh chóng khắc phục hậu quả, ổn định đời sống, sản xuất kinh doanh
và các hoạt động khác một cách bình thường Tác dụng này phù hợp với cácmục tiêu kinh tế và các vấn đề công cộng nên thu hút được số đông người
Trang 13tham gia.
- Bảo hiểm góp phần đề phòng và hạn chế tổnthất, giúp cho cuộc sống con người an toàn hơn, xã hội trật tự hơn, giảm bớtnỗi lo cho mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp
Khi đã tham gia bảo hiểm, cơ quan hoặc công ty bảo hiểm sẽ cùng vớingười tham gia thực hiện các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất rủi ro
đã xảy ra Cơ quan, công ty bảo hiểm đóng góp tài chính một cách tích cực
để thực hiện các biện pháp hạn chế rủi ro như tuyên truyền, hướng dẫn cácbiện pháp phòng tránh tai nạn, mua sắm thêm các dụng cụ phòng cháy chữacháy; cùng ngành giao thông làm các biển báo, các đường lánh nạn…
- Bảo hiểm góp phần ổn định chi tiêu củangân sách Nhà nước
Với quỹ bảo hiểm do các thành viên tham gia đóng góp, cơ quan, công
ty bảo hiểm sẽ trợ cấp hoặc bồi thường tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm chongười tham gia để họ khôi phục sản xuất, kinh doanh, ổn định đời sống Nhưvậy, Ngân sách Nhà nước không phải chi ra để trợ cấp cho các thành viên,các doanh nghiệp khi gặp rủi ro, tất nhiên trừ trường hợp tổn thất có tínhthảm hoạ, mang tính xã hội rộng lớn
Mặt khác, hoạt động bảo hiểm nhất là bảo hiểm thương mại có tráchnhiệm đóng góp vào Ngân sách thông qua các loại thuế, tức tăng thu choNgân sách Nhà nước
để đàu tư phát triển kinh tế - xã hội
Dưới hình thức phí bảo hiểm, ngành bảo hiểm đã huy động được một sốlượng vốn khá lớn từ các đối tượng tham gia Số vốn đó ngoài chi trả trợ cấp
Trang 14hay bồi thường thiệt hại còn là nguồn vốn để đầu tư phát triển kinh tế - xãhội.
Đặc biệt đối với bảo hiểm nhân thọ, nguồn vốn huy động được tích luỹthời gian dài mới sử dụng để chi trả Do đó, các công ty bảo hiểm có thể sửdụng để kinh doanh bất động sản, mua trái phiếu,… nghĩa là dùng đầu tư vàohoạt động kinh tế để sinh lời Và như vậy, bảo hiểm sẽ góp phần tăng nguồnvốn cho nền kinh tế, làm cho hệ thống tài chính sôi động hơn,
- Bảo hiểm còn góp phần thúc đẩy phát triểnquan hệ kinh tế giữa các nước thông qua hoạt động tái bảo hiểm
Thị trường bảo hiểm nội địa và thị trường bảo hiểm quốc tế có mốiquan hệ qua lại, thúc đẩy nhau phát triển thông qua hình thức phân tán rủi ro
và chấp nhận rủi ro – hình thức tái bảo hiểm vừa góp phần phát triển quan hệkinh tế giữa các nước, vừa góp phần ổn định thu, chi ngoại tệ cho Ngân sách
định của xã hội, góp phần giảm bớt tình trạng thất nghiệp cho xã hội Đồngthời hoạt động bảo hiểm cũng góp phần giải quyết đời sống cho bộ phận laođộng làm việc trong ngành bảo hiểm; góp phần tạo ra một bộ phận tổng sảnphẩm trong nước (GDP) của quốc gia
cho mọi người, mọi tổ chức kinh tế - xã hội; giúp họ yên tâm trong cuộcsống, sinh hoạt và trong hoạt động sản xuất kinh doanh Bởi vì, với một giákhiêm tốn (phí bảo hiểm), bảo hiểm có thể giúp đỡ các gia đình, các tổ chứckhắc phục hậu quả những rủi ro khôn lường
3 Khái niệm và bản chất của bảo hiểm thương mại.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm Sau đây là một vài địnhnghĩa được chọn lọc:
Trang 15“Bảo hiểm là một phương pháp lập quỹ dự trữ bằng tiền do những
người có cùng khả năng gặp một loại rủi ro nào đó đóng góp tạo nên” (theo
giáo trình bảo hiểm - Đại học kinh tế quốc dân)
“Bảo hiểm là hoạt động thể hiện người bảo hiểm cam kết bồi thường(theo quy luật thống kê) cho người tham gia bảo hiểm trong từng trường hợpxảy ra rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm với điều kiện người tham gia nộp mộtkhoản phí cho chính anh ta hoặc cho người thứ ba” Điều này có nghĩa làngười tham gia chuyển giao rủi ro cho người bảo hiểm bằng các nộp mộtkhoản phí để hình thành quỹ dự trữ Khi người tham gia gặp rủi ro dẫn đếntổn thất, người bảo hiểm lấy quỹ dự trữ trợ cấp hoặc bồi thường thiệt hạithuộc phạm vi bảo hiểm cho người tham gia Phạm vi bảo hiểm là những rủi
ro mà người tham gia đăng ký với người bảo hiểm (theo giáo trình bảo hiểm
- Đại học kinh tế quốc dân)
“Bảo hiểm là một hoạt động, thông qua đó một cá nhân hay một tổ chức
có quyền được hưởng bồi thường hoặc chi trả nếu rủi ro xảy ra nhờ vàokhoản đóng góp cho mình hay cho người khác Khoản bồi thường hoặc chitrả này do một tổ chức đảm nhiệm, tổ chức này có trách nhiệm trước các rủi
ro và bù trừ chúng theo đúng quy luật thống kê” (theo giáo trình bảo hiểm
-Đại học kinh tế quốc dân)
Từ những định nghĩa trên, bản chất của bảo hiểm được thể hiện ởnhững nội dung sau:
- Thứ nhất mục đích chủ yếu của bảo hiểm làgóp phần ổn định kinh tế cho người tham gia từ đó khôi phục và phát triểnsản xuất, đời sống, đồng thời tạo nguồn vốn cho phát triển kinh tế - xã hộicủa đất nước
- Thứ hai, thực chất của hoạt động bảo hiểm là
Trang 16quá trình phân phối lại tổng sản phẩm trong nước giữa những người tham gianhằm đáp ứng nhu cầu tài chính phát sinh khi tai nạn, rủi ro bất ngờ xảy ragây tổn thất đối với người tham gia bảo hiểm.
phối không đều, không bằng nhau, nghĩa là không phải ai tham gia cũngđược phân phối và phân phối với số tiền như nhau Phân phối trong bảo hiểm
là phân phối cho số ít người tham gia bảo hiểm không may gặp rủi ro bất ngờgây thiệt hại đến sản xuất và đời sống trên cơ sở mức thiệt hại thực tế và điềukiện bảo hiểm Điều đó cũng có nghĩa, phân phối trong bảo hiểm khôngmang tính bồi hoàn, tức là dù có tham gia đóng góp vào quỹ bảo hiểm nhưngkhông tổn thất thì không được phân phối (trừ một số sản phẩm bảo hiểmnhân thọ, bảo hiểm hưu trí)
- Thứ tư, hoạt động bảo hiểm dựa trên nguyêntắc “số đông bù số ít” Nguyên tắc này được quán triệt trong quá trình lậpquỹ dự trù bảo hiểm cũng như quá trình phân phối bồi thường, quá trìnhphân tán rủi ro
- Thứ năm, hoạt động bảo hiểm còn liên kết,gắn bó các thành viên trong xã hội cùng vì lợi ích chung của cộng đồng, vì
sự ổn định, sự phồn vinh của đất nước Bảo hiểm với nguyên tắc “số đông bù
số ít” cũng thể hiện tính tương trợ, tính xã hội và nhân văn sâu sắc của xã hộitrước những rủi ro của mỗi thành viên
4 Những nguyên tắc chung trong hoạt động bảo hiểm thương mại.
Bảo hiểm là một ngành nghề kinh doanh dịch vụ đặc biệt đó là kinhdoanh rủi ro, quá trình kinh doanh là một quá trình có chu trình kinh doanhđảo ngược (giá của sản phẩm được xác định trước khi xác định được chi phícủa sản phẩm); do đó hoạt động kinh doanh bảo hiểm cần phải tuân thủ các
Trang 17Theo nguyên tắc này, càng nhiều người tham gia bảo hiểm thì quỹ bảohiểm tích tụ được ngày càng lớn, việc chi trả, bồi thường trở nên dễ dànghơn, rủi ro được san sẻ cho nhiều người hơn Thông thường một sản phẩmbảo hiểm chỉ có thể được triển khai khi có nhiều nhu cầu về cùng một loạibảo đảm đó
4.2 Nguyên tắc 2: Nguyên tắc rủi ro có thể được bảo hiểm.
Đây là một nguyên tắc không thể thiếu được trong hoạt động bảo hiểmthương mại Theo nguyên tắc này, các rủi ro đã xảy ra, chắc chắn hoặc gầnnhư chắc chắn sẽ xảy ra thì bị từ chối bảo hiểm; những rủi ro mang tính đầu
cơ sinh lợi cũng không được bảo hiểm,… Những rủi ro được bảo hiểm lànhững rủi ro bất ngờ, không lường trước được và không mong muốn xảy rarủi ro, nguyên nhân xảy ra rủi ro phải là nguyên nhân khách quan, không cố
ý Tính đồng nhất của rủi ro cũng là một yếu tố khác giúp công ty bảo hiểm
có thể xem xét rủi ro có thể được bảo hiểm hay không Trên cơ sở tính đồngnhất của rủi ro công ty bảo hiểm có thể tính toán được phí bảo hiểm một
Trang 18cách chính xác và khoa học dựa vào các phương pháp toán học.
Để bảo đảm nguyên tắc này, trong đơn bảo hiểm luôn có các rủi ro loạitrừ Đối với các rủi ro được nhận bảo hiểm lại có thể xem xét để phân loại,sắp xếp theo từng mức độ khác nhau để áp dụng mức phí phù hợp Chính vìvậy, một yêu cầu đặt ra đối với người tham gia là phải trung thực tuyệt đốikhi khai báo rủi ro để công ty bảo hiểm có thể xác định chính xác rằng rủi ro
có thể chấp nhận bảo hiểm hay không, nếu có thì với mức phí như thế nào.Nguyên tắc rủi ro có thể được bảo hiểm nhằm tránh cho các công ty bảohiểm phải bồi thường cho những tổn thất thấy trước, tránh cho công ty không
bị phá sản Đồng thời nguyên tắc này cũng giúp các công ty bảo hiểm có thểtính toán được mức phí hợp lý Không chỉ đảm bảo quyền lợi cho công tybảo hiểm mà nguyên tắc này còn đảm bảo tính công bằng cho người thamgia bảo hiểm
4.3 Nguyên tắc 3: Nguyên tắc phân tán rủi ro.
Người tham gia bảo hiểm chuyển giao cho người bảo hiểm bằng việcđóng một khoản phí bảo hiểm, lúc này người bảo hiểm sẽ là người phải đốimặt với những tổn thất có thể rất lớn nếu rủi ro xảy ra Mặc dù quỹ được huyđộng là lớn nhưng nếu rủi ro tập trung vào công ty lớn, trong cùng thời gianthì khả năng chi trả đối với công ty là khó khăn, đặc biệt là những công tybảo hiểm vừa mới thành lập hoặc những công ty có vốn nhỏ Điều này là rấtxấu cho công ty bảo hiểm Và để tránh được những tình huống này các công
ty bảo hiểm thường sử dụng hai phương thức phân tán rủi ro đó là đồng bảohiểm và tái bảo hiểm Như vậy, nhà bảo hiểm có thể chia sẻ hoặc chuyểngiao rủi ro đã nhận của mình với các tổ chức hoặc công ty bảo hiểm khác đểbảo đảm khả năng tài chính của công ty
4.4 Nguyên tắc 4: Nguyên tắc trung thực tuyệt đối.
Trang 19Bảo hiểm là sự cam kết sẽ chi trả hoặc bồi thường của người bảo hiểmđối với người tham gia bảo hiểm trong tương lai, do đó, nguyên tắc này đòihỏi trước hết đối với công ty bảo hiểm là phải có trách nhiệm cung cấp sảnphẩm dịch vụ của mình theo đúng những gì đã cam kết.
Nguyên tắc này cũng đặt ra một yêu cầu với người tham gia bảo hiểm làphải trung thực khai báo rủi ro của mình để công ty bảo hiểm xác định chínhxác mức phí phải đóng cho rủi ro mà công ty đảm nhận Thêm vào đó cáchành vi gian lận trục lợi bảo hiểm khi phát hiện sẽ được xử lý theo pháp luật
4.5 Nguyên tắc 5: Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm.
Nguyên tắc này yêu cầu người tham gia bảo hiểm phải có lợi ích tàichính bị tổn thất nếu đối tượng được bảo hiểm gặp rủi ro Nói cách khác,người tham gia bảo hiểm phải có một số quan hệ với đối tượng được bảohiểm và được pháp luật công nhận Mối quan hệ có thể biểu hiện qua quyền
sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản, quyền và nghĩa vụnuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm
Nguyên tắc về quyền lợi có thể được bảo hiểm nhằm loại bỏ khả nằngbảo hiểm cho tài sản của người khác, hoặc cố tình gây thiệt hại hoặc tổn thất
để thu lợi từ một đơn bảo hiểm
Ngoài các nguyên tắc cơ bản trên, trong mỗi một loại hình bảo hiểmthương mại sẽ có thêm các nguyên tắc khác phù hợp với đặc điểm của từngloại: nguyên tắc bồi thường, nguyên tắc khoán,…
5 Phân loại bảo hiểm thương mại.
Phân loại bảo hiểm thương mại thường căn cứ vào ba tiêu thức chủ yếusau:
- Theo tính chất pháp lý, bảo hiểm có thể phân
Trang 20loại thành bảo hiểm tự nguyện và bảo hiểm bắt buộc Phần lớn các sản phẩmbảo hiểm đều là tự nguyện Việc tham gia bảo hiểm phụ thuộc vào nhận thức
và nhu cầu của người tham gia bảo hiểm Bảo hiểm bắt buộc thường gắn vớicác rủi ro có hậu quả tổn thất không chỉ ảnh hưởng đến một hay một số đốitượng và chủ thể mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của toàn xã hội Ví dụ nhưbảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm trách nhiệm dân
sự của chủ lao động đối với người lao động, bảo hiểm trách nhiệm nghềnghiệp,…
thuật được dùng làm căn cứ để phân loại bảo hiểm thương mại thành bảohiểm theo kỹ thuật phân chia và bảo hiểm theo kỹ thuật tổn tích Bảo hiểmtheo kỹ thuật phân chia là các bảo hiểm có thời hạn ngắn (thường là mộtnăm) bảo đảm các rủi ro có tính chất tương đối ổn định và độc lập với tuổithọ con người
Bảo hiểm theo kỹ thuật tổn tích là các bảo hiểm có thời hạn dài, quỹ
được tích tụ qua nhiều năm mới được sử dụng để chi trả Bảo hiểm theo kỹ
thuật tổn tích thường bảo đảm cho các rủi ro có tính chất thay đổi rõ rệt theothời gian, đối tượng và thường gắn liền với tuổi thọ con người
- Theo đối tượng được bảo hiểm, bảo hiểmthương mại được phân chia thành:
+Bảo hiểm nhân thọ
+Bảo hiểm phi nhân thọ Bảo hiểm phi nhân thọ lại được chia thành bảohiểm hàng hải, bảo hiểm phi hàng hải, bảo hiểm trách nhiệm pháp lý, bảohiểm xe cơ giới và bảo hiểm con người phi nhân thọ
II Sản phẩm bảo hiểm trọn gói.
Trang 211 Khái niệm và tác dụng của sản phẩm bảo hiểm trọn gói.
1.1 Các khái niệm.
Khi nền kinh tế phát triển, nhu cầu tiêu dùng những sản phẩm tiện íchngày càng tăng, sản phẩm trọn gói ra đời đã đáp ứng được nhu cầu đó củangười tiêu dùng Vậy sản phẩm trọn gói là gì?
Sản phẩm trọn gói là một phương pháp mà các nhà quản trị hàng đầu sửdụng để đối phó với xu hướng bão hoà của thị trường và tiêu chuẩn hoá sảnphẩm Sản phẩm trọn gói ngày càng được nhiều nhà sản xuất, phân phối trênthế giới sử dụng trong chiến lược sản phẩm của mình Chẳng hạn, ngân hàngcung cấp gói dịch vụ gồm bảo hiểm, thẻ tín dụng, và dịch vụ tài chính khácvới giá thấp hơn khi các dịch vụ này được mua riêng; hay những hãng dulịch cung cấp giá máy bay, phòng khách sạn tại các khu nghỉ mát với giáthấp hơn cho những khách hàng mua trọn gói, hãng phần mềm máy tínhMicrosoft sẵn sàng bán trọn gói phần mềm với giá thấp hơn khi mua riêngtừng phần mềm,…
Có thể hiểu sản phẩm trọn gói là “sản phẩm mà nó bao gồm hai hay
nhiều sản phẩm/ dịch vụ trong một gói sản phẩm, với mức giá được người mua cảm nhận rằng thấp hơn khi mua từng sản phẩm riêng lẻ” Marketing
hiện đại chỉ ra rằng, một chiến lược marketing thành công chỉ khi mục tiêu
và công cụ marketing hướng đến khách hàng
Và không nằm ngoài khái niệm chung của sản phẩm trọn gói, sản phẩmbảo hiểm trọn gói cũng giống như các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ trọn góikhác, tức là sản phẩm bảo hiểm trọn gói cũng bao gồm hai hay nhiều sảnphẩm bảo hiểm khác nhau được đưa ra nhằm đáp ứng những nhu cầu cùnglúc của khách hàng, với mức giá mà khách hàng cảm nhận được là thấp hơnkhi mua các sản phẩm bảo hiểm riêng lẻ
Trang 22Các doanh nghiệp bảo hiểm kinh doanh trên các lĩnh vực khác nhau sẽ
có những gói sản phẩm trọn gói riêng mang tính chất “nghiệp vụ” Ví dụ,doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đưa ra các gói sản phẩm liên quan đếnnghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ như bảo hiểm sức khoẻ gia đình, bảo hiểmnhân thọ hỗn hợp,…, doanh nghiệp bảo hiểm kinh doanh nghiệp vụ bảohiểm tàu thuỷ đưa ra các gói sản phẩm liên quan đến nghiệp vụ bảo hiểmhàng hải như bảo hiểm con người, bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm trách nhiệmdân sự,…, doanh nghiệp bảo hiểm kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm phi hànghải cung cấp gói sản phẩm liên quan đến sức khoẻ con người, bảo hiểm xe,bảo hiểm hoả hoạn,…
Trong một nghiệp vụ bảo hiểm thường có rất nhiều sản phẩm, và trongcác danh mục sản phẩm bảo hiểm này có rất nhiều sản phẩm thoả mãn nhucầu cùng một lúc của khách hàng, việc chọn gói sản phẩm như thế nào đểthoả mãn nhu cầu cùng một lúc của khách hàng là không khó Tuy nhiên, sảnphẩm bảo hiểm là loại sản phẩm có nhu cầu thụ động, nên việc xác định baonhiêu sản phẩm trong một gói sản phẩm để giá gói sản phẩm là chấp nhậnđược, và khách hàng có thể thanh toán được là điều không dễ dàng chút nào
Do đó, doanh nghiệp áp dụng chiến lược sản phẩm trọn gói cần phải tínhtoán một cách kỹ lưỡng khi đưa ra quyết định về sản phẩm trọn gói mà mình
sẽ cung cấp
1.2 Tác dụng của sản phẩm bảo hiểm trọn gói.
Giá trị mà sản phẩm trọn gói mang lại cho khách hàng là sự thuận tiệnkhi thực hiện ít giao dịch hơn, tiết kiệm thời gian và cảm nhận được giá trịgia tăng của sản phẩm Không chỉ mang lại giá trị cho khách hàng, sản phẩmtrọn gói còn giúp doanh nghiệp bảo hiểm bán được nhiều sản phẩm hơn,giảm được chi phí bán hàng, làm tăng doanh số bán hàng cho công ty Nó
Trang 23cũng cho thấy rằng doanh nghiệp bảo hiểm linh hoạt hơn với các điều kiệncủa một thị trường đang bão hoà Đây cũng là một tiêu chí khá quan trọngđối với các doanh nghiệp bảo hiểm đang và sẽ phát hành cổ phiếu!
Hơn thế nữa quá trình hoạch địch chiến lược marketing yêu cầu phảixác định được lợi thế cạnh tranh của công ty đối với đối thủ cạnh tranh Việc
sử dụng sản phẩm bảo hiểm trọn gói đem lại cho doanh nghiệp bảo hiểm hailợi thế cạnh tranh là: tạo sự khác biệt và giảm được giá
Trên thực tế, kết quả phản ứng của khách hàng về sản phẩm dịch vụkhác chào bán rất khả quan Theo kết quả điều tra qua mạng của tổ chứcMarketing Leadership Council, có khoảng 55% công ty cho rằng, có khoảng20-60% khách hàng thực sự đã mua sản phẩm khi công ty chào bán sảnphẩm trọn gói Các chuyên gia marketing cũng đồng ý rằng, mức độ mongmuốn của khách hàng tăng lên cùng với mức độ chào bán sản phẩm trọn gói.Như vậy tác dụng của các sản phẩm trọn gói là rất lớn, và chắc chắn tác dụngcủa sản phẩm bảo hiểm trọn gói cũng lớn như vậy
Sản phẩm bảo hiểm trọn gói là một dấu hiệu của sự phát triển trên thịtrường bảo hiểm vì khách hàng ngày càng được thoả mãn nhiều nhu cầutrong đó có thoả mãn cùng một lúc nhiều nhu cầu, tạo được sự thuận tiện vềlợi ích và thời gian khi mà thời gian của người tiêu dùng có hạn Nền kinh tếcàng phát triển, thu nhập của người dân càng tăng thì nhu cầu về các sảnphẩm bảo hiểm trọn gói càng lớn
Về bản chất mà nói sản phẩm bảo hiểm trọn gói không phải là một sảnphẩm mới, mà chỉ là các sản phẩm đã được bán từ trước được bán với cáchthức khác - trọn gói, tuy nhiên nó lại có thể thu hút được khách hàng mộtcách khá mạnh mẽ Có thể nói sản phẩm bảo hiểm trọn gói là một chiến lượcmarketing sản phẩm hiệu quả Tuy nhiên, để áp dụng thành công chiến lược
Trang 24này, cần phải lưu ý những vấn đề sau:
- Xác định rõ giá trị chào bán trong sản phẩmbảo hiểm trọn gói Thực tế có ba giá trị mà khách hàng mong muốn khi sửdụng sản phẩm bảo hiểm trọn gói đó là: tính kinh tế, tính thuận tiện, và tínhgiải pháp Vì thế, các công cụ marketing như chính sách sản phẩm, giá cả,khuyến mại phải truyền tải đến khách hàng thông điệp “sản phẩm chào báncủa chúng tôi mang đến chi phí thấp hơn/ thuận tiện hơn/ giải pháp tốt hơncho khách hàng
gói sản phẩm Các sản phẩm riêng lẻ trong gói sản phẩm phải đáp ứng đượcnhu cầu trong cùng một lúc của khách hàng, để đảm bảo gói sản phẩm không
bị phá vỡ Ví dụ, không thể chọn dịch vụ tổ chức đám cưới và dịch vụ kháchsạn trong một sản phẩm dịch vụ chọn gói được vì hai nhu cầu này là táchbiệt, khách hàng thuê phòng để nghỉ chứ không có nhu cầu tổ chức đámcưới,… Và vì vậy nếu công ty này chỉ bán gói sản phẩm mà không bán riêng
lẻ thì sẽ không có khách!
trong sản phẩm bảo hiểm trọn gói để chào bán Các sản phẩm có thể đượcchào bán hoặc riêng lẻ hoặc trọn gói tuỳ vào quyết định của khách hàng.Việc mà khách hàng chỉ mua một đến một vài sản phẩm riêng lẻ trong góisản phẩm hay thấy trong các gói sản phẩm dịch vụ, khi mà khách hàng đã sửdụng một vài sản phẩm tương tự như trong gói sản phẩm của công ty rồinhưng chưa mua những sản phẩm khác và có nhu cầu về sản phẩm đó, thìcác công ty khi sử dụng chiến lược sản phẩm trọn gói cần phải linh hoạt đểkhai thác tối đa những nhu cầu của khách hàng tiềm năng đối với sản phẩmcủa công ty mình
Trang 25- Thận trọng trong việc định giá sản phẩm trọngói Theo một nghiên cứu về chiến lược giá thì khách hàng thường cộng dồngiá các sản phẩm riêng lẻ để tính giá sản phẩm trọn gói Vì thế cần phải cóchiến lược sao cho chứng minh được sản phẩm trọn gói có lợi hơn, nhất làđối với những khách hàng đã từng sử dụng các sản phẩm riêng lẻ Có haicách định giá có thể sử dụng: giá của sản phẩm trọn gói thấp hơn giá của cácsản phẩm riêng lẻ, và giá gia tăng (tức là gia tăng giá trị của gói sản phẩmbằng các sản phẩm khuyến mại) Tuỳ từng trường hợp cụ thể ứng với từngsản phẩm và đặc tính của thị trường mà sử dụng cách nào cho phù hợp Vìthế, một công ty trước khi áp dụng công cụ này trong chiến lược marketingsản phẩm nên nghiên cứu kỹ đánh giá của khách hàng về sản phẩm trọn gói,lựa chọn chiến lược sản phẩm cũng như chiến lược giá của sản phẩm
Sản phẩm bảo hiểm trọn gói tạo ra ưu thế cho các doanh nghiệp bảohiểm nhỏ: Với sự bão hoà của thị trường như hiện nay, cùng với sự tiêuchuẩn hoá sản phẩm ngày càng trở thành những thách thức đối với các nhàquản trị, thì sản phẩm bảo hiểm trọn gói có thể coi là một phương thức mới
để họ đối phó với thách thức đó Nếu việc nghiên cứu, sáng tạo ra một sảnphẩm bảo hiểm hoàn toàn mới tốn kém nhiều tiền bạc và thời gian, màkhông nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhỏ làm được thì sản phẩm trọn gói làmột giải pháp hoàn hảo giúp doanh nghiệp nâng cao lợi thế cạnh tranh lâudài, giúp doanh nghiệp bảo hiểm đứng vững trên thị trường
Ở Việt Nam, sản phẩm bảo hiểm trọn gói, cũng như các sản phẩm trọngói nói chung cũng đã được các công ty sử dụng để chào bán và marketingsản phẩm, và thu được kết quả khả quan Tâm lý tiêu dùng của người ViệtNam nói chung là thích được mua hàng với giá thấp, thích mua hàng khuyếnmại vì họ cho rằng họ được nhận giá trị cao hơn số tiền họ bỏ ra Chính tâm
lý nổi bật này của người Việt Nam mà sản phẩm trọn gói có điều kiện phát
Trang 26triển Một số công ty đã sử dụng sản phẩm trọn gói thành công như: Ngânhàng ACB với sản phẩm ACB-Visa Electron đưa đến cho khách hàng mộtgiải pháp đi du lịch quốc tế bằng dịch vụ tài chính kết hợp dịch vụ y tế, công
ty VinaBridge hay công ty liên doanh khai thác Container cung cấp trọn góihai dịch vụ vận chuyển và kho bãi, Tổng công ty Bảo Minh với sản phẩmbảo hiểm hộ gia đình với ba sản phẩm riêng lẻ là bảo hiểm xe mô tô, bảohiểm nhà tư nhân và bảo hiểm sức khoẻ,…
2 Đặc điểm của sản phẩm bảo hiểm trọn gói
Sản phẩm bảo hiểm trọn gói trước hết là một sản phẩm dịch vụ nên nó
có đầy đủ những đặc điểm của một sản phẩm dịch vụ đó là:
khách hàng nhận biết được các yếu tố hữu hình như tờ giấy in biểu tượng củadoanh nghiệp, tên gọi của sản phẩm, nội dung thoả thuận,… nhưng kháchhàng không nhìn được màu sắc, kích thước, hình dáng, mùi vị của sản phẩmhay nói cách khác, khách hàng không thể cảm nhận được sản phẩm thôngqua các giác quan của mình Tính vô hình của sản phẩm làm cho việc giớithiệu, chào bán sản phẩm khó khăn hơn những sản phẩm hữu hình do kháchhàng không cảm nhận được chất lượng của sản phẩm, không thấy được sựkhác nhau giữa các sản phẩm của các doanh nghiệp bảo hiểm khác
- Tính không thể tách rời và không thể cất giữ.Qúa trình cung ứng và tiêu dùng sản phẩm bảo hiểm là một thể thống nhấtkhông thể tách rời, do đó nó gây ra hiện tượng thừa, thiếu nguồn nhân lựckhi yếu tố mùa vụ xuất hiện Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp bảo hiểmcần phải đào tạo những nhân viên có thể nhận biết và đáp ứng nhu cầu kháchhàng một cách tốt nhất trong những trường hợp nhu cầu của khách hàng tăngmạnh
Trang 27- Tính không đồng nhất Do sản phẩm bảohiểm được thực hiện bởi con người, cho nên chất lượng của sản phẩm làkhác nhau đối với những nhân viên khác nhau, thậm chí cùng một nhân viêncung cấp nhưng vào những thời điểm khác nhau chất lượng dịch vụ cũngkhác nhau Do đó, doanh nghiệp bảo hiểm cần chú trọng đến công tác tuyểnchọn, đào tạo và khuyến khích nhân viên đặc biệt là nhân viên bán hàng.
- Tính không được bảo hộ bản quyền Đặcđiểm này làm cho sản phẩm bảo hiểm của một công ty bị cạnh tranh quyếtliệt, bởi sản phẩm bảo hiểm là dễ bắt chước, và không được bảo hộ, nêndoanh nghiệp bảo hiểm phải đổi mới sản phẩm: giảm phí hoặc gia tăng cáclợi ích bổ sung cho sản phẩm để khách hàng có thể nhận biết và đánh giá caosản phẩm của doanh nghiệp
Sản phẩm bảo hiểm trọn gói là một sản phẩm bảo hiểm nên nó có đầy
đủ những đặc điểm của một sản phẩm bảo hiểm đó là:
- Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm “khôngmong đợi” Cả doanh nghiệp và khách hàng đều không mong muốn rủi roxảy ra vì một khi rủi ro xảy ra thì đồng nghĩa với thương tích thiệt hại, mấtmát mà doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường và chi trả cũng khó có thể bù đắphết được Đặc điểm này làm cho việc chào bán là vô cùng khó khăn
trình hạch toán đảo ngược” Tức là chi phí của sản phẩm lại được phát hiệnsau khi bán sản phẩm Điều này đòi hỏi khi doanh nghiệp thiết kế sản phẩmmới cần phải căn cứ vào các số liệu thống kê của các chỉ tiêu liên quan đểđưa ra được một tỉ lệ phí hợp lý để doanh thu sản phẩm có thể bù đắp đượccác chi phí có thể phát sinh và thu được lợi nhuận hợp lý
Trang 28quả xê dịch” Đặc điểm này là do tần suất xảy ra rủi ro trong mỗi năm làkhác nhau làm cho tỷ lệ bồi thường cũng thay đổi; do đó hiệu quả kinhdoanh là không ổn định.
Ngoài những đặc điểm trên, sản phẩm bảo hiểm trọn gói còn có nhữngđặc điểm riêng của sản phẩm trọn gói như:
- Tính không ổn định của sản phẩm Số lượngsản phẩm riêng lẻ trong sản phẩm bảo hiểm trọn gói là nhiều, và khách hàngđược quyền lựa chọn những sản phẩm trong gói sản phẩm này mà không đòihỏi bắt buộc phải mua cả gói Điều này làm cho việc tính toán chi phí cũngnhư việc quản lý hồ sơ sản phẩm gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi doanh nghiệpbảo hiểm cần xây dựng một quy trình quản lý sản phẩm cho hợp lý Vấn đềnày khó khăn và phức tạp hơn sản phẩm bảo hiểm riêng lẻ nhiều
- Tính không đồng nhất về nhu cầu đối với cácsản phẩm riêng lẻ Sản phẩm bảo hiểm nào được bán cho khách hàng cũng
có giá trị trong một thời gian nhất định; thường có thời hạn ít nhất là mộtnăm Đối với sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ, khách hàng chỉ mua sảnphẩm mới khi hết hạn hợp đồng sản phẩm cũ cùng loại Do đó, tại một thờiđiểm nào đó, khách hàng chỉ có nhu cầu đối với loại sản phẩm mà hiện tại họchưa sử dụng hoặc đã đến thời gian đáo hạn sản phẩm Sở dĩ có hiện tượngnày là do các sản phẩm bảo hiểm riêng lẻ đã được bán từ trước đó rồi chonên có thể khách hàng có nhu cầu tiêu dùng tất cả các sản phẩm bảo hiểmriêng lẻ của gói sản phẩm nhưng vào những thời điểm khác nhau khi mà hợpđồng bảo hiểm riêng lẻ đáo hạn
- Sản phẩm trọn gói thực chất không phải làmột sản phẩm hoàn toàn mới mà chỉ là một gói các sản phẩm riêng lẻ đã có
từ trước, cho nên sản phẩm trọn gói có tính chất chứa đựng, là sự tổng hợp
Trang 29của các sản phẩm riêng lẻ Tuy nhiên, doanh nghiệp bảo hiểm phải đưa ramột mức giá thấp hơn tổng giá trị của các sản phẩm riêng lẻ để tạo ra giá trịmới cho sản phẩm trọn gói, kích thích khách hàng mua sản phẩm Điều nàyđòi hỏi doanh nghiệp bảo hiểm phải có những công cụ marketing riêng, đặctrưng cho sản phẩm bảo hiểm trọn gói để sản phẩm bảo hiểm trọn gói thểhiện được vai trò của nó.
Nói tóm lại, sản phẩm bảo hiểm trọn gói, tuy về bản chất không phải làmột sản phẩm hoàn toàn mới nhưng nó có thể gây ra một làn sóng tiêu dùngmạnh hơn rất nhiều so với các sản phẩm bảo hiểm riêng lẻ, nó là một phươngthức hiệu quả để đối phó với tình hình nhu cầu thị trường đang bão hoà cũngnhư sự cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp bảo hiểm Tuy nhiên đểsản phẩm trọn gói hoàn thành được sứ mệnh của nó, bản thân nó chưa thểquyết định được, quan trọng hơn đó là phải có một chương trình marketingtổng hợp để nâng cao giá trị của sản phẩm trọn gói cũng như kích thíchngười dân tiêu dùng nhiều hơn
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI SẢN PHẨM TRỌN GÓI SẢN PHẨM BẢO HIỂM HỘ GIA ĐÌNH TẠI BẢO MINH HÀ NỘI
-I Sự ra đời và phát triển của Bảo Minh Hà Nội.
1 Giới thiệu về công ty Bảo Minh Hà Nội.
- Giới thiệu vể Tổng công ty bảo hiểm Bảo Minh.
Vinh dự được Thủ tướng Chính phủ và Bộ Tài chính lựa chọn là doanhnghiệp bảo hiểm nhà nước đầu tiên hoạt động hết sức có hiệu quả để thựchiện cổ phần hoá Công ty Bảo hiểm Thành phố Hồ Chí Minh đã được
Trang 30chuyển đổi thành Tổng Công ty cổ phần Bảo Minh (gọi tắt là Bảo Minh) với
số vốn điều lệ 1.100 tỉ đồng, hoạt động đa ngành trong lĩnh vực kinh doanhbảo hiểm và đầu tư tài chính, có trụ sở chính đặt tại 26 Tông Thất Đạm,Quận 1, TP Hồ Chí Minh,với 1.500 nhân viên và hơn 8.700 đại lý BảoMinh chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/10/2004 theo Giấy phép thànhlập và hoạt động số 27/GK/KDBH do Bộ Tài chính cấp Sự chuyển đổi nàykhông chỉ đánh dấu một bước ngoặt trên con đường phát triển của Bảo Minh
mà còn là sự chuyển mình của ngành bảo hiểm Việt Nam, thể hiện sự quyếttâm của Chính phủ Việt Nam đưa ngành bảo hiểm Việt Nam hoà nhập vớithị trường bảo hiểm các nước trong khu vực và trên thế giới
Từ khi thành lập đi vào hoạt động đến nay, Bảo Minh liên tục phát triểnkhông những về quy mô tổ chức, thị phần mà còn nâng cao hình ảnh, uy tíncủa mình trong một thị trường bảo hiểm năng động bao gồm nhiều công tykinh doanh bảo hiểm thuộc nhiều thành phần kinh tế trong và ngoài nước,trong đó có 08 công ty bảo hiểm nhân thọ, 22 công ty bảo hiểm phi nhân thọ,
08 công ty môi giới bảo hiểm và 01 công ty tái bảo hiểm Mạng lưới cácCông ty thành viên và Văn phòng đại diện bảo hiểm của Bảo Minh đã đượcđặt tại 55 tỉnh thành trong cả nước với 57 công ty thành viên Bảo Minh làmột trong những công ty Việt Nam đầu tiên tham gia liên doanh với công tynước ngoài Bảo Minh đã liên doanh điều hành 2 công ty, gồm 1 công ty liêndoanh bảo hiểm phi nhân thọ là Công ty bảo hiểm liên hiệp (UIC) và 1 công
ty liên doanh bảo hiểm nhân thọ là Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Bảo Minh –CMG (hiện công ty này được bán cho công ty bảo hiểm nhân thọ Dai-ichi).Các sản phẩm bảo hiểm của Bảo Minh đang cung cấp trên thị trường tươngđối đa dạng và không ngừng được cải tiến, thuộc 3 loại hình bảo hiểm: tàisản, con người,và trách nhiệm dân sự
Bảo Minh là doanh nghiệp bảo hiểm đầu tiên tại Việt Nam được cấp
Trang 31Chứng chỉ Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001: 2000 và cũng là doanhnghiệp Việt Nam đầu tiên áp dụng giải pháp phần mềm tích hợp doanhnghiệp (ERP) thuộc hàng tiên tiến nhất trên thế giới của hãng SAP Sau 13năm xây dựng và phát triển Bảo Minh đã vinh dự được Chủ tịch nước CộngHoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tặng thưởng Huân chương Lao động Hạng
ba (11/1999) và Huân chương Lao động Hạng hai (10/2004)
Công tác quảng bá thương hiệu Bảo Minh cũng đã được củng cố và đẩy
mạnh theo hướng chuyên nghiệp Việc xây dựng một phong cách Bảo Minh
- tận tình phục vụ trong toàn hệ thống, không dừng lại ở mức thoả mãn nhu
cầu mà còn hướng đến việc đạt được sự hài lòng của khách hàng Các hoạtđộng tài trợ, hỗ trợ, tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội luôn đượcBảo Minh quan tâm chú ý, góp phần tạo nên sự gần gũi và tin cậy đối vớikhách hàng Năm 2006 Bảo Minh vinh dự đoạt giải thưởng “Ngọn HảiĐăng”, và giải thưởng “Thương hiệu Việt” Gía trị cổ phiếu của Bảo Minhtrên sàn giao dịch chính thức đã khẳng định sự lớn mạnh không ngừng củaBảo Minh
- Giới thiệu về công ty Bảo Minh Hà Nội.
Công ty Bảo Minh Hà Nội:
Địa chỉ: Số 10 Phan Huy Chú, Q Hoàn Kiếm, TP Hà Nội
Số telex (fax) : 04 9454276
Số điện thoại : 04 9335061(62 hoặc 63)
Chi nhánh Bảo Minh Hà Nội thuộc Công ty bảo hiểm Thành phố HồChí Minh được khai trương và đi vào hoạt động chính thức từ 06/1995, chinhánh Bảo Minh Hà Nội đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triểnchung của Công ty bảo hiểm Thành phố Hồ Chí Minh Và từ tháng 10/2004
Trang 32cùng với việc cổ phần hoá Công ty bảo hiểm Thành phố Hồ Chí Minh thànhTổng công ty cổ phần Bảo Minh, chi nhánh Bảo Minh Hà Nội trở thànhCông ty Bảo Minh Hà Nội trực thuộc Tổng Công ty cổ phần bảo hiểm BảoMinh Công ty Bảo Minh Hà Nội là một trong những công ty thành viên củaTổng công ty Bảo Minh có doanh thu lớn nhất, hoạt động đa dạng trên tất cảcác nghiệp vụ của Tổng công ty (trừ nghiệp vụ Hàng không đã được tách vềTổng công ty vào năm 2005) Tháng 6 năm 2006, Công ty Bảo Minh Hà Nộitách một phần các bộ phận của Công ty và thành lập Công ty Bảo MinhThăng Long Hà Nội Công ty Bảo Minh Hà Nội hiện nay (năm 2007) cókhoảng 100 nhân viên và nhiều đại lý hoạt động trên khắp 14 quận, huyệntrên địa bàn Thành phố Hà Nội.
2 Cơ cấu bộ máy tổ chức của Bảo Minh Hà Nội.
Cơ cấu bộ máy tổ chức của Bảo Minh Hà Nội được thể hiện ở sơ đồ 2.1
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy
P.PHH
Trang 34Bảng 2.1 Doanh thu phí và cơ cấu doanh thu phí theo nghiệp vụ bảo hiểm
(2003-2007)
Nghiệp vụ
doanh thu (tỷđ)
tỷ
trọng
(%)
doanh thu (tỷđ)
tỷ trọng (%)
doanh thu (tỷđ)
tỷ trọng (%)
doanh thu (tỷđ)
tỷ trọng (%)
doanh thu
(tỷđ)
tỷ trọng (%) Hàng hải 16,362 14,9 17,93 15,6 30,6 20,7 5,756 9,8 10,91 14,9TS-KT 20,643 18,8 18,116 15,8 23,55 40,4 25,66 43,8 26,1 35,7
Xe 18,048 16,5 21,097 18,3 23,19 39,8 20,01 34,2 27,94 38,2Con người 4,169 3,8 5,124 4,5 6,51 11,2 7,153 12,2 8,242 11,3
(Nguồn: Bảo Minh Hà Nội)
Hình 2.1: Biểu đồ doanh thu (2003-2007)
Trang 35bảo hiểm chỉ tăng 6,0% so với năm 2003, nhưng đến năm 2005 doanh thu lạigiảm 48,2% so với năm 2004, năm 2006 giảm 17,6% Nhưng đến năm 2007,doanh thu có chiều hướng tăng và tăng nhanh, doanh thu năm 2007 đã tăngtới 24,9%.
Tỷ trọng trong doanh thu các nghiệp vụ bảo hiểm cũng có những thayđổi đáng kể Trong hai năm 2003,2004, Bảo hiểm Hàng không chiếm tỷtrọng cao nhất, sau đó đến Bảo hiểm Tài sản - kỹ thuật, sau đó đến Bảo hiểm
xe cơ giới, Bảo hiểm Hàng hải, và Bảo hiểm con người Nhưng từ năm 2005trở đi, Bảo Minh Hà Nội không tiến hành nghiệp vụ Bảo hiểm Hàng khôngnữa và nghiệp vụ Bảo hiểm Tài sản – kỹ thuật chiếm tỷ trọng cao nhất sau đóđến nghiệp vụ Bảo hiểm Hàng hải, Bảo hiểm xe cơ giới , cuối cùng là Bảohiểm con người
Sở dĩ doanh thu phí bảo hiểm và tỷ trọng doanh thu phí bảo hiểm củacác nghiệp vụ bảo hiểm của Bảo Minh Hà Nội trong 5 năm qua có nhữngbiến động như vậy là do:
Trong khoảng thời gian từ 2003-2004 là khoảng thời gian công ty BảoMinh chuẩn bị cho kế hoạch cổ phần hoá Công ty Bảo Minh thành Tổngcông ty cổ phần vào ngày 01/01/2004, do đó công ty Bảo Minh Hà Nội cùngvới Tổng công ty tập trung chuẩn bị cho sự kiện cổ phần hoá Công ty bảohiểm Thành phố Hồ Chí Minh thành Tổng công ty Bảo Minh Đây là lý dochủ yếu dẫn đến tốc độ tăng trưởng doanh thu của Bảo Minh Hà Nội tăngchậm (tăng 6%)
Năm 2005, việc tách nghiệp vụ hàng không (nghiệp vụ hàng không có
tỷ trọng doanh thu phí lớn nhất trong các nghiệp vụ bảo hiểm của Bảo Minh
Hà Nội- chiếm 65,3% tổng doanh thu phí) về Tổng công ty, do đó tổngdoanh thu phí bảo hiểm của Bảo Minh Hà Nội sụt giảm đi đáng kể (giảm48,2%) Ngoài ra, việc tách nghiệp vụ hàng không về Tổng Công ty được
Trang 36thực hiện khá muộn nên các định mức kinh doanh đưa ra chưa hợp lý và kịpthời Việc thay đổi lãnh đạo của Công ty cũng gây ra nhiều biến động trong
tổ chức của Công ty và các phòng liên quan Do đó, hoạt động kinh doanhcủa Bảo Minh Hà Nội trong năm 2005 đạt kết quả thấp
Tháng 6 năm 2006, Bảo Minh Hà Nội tách toàn bộ phòng phi hàng hải(gồm nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới và nghiệp vụ bảo hiểm con người) vàphòng hàng hải cho việc thành lập Công ty Bảo Minh Thăng long Hà Nội, do
đó toàn bộ doanh thu của hai phòng này (khoảng 35% doanh thu phí bảohiểm) được chuyển hết sang cho Bảo Minh Thăng Long Hà Nội; nhưngdoanh thu của cả năm 2006 chỉ giảm 17,6% Sở dĩ có sự biến động doanh thunhư vậy là do: sau khi tách đi hai phòng Bảo hiểm hàng hải và bảo hiểm phihàng hải thì Bảo Minh Hà Nội có chủ trương mở rộng đối tượng khai thácbảo hiểm xe ô tô Từ năm 2005 trở về trước, Bảo Minh Hà Nội chỉ tập trungkhai thác các đối tượng là các ban ngành như: Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính,
Bộ Công an, kho bạc Nhà nước, các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệpliên doanh, doanh nghiệp nước ngoài; nhưng từ cuối năm 2006, Bảo Minh
Hà Nội mở rộng đối tượng khai thác là các công ty taxi, công ty vận tải, công
ty tư nhân, và tất cả các đối tượng sở hữu xe ô tô làm tăng số lượng xe ô tôtham gia bảo hiểm lên 1000 chiếc Do đó, phần tăng lên của doanh thunghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới đã bù lại được đáng kể phần thâm hụt doanhthu năm 2005 của Bảo Minh Hà Nội
Đến năm 2007, hoạt động của công ty đã dần đi vào ổn định Đồng thờitrên Tổng công ty đã có những chính sách đúng đắn cũng như đưa ra đượcnhiều sản phẩm mới có tính cạnh tranh cao đã góp phần nâng cao doanh thucủa công ty Bảo Minh Hà Nội như sản phẩm Bảo hiểm toàn diện học sinh-sinh viên, sản phẩm Bảo hiểm Hộ gia đình, Năm 2007 doanh thu của công
ty tăng 24,9% so với năm 2006 Có thể nói ban lãnh đạo công ty đã hết sức
Trang 37tận tâm trong việc chèo lái “con tàu” Bảo Minh Hà Nội đạt được thành tíchvượt bậc như vậy.
Kết quả kinh doanh trong năm 2007 cho thấy tiềm năng phát triển củaBảo Minh Hà Nội là rất lớn, việc tách Bảo Minh Hà Nội ra thành 2 công tyriêng rẽ như vậy đã rất hiệu quả, nếu trước khi tách, tốc độ tăng doanh thu làrất thấp thì chỉ sau một năm chia tách, mặc dù thị phần bị chia nhỏ, phạm vihoạt động bị thu hẹp, nhưng tốc độ tăng trưởng là 24,9% Cũng do trong năm
2007, do tác động của chính sách vay vốn của ngân hàng: trước đây, ngânhàng chỉ cho vay tối đa 30% giá trị tài sản cầm cố thì năm 2007, tỷ lệ nàyđược điều chỉnh lên 70% (tạo điều kiện cho người dân mua hàng trả góp),đồng thời Nhà nước có chính sách giảm thuế nhập khẩu; điều này đã tácđộng lớn đến nhu cầu mua xe ô tô tăng (khoảng 80.000 chiếc xe ô tô đượcbán ra trong năm 2007) do đó nhu cầu mua bảo hiểm xe ô tô tăng cao, và vìvậy, doanh thu phí bảo hiểm trong năm 2007 của Bảo Minh Hà Nội cũngtăng lên
Bảo Minh Hà Nội phấn đấu năm 2008 đạt tốc độ tăng trưởng 25%, tăng0,1% so với năm 2007, nâng doanh thu của công ty lên 95 tỉ đồng Có thể nóiBảo Minh Hà Nội đang phát triển hết sức mạnh mẽ và nhanh chóng
Bảo Minh Hà Nội đã chú trọng quan tâm đến việc tạo ra giá trị gia tăngcho sản phẩm bằng nhiều điều khoản bổ sung rất phù hợp với nhu cầu củakhách hàng Ví dụ như Bảo hiểm môtô xe máy, công ty đã đưa vào 3 điềukhoản bổ sung trong đó có điều khoản sửa chữa tại hãng, điều khoản này đãtạo thêm được giá trị mới cho sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh trênthị trường cho sản phẩm, khẳng định sự phục vụ tận tình đáp ứng được nhiềunhu cầu của khách hàng
Tình hình bồi thường của các nghiệp vụ trong những năm từ năm 2004
Trang 38đến năm 2007 cũng diễn biến phức tạp; được thể hiện ở bảng 2.2.
Bảng 2.2 Tình hình bồi thường của các nghiệp vụ ( 2004-2007)
TL BT (%)
DT (tỷđ)
bồi thường (tỷđ)
TL BT(%)
DT (tỷđ)
bồi thường (tỷđ)
TL BT (%)
DT (tỷđ)
bồi thường (tỷđ)
TL BT (%) Hàng hải 16,362 13,372 74,6 12,09 46,597 260,8 5,756 0,075 0,03 10,906 2,469 22,6TS-KT 20,643 6,256 34,5 23,55 4,734 20,1 25,66 4,204 20,91 26,098 1,506 5,8
Xe 18,048 11,871 56,3 23,2 11,372 49 20,01 7,572 15,45 27,936 12,143 43,5Con.người 4,169 2,915 56,9 6,51 2,451 37,6 7,153 0,842 2,24 8,242 1,194 14,5
Tổng 59,222 34,414 - 71,9 65,154 - 58,58 12,69 - 73,182 17,312
-(Nguồn: Bảo Minh Hà Nội)
Nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải có mức độ biến động tỷ lệ bồi thường lớn:
từ 74,6% năm 2004 tăng lên tới 260% năm 2005, đến năm 2006 chỉ có0,03%, năm 2007 là 22,6%; làm cho tỷ lệ bồi thường toàn công ty cũng cónhững dao động lớn
Năm 2004, tỷ lệ bồi thường chung là 55,3%; năm 2005 lên tới 91,6%;năm 2006 giảm còn 11,37%, năm 2007 tăng lên 23,7% Có thể nói hoạt độngbồi thường trong khoảng thời gian qua (từ năm 2004 đến năm 2007) diễnbiến hết sức phức tạp
Hoạt động giám định bồi thường được công ty hết sức chú ý sao chophục vụ được tốt nhất cho khách hàng, đảm bảo quyền lợi chính đáng chokhách hàng, tạo điều kiện tốt nhất, thủ tục đơn giản nhất, khách hàng lấy tiền
bồi thường nhanh nhất có thể, qua đó tạo dựng uy tín và hình ảnh Bảo Minh
- tận tình phục vụ tới khách hàng.
II Sản phẩm bảo hiểm trọn gói: “Bảo hiểm hộ gia đình”
1 Giới thiệu về sản phẩm “bảo hiểm hộ gia đình” của Bảo Minh
Trang 39Sản phẩm Bảo hiểm Hộ gia đình là một sản phẩm bảo hiểm trọn gói,bao gồm ba nghiệp vụ bảo hiểm riêng biệt đó là:
- Bảo hiểm sức khoẻ gia đình;
- Bảo hiểm xe cơ giới;
- Bảo hiểm nhà tư nhân
Hợp đồng Bảo hiểm Hộ gia đình là một hợp đồng chứa đựng hợp đồngcủa ba hợp đồng bảo hiểm riêng lẻ, ngoài ra hợp đồng còn bao gồm mộtkhoản giảm phí bảo hiểm trọn gói áp dụng khi khách hàng mua từ hai sảnphẩm trong danh mục sản phẩm trọn gói nhưng phải có sản phẩm bảo hiểmsức khoẻ gia đình Hợp đồng Bảo hiểm Hộ gia đình mang lại sự thuận tiệncho khách hàng khi giao dịch ít hơn Nếu như trước kia, khách hàng mua basản phẩm riêng lẻ phải cần ba lần giao dịch với ba loại hợp đồng thì giờ đây,chỉ cần một lần giao dịch, khách hàng đã có thể mua được cả ba sản phẩmbảo hiểm
Nội dung của bản hợp đồng đưa ra mức phí, đối tượng, phạm vi bảohiểm và các điều khoản bảo hiểm đối với từng nghiệp vụ cụ thể như sau:
a) Bảo hiểm sức khoẻ gia đình.
+ Đối tượng bảo hiểm: Là mọi công dân Việt Nam và người nước ngoàiđang sinh sống tại Việt Nam từ 14 ngày tuổi đến 70 tuổi Người tham gia bảohiểm từ trước 70 tuổi được quyền tái tục bảo hiểm cho đến tối đa 75 tuổi.Bảo Minh không nhận bảo hiểm:
-Những người bị bệnh tâm thần, phong, ung thư;
-Những người bị tàn phế hoặc thương tật vĩnh viễn từ 50% trở lên;-Những người đang trong thời gian điều trị bệnh tật, thương tật;
Trang 40-Những người trên 70 tuổi (ngoại trừ trường hợp tái tục).
+ Phạm vi bảo hiểm: Bảo Minh sẽ bồi thường cho người bảo hiểm trongcác trường hợp:
-Chết do mọi nguyên nhân
-Thương tật thân thể do tai nạn
-Ốm đau, bệnh tật, thai sản phải nằm viện hoặc phẫu thuật
-Bảo Minh còn mở rộng bảo hiểm cho điều trị ngoại trú, mất, giảm thunhập (nếu có)
+ Loại trừ bảo hiểm: Bảo Minh không trả tiền bảo hiểm trong nhữngtrường hợp sau:
1 Bện có sẵn và bệnh đặc biệt (chỉ áp dụng trong năm đầu tiên thamgia bảo hiểm)
2 Hành động cố ý của người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng
3 Người được bảo hiểm từ đủ 14 tuổi trở lên vi phạm nghiêm trọngpháp luật, quy định của chính quyền địa phương hoặc các tổ chức xã hội
4 Người được bảo hiểm bị ảnh hưởng trực tiếo do sử dụng rượu bia,
ma tuý hoặc các chất kích thích tương tự khác
5 Việc điều trị tại trung tâm điều dưỡng, khu điều dưỡng trong bệnhviện, trung tâm dưỡng lão, suối nước nóng, suối nước khoáng
6 Nằm viện để kiểm tra sức khoẻ hoặc khám giám định y khoa màkhông liên quan đến việc điều trị bệnh
7 Điều trị hoặc phẫu thuật các bệnh tật bẩm sinh, những thương tật vàchỉ định phẫu thuật có từ trước ngày bắt đầu bảo hiểm
8 Điều trị chưa được khoa học công nhận hoặc điều trị thử nghiệm