BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÂN ĐÌNH………***……… ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG QUANH RĂNG VÀ NHU CẦU ĐIỀU TRỊ Ở PHỤ NỮ CÓ THAI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÂN ĐÌNH NĂM 2015 Ngư
Trang 1BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÂN ĐÌNH
………***………
ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG QUANH RĂNG
VÀ NHU CẦU ĐIỀU TRỊ Ở PHỤ NỮ CÓ THAI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÂN ĐÌNH NĂM 2015
Người thực hiện: Nguyễn Tuấn Hợp
HÀ NỘI - 2015
Trang 2Gần đây theo những nghiên cứu về dịch tễ học của
“Trung tâm quốc gia về thống kê sức khoẻ” (National Centrefor Health Statistics-Mỹ), và những điều tra của “Viện quốc gianghiên cứu nha khoa” (National Institute of Dental Research-Mỹ) đáp ứng của mỗi người đối với bệnh quanh răng là khácnhau Tính mẫn cảm của mỗi người đối với bệnh QR dườngnhư thay đổi tuỳ theo những yếu tố nguy cơ nào đang hoạtđộng
Một trong đối tượng có nguy cơ cao đặc biệt là nhóm phụ nữ mang thaituy nhiên hiện nay vấn đề chăm sóc răng miệng ở phụ nữ có thai vẫn chưathực sự được quan tâm và vẫn còn tồn tại những quan niệm có phần chưađúng trong cộng đồng Đa số các thai phụ đều có xu hướng phớt lờ sức khỏerăng miệng hoặc rất lo lắng, e ngại nếu phải can thiệp điều trị răng miệngtrong khi đang mang thai nên tình trạng quanh răng ở phụ nữ mang thaithường không được kiểm soát tốt
Trang 3Muốn đánh giá tình trạng vùng quanh răng thì chúng ta cần đánh giánhiều chỉ số khác nhau, trong đó chỉ số nhu cầu điều trị quanh răng cộng đồng(CPITN) giúp đánh giá tình trạng quanh răng và nhu cầu điều trị quanh răng.Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về tình trạng quanh răng ở phụ nữ cóthai, tuy nhiên những nghiên cứu này lại chưa được được công bố nhiều ởViệt Nam.
Để có thông tin cụ thể và thực tế hơn về tình trạng quanh răng trên phụ nữ có
thai tôi xin được lập khảo sát “Đánh giá tình trạng quanh răng và nhu cầu điều
trị ở phụ nữ có thai tại bệnh viện Đa khoa Vân Đình – Hà Nội năm 2015”.
Khảo sát này nhằm các mục tiêu:
1 Đánh giá tình trạng quanh răng ở phụ nữ có thai tại bệnh viện
Đa khoa Vân Đình – Hà Nội theo chỉ số CPITN.
2 Xác định nhu cầu điều trị ở các nhóm đối tượng trên.
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Giải phẫu vùng quanh răng
Vùng quanh răng bao gồm 4 thành phần: lợi, dây chằng quanh răng, xươngrăng và xương ổ răng Xương ổ răng gồm có mào xương ổ và lá sàng Lá sàng làphần liên tục với mào xương ổ, nó tạo nên vách xương mỏng lót huyệt ổ răng
Hình 1.1 Minh họa cấu trúc giải phẫu vùng quanh răng
1.1 Lợi
Lợi là vùng đặc biệt của niêm mạc miệng, được giới hạn bởi bờ lợi vàphía cuống răng bởi niêm mạc miệng, ở phía ngoài của cả hai hàm và phíatrong của hàm dưới Ở phía ngoài cả hai hàm và phía trong hàm dưới lợi liêntục với niêm mạc xương ổ răng ở đường ranh giới niêm mạc miệng – lợi Ở
Trang 6phía khẩu cái, lợi tiếp tục với niêm mạc khẩu cái cứng Lợi được chia thànhhai phần: lợi tự do và lợi dính.
+ Lợi tự do là phần lợi không dính vào răng, ôm sát cổ răng và cùngvới cổ răng tạo nên một khe sâu khoảng 0.5 – 1 mm gọi là rãnh lợi Lợi tự dogồm hai phần: nhú lợi và lợi viền
- Nhú lợi: Là lợi ở kẽ răng, che kín kẽ, có một nhú ở phía ngoài, mộtnhú ở phía trong, giữa hai nhú là một vùng lõm
- Lợi viền: không dính vào răng mà ôm sát cổ răng, cao khoảng 0.5 – 1
mm Mặt trong của lợi viền là thành ngoài của rãnh lợi
Lợi tự do tiếp nối với lợi dính tại lõm dưới lợi tự do
+ Lợi dính là vùng lợi bám dính vào chân răng ở trên và mặt ngoàixương ổ răng ở dưới Mặt ngoài lợi dính cũng như mặt ngoài lợi tự do đềuđược phủ bởi lớp biểu mô sừng hóa Mặt trong của lợi dính có hai phần: phầnbám vào chân răng cao khoảng 1.5 mm được gọi là vùng bám dính và phầnbám dính vào mặt ngoài xương ổ răng
Lợi khỏe mạnh có màu hồng, chắc với một bờ lợi mỏng hình rìa lưỡidao hay hình vỏ sò ôm xung quanh răng Ở một vài chủng người, lợi có thểnhiễm sắc tố đen Bờ lợi cao khoảng vài mm, bắt đầu từ đường nối men –cement Mô lợi là biểu mô sừng hóa và có màu nhạt hơn so với niêm mạcmiệng là biểu mô không sừng hóa
Trang 7+ Thần kinh
Là những nhánh thần kinh không có bao myelin chạy trong mô liên kết,chia nhánh tới tận lớp biểu mô
1.2 Dây chằng quanh răng
Dây chằng quanh răng là cấu trúc liên kết giữa răng và xương ổ răng.Đây là một mô liên kết mềm, giàu mạch máu và các bó sợi collagen
Nó có nhiều chức năng như cấu tạo, nâng đỡ,bảo vệ, cảm giác và dinhdưỡng Dây chằng quanh răng có thể coi như một màng xương của lá sànghuyệt ổ răng Dây chằng quanh răng hoạt động để vô hiệu lực nhai truyền vào
Rãnh lợi Đường viền lợi Lợi tự do Lõm dưới lợi tự do
Niêm mạc xương ổ răng Đường nối niêm mạc miệng lợi Lợi dính
Trang 8cấu trúc xương ổ răng Độ rộng, chiều cao và chất lượng của dây chằng quanhrăng quyết định sự di chuyển của răng.
Dây chằng quanh răng cấu tạo từ các sợi cơ bản, chúng có bản chất làcác sợi collagen được sắp xếp thành từng bó nối liền xương răng và lá sànghuyệt ổ răng Phần tận cùng của sợi cơ bản đâm xuyên vào xương răng đượcgọi là sợi Sharpey
Tùy theo sự sắp xếp và hướng đi của các bó sợi mà có những nhóm dâychằng quanh răng sau :
- Nhóm mào ổ răng: gồm những bó sợi đi từ mào ổ răng đến xươngrăng gần cổ răng
- Nhóm ngang: gồm những bó chạy ngang giữa xương răng và xương
ổ răng
- Nhóm chéo: gồm những bó sợi đi từ xương ổ răng chạy chếchxuống dưới và vào trong để bám vào xương răng
- Nhóm cuống răng: chạy từ xương răng, ở cuống răng đến xương ổ răng
- Nhóm giữa các chân răng: các sợi này có ở vùng chẽ của các răngnhiều chân
- Nhóm liên vách: nhóm này có thể coi như một thành phần của lợi vì
nó không có sự liên kết vào xương Các sợi chạy từ mặt bên của răng nàysang răng bên cạnh
Trang 9Hình 1.3: Các bó dây chằng quanh răng 1.3 Xương răng
Là một mô khoáng hóa phủ lên phần ngà ở chân răng Trong các môcứng của răng, xương răng là mô có tính chất lý học và hóa học gần giống vớicác xương khác nhưng nó cũng có nhiều khác biệt như không có mạch máu,mạch bạch huyết, không có vai trò tạo khung nâng đỡ cơ thể, không trải quaquá trình tiêu, tái cấu trúc sinh lý Xương răng được khoáng hóa suốt đời
Nhìn chung xương răng giới hạn trong bề mặt chân răng, đường ranhgiới men – xương răng là ranh giới phân chia thân và chân răng giải phẫu.Tuy nhiên khoảng 30% trường hợp xương răng và men gặp nhau theo kiểuđối đầu, không phủ lên nhau, 60% xương răng phủ lên men răng, khoảng 10%
Trang 10Về giải phẫu, xương ổ răng gồm có:
+ Bản xương (có cấu tạo là xương đặc)
- Bản xương ngoài: là xương vỏ ở mặt ngoài và mặt trong của xương
ổ răng, được màng xương che phủ
- Bản xương trong (lá sàng huyệt ổ răng): nằm liền kề với chân răng,
có nhiều lỗ thủng (lỗ sàng) qua đó mạch máu từ trong xương đi vào vùngquanh răng và ngược lại Trên Xquang, phần xương đặc này hiện lên là mộtdải trắng đục được gọi là lá cứng
Cấu trúc của xương vỏ nhìn chung giống như các xương đặc khác,nghĩa là nó bao gồm các hệ thống Havers Lớp xương vỏ hàm dưới dày hơn
so với xương vỏ hàm trên Ở cả hai hàm, độ dày của lớp vỏ thay đổi theo vị trícủa răng nhưng nhìn chung mặt trong dày hơn mặt ngoài Riêng ở mặt ngoàithì xương đặc ở mặt ngoài răng cối lớn hàm dưới dày nhất và mỏng nhất ởmặt ngoài răng cửa hàm dưới
+ Xương xốp: nằm giữa hai bản xương trên và giữa các lá sàng Xương
xốp bao gồm một mạng lưới bè xương mỏng, xem giữa là các khoang tủy, chủyếu lấp đầy tủy mỡ Ở vùng lồi củ xương hàm trên và góc xương hàm dưới cóthể thấy tủy tạo máu, ngay cả ở người lớn
Trang 11Bệnh răng miệng nói chung và bệnh quanh răng nói riêngcho tới nay vẫn rất phổ biến, có xu hướng lan rộng và tiếntriển rất phức tạp Bệnh liên quan tới tuổi, giới, điều kiện kinh
tế xã hội, vùng địa lý
So với các châu lục trên thế giới thì các nước châu Á tỉ lệphần trăm người lành thấp khoảng 3% (qua kết quả điều tra ởmột số nước như Nhật Bản 1984, Nepan 1984, Srilanca 1984,
và Hồng Công 1984), còn ở các châu lục khác thì khả quanhơn như châu Âu là 4.57% (thông qua kết quả điều tra tại HàLan 1981, Phần Lan 1984, Hungari 1984, Bồ Đào Nha 1984,Tây Ban Nha 1984, Italia 1985 và Hylap 1985), còn châu Úc là11% (kết quả điều tra của đại diện Australia 1984) Tỉ lệ này ởcác nước Đông Nam Á có mức trung bình là 6% (qua điều tratại Thái Lan 1982, Indonesia 1984) [6]
Ở châu Á tình hình bệnh quanh răng vẫn ở mức nghiêmtrọng Theo kết quả các cuộc điều tra thì ở châu Á có trungbình VLP lành/người (code 0) thấp, (chỉ chiếm khoảng 0.08) và
số trung bình VLP bệnh lý/người còn ở mức báo động [6]
Các nước Đông Nam Á cũng không nằm ngoài tình trạngtrên Điển hình như Thái Lan là một nước có công tác chămsóc sức khỏe răng miệng cộng đồng tốt, nhưng theo kết quảđiều tra toàn quốc thì mới chỉ có 1% lợi hoàn toàn khoẻ mạnh,58% có túi lợi nông và 11% có túi lợi sâu
2.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu điều tra
về bệnh quanh răng với các phương pháp, mục tiêu và qui mô
Trang 12khác nhau Các cuộc điều tra này đều cho kết quả là tỉ lệ mắcbệnh quanh răng ở nước ta còn cao.
Theo kết quả điều tra cơ bản trong toàn quốc tiến hành
từ năm 1981 - 1983 của viện RHM Trung ương, Nguyễn VănCát và cộng sự cho thấy tỉ lệ mắc bệnh ở miền Nam là 91.3%,còn ở miền Bắc là 82.1% [6]
Trong một điều tra riêng rẽ về bệnh quanh răng ở các tỉnhphía nam Việt Nam và thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Cẩn vàcộng sự cho thấy tỉ lệ người có cao răng rất cao, gặp ở hầu hếtcác lứa tuổi, viêm lợi luôn đi đôi với cao răng, 1/3 số viêm lợi
sẽ tiến triển sang viêm quanh răng [6]
Kết quả điều tra cơ bản SKRM các tỉnh phía Bắc năm
1995 cho thấy tỉ lệ người có tổ chức quanh răng hoàn toànkhoẻ mạnh ở 3 nhóm tuổi 12, 15, 34-44 là rất thấp chưa quá3% Chương trình điều tra SKRM toàn quốc năm 2000 do ViệtNam và Úc hợp tác cũng cho kết quả là > 90% người đượckhám bị viêm lợi và viêm quanh răng, chỉ số CPITN (1 – 4) >97% [6]
Theo các tác giả Trần Văn Trường, Lâm Ngọc Ấn, TrịnhĐình Hải trong báo cáo điều tra SKRM toàn quốc năm 2001 thì
tỉ lệ người có bệnh quanh răng rất cao ở mức 96.7% trong đó31.8% có túi lợi bệnh lý nông và sâu [3]
Ở Việt Nam, các nghiên cứu cho thấy tỉ lệ chảy máu lợi khi thăm khámtúi lợi bệnh lý ở lứa tuổi 15 -19 rất thấp (0-4%), tỉ lệ cao răng ở lứa tuổi nàyrất cao (78-96%) Với kết quả này có thể xếp Việt Nam nằm trong 10% quốcgia trên thế giới có tỉ lệ cao răng cao nhất ở thanh thiếu niên Tỉ lệ cao răng ở
Trang 13người trưởng thành Việt Nam cũng rất cao (97%-100%), xếp trong danh sách20% quốc gia trên thế giới có tỉ lệ cao răng cao nhất ở người trưởng thành [6].
3 Bệnh căn bệnh sinh bệnh vùng quanh răng
Các bệnh viêm lợi và viêm quanh răng đều do tác nhân vi khuẩn, virushoặc nấm gây ra, quá trình bệnh lý là do sự tương tác giữa các tác nhân tấncông và hệ thống miễn dịch của cơ thể Trong các tác nhân gây bệnh thì vikhuẩn ở mảng bám răng là căn nguyên thường gặp
Mảng bám răng có khả năng gây bệnh trực tiếp và gián tiếp
Tác động trực tiếp là do vi khuẩn sản sinh ra các men, nội độc tố và sảnphẩm đào thải của vi khuẩn trong quá trình sống như NH3, ure, sulfur hydric
Tác động gián tiếp là do tính chất kháng nguyên của mảng bám vikhuẩn, kháng nguyên khởi động các phản ứng kháng nguyên – kháng thể, cácchất trung gian hóa học có thể gây hiện tượng tự phá hủy tổ chức ở vùngquanh răng
Sự liên quan giữa hệ vi sinh ở mảng bám răng và bệnh viêm quanhrăng: so sánh tỉ lệ vi khuẩn ở mảng bám răng vùng bệnh và vùng lành thấykhối lượng vi khuẩn ở mảng bám răng vùng viêm gấp đôi vùng lành Vùngviêm có lượng mảng bám răng nhiều hơn vùng lành, như vậy thì lượng vikhuẩn ở vùng bệnh lớn hơn rất nhiều so với vùng lành Nghiên cứu hình thái
vi khuẩn cho thấy ít cầu khuẩn, nhiều trực khuẩn di động và xoắn khuẩn ởvùng bệnh hơn vùng lành Nuôi cấy vi khuẩn mảng bám răng vùng lành thấychủ yếu là cầu và trực khuẩn Gr + (khoảng 75%), mảng bám răng ở vùngviêm lợi thì cầu khuẩn và trực khuẩn Gr + chỉ chiếm 44%, vùng viêm quanhrăng chiếm 10 – 13% Sự giảm tỉ lệ Gr + đồng hành với tăng tỉ lệ trực khuẩn
Gr -: 13% ở mảng bám răng vùng lành, 40% ở mảng bám răng vùng viêm lợi,74% ở mảng bám răng vùng viêm quanh răng tiến triển
Trang 14Một số lượng lớn loài vi khuẩn có thể là căn nguyên bệnh viêm quanhrăng Tuy nhiên việc kết luận căn nguyên bệnh còn nhiều khó khăn[2].
Tóm lại bệnh quanh răng là bệnh nhiễm khuẩn đã được công nhận, songbên cạnh đó ngày nay người ta cũng nhận thấy rằng con người không ngangnhau trước bệnh quanh răng Ngoài các yếu tố đã được biết đến như tuổi tác,chủng tộc, giới tính, di truyền, tình trạng kinh tế xã hội có ảnh hưởng tới bệnhquanh răng thì một số tình trạng toàn thân, đặc biệt là khi mang thai cũng đượcbiết đến như là yếu tố nguy cơ của bệnh quanh răng [11] [17]
4 Bệnh quanh răng ở phụ nữ mang thai
Phụ nữ có thai thường bị viêm lợi khu trú hoặc toàn thể Bệnh thườngbắt đầu từ tháng thứ hai và tăng dần trong thai kỳ đến tháng thứ 8
Viêm lợi thai nghén được xác định là phản ứng viêm ở lợi, khởi phát do mảngbám và tăng nặng do hormone steroid nội tiết (Mariotti 1999) Đây là mộtbệnh phổ biến, ảnh hưởng đến 36 - 100% thai phụ (Maier & Orban 1949, Loe
& Silness 1963, Jensen et al 1981) Ảnh hưởng của hormone nội tiết giới tínhlên mô nha chu đã được thừa nhận trong phân loại bệnh quanh răng, trongnhóm “bệnh viêm lợi do mảng bám, thay đổi theo hệ nội tiết”, bao gồm viêmlợi có liên quan với tuổi dậy thì, chu kỳ kinh nguyệt và thai nghén (Armitage1999)
Trên mô nha chu, những ảnh hưởng của lượng hormone lên lợi có thể
bị tăng lên do sự tăng số lượng các loại vi khuẩn Bacteroides, Prevotella,Porphyromonas [17] Những dấu hiệu của viêm lợi (VD: chảy máu, đổi màu
đỏ, sưng nề, giảm trương lực) xuất hiện rõ ràng trong giai đoạn hai của thai kỳ
và cao điểm nhất là ở tháng thứ 8 của thai kỳ Những răng ở vùng răng trước
bị ảnh hưởng nặng hơn những răng ở vùng răng sau [18] Việc kiểm soátmảng bám kém và thói quen thở miệng làm những dấu hiệu này nặng hơn[18] Việc tăng lung lay răng có mối liên quan với những sự thay đổi hệ vi
Trang 15khuẩn từ vi khuẩn yếm khí sang vi khuẩn kị khí [18] Những sự thay đổi hệ vikhuẩn này được bổ sung thêm bởi tăng phản ứng viêm trong hệ thống bámdính cũng như sự rối loạn khoáng chất trong lá cứng, là nguyên nhân gây lunglay răng [17]
Những thay đổi nội tiết trong suốt quá trình mang thai là một trongnhững thay đổi đáng chú ý nhất Trong suốt thời kỳ này cả progesterone vàestrogen đều tăng lên do thể vàng liên tục sản xuất ra những hormone này.Vào cuối giai đoạn thứ 3 (3 tháng cuối), progesterone và estrogen đạt cực
đỉnh 100 và 6ng/ml (nanograms/ millilitre) trong tương bào, cao gấp 10 – 30
lần trong chu kỳ kinh Sự mẫn cảm với những nhiễm trùng (VD: nhiễm trùngnha chu) tăng trong suốt thời kỳ nghén sớm do sự thay đổi trong hệ thốngmiễn dịch, [10], [11] và có thể được giải thích là do sự thay đổi hormonequan sát thấy trong suốt thai kỳ [12], sự ức chế hoạt động tế bào T, giảm hóaứng động bạch cầu trung tính và thực bào, đáp ứng lympho bào bị thay đổi vàsản xuất kháng thể bị giảm [13], mẹ bị stress thường xuyên và thậm chí thiếuhụt dinh dưỡng do nhu cầu về dinh dưỡng của cả mẹ và thai nhi đều tăng.Những thay đổi này cũng có thể tạo nên điều kiện thuận lợi cho bệnh nha chutiến triển, được quan sát thấy trong suốt thai kỳ như viêm lợi thai kỳ [14] [15],
u hạt thai kỳ, viêm quanh răng Sự tăng tổng hợp Prostaglandin E2 được quansát thấy khi estradiol và progesterone tập trung nhiều hơn, như trong suốt thai
kỳ, có thể góp phần làm tăng sự thay đổi bệnh lý này [10] Mặt khác, nhữngtác nhân gây bệnh quanh răng cũng có thể sử dụng hormone giới tính nhưprogesterone hay estradiol như một nguồn cung cấp dinh dưỡng Những loại
vi khuẩn này hầu như gia tăng trong dịch rãnh lợi của phụ nữ mang thai, tìnhtrạng này có tương quan rõ ràng với sự tăng nặng của viêm lợi thai kỳ [10]
Những thay đổi về mặt lâm sàng và hệ vi sinh vật ở mô nha chu trong suốt thai kỳ
Trang 16Tăng độ sâu túi lợi khi thăm khám
Viêm lợi tăng
Tăng lưu lượng dịch rãnh lợi
Tăng chảy máu khi thăm khám
Tăng lung lay răng
Đây chính là sự biến đổi về lợi do có thai gây nên Ngoài ra, bệnh nàycòn có thể do các nguyên nhân như không chú ý vệ sinh răng miệng, thức ăntích đọng tạo thành mảng bám trên răng, vi khuẩn trong mảng bám răng gâynên viêm lợi,
Trang 175 Chỉ số nhu cầu điều trị quanh răng cộng đồng (CPITN)
A, Mục đích: Khám, phát hiện và hướng dẫn cá thể hoặc nhóm nhu cầu điều
trị quanh răng
B, Lựa chọn răng
* Thanh niên, người lớn (>19 tuổi)
- Chia bộ răng thành 6 vùng, đánh giá tất cả các răng
+ Lục phân phía xa bắt đầu từ răng nanh
+ Vùng lục phân còn ít nhất 2 răng hoặc hơn, còn chức năng Khi vùnglục phân chỉ còn một răng thì cho sang vùng răng bên cạnh Nếu vùng lụcphân không còn răng nào thì gạch chéo X
- Chỉ tính răng 8 khi nó thay thế cho chức năng răng 7
* Trẻ em và thanh thiếu niên (7 – 19 tuổi)
* Dụng cụ: Cây đo túi lợi của Tổ chức y tế thế giới
- Đánh dấu: Đầu tròn với các khoảng 3.5; 2; 3.0 và 3.0 mm (tổng cộng
là 11.5mm)
- Đầu làm việc hình tròn, đường kính 0.5mm giúp phát hiện cao răng,các bề mặt ráp khác và giúp đo chính xác
* Sử dụng cây đo túi lợi
- Xác định độ sâu thăm khám, chảy máu và cao răng
Trang 18- Đưa nhẹ cây đo túi lợi vào túi với lực từ 15 – 20g, giữ tiếp xúc với bềmặt răng để phát hiện cao răng dưới lợi.
- Nhìn cột màu để phát hiện độ sâu < 3.5mm, 3.5 – 5.5mm, > 5.5 mm
* Tiêu chuẩn đánh giá:
- Code 0: Tổ chức quanh răng bình thường
- Code 1: Chảy máu nhẹ khi thăm khám, không có cao răng, độ sâuthăm khám < 3.5 mm
- Code 2: Có cao răng trên hoặc dưới lợi, độ sâu thăm khám < 3.5 mm
- Code 3: Độ sâu túi lợi 3.5 – 5.5 mm
- Code 4: Túi lợi sâu > 5.5 mm
* Ghi chép
- Sử dụng đồ hình quanh răng cho mỗi người
- Răng đại diện cho mỗi vùng có code cao nhất
- Không khám những răng còn lại khi đã khám răng có code 4
- Chỉ dùng code 0, 1, 2 cho bệnh nhân có tuổi 7 và 11
* Nhu cầu điều trị :
- TN 0 : Không cần điều trị (code 0)
- TN 1 : Hướng dẫn vệ sinh răng miệng (code 1)
- TN 2 : Hướng dẫn vệ sinh răng miệng, lấy cao răng và làm nhẵn mặtchân răng loại trừ mảng bám răng, sửa lại sai sót trong hàn và chụp răng (code 2
và 3)
- TN 3 : Phức hợp điều trị lấy cao răng và làm nhẵn bề mặt chân răng,hướng dẫn VSRM, phẫu thuật nha chu (code 4)
Trang 19Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
Là phụ nữ mang thai tại Bệnh viện Đa khoa Vân Đình - Hà Nội
Tiêu chuẩn lựa chọn :
- Phụ nữ có thai
- Tại Bệnh viện Đa khoa Vân Đình- Hà Nội
- Tự nguyện tham gia nghiên cứu
- Chưa từng điều trị chỉnh nha
Tiêu chuẩn loại trừ :
- Không khám tại Bệnh viện Đa khoa Vân Đình - Hà Nội
- Không đồng ý tham gia nghiên cứu
- Đã hoặc đang điều trị chỉnh nha
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứ mô tả cắt ngang
2.2 Cỡ mẫu cho tỉ lệ hiện mắc bệnh quanh răng
n : Cỡ mẫu của đối tượng phụ nữ mang thai
α : Mức ý nghĩa thống kê ; α =0.05 thì hệ số giới hạn tin cậy Z1- α/2 =1.96
p : Tỉ lệ phụ nữ mang thai bị mắc bệnh viêm quanh răng Ước tính p =0.7
d : Mức dung sai, chọn d = 0.1
Trang 20Từ công thức trên tính được số đối tượng nghiên cứu là 81, làm tròn số
ta được cỡ mẫu nghiên cứu là 85 phụ nữ mang thai
2.3 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn theo tiêu chí lựa chọn Tiến hành chọn chođến khi đủ 85 phụ nữ mang thai từ cho nghiên cứu
2.4 Phương pháp thu thập thông tin
- Sử dụng bộ câu hỏi, bút ghi và phiếu khám để thu thập thông tin
- Sử dụng dụng cụ khám để đánh giá tình trạng cao răng, chảy máu lợi
và túi lợi bao gồm:
+ Bộ khay khám răng: khay quả đậu, gương, thám trâm, cây thăm dònha chu,…
+ Dụng cụ để khử khuẩn
+ Các dụng cụ khác như bông, cồn, găng tay, giấy lau tay
+ Bộ câu hỏi về thói quen chăm sóc răng miệng
Hình 2.1 Bộ dụng cụ khám răng