ĐẶT VẤN ĐỀUng thư phế quản phổi UTPQP là thuật ngữ để chỉ các khối u ác tính phát triển từ biểu mô niêm mạc phế quản PQ, tiểu phế quản, phế nang, các tuyến phế quản hoặc các thành phần k
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư phế quản phổi (UTPQP) là thuật ngữ để chỉ các khối u ác tính phát triển từ biểu mô niêm mạc phế quản (PQ), tiểu phế quản, phế nang, các tuyến phế quản hoặc các thành phần khác của phổi [7]
UTPQP là bệnh lý khá phổ biến hiện nay, đứng thứ ba trong các bệnh phổi mạn tính và thứ năm trong các ung thư tạng khác [7] Trên thế giới hàng năm có khoảng 50 triệu người mắc và 7 triệu người chết vì ung thư, trong đó
tỷ lệ chết vì UTPQP chiếm tới 20 % ở nữ và 30% ở nam giới Nhìn chung UTPQP chiếm vị trí hàng đầu trong các bệnh ung thư ở các nước kinh tế phát triển và đứng hàng thứ hai ở các nước đang phát triển Nó là nguyên nhân gây
tử vong hàng đầu trong các bệnh do ung thư ở hơn 35 nước trên thế giới [9]
Trong những năm gần đây, UTPQP gia tăng không ngừng và hiện nay
đã tăng gấp 25 lần so với đầu thế kỷ 20 về tỷ lệ phát hiện bệnh hàng năm Ở
Mỹ, năm 2009 có khoảng 219.440 ca mắc mới và 159.390 trường hợp tử vong
do UTPQP [41]
Ở Việt Nam, đầu thập niên 80, UTPQP đứng hàng thứ 5 trong các ung thư ở nam giới và hàng thứ 10 ở nữ giới Tỷ lệ này gia tăng rất nhanh và đến thập niên 90, UTPQP đã đứng hàng đầu ở nam giới và thứ 3 ở nữ giới [11] Năm 2010, tỷ lệ chuẩn hóa theo tuổi (ASR) ở nam là 3,51/ 100.000 dân, ở nữ
là 13,9/100.000 dân [11]
UTPQP có đặc điểm bệnh tiến triển nhanh, di căn sớm và tỷ lệ tử vong cao Triệu chứng của bệnh thường rất dễ nhầm với các triệu chứng của bệnh phế quản phổi khác Bệnh lại thường được chẩn đoán ở giai đoạn muộn, do vậy công tác điều trị gặp nhiều khó khăn mà hiệu quả lại không cao Các nghiên cứu cho thấy 62% bệnh nhân khi vào viện không còn khả năng phẫu thuật và hạn chế các biện pháp điều trị khác [34], [38] Chính vì vậy việc phát
Trang 2hiện sớm, chẩn đoán chính xác giai đoạn bệnh và type mô bệnh học là rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả điều trị và làm giảm bớt gánh nặng cho người bệnh.
Ở Việt Nam, UTPQP đã được tiến hành nghiên cứu bởi nhiều tác giả khác nhau Hầu hết các tác giả tập trung đề cập đến đặc điểm cận lâm sàng và các phương pháp điều trị cũng như hiệu quả của các phương pháp đó, số nghiên cứu tập trung vào đặc điểm lâm sàng còn chưa nhiều Tại Trung tâm
hô hấp Bệnh viện Bạch Mai, trong năm 2013, nhiều bệnh nhân đã được chẩn đoán, phát hiện mắc bệnh UTPQP bằng các phương pháp khác nhau Từ những đặc điểm của từng bệnh nhân trên, chúng tôi tiến hành làm đề tài luận
văn nghiên cứu : “ Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân ung
thư phế quản phổi điều trị tại Trung tâm hô hấp Bệnh viện Bạch Mai trong năm 2013” với mục tiêu sau:
1 Mô tả đặc điểm lâm sàng của ung thư phế quản phổi ở bệnh nhân điều trị tại Trung tâm hô hấp Bệnh viện Bạch Mai trong năm 2013
2 Nhận xét một số đặc điểm cận lâm sàng của ung thư phế quản phổi ở bệnh nhân điều trị tại Trung tâm hô hấp Bệnh viện Bạch Mai trong năm 2013
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 DỊCH TỄ HỌC CỦA UNG THƯ PHẾ QUẢN NGUYÊN PHÁT: 1.1.1 Tình hình ung thư phế quản phổi trên thế giới:
Ung thư phế quản phổi là bệnh ung thư phổ biến nhất trên thế giới, được mô tả lần đầu tiên vào thế kỷ XX với tần suất ngày một tăng, đặc biệt ở các nược phát triển Tỷ lệ mắc UTPQP cao nhất ở Trung và Đông Âu đối với nam giới và ở Bắc Mỹ đối với nữ giới Mặc dù y học đã tích cực nghiên cứu ung thư phế quản trong 10 năm qua nhưng tỷ lệ sống thêm 5 năm sau chẩn đoán vẫn chỉ từ 10- 13% [13], [25]
Theo WHO năm 1982, UTPQP chiếm tỷ lệ 22% ở nam và 11% ở nữ trong tổng số ung thư nói chung và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở nam giới tại 20 nước [3]
Tại Mỹ từ năm 1930 đến đầu những năm 1950 tỷ lệ tử vong do UTPQP bắt đầu tăng lên, và từ những năm 1950 bệnh UTPQP đã xếp hàng đầu trong
số các nguyên nhân gây tử vong vì ung thư ở nam giới Tỷ lệ này ở nữ giới ban đầu thấp hơn, nhưng đã tăng nhanh Năm 1987, UTPQP đã vượt qua ung thư vú và trở thành nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong các bệnh ung thư
ở nữ giới ở Mỹ Hiện nay Mỹ có tỷ lệ tử vong do UTPQP so với ung thư nói chung là 32% ở nam và 25% ở nữ [37] Tại Mỹ, năm 2001, UTPQP là nguyên nhân của khoảng 160.000 người chết [29]
Tại Pháp, theo thống kê của WHO, năm 1993 có khoảng 20.000 trường hợp tử vong do UTPQP, năm 1995 có 26.153 trường hợp trong đó nam là 22.757 và nữ là 3.396 trường hợp, năm 1997 là 25.000 trường hợp [34]
Tại Anh năm 1991, UTPQP gây tử vong khoảng 22.000 bệnh nhân nam
và 10.000 bệnh nhân nữ Năm 2008 có khoảng 41.000 bệnh nhân đã được
Trang 4chẩn đoán mắc UTPQP trong đó 28.000 trường hợp là nam giới ( đứng hàng thứ 2 sau ung thư tiền liệt tuyến) và 17.900 trường hợp là nữ giới ( đứng thứ
3 sau ung thư vú và ung thư trực tràng)
Tại Thượng Hải- Trung Quốc, tỷ lệ mắc UTPQP năm 2000 ở nam là 72,8/100.000 dân, ở nữ là 30/100.000 dân Tỷ lệ sống thêm 5 năm là 7,1%
Năm 2001, UTPQP là nguyên nhân gây tử vong của hơn một triệu người trên toàn thế giới Đối với phụ nữ từ 15 đến 64 tuổi, UTPQP là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trong các loại ung thư UTPQP vẫn là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong các loại ung thư ở nam giới [30]
1.1.2 Tình hình ung thư phế quản phổi ở Việt Nam:
Cũng như các nước trên thế giới, số người mắc UTPQP ở Việt Nam đang ngày một gia tăng ở mọi tầng lớp xã hội, mọi ngành nghề, mọi lứa tuổi khác nhau
Năm 1988, theo thống kê của Hoàng Đình Cầu, trong 3 triệu dân phát hiện có 1.482 BN ung thư, trong đó UTPQP ở nam giới chiếm hàng đầu với 20,8% [3]
Năm 1996, theo thống kê của Nguyễn Việt Cồ và cộng sự, UTPQP đứng hàng đầu ở nam giới và đứng hàng thứ ba ở nữ giới trong các bênh ung thư [9]
Ước tính chung tỷ lệ mắc ung thư năm 2000 ở Việt Nam có khoảng 36.021 trường hợp là nam giới và khoảng 32.768 trường hợp là nữ giới Trong đó UTPQP đứng hàng đầu ở nam giới với khoảng 6.905 ca mắc mới hàng năm [1], [9]
Tại Trung tâm hô hấp bệnh viện Bạch Mai, UTPQP từ năm 1969 đến
1972 có 89 trường hợp, từ 1974 đến 1978 có 186 trường hợp, từ năm 1981 đến 1985 có 285 trường hợp, từ 1996 đến 2000 có 639 trường hợp [7]
Trang 5Tóm lại trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, UTPQP là một bệnh khá phổ biến và ngày càng gia tăng Bệnh được phát hiện hầu hết ở giai đoạn muộn gây rất nhiều hạn chế đối với khả năng điều trị ngoại khoa cũng như một số biện pháp khác Việc chẩn đoán và điều trị UTPQP còn là vấn đề khó khăn đặt ra cho ngành y tế của Việt Nam và thế giới.
1.2 CĂN NGUYÊN VÀ YẾU TỐ NGUY CƠ:
UTPQP có thể do rất nhiều nguyên nhân gây ra bao gồm các chất gây ung thư (trong khói thuốc lá, khí độc hại, nguồn nước ô nhiễm…), bức xạ ion hóa, nhiễm vius… Phơi nhiễm này gây nên thay đổi tích lũy cho AND trong các biểu mô phế quản Từ đó phát sinh ra những tế bào phát triển bất thường tạo thành khối u ác tính
1.2.1 Hút thuốc lá, thuốc lào (gọi chung là hút thuốc lá):
Từ những năm 1930, người ta đã nghi ngờ vai trò của thuốc lá trong những nguyên nhân gây ung thư Các chất hydrocacbon thơm trong khói thuốc lá và hắc ín trong thuốc lá, đặc biệt là chất 3 - 4 benzopyren được chứng minh có vai trò gây ung thư phế quản phổi [3] Hiện nay người ta đã phát hiện
ra trong khói thuốc có hơn 4000 hóa chất, trong đó có khoảng hơn 60 chất có tính chất gây ung thư [7]
Khoảng 90% trong số 660.000 ca được chẩn đoán UTPQP trên thế giới là người có hút thuốc lá [6] Hút thuốc lá được coi là nguyên nhân của 85% các trường hợp UTPQP tại Mỹ Tỷ lệ tử vong do UTPQP cao hơn từ 10 - 15 lần ở những người nghiện thuốc so với những người không nghiện thuốc lá Đồng thời việc giảm hay ngừng hút thuốc lá làm giảm nguy cơ mắc UTPQP [37]
Tại Việt Nam, ngày 05/11/2010, Bộ Y tế đã công bố kết quả điều tra về
sử dụng thuốc lá ở người trưởng thành ở Việt Nam Kết quả cho thấy tỷ lệ hút thuốc lá ở Việt Nam vào loại cao nhất trên thế giới ( ~ 50% ở nam giới)
Trang 6Khoảng 15 triệu người đang hút thuốc lá, trong đó có hơn 80% là hút thuốc hàng ngày.
Nguy cơ bị UTPQP tăng cao không chỉ ở người hút thuốc lá mà còn ở những người hút thuốc thụ động Những điều tra mới đây chỉ ra rằng hút sống
ở trong môi trường có khói thuốc lá lâu ngày (hút thuốc lá thụ động) cũng làm tăng nguy cơ bị UTPQ Người bị hít hơi thuốc lâu ngày có nguy cơ cao hơn 1,5 lần so với người không hút [6]
Mức độ tăng nguy cơ phụ thuộc vào: tuổi bắt đầu hút (càng sớm nguy
cơ càng cao), số bao năm ( tính số bao hút/ ngày * số năm hút, càng lớn nguy
cơ càng cao), thời gian hút (càng dài nguy cơ càng cao)
1.2.2 Ô nhiễm không khí:
Người ta nhận thấy rằng UTPQP phát sinh nhiều hơn ở các nước có nền công nghiệp hiện đại, giao thông phát triển Sự phơi nhiễm với chất thải công nghiệp, các chất khói bụi trong không khí, các chất hóa học là nguyên nhân gây UTPQ [25] Các bụi Amiante, Berylli khi bị hít vào phổi sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh, đặc biệt là ung thư màng phổi công nhân khai thác hoặc thường xuyên tiếp xúc với amiante có nguy cơ mắc UTPQP cao gấp 7 lần người không tiếp xúc [28] Sự tiếp xúc với kim loại nặng như nikel, arsenic hay khí than, dầu mỏ và hợp chất của dầu mỏ, khói động cơ dienzen cũng góp phần làm tăng nguy cơ mắc bệnh [28]
1.2.3 Các bức xạ ion hóa:
Nguồn bức xạ có thể từ thiên nhiên, tia vũ trụ, đất, vật liệu xây dựng hay do con người tạo ra trong phát triển khoa học kỹ thuật Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng UTPQP ở thợ mỏ vùng Joachimastal (Tiệp Khắc) và Scheneeberg (Đức) quan sát được từ thập niên 60 có căn nguyên bởi quặng uranit phóng xạ có trong các mỏ đó [27]
Trang 71.2.4 Gen p53 và bệnh UTPQ:
Gen p53 đã được nghiên cứu rộng trong ung thư tế bào nhỏ, theo đó 50-70% số BN ung thư có biển đổi ở gen p53 Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy hóa chất benzopyren có trong khói thuốc lá đã gây nên sự biến đổi của gen p53, một gen nằm trên cánh ngắn NST số 17 Gen này được coi là có vai trò điều hòa và kiểm soát việc phân chia tế bào Khi tổn thương gen p53 sẽ làm ngăn cản quá trình tế bào ngừng phân chia, làm cho tế bào không có thời gian sửa chữa sai sót trong quá trình phân bào, đồng thời ngăn cản quá trình chết theo chương trình của tế bào Do đó những tế bào ung thư sẽ phân chia liên tục và không có hiện tượng chết theo chương trình Người ta cho rằng gen p53 đã bị biến đổi không còn khả năng kiểm tra được sự phân chia tế bào một cách bình thường [6]
1.2.5 Các yếu tố khác:
Tình trạng nhiễm virus HPV, EBV có nguy cơ mắc ung thư phổi Các bệnh lý về phổi như xơ phổi, lao phổi, sarcoidosis hay tình trạng dinh dưỡng như chế độ ăn ít hoa quả, rau tươi, thiếu vitamin A, E, ăn nhiều đồ nướng đều
là những yếu tố góp phần làm tăng nguy cơ mắc UTPQP [20]
1.3 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA UTPQP:
1.3.1 Triệu chứng của đường hô hấp:
Ho khan: là triệu chứng thường gặp, có thể là ho kéo dài, ho thành tiếng hoặc ho thành cơn, điều trị bằng các thuốc giảm ho và kháng sinh không đỡ Theo Midthun (1996), tỷ lệ BN có triệu chứng ho trong UTPQP là 74% [40] Mặc dù vậy, ho là triệu chứng của nhiều bệnh lý hô hấp cấp và mạn tính khác nhau nên thường dễ bị bỏ qua chẩn đoán UTPQP, chỉ phát hiện khi tình trạng bệnh đã nặng
Trang 8Khạc đờm: có thể khạc đờm trong hay có mủ, có thể có sốt đi kèm nếu có tình trạng bội nhiễm phế quản như viêm mủ phế quản, viêm phổi do tắc nghẽn.
Ho ra máu: triệu chứng này gặp ở khoảng 50% các trường hợp Ho máu
số lượng ít, lẫn với đờm thành dây máu đỏ thẫm hay hơi đen, đôi khi khạc máu đơn thuần do u làm tổn thương một vài mạch máu nhỏ của phế quản và phổi
Hội chứng viêm phế quản phổi cấp hoặc bán cấp: thường gặp trong ung thư phế quản lớn, có biểu hiện như một viêm phổi hay phế quản phế viêm Nghĩ đến ung thư khi bệnh nhân hết sốt, không ho, không khạc đờm mà hình ảnh trên X-quang vẫn còn tồn tại trên 1 tháng [7]
1.3.2 Các dấu hiệu chứng tỏ ung thư đã lan tỏa:
- Đau ngực: không có điểm đau rõ rệt, thường đau bên tổn thương, đau kiểu thần kinh liên sườn Có khi đau quanh bả vai, mặt trong cánh tay (hội chứng Pancoast- Tobias) đó là trường hợp ung thư ở đỉnh phổi Triệu chứng đau ngực
có thể làm thầy thuốc chẩn đoán nhầm là đau thần kinh liên sườn [2]
- Khó thở: thường ít gặp, thường do u làm tắc phế quản và xẹp phổi hoàn toàn,nếu khó thở kiểu thanh quản và có tiếng cò cử thì có thể là do khối
u ở ngã ba khí phế quản, cũng có khi khó thở do liệt cơ hoành [2]
- Khó nuốt: do thực quản bị chèn ép
- Khó nói: giọng khàn, giọng đôi do thần kinh quặt ngược bì chèn ép
- Hội chứng chèn ép tĩnh mạch chủ trên: phù áo khoác, tuần hoàn bàng
Trang 91.3.3 Các dấu hiệu ngoài phổi:
Liệt dây thần kinh hoành: thường phát hiện trong chụp Xquang ngực, biểu hiện cơ hoành một bên nâng cao
Xâm lấn hạch trước cơ bậc thang: hạch thượng đòn, làm sinh thiết hạch, không có hạch thì làm sinh thiết Daniels (cắt một mảnh tổ chức trước cơ bậc thang), xét nghiệm mô bệnh học
Di căn tim, màng tim: hiếm gặp, thường ở giai đoạn muộn, biểu hiện bằng viêm màng ngoài tim, tràn dịch màng ngoài tim
Di căn các cơ quan khác: hạch hố thượng đòn, hạch cổ, hạch gần động mạch chủ, carina, não, gan, tủy sống, tuyến thượng thận…
1.3.4 Các triệu chứng cận ung thư:
Gồm một số triệu chứng biểu hiện ngoài phổi không do di căn của UTPQP với các đặc điểm: không thực sự đặc hiệu của UTPQP, có thể xuất hiện trước khi phát hiện UTPQ, đặc điểm lâm sàng rõ rệt và tiến triển song song với UTPQ, thuyên giảm nhanh sau cắt u
Hội chứng Pierre-Marie: còn gọi là hội chứng sưng đau xương khớp phì đại do u phổi (to đầu chi, ngón tay dùi trống, sưng đau các khớp nhỏ nhỡ, đau dọc xương dài, tăng sinh màng xương dài, rối loạn vận mạch do cường giao cảm phế vị)
Vú to một bên hoặc hai bên ở nam giới: 3% bệnh nhân có biểu hiện này
do khối u tiết hCG hay estrogen lạc chỗ 3/4 các trường hợp sau khi cắt bỏ u
vú đang to lên sẽ trở lại bình thường
Tăng calci huyết do ung thư: hay gặp nhất, chiếm 40% các trường hợp tăng calci huyết Gồm 2 loại: tăng calci huyết ác tính thể dịch gây ra bởi hormon tuần hoàn và tăng calci huyết tiêu xương cục bộ gây ra bởi hormon tại chỗ do ung thư di căn xương, tủy xương
Trang 10Giảm Natri huyết do ung thư: gặp ở 15% BN ung thư tế bào nhỏ, 3%
BN ung thư đầu mặt cổ, 1% BN ung thư không tế bào nhỏ
Hội chứng ACTH lạc chỗ do ung thư: ACTH sản xuất lạc chỗ làm cho tuyến thượng thận tăng tiết glucocorticoid và kháng corticoid 50% do UTPQ
tế bào nhỏ gây ra, 10% do u carcinoid phế quản
Bệnh to cực lạc chỗ: Do u sản sinh lạc chỗ hormon tăng trưởng GHRH Những ung thư gây ra bệnh to cực bao gồm: UTPQ, u carcinoid phế quản, u đầu tụy, ung thư vú, ung thư đại tràng
Hội chứng huyết học cận ung thư: Tăng bạch cầu hạt, tăng tiều cẩu, tăng bạch cầu ái toan
1.3.5 Triệu chứng di căn:
Hạch thượng đòn: hạch kích thước 1 - 2 cm, chắc, ít di động, một số trường hợp hạch thành khối lớn xâm nhiễm vào tổ chức dưới da
Đau do di căn có thể là triệu chứng đầu tiên của bệnh UTPQ có xu hướng di căn tới não, xương, gan, tuyến thượng thận và hạch bạch huyết Di căn tới não gây đau đầu liên tục kèm các biểu hiện thần kinh, di căn xương gây đau nhức xương khớp, có thể gãy xương, di căn gan gây đau vùng bụng
1.3.6 Triệu chứng toàn thân:
Thường gặp nhất là chán ăn, mệt mỏi, gầy sút, sốt các triệu chứng này thường không đặc hiệu, gặp nhiều trong các bệnh khác
Mặc dù biểu hiện lâm sàng phong phú nhưng từng loại tế bào ung thư thì tỷ lệ các triệu chứng cũng khác nhau Theo Hasen và Salawry (1973): ho
ra máu, phù áo khoác, nuốt nghẹn, khàn tiếng gặp nhiều ở ung thư biểu mô dạng biểu bì và dạng ung thư biểu mô tế bào nhỏ Triệu chứng vú to ở nam giới gặp nhiều ở ung thư biểu mô tế bào lớn Tràn dịch màng phổi gặp nhiều ở ung thư biểu mô tuyến [35]
Trang 11Tỷ lệ BN có di căn từ UTPQP đến các cơ quan khác cũng khác nhau tùy từng loại tế bào Theo Hansen và Salawry, tỷ lệ BN có di căn ở ung thư biểu mô tế bào nhỏ là cao nhất [35] Trong các cơ quan di căn, di căn não thường gặp hơn cả Ngoài ra cũng hay gặp di căn hạch ngoại biên thường ở cũng bên so với khối u.
Tuy nhiên, không phải tất cả BN đều có các triệu chứng lâm sàng như
đã nêu trên Nhiều trường hợp phát hiện bệnh khi tình cờ đi khám sức khỏe định kỳ, chỉ phát hiện được khi làm các phương pháp cận lâm sàng như chụp Xquang, một số BN khi phát hiện bệnh đã ở giai đoạn nặng [39]
1.4 CÁC THĂM DÒ CẬN LÂM SÀNG TRONG CHẨN ĐOÁN UTPQP: 1.4.1 X-quang tim phổi:
X-quang tim phổi vẫn là một phương pháp cơ bản trong chẩn đoán UTPQP Chụp Xquang tim phổi thẳng nghiêng phát hiện được 70 - 80% các trường hợp UTPQP Hình ảnh Xquang phổi giúp ta định hướng chẩn đoán:
UTPQP trung tâm: là những nốt mờ ở cực trên hoặc ngay dưới rốn phổi, hình thể tròn hoặc trái xoan không đều hoặc rốn phổi to ra do ung thư xâm nhập vào hạch hoặc bóng mờ ở rốn phổi lồi to ra bờ có múi
UTPQP ngoại vi: hình ảnh hay gặp là khối tròn đơn độc và sự lan rộng của ung thư vào màng phổi
Đặc điểm gợi ý khối u ác tính: bờ có múi, tua gai hoặc khe nứt, khối u
>= 3cm ( đường kính càng lớn khả năng ác tính càng cao)
Tuy nhiên, chẩn đoán bằng Xquang tim phổi còn nhiều hạn chế: không phát hiện được khối u kích thước bé, các cấu trúc chồng lên xương, mạch máu
có thể che lấp được khối u
Theo nghiên cứu của Đồng Khắc Hưng trên 162 BN UTPQP thì tỷ lệ phát hiện khối u < 3cm bằng Xquang chỉ là 6,8% [13] Theo Tô Kiều Dung,
Trang 12tỷ lệ này chỉ là 3,5% [9] Như vậy trong trường hợp Xquang bình thường cũng không cho phép loại trừ UTPQP, cần phải làm thêm các phương pháp thăm dò cận lâm sàng khác đễ giúp chẩn đoán.
1.4.2 Chụp cắt lớp vi tính (CLVT):
Chụp cắt lớp vi tính có thể phát hiện được những tổn thương kích thước nhỏ mà X-quang tim phổi không phát hiện được Chụp CLVT cũng rất có giá trị trong chẩn đoán giai đoạn của UTPQP, còn phát hiện được những di căn của UTPQP vào rốn phổi, màng phổi, trung thất, hạch bạch huyết, xương sườn, cột sống ngưc với độ nhạy 70 - 90%, độ đặc hiệu 60 - 80% Ngoài ra, phương pháp này còn có thể phân biệt được các u mỡ, kén nước, u đặc dựa vào phương pháp đo tỷ trọng Tuy nhiên, chụp CLVT lồng ngực không xác định chắc chắn mô bệnh học của tổn thương u lành hay u ác và tỷ lệ âm tính giả từ 15 - 30%
Ngoài ra, chụp CLVT còn được sử dụng để hướng dẫn sinh thiết xuyên thành ngực, xuyên thành phế quản, chọc hút qua nội soi thực quản, sinh thiết qua nội soi trung thất CLVT còn có thể phát hiện hạch vùng trung thất dưới carina và khoang Barety để xác định giai đoạn của UTPQ [26]
1.4.3 Chụp cộng hưởng từ ( MRI):
Chụp MRI có thể được chỉ định khi tổn thương UTPQP mà chụp CLVT khó phát hiện được như vùng đỉnh phổi, ống sống, thành ngực hay sát mạch máu lớn ở trung thất mà không cần tiêm thuốc cản quang Đánh giá khối u vùng đỉnh phổi: xác định tình trạng xâm lấn thành ngực, xương sườn, mạch máu lớn, đám rối cánh tay và ống tủy với độ nhạy 94% so với 63% của chụp CLVT [17]
Ngoài ra chụp MRI sọ não còn được chỉ định trong đánh giá di căn não của UTPQP Theo Walker và CS (2007), ung thư phổi là nguồn gốc gây di
Trang 13căn não nhiều nhất, chiếm 48% các bệnh lý ung thư [45] Nguyên lý của MRI phụ thuộc vào sự biến đổi mật độ của các proton, thời gian thư chuỗi dọc (T1W) và thời gian thư chuỗi ngang (T2W) Trên MRI để đánh giá sự tương phản hình ảnh có thể sử dụng nhiều loại xung khác nhau và thay đổi các thông
số khác nhau Phân tích hình ảnh chủ yếu dựa vào 3 chuỗi xung T1W, T2W, FLAIR và 3 hướng cắt khác nhau trong không gian, đó là mặt phẳng ngang (axial), mặt phẳng đứng ngang (coronal) và mặt phẳng đứng dọc (sagital)
Phương pháp MRI cho phép quan sát các dấu hiêu trực tiếp của khối u
di căn như vị trí u, kích thước, hình dáng, số lượng, ranh giới, vôi hóa, chảy máu trong u, hoại tử trong u và các hình ảnh gián tiếp như xâm lấn tổ chức xung quanh khối, phù não, hiệu ứng khối do u đè đẩy
1.4.4 Chụp cắt lớp bằng bức xạ hạt Positron (PET - Positron emisson tomography):
PET có thể phát hiện u lành và u ác đạt hiệu quả cao hơn các phương pháp khác nhờ ứng dụng nguyên lý chuyển hóa của tế bào ung thư: các tế bào ung thư chuyển hóa glucose cao hơn bình thường và hấp thụ 18F - Fluorodeoxy Glucose (FDG) và chuyển hóa thành FDG-6-PO4 giữ lại trong
tế bào Khi đồng vị phóng xạ FDG phân hủy sẽ phát ra các positron mang điện tích dương sinh ra tia gama Máy chụp PET sẽ phát hiện và khu trú các tia gama này để chẩn đoán ung thư và phân loại giai đoạn [31]
1.4.5 Chụp PET phối hợp với CLVT:
Hai loại hình ảnh PET và CLVT được phối hợp làm một chẩn đoán tốt hơn sử dụng đơn độc mỗi phương pháp
1.4.6 Xạ hình phổi:
Dùng đồng vị phóng xạ thấy giảm hoặc mất hiện tượng phân bố máu trong phổi nơi có khối u Kết hợp với ghi xạ hình thông khí phổi để dự đoán FEV1 còn lại sau mổ Nếu FEV1 sau mổ < 30% lý thuyết thì không nên mổ
Trang 14- Chọc hút, sinh thiết xuyên thành ngực dưới hướng dẫn của siêu âm hoặc CLVT làm tế bào học và mô bệnh học Đây được xem như là một phương pháp rất có hiệu quả để xác định tổn thương ở nơi không thể nội soi sinh thiết được hay khi sinh thiết qua soi phế quản cho kết quả
âm tính Theo Ngô Quý Châu (1992) nghiên cứu 86 BN UTPQP được sinh thiết chọc hút kim nhỏ qua thành ngực dưới hướng dẫn của Xquang thấy: độ nhạy ở lần thứ nhất là 87,4%, lần thứ hai là 96,6% và lần thứ ba là 100%, không có dương tính giả, độ đặc hiệu là 100% [3]
1.4.8 Các kỹ thuật thăm dò khác:
Thăm dò chức năng hô hấp: Dung tích sống có thể giảm nhẹ hoặc nặng tùy theo khối u lớn hay bé, làm xẹp phổi hoàn toàn hay một phần FEV1 có thể giảm, nếu chỉ số Tiffeneau giảm dưới 50% thì không có chỉ định phẫu thuật
Trang 15Siêu âm xuyên phế quản: xác định sự xâm lấn của ung thư vào hạch trung thất, rốn phổi và sự lan tràn trực tiếp vào trung thất và khí phế quản trước mổ.
Siêu âm nội soi qua phế quản: sử dụng đầu dò siêu âm gắn ở đầu soi phế quản có hiệu quả hơn trong việc phát hiện hạch trung thất và các khối u khác xâm lấn vào trung thất
1.5 CÁC TYPE MÔ BỆNH HỌC CỦA UTPQP:
Dựa theo phân loại của WHO năm 1999, UTPQ được chia làm 9 loại :
1.5.1 Ung thư biểu mô tế bào nhỏ:
Là loại ung thư có độ ác tính cao, dễ di căn xa, thường xuất hiện ở vị trí quanh phế quản và xâm nhập dưới niêm mạc Đặc trưng bởi sự lan rộng các tế bào u nhỏ (chỉ lớn gấp 2 - 3 lần tế bào lympho thuần thục)
1.5.2 Ung thư biểu mô tuyến:
Loại ung thư này chiếm khoảng 50% các loại UTPQP, chủ yếu gặp ở
nữ giới Thường gặp u ở vùng ngoại vi, soi phế quản ít thấy tổn thương Đặc điểm mô bệnh học đặc trưng nhất là sự hình thành các ống tuyến hay sản sinh chất nhầy của tế bào u
+ Ung thư biểu mô tuyến đặc với chất nhầy
+ Ung thư biểu mô tuyến với các nhóm phức hợp
Trang 161.5.3 Ung thư biểu mô tế bào vảy:
Ung thư biểu mô tế bào vảy chiếm khoảng 30% trong UTPQP sau ung thư biểu mô tuyến Đặc điểm đó là các tế bào u xếp thành đám, dạng lát tầng
có thứ tự Đặc điểm quan trọng nhất để chẩn đoán là dựa vào sự biệt hóa vảy của các tế bào u
1.5.4 Ung thư biểu mô tế bào lớn:
Là dạng ít gặp, chiếm khoảng 10 - 15% tổng số các type Tế bào u đa hình thái, kích thước lớn xếp thành từng đám hay dải nhưng không cho thấy
sự biệt hóa vảy hay tuyến
1.5.5 Ung thư biểu mô tuyến dạng biểu bì:
Ung thư có sự hiện diện của biểu mô vảy và biểu mô tuyến, mỗi loại gồm ít nhất 10% toàn bộ khối u
1.5.6 Ung thư biểu mô với các thành phần đa hình thể, sarcome và dạng sarcome:
Đây là nhóm ung thư biểu mô không tế bào nhỏ kém biệt hóa, trong đó
có chứa các thành phần của những phần tử sarcome hay dạng sarcome
+ Ung thư biểu mô với các tế bào hình thoi và/ hoặc tế bào khổng lồ
+ Ung thư biểu mô - sarcome
+ Ung thư nguyên bào phổi
+ Loại khác
1.5.7 U carcinoid:
Đặc trưng bằng những mẫu phát triển dạng cơ quan, bè, đảo, dậu, dải hoặc sắp xếp dạng hoa hồng nhỏ gợi ra sự biệt hóa thần kinh - nội tiết
Trang 17+ U carcinoid điển hình.
+ U carcinoid không điển hình
1.5.8 Ung thư biểu mô dạng tuyến nước bọt:
Đặc trưng bằng sự hiện diện của các tế bào vảy, tế bào chế nhầy và các type trung gian, về mô bệnh học giống như u tuyến nước bọt cùng tên
+ Ung thư biểu mô tế bào vảy - nhầy
+ Ung thư biểu mô túi dạng tuyến bạch huyết
+ Các nhóm khác
1.5.9 Ung thư biểu mô không xếp loại:
Thực chất là các ung thư không biệt hóa, không thể xếp vào loại nào trong 8 type trên
Đa số các UTPQP thuộc vào 4 nhóm đầu tiên
1.6 PHÂN LOẠI TNM VÀ GIAI ĐOẠN
1.6.1 Phân loại TNM của UTPQP không tế bào nhỏ:
Hệ thống phân loại quốc tế UTPQPKTBN ra đời năm 1974 được dùng
để đánh giá giai đoạn bệnh, chỉ ra các yếu tố tiên lượng đối với từng nhóm nhỏ Phân loại này được đánh giá dựa trên sự xâm nhập của khối u vào tổ chức phổi, xâm lấn vào các cơ quan kế cận và tổ chức xung quanh (T), số hạch vùng liên quan (N), và việc có hay không có di căn xa (M) [6] Hệ thống phân loại này đã được sửa đổi để phù hợp hơn năm 2010:
T - Khối u nguyên phát ( primary tumor)
+ Tx: Không đánh giá được khối u nguyên phát
+ Tis: Khối u tại chỗ
+ To: Không thấy khối u
Trang 18+ T1: Khối u ≤ 3cm, được bao bọc bởi phổi hoặc màng phổi tạng, không xâm lấn phế quản thùy Trong đó:
- T1a: khối u ≤ 2cm
- T1b: khối u > 2cm nhưng ≤ 3cm
+ T2: Khối u > 3cm nhưng ≤ 7cm, hoặc khối u xâm lấn vào màng phổi tạng, tổn thương tại phế quản gốc nhưng cách carina ≥ 2cm, hoặc khối u gây xẹp phổi/ viêm phổi tắc nghẽn lan đến rốn phổi nhưng không tổn thương toàn bộ phổi Trong đó:
- T2a: khối u > 3cm nhưng ≤ 5cm
- T2b: Khối u > 5cm nhưng ≤ 7cm
+ T3 : Khối u > 7cm hoặc xâm lấn trực tiếp vào thành ngực, vòm hoành, thần kinh hoành, màng phổi trung thất, màng ngoài tim ; hoặc khối u ở phế quản gốc cách carina < 2cm ; hoặc khối u gây xẹp phổi/ viêm phổi tắc nghẽn toàn bộ phổi ; hoặc có những khối u khác cùng thùy
+ T4 : Khối u có đường kính bất kỳ xâm lấn vào tim, mạch máu lớn, khí quản, thực quản, thần kinh quặt ngược, thanh quản, thân đốt sống, carina hoặc có những khối u khác ở thùy phổi khác cùng bên
N - hạch lympho vùng ( regional lympho nodes)
+ Nx : Không đánh giá được tình trạng hạch
+ N0 : Không có hạch di căn vùng
+ N1 : Di căn vào hạch lympho quanh phế quản, và/ hoặc hạch quanh rốn phổi cùng bên và những hạch trong phổi, kể cả tổn thương xâm lấn trực tiếp
+ N2 : Di căn vào hạch lympho trung thất và/ hoặc dưới carina
+ N3 : Di căn vào hạch lympho trung thất đối bên, hạch rốn phổi đối bên, hạch cơ bậc thang cùng bên hay đối bên, hoặc hạch lympho thượng đòn
M - Di căn xa (distant metastasis)
+ Mx : Không đánh giá được tình trạng di căn xa
+ M0 : Không có di căn xa
Trang 19+ M1a : Có khối u khác ở phổi đối bên ; hoặc khối u với những khối ở màng phổi hoặc sự lan tràn màng phổi ác tính.
- Giai đoạn lan tràn : là những trường hợp muộn hơn giai đoạn giới hạn, bao gồm cả xâm nhập cả hạch bạch huyết xa và các tạng như : não, gan, tụy, các vị trí ổ bụng và mô mềm
Bảng 1.1: Phân loại giai đoạn TNM theo AJCC và UICC 2009
N1N1N0
M0M0M0
T3
N1N0
M0M0
T3T4
N2N1N0,1
M0M0M0
T1-4
N2N3
M0M0
Trang 20CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Gồm 100 bệnh nhân được chẩn đoán lúc ra viện là UTPQP, điều trị tại Trung tâm hô hấp bệnh viện Bạch Mai trong năm 2013
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân:
Được chẩn đoán xác định là UTPQP bằng mô bệnh học
Được nhập viện và điều trị tại Trung tâm hô hấp bệnh viện Bạch Mai trong năm 2013
BN được khai thác đầy đủ các triệu chứng lâm sàng và tiền sử, được làm các xét nghiệm cận lâm sàng cần thiết cho chẩn đoán (Xquang, CLVT, sinh thiết chẩn đoán mô bệnh học)
Hồ sơ bệnh án lưu trữ đầy đủ
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ:
Ung thư phổi thứ phát
Bệnh án nghiên cứu không đầy đủ thông tin
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
2.2.1 Loại nghiên cứu:
Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu:
Địa điểm nghiên cứu: hồ sơ bệnh án thu thập tại phòng lưu trữ hồ sơ bệnh viện Bạch Mai
Trang 212.2.3 Cách thức tiến hành:
Thu thập bệnh án của các bệnh nhân đã được chẩn đoán xác định UTPQP bằng tế bào học hoặc mô bệnh học tại Trung tâm Hô Hấp bệnh viện Bạch Mai từ tháng 1/2013 đến tháng 12/2013 Điền các thông tin cần thiết thu thập được vào mẫu bệnh án nghiên cứu
Những thông tin cần thiết:
- Hành chính: tên, tuổi, giới, địa chỉ, ngày vào viện, ngày ra viện
- Thời gian phát hiện bệnh: là khoảng thời gian kể từ khi phát hiện dấu hiệu đầu tiên của bệnh đến khi vào viện
Triệu chứng lâm sàng nghi ngờ UTPQP:
- Triệu chứng của đường hô hấp:
+ Ho khan kéo dài
Trang 22- Triệu chứng cận ung thư:
+ To đầu chi: móng tay khum, ngón tay dùi trống
Đặc điểm cận lâm sàng của bệnh UTPQP:
- Xét nghiệm công thức máu, máu lắng, sinh hóa máu, chức năng hô hấp
- Kết quả Xquang phổi chuẩn và hoặc CLVT ngực:
+ Vị trí và hình ảnh tổn thương trên XQ và CLVT
+ Mức độ xâm lấn của khối u tới các tổ chức xung quanh trên CLVT+ Các tổn thương khác: xẹp phổi, TDMP, TDMT
+ Hạch trung thất trên CLVT
- Nội soi phế quản:
+ Vị trí tổn thương trên nội soi: thanh quản, khí quản, carina, PQ gốc P, PQ gốc T, phổi P, phổi T
+ Hình ảnh tổn thương trên nội soi: u sùi, phù nề chít hẹp, thâm nhiễm, loét chảy máu, đè ép từ ngoài vào, viêm cấp, viêm mủ, viêm mạn, chảy máu
- Các xét nghiệm đánh giá di căn xa: CHT sọ não, CHT toàn thân, xạ hình xương, PET CT, siêu âm, CLVT ổ bụng
Trang 23- Chẩn đoán type mô bệnh học: tiến hành lấy bệnh phẩm bằng nhiều phương pháp khác nhau phụ thuộc vào vị trí khối u, tình trạng của bệnh nhân.
+ Sinh thiết cựa phế quản
+ Sinh thiết xuyên vách phế quản
+ Sinh thiết xuyên thành ngực dưới hướng dẫn của CLVT
+ Sinh thiết màng phổi
+ Sinh thiết hạch
Mẫu bệnh phẩm được gửi đến Trung tâm giải phẫu bệnh Bệnh viện Bạch Mai và phân loại mô bệnh học UTPQP theo tiêu chuẩn của tổ chức y tế thế giới năm 1999
Phân loại giai đoạn bệnh: nghiên cứu của chúng tôi sử dụng bảng phân loại TNM của AJCC và UICC năm 2010 cho UTPQP
Phân loại giai đoạn bệnh: ( theo AJCC và UICC 2010)
+ Giai đoạn I: T1,N0,M0; T2a,N0,M0
+ Giai đoạn II: T2b,N0,M0; T1-2,N0,M0; T3,N0,M0
+ Giai đoạn III: T4,N0,M0; T3-4,N1,M0; T1-4,N2-3,M0
+ Giai đoạn IV: T bất kỳ, N bất kỳ, M1
Trang 24CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA BỆNH UTPQP:
3.1.1 Đặc điểm phân bố bệnh theo giới:
Biểu đồ 3.1: Phân bố bệnh theo giới
Nhận xét:
Trong mẫu nghiên cứu của 100 BN mắc bệnh UTPQP thì chúng tôi gặp
73 BN là nam giới (73,0%) và 27 BN là nữ giới (27,0%)
Tỷ lệ BN nam/ nữ là 2,7/1
Trang 253.1.2 Đặc điểm phân bố theo tuổi:
Bảng 3.1: Phân bố bệnh theo tuổi
Tuổi trung bình của bệnh UTPQP trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi
là 60,8 ± 10,34, thấp nhất là 32 tuổi, cao nhất là 83 tuổi
Trong số 100 BN, gặp chủ yếu ở nhóm 60 - 69 tuổi với 35 BN
( 35,0%), sau đó là 32 BN ở nhóm tuổi 50 - 59 tuổi ( 32,0%) Nhóm ≥ 70 tuổi,
chúng tôi gặp 21 BN (21,0%), nhiều hơn ở nhóm 40 - 49 tuổi là 11 BN
( 11,0%) Nhóm < 40 tuổi chỉ có 1 BN ( 1,0%).
Trang 263.1.3 Đặc điểm phân bố theo nghề nghiệp :
Biểu đồ 3.2 : Phân bố bệnh theo nghề nghiệp
Nhận xét :
Trong các BN UTPQP, nông dân chiếm tỷ lệ cao nhất với 56,0%, cán
bộ chiếm 16,0% và 3,0% thuộc về công nhân Có 25,0% BN thuộc các ngành nghề khác
Trang 27Trong mẫu nghiên cứu, lý do vào viện phổ biến nhất của 100 BN là đau ngực với 33 BN (33,0%), sau đó là ho với 26 BN ( 26,0%), khó thở chiếm 19,0% với tỷ lệ 19BN Sau đó là ho ra máu có 8 BN ( 8,0%), gầy sút cân và sốt đều có 4 BN (4,0%), triệu chứng nuốt nghẹn gặp ở 2BN ( 2,0%) Dấu hiệu đau xương khớp gặp ở 2 BN ( 2,0%) Và cũng có 2 BN tình cờ đi khám phát hiện tổn thương trên phim chụp Xquang ( 2,0%) Hai trường hợp này qua các xét nghiệm chẩn đoán bệnh đã ở giai đoạn III và IV.
3.1.5 Thời gian xuất hiện bệnh
Biểu đồ 3.3: Thời gian phát hiện triệu chứng tới khi vào viện:
Nhận xét:
Thời gian phát hiện triệu chứng đến lúc đi khám trung bình là 63,7 ± 70,3 ngày, nhỏ nhất là 3 ngày, lớn nhất là 365 ngày Các bệnh nhân từ khi xuất hiện triệu chứng đến lúc đi khám thường gặp nhất trong khoảng 1-3 tháng với 56 BN (56,0%), < 1 tháng có 29 BN (29,0%) và có 15 BN phát hiện bệnh khi triệu chứng xuất hiện đã > 3 tháng (15,0%)
Trang 283.1.6 Các triệu chứng cơ năng thường gặp
Bảng 3.3: Triệu chứng cơ năng thường gặp
60441711113541241043
60,044,017,011,011,035,041,024,010,04,03,0
ở 24 BN (24,0%), khàn tiếng ở 10 BN ( 10,0%), nuốt nghẹn chiếm 4,0% với số
BN là 4 người, cuối cùng là đau xương khớp chỉ gặp ở 3 BN ( 3,0%)
Trang 30Trong số 27 BN là nữ giới thì chỉ có 1 BN có tiền sử hút thuốc lá, chiếm 3,7%, còn lại 26 BN (96,3%) không hút thuốc.
3.2 ĐẶC ĐIỂM CẬN LÂM SÀNG BỆNH UTPQP:
3.2.1 Thay đổi về huyết học:
Bảng 3.5: Thay đổi về huyết học
Trang 31Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi có 96 BN được làm xét nghiệm công thức máu Trong đó có 18 BN ( 18,8%) bị thiếu máu, 78 BN không thiếu máu ( 81,2%) Số lượng hồng cầu trung bình là 4.32 ± 0.34 (T/l) Hemoglobin trung bình là 127.94 ± 17.82 (g/l), thấp nhất là 56 (g/l), cao nhất là 163(g/l)
Số lượng bạch cầu trung bình là 10.01 ± 4.77 (G/l), cao nhất là 30.55(G/l), thấp nhất là 3.7(G/l) Số lượng tiểu cầu trung bình là 304.56 ± 109.67 (G/l), thấp nhất là 67(G/l), cao nhất là 627 (G/l)
3.2.2 Thay đổi về sinh hóa:
Bảng 3.6: Thay đổi về sinh hóa
Trang 32Nhận xét:
Trong mẫu nghiên cứu có 52 BN được làm Canxi máu có 18 BN bị giảm Canxi máu (34,6%), 1 BN tăng canxi máu (1,9%), còn lại 33 BN có xét nghiệm Canxi máu trong giới hạn bình thường (63,5%)
Trong số 90 bệnh nhân được xét nghiệm Natri máu và Kali máu, có 11
BN (12,2%) bị giảm Natri máu, 79 BN (87,8%) xét nghiệm Natri máu bình thường; có 15 BN (16,7%) bị giảm Kali máu, còn lại 75 BN (83,3%) xét nghiệm Kali máu bình thường
3.2.3 Kết quả chụp X-quang (n=59):
Bảng 3.7: Các loại hình thái tổn thươngvà vị trí trên Xquang:
Trong 59 BN (59,0%) được chụp Xquang tim phổi thì tỷ lệ phát hiện
mờ dạng u chiếm tỷ lệ 89,9% với 53 trường hợp, trong đó vị trí ở phổi trái có
24 BN (40,7%) và ở phổi phải là 29 BN (49,2%) TDMP có tổng số là 15
Trang 33trường hợp với tỷ lệ 11,9% ở phổi trái với 7 BN và 13,6% ở phổi phải với 8
BN Có 4 BN có tổn thương xẹp phổi, mỗi bên phổi phải và phổi trái là 2 trường hợp (3,4%) Dày màng phổi có tổng số 7 BN (11,9%) với 3 trường hợp ở bên phổi trái (5,1%) và 4 trường hợp ở phổi phải (6,8%) Đông đặc phổi và TKMP, mỗi dạng tổn thương chỉ gặp ở bên phổi trái với 1 BN (1,7%)
Bảng 3.8: so sánh tỷ lệ tổn thương 2 phổi trên Xquang:
Phổi TPhổi P
2933
49,255,9
Nhận xét:
Trong số 59 BN được chụp Xquang phổi, tất cả đều phát hiện thấy tổn thương,29 BN (49,2%) có tổn thương phổi trái, 33 BN tổn thương phổi phải (55,9%)
Tỷ lệ tổn thương phổi phải/phổi trái là 1,14/1
Trang 34BN phát hiện tổn thương (18,4%), 7 BN khi chụp CLVT ngực thấy tổn thương tập trung ở vùng rốn phổi phải (8,0%).
Khi chụp CLVT ngực thì có 53 BN phát hiện tổn thương ở bên phổi trái (60,9%) với 23 BN có tổn thương ở thùy trên trái (26,4%), thùy dưới là
25 trường hợp (28,7%) Tổn thương ở rốn phổi trái chiếm tỷ lệ 5,7% với 5 trường hợp
Bảng 3.10: Hình thái tổn thương khi chụp CLVT ngực (n=87)
Hình thái tổn thương Số BN Tỷ lệ %
Trang 35Biểu đồ 3.5: Kích thước khối u trên CLVT ngực
Nhận xét:
Trong 87 BN có kết quả chụp CLVT ngực thì phát hiện tổn thương dạng u là 77 BN (88,5%) Trong đó kích thước u ≤ 3cm có 28 BN (32,2%); kích thước u > 3cm và ≤ 7cm chiếm tỷ lệ cao nhất 52,9% với 46 trường hợp Khối u kích thước > 7cm chỉ có 3 BN (3,4%)
3.2.5 Kết quả nội soi phế quản (n=83):
Bảng 3.11: Các vị trí tổn thương trên nội soi