1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm dịch tễ học bệnh sốt xuất huyết dengue tại thành phố hà nội năm 2002 2007 và một số yếu tố thời tiết liên quan

43 891 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 2,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm gần đây, khi vấn đềbiến đổi khí hậu toàn cầu được quan tâm, người ta dự báo rằng biến đổi khíhậu có thể tác động trực tiếp lên sức khỏe con người ví dụ tác động của ứngsu

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh nhiễm vi rút cấp tính, gây dịch

do muỗi truyền bởi 4 týp vi rút Dengue Trên thế giới trước năm 1970 chỉ có

9 quốc gia đã ghi nhận bệnh này, ước tính hàng năm có 500.000 trường hợpSXHD phải nhập viện, phần lớn là trẻ em Ít nhất 2,5% các ca bệnh dẫn tới tửvong Do số lượng người mắc và chết cao trong các vụ SXHD nên bệnhSXHD luôn là vấn đề của cộng đồng Trong những năm gần đây, khi vấn đềbiến đổi khí hậu toàn cầu được quan tâm, người ta dự báo rằng biến đổi khíhậu có thể tác động trực tiếp lên sức khỏe con người (ví dụ tác động của ứngsuất nhiệt, chết/ bị thương do bão lũ) và gián tiếp thông qua những biến đổicủa của một loạt các véc tơ bệnh tật như muỗi, ve, mầm bệnh từ nước, chấtlượng nước, không khí, chất lượng và khả năng đáp ứng thực phẩm, thìSXHD lại càng ngày được quan tâm nhiều hơn

Việt Nam được xác định là một trong 8 nước đứng đầu khu vực ĐôngNam châu Á và thế giới về tỷ lệ mắc và chết do bệnh SXHD Bệnh lưu hànhrộng rãi ở vùng châu thổ sông Hồng, sông Cửu long và duyên hải miền Trung.Bệnh không chỉ xuất hiện ở đô thị mà cả vùng nông thôn, nơi có véc tơ truyềnbệnh [13] Bệnh có chiều hướng gia tăng ở tất cả các khu vực và là một trong

10 bệnh truyền nhiễm gây dịch có tỷ lệ mắc cao nhất ở nước ta, năm 2009 cảnước đã ghi nhận 108.756 ca mắc SXHD, trong đó 87 ca tử vong, tỷ lệ mắclên tới 121 ca/100.000 dân và tỷ lệ chết/mắc là 0,08%; Năm 2010, dịch cũng

đã xảy ra ở cả 4 khu vực với 125.854 ca mắc SXHD, 100 ca tử vong, số mắctăng 13,59% và số ca tử vong tăng 14,94% so với năm 2009 , ,,,,,,

Thành phố Hà Nội hiện nay bao gồm thành phố Hà Nội cũ (14 quận,huyện, 232 xã, phường, thị trấn), toàn bộ tỉnh Hà Tây (2 thành phố, 12 huyện,

Trang 2

323 xã, phường, thị trấn), huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc (18 xã, thị trấn) và 4

xã thuộc huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình Sau khi mở rộng địa giới hànhchính ngày 1/8/2008 theo Nghị quyết 15 của Quốc hội, toàn thành phố có diệntích 3.324,92 km2, dân số trên 6,5 triệu người, Hà Nội trở thành một trongnhững thành phố đông dân nhất trong khu vực Đặc biệt, Hà Nội là trung tâmchính trị, kinh tế, văn hoá, đầu mối giao thông của cả nước, có nhiều khu dulịch, di tích lịch sử văn hoá thu hút khách trong nuớc và quốc tế, mỗi ngàyước tính có hàng trăm nghìn người giao lưu qua lại trên địa bàn

Với tính chất đặc thù về điều kiện địa lý, kinh tế, xã hội của thành phố

Hà Nội và những vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu được các quốc gia và khuvực quan tâm như hiện nay thì việc phân tích tình hình dịch tễ học SXHD trênđịa bàn thành phố để hiểu được diễn biến dịch qua các năm, phân tích tươngquan biến đổi thời tiết bao gồm nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa với số lượng ca

bệnh xảy ra là rất cần thiết Vì vậy nghiên cứu “Đặc điểm dịch tễ học bệnh sốt xuất huyết Dengue tại thành phố Hà Nội năm 2002-2007 và một số yếu

tố thời tiết liên quan” nhằm mục tiêu:

1 Mô tả đặc điểm dịch tễ học bệnh Sốt xuất huyết Dengue tại thành phố

Hà Nội năm 2002-2007.

2 Mô tả mối liên quan giữa nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa với dịch sốt xuất huyết Dengue năm 2002-2007.

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 LỊCH SỬ VÀ TÌNH HÌNH BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE

1.1.1 Tình hình sốt xuất huyết Dengue trên thế giới

Hình 1.1: Bản đồ dịch tễ SXHĐ trên thế giới

Những ghi nhận đầu tiên về bệnh SXHD trên thế giới vào năm 1779 tạiJakarta (Indonesia) và Cairo (Ai Cập), 1780 tại Philadenphia (Mỹ) Tại khuvực châu Á có những tài liệu ghi chú về lịch sử bệnh SXHD xảy ra từ nhữngnăm 1927-1928 tại Athens (Hy Lạp) làm khoảng 1250 người chết, 1953-1954tại Philippine và trong vòng 20 năm sau đó bệnh SXHD đã trải rộng khắpvùng Đông Nam châu Á tới Ấn Độ, Srilanka, Trung Quốc, Nam và Tây TháiBình Dương, Châu Phi, châu Mỹ và vùng biển Caribê Tháng 5 năm 1945, lầnđầu tiên tác nhân gây bệnh được phân lập bởi Alber Sabin từ những binh lính

Trang 4

bị ốm tại Calcuta (Ấn Độ), NewGuinea và Hawaii Những chủng vi rútDengue mà Sabin phân lập được tại Ấn Độ, New Guinea và một chủng tạiHawaii đều có tính kháng nguyên giống nhau ngoài ra còn 3 chủng khác tạiNew Guinea, Sabin nhận thấy có sự khác biệt về tính kháng nguyên với cácchủng trên Hai chủng vi rút này được gọi là Dengue típ 1 và Dengue típ 2.Hai chủng vi rút Dengue tiếp theo là Dengue 3 và Dengue 4 đã được WilliamMcd Hammon và cộng sự phân lập được từ những trẻ em bị bệnh SXH tại vụdịch ở Manila năm 1956 Tiếp theo sau đó rất nhiều chủng vi rút Dengueđược phân lập từ các vùng khác nhau trên thế giới nhưng tính kháng nguyêncủa chúng đều được định dạng trong 4 típ huyết thanh trên

Hình 1.2: Mức độ gia tăng của dich SXHD qua các năm.

Các nhà nghiên cứu về vi rút Dengue đã sớm cho rằng bệnh SXHD đượclây truyền bởi muỗi nhưng mãi đến tận năm 1903 H Graham mới chứngminh được điều này Năm 1906, T.L Brabcroft đã chỉ ra rằng muỗiAe.Aegypti chính là vectơ chính truyền bệnh SXHD Những nghiên cứu sâuhơn về sau cho thấy muỗi A Albopictus và A Polynesiensis cũng tham gia

Trang 5

vào việc truyền bệnh này Tới năm 1997 vi rút Dengue và muỗi A aegypti đãphát triển rộng trên toàn thế giới Theo những nhà nghiên cứu hiện nay trênthế giới có hơn 2.5 tỷ người sống trong vùng nguy cơ dịch, mỗi năm cókhoảng 100 triệu trường hợp mắc bệnh SXHD trở thành vấn đề lớn ảnhhưởng tới sức khoẻ cộng đồng trên toàn cầu ,,.

1.1.2 Tình hình sốt xuất huyết Dengue tại Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương

Tại Đông Nam Á, SXHD lần đầu tiên được mô tả như một bệnh mới ởPhilippin năm 1953 (Gọi là bệnh sốt xuất huyết Philippin) Từ đó, nhiều vụdịch SXHD lớn đã xảy ra ở hầu hết các nước Đông Nam Á, bao gồm cả Ấn

Độ, Inđônêxia, Manđivơ, Mianma, Xri Lanca, Thái Lan và các nước thuộckhu vực Tây Thái Bình Dương như Xingapo, Campuchia, Trung Quốc, Lào,Malaixia, Niu Calêđônia, Palau, Philippin, Tahiti và Việt Nam với tỷ lệ tửvong cao và sự có mặt cả 4 týp vi rút SXHD là nguyên nhân dẫn đến nhậpviện và gây tử vong hàng đầu tại một số nước thuộc khu vực Châu Á – TháiBình Dương trong đó có Việt Nam

Hình 1.3: Sự lưu hành của các tuýp Virus Dengue trên thế giới.

Trang 6

1.1.3 Tình hình sốt xuất huyết Dengue ở Việt Nam

Tại Việt Nam, vụ dịch SXHD đầu tiên xảy ra tại Hà Nội và một số tỉnhmiền Bắc năm 1958 được Chu Văn Tường và Mihow thông báo vào năm

1959 Ở miền Nam, dịch SXHD được mô tả vào năm 1960 với 60 trường hợp

tử vong Từ đó bệnh trở thành dịch lưu hành địa phương ở vùng châu thổsông Hồng, sông Cửu long và dọc theo bờ biển miền Trung

Trong những năm gần đây tỉ lệ mắc bệnh cao nhất được ghi nhận tại cáctỉnh đồng bằng Sông Cửu Long và các tỉnh ven biển miền Trung [1] Tuynhiên những số liệu mới đây đã chỉ ra rằng bệnh đã phát triển đến vùng caonguyên Trung bộ, nơi đang phát triển đô thị mới với điều kiện cung cấp nướcsinh hoạt và vệ sinh môi trường kém Tại các tỉnh đồng bằng Sông Hồng, sựlan truyền bệnh bị hạn chế trong những tháng đông xuân do nhiệt độ môitrường thấp không thích hợp cho sự phát triển và sinh sản của muỗi truyềnbệnh Ở những vùng núi xa xôi hẻo lánh cao nguyên biên giới phía Bắc khôngthấy bệnh xuất hiện, kể cả những năm có dịch lớn

Trước năm 1990, bệnh SXHD mang tính chất chu kỳ tương đối rõ nét,với khoảng cách trung bình 3-5 năm Sau năm 1990, bệnh xảy ra liên tục vớiquy mô và cường độ ngày một gia tăng Đặc biệt năm 1998 dịch SXHD đãbùng nổ với qui mô lớn ở Việt Nam, có tới 57/61 tỉnh thành trong cả nước cóxuất hiện dịch với 234,920 trường hợp mắc và 377 tử vong, tỷ lệ mắc306,3/100.000 dân, tỷ lệ chết/mắc 0,16% Giai đoạn 1999-2003, số mắc, chếttrung bình hàng năm đã giảm chỉ còn 36.826 trường hợp và tử vong 66 trườnghợp Tuy nhiên từ năm 2004 đến nay số mắc và tử vong do SXHD có xuhướng gia tăng Đặc biệt năm 2009 cả nước đã ghi nhận 108.756 ca mắcSXHD, trong đó 87 ca tử vong, tỷ lệ mắc lên tới 121/100.000 dân và tỷ lệchết/mắc là 0,08 %; Năm 2010, dịch cũng đã xảy ra ở cả 4 khu vực với

Trang 7

125.854 ca mắc SXHD, 100 ca tử vong, số mắc tăng 13,59% và số ca tử vongtăng 14,94% so với năm 2009.

Bệnh SXHD ở Việt Nam phát triển theo mùa và cũng có sự khác biệtgiữa miền Bắc và miền Nam Ở miền Bắc thuộc vùng khí hậu á nhiệt đới,bệnh thường xảy ra từ tháng 4 đến tháng 11, những tháng khác bệnh ít xảy ra

vì thời tiết lạnh, ít mưa, không thích hợp cho sự sinh sản và hoạt động của Ae.aegypti Bệnh phát triển nhiều hơn từ tháng 6 đến tháng 10 và đỉnh cao vàotháng 7,8,9 và 10 Ở miền Nam và nam Trung bộ bệnh SXHD xuất hiện trongsuốt năm với tần số mắc nhiều hơn vào tháng 4 đến tháng 11, đỉnh cao cũngvào những tháng 7, 8, 9 và 10 ,,

Qua các số liệu thống kê cho thấy, tuổi mắc bệnh có sự khác biệt giữacác miền Ở miền Bắc Việt Nam, nơi có bệnh lưu hành thấp thì tất cả các lứatuổi đều có thể bị mắc bệnh Nhưng ở miền Nam, bệnh lưu hành cao, lứa tuổimắc bệnh phần lớn là trẻ em Năm 2006 trẻ em <15 tuổi mắc bệnh ở miềnBắc chiếm 21,8%, miền Trung 47,9% và miền Nam 64,3%, Tây Nguyên15,9%

Bảng 1.1 Tình hình mắc và chết do SXHD ở Việt Nam, 2001 – 2010

/100.000 dân Số chết

Tỷ lệchết/mắc (%)

Trang 8

1.2 TÁC NHÂN GÂY BỆNH VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU/THỜI TIẾT

1.2.1 Tác nhân gây bệnh

Trong thời gian dài, người ta chỉ biết rằng các vụ dịch SXHD do muỗitruyền liên tiếp xảy ra ở Trung Mỹ, vùng biển Caribê và Đông Nam châu Á,nhưng tác nhân gây bệnh vẫn chưa được biết đến Mãi đến 1944, khi Sabinphân lập được vi rút Dengue týp 1, 2 và sau đó tháng 4/1956, tháng 5/1960phân lập được vi rút Dengue týp 3 và 4 thì tác nhân gây ra các vụ dịch SXHDmới được hiểu rõ Vi rút Dengue thuộc họ Togaviridae, nhóm Flavivirut xemlại tên quốc, là nhóm bao gồm các vi rút cho động vật và côn trùng truyền Virút Dengue có 3 ổ chứa tự nhiên là người, muỗi và một số động vật thuộcnhóm linh trưởng như vượn, hắc tinh tinh

Thời kỳ nhiễm vi rút huyết ở người từ 2 đến 12 ngày, trung bình từ 4 đến

5 ngày, với hiệu giá từ mức nhỏ không phát hiện được đến trên 108 (MID50/ml)

Đối với động vật có xương sống, người là động vật duy nhất khi nhiễm

vi rút có biểu hiện lâm sàng, từ nhẹ đến tình trạng sốt xuất huyết nặng, sốc vàchết Ở động vật linh trưởng, thời kỳ nhiễm vi rút ngắn hơn, chỉ khoảng 1 đến

2 ngày, với hiệu giá ở mức có thể phát hiện được, ít khi vượt quá 106 MID50/

ml, loại động vật này tỏ ra thích ứng đặc biệt với vi rút Dengue, không biểu lộcác dấu hiệu, triệu chứng của bệnh

Vi rút Dengue không gây nhiễm hoặc rất khó gây nhiễm đối với cácđộng vật có xương sống khác Ngay cả chuột mới đẻ, vẫn thường được dùng

để phân lập vi rút, cũng không có bất kỳ một dấu hiệu nào của bệnh sau khi

đã tiêm vào não các vi rút chưa được cấy truyền nhiều lần

Một số loài muỗi thuộc giống Aedes được coi là ổ chứa tự nhiên của virút Dengue, đó là Ae.Aegypti, Ae.Albopictus, Ae.Scutellaris, Ae.Africanus vàAe.Lentrocephalus Các loài muỗi khác không phải là ổ chứa của vi rút

Trang 9

Dengue, mặc dù gần đây có thông báo của Trung Quốc cho rằng Culexquinquefasciatus cũng là véc tơ truyền bệnh SXHD, nhưng nhiều tác giảkhông công nhận loài muỗi này có thể đóng vai trò truyền bệnh

Muỗi Aedes có thể bị nhiễm vi rút Dengue sau khi đốt bệnh nhân ở giaiđoạn nhiễm vi rút huyết (từ 6-8 giờ trước, đến khoảng 3 ngày sau khi khởiphát) Cần có thời gian để vi rút nhân lên trong cơ thể muỗi, thời gian này dàihay ngắn phụ thuộc vào nhiệt độ của môi trường Ở nhiệt độ 220C, sau 8-12ngày (trung bình 9 ngày) là muỗi có thể truyền bệnh Nếu nhiệt độ bên ngoàithấp hơn 160C, vi rút không nhân lên được trong cơ thể muỗi Muỗi cáinhiễm vi rút có thể truyền bệnh suốt đời Như vậy một số loài động vật linhtrưởng và muỗi hợp lại thành chu kỳ nhiễm vi rút Dengue trong tự nhiên

1.2.2 Biến đổi khí hậu, thời tiết.

Việt Nam là một trong bốn nước đứng đầu thế giới chịu ảnh hưởng biếnđổi khí hậu (BĐKH) kể từ 20 năm qua Trong danh sách của tổ chứcGermanwatch công bố tại Copenhagen ngày 09/12/2009, Việt Nam đứnghàng thứ tư trong chỉ số rủi ro chỉ sau Bangladesh, Myanmar, Honduras Bêncạnh những tác hại cho đời sống, BĐKH còn ảnh hưởng đến sức khỏe conngười Công ước khung của Liên Hiệp Quốc (LHQ) định nghĩa “ biến đối khíhậu là sự biến đổi của khí hậu có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên hoạtđộng của con người và làm thay đổi thành phần của bầu khí quyển toàn cầu

và bổ sung vào sự biến động khí hậu tự nhiên được quan sát trong những giaiđoạn có thể so sánh được” Biến đổi khí hậu là một mối đe dọa đáng kể đốivới sức khỏe cộng đồng, và làm thay đổi các biện pháp mà chúng ta phải sửdụng để bảo vệ các bộ phận dân cư dễ bị tác động Ở các quốc gia đang pháttriển, tác động của biến đổi khí hậu là những đe dọa rõ ràng đối với công cuộcxóa đói giảm nghèo cũng như các thành quả của Các Mục tiêu Thiên niên kỷ

Trang 10

Biến đổi khí hậu có thể tác động trực tiếp lên sức khỏe con người (ví dụtác động của ứng suất nhiệt, chết/ bị thương do bão lũ) và gián tiếp thông quanhững biến đổi của của một loạt các véc tơ bệnh tật như muỗi,ve, mầmbệnh từ nước, chất lượng nước, không khí, chất lượng và khả năng đáp ứngthực phẩm Biến đổi khí hậu, thời tiết và sự phát sinh, phát triển bệnh truyềnnhiễm là một quá trình có liên quan với nhau thông qua nhiều cơ chế Thôngthường sau thiên tai, môi trường bị xáo trộn lớn, nguồn nước bị ô nhiễm nặng

và đây là một trong những nguyên nhân chính gây bùng phát các vụ dịch bệnhđường tiêu hóa và các bệnh khác lây lan theo nguồn nước bao gồm cả cácbệnh của động vật, bệnh có ổ dịch tự nhiên, bệnh từ nơi khác đến Sự gia tăng

về cường độ và tần số thiên tai như bão, nước biển dâng, ngập lụt, hạn hán,mưa lớn và sạt lở đất… làm tăng số người bị thiệt mạng và ảnh hưởng giántiếp đến sức khỏe cộng đồng do môi nhiễm môi trường, suy dinh dưỡng vàbệnh tật Dịch tả xảy ra ngay sau động đất ở Haiti với hang ngàn trường hợpmắc, hang trăm trường hợp tử vong, các nhà khoa học Mỹ đã phát hiện rarằng bốn lần bốn lần đại dịch cúm gần nhất, dịch cúm Tây Ban Nha bắt đầunăm 1918, dịch cúm châu Á năm 1957, dịch cúm Hong Kong năm 1958 vàdịch cúm H5N1 năm 2009 đều diễn ra sau các đợt La Nina Các dịch cúm này

có điểm chung là loại virút cúm đều là những chủng loại mới mà con ngườichưa phát triển được hệ miễn dịch Nhiệt độ càng tăng thì tỷ lệ thuận với bệnhtruyền nhiễm càng nhiều Nhiệt độ ấm lên cùng lượng mưa tăng có thể gâynhiễu loạn hệ sinh thái, tác động đến các động vật ký sinh cũng như trunggian truyền bệnh đã làm tăng các dịch bênh ở những vùng không có sự chuẩn

bị phòng chống đầy đủ Các vật truyền bệnh (như muỗi, bọ chét, ve, mò, mạt)

sẽ thay đổi về sinh học, sinh thái và vùng phân bố, theo xu hướng sẽ phát triển

ở các vành đai cao hơn, mùa phát triển sẽ kéo dài hơn Hậu quả là các dịchbệnh do chúng truyền sẽ phức tạp và gây tác hại nhiều hơn do mở rộng vùng

Trang 11

phân bố làm tăng nguy cơ dịch bệnh phụ thuộc vào điều kiện môi trường và

sự thay đổi của xã hội

Việt Nam là một quốc gia nhiệt đới cũng đã thấy một số loại bệnh truyềnnhiễm lây lan nhiều hơn, với địa bàn rộng hơn trong những năm qua, từ khikhí hậu trái đất bị hâm nóng Trong thời gian vừa qua, dịch sốt xuất huyết (domuỗi Aedes aegypty truyền) bùng phát trên phạm vi cả nước, có dịch tễ phứctạp, mùa bệnh kéo dài vì thời tiết bất thường và nóng lên (muỗi truyền bệnhphát triển…) Bệnh dịch tả quay lại cũng tương tự như vậy: do trời nóng, điềukiện vệ sinh nói chung và vệ sinh thực phẩm nói riêng không tốt Bệnh truyềnqua nước và các côn trùng véctơ (theo cơ chế nhiễm bẩn cơ học) nên rất khóquản lý nguồn bệnh/ phân Đối với động vật nuôi, tác động của BĐKH cũngrất rõ rệt Trong những năm gần đây, các vụ dịch của gia cầm, gia súc (cúmgia cầm, cúm lợn, …) đã gây ra các vụ dịch lớn và thiệt hại đáng kể ở nhiềuđịa phương

Theo tính toán, các bệnh do véc tơ truyền, bệnh tiêu chảy gây thiệt hạiước tính hàng năm khoảng 40 tỷ USD Tổ chức Y tế thế giới cho biết trongnăm 2000 có khoảng 2,4% số trường hợp tiêu chảy cấp trên thế giới, 6% cáctrường hợp mắc sốt rét trong các nước có mức thu nhập trung bình và thấpđều có liên quan đến BĐKH Dự báo trong vòng 50 năm tới, thiên tai sẽ tănglên 4 lần và 2 tỷ người trên hành tinh sẽ chịu ảnh hưởng Tại Việt Namkhoảng 10% dân số sẽ bị ảnh hưởng, kéo theo tổn thất GDP lên tới 10%, cùngvới đó là hàng loạt dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, bệnh mới nổi bùngphát Đây là những đánh giá được đưa ra tại hội thảo “Á - Âu chia sẻ kinhnghiệm sẵn sàng đối phó với biến đổi khí hậu toàn cầu và các bệnh mới nổi”,được tổ chức ngày 4 và 5-11/2009 tại Hà Nội

Trang 12

Chương 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU:

Gồm 14 quận huyện của Hà Nội

2.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU:

Từ 1/1/2002- 31/12/2007

2.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân được chẩn đoán SXHD dương tínhnăm 2002-2007:

Tiêu chuẩn chẩn đoán dương tính :

- Ca bệnh giám sát: Bệnh nhân sốt cao đột ngột kéo dài từ 2 đến 7 ngàykèm các triệu chứng đau đầu, đau hốc mắt, đau cơ, đau khớp, phát ban, cóbiểu hiện xuất huyết (dấu hiệu dây thắt dương tính)

- Ca bệnh nặng: Có biểu hiện xuất huyết ở các mức độ khác nhau: dưới

da, niêm mạc, xuất huyết nội tạng, gan to và có thể tiến triển đến hội chứngsốc Dengue (HCSD) dẫn đến tử vong

Xét nghiệm thấy giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu (100.000/mm3),hematocrit tăng ( 20% giá trị bình thường theo tuổi và giới)

2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

2.4.1 Thiết kế nghiên cứu:

Nghiên cứu mô tả toàn bộ các ca bệnh SXHD được báo cáo và ghi nhậntại Trung tâm YTDP Hà Nội bằng phiếu điều tra ca bệnh

2.4.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu

- Cỡ mẫu: chọn toàn bộ 6488 phiếu phiếu điều tra ca bệnh SXHD từ

Trang 13

2002 - 2007 được báo cáo ghi nhận trên 14 quận, huyện thuộc Thành phố HàNội cũ đang quản lý tại Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội.

2.4.3 Kỹ thuật thu thập thông tin

Hồi cứu số liệu từ các ca bệnh SXHD năm 2002-2007

- Phân tích đường cong dịch, mùa dịch, chu kỳ dịch, ngưỡng dịch bằng

kỹ thuật “time series” Phần mềm phân tích chuỗi thời gian (time-seriesanalysis) viết trên nền Mathlab có sử dụng các thuật toán của Fourier

2.6 SAI SỐ VÀ CÁCH KHẮC PHỤC.

+ Sai số: Nghiên cứu hồi cứu dựa trên phiếu điều tra ca bệnh sẵn có.Một số phiếu điều tra ca bệnh chỉ thu thập được tháng và năm khởi phát bệnh

mà không thu thập được thông tin ngày khởi phát bệnh

+ Khắc phục: Đối với những ca bệnh thiếu thông tin ngày khởi phát sẽ được gán thời gian vào ngày 15 của tháng và năm mắc bệnh (theo khuyến cáocủa phân tích time series )

2.7 ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU:

- Nghiên cứu được phép của Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội và đã

được thông báo cho cơ quan cung cấp số liệu về mục đích, nội dung và quátrình nghiên cứu

- Nghiên cứu không phân tích thông tin các nhân Số liệu phân tíchgộp các ca SXHD để có thông tin chung về tình hình dịch của Hà Nội

Trang 14

2.8 BIẾN SỐ, CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU:

Bảng 2.1 Các biến số, chỉ số và phương pháp thu thập thông tin

Stt Tên

biến Định Nghĩa

Chỉ số

1 Giới Giới tính khi sinh được ghi

trong phiếu điều tra ca bệnh

Phân bố ca bệnh theo giới theo năm

1 Tỉ lệ % ca bệnh theo giới theo năm

2 Tuổi

Tuổi dương lịch tính theo năm sinh ghi trong phiếu điều tra ca bệnh:

Phân bố ca bệnh theo nhóm tuổi ≤ 15 tuổi và nhóm >15 tuổi

và được ghi nhận trong phiếu điều tra ca bệnh

3 Tỉ lệ % ca bệnh phân bố theo địa bàn 14 quận huyện/năm

4 Tỉ lệ mắc/100.000 dân theo địa bàn 14 quận huyện/năm

5 Tỉ lệ mắc/100.000 dân theo nội và ngoại thành

6 Phân bố ca bệnh tháng qua các năm và trong 6 năm

7 Phân bố ca bệnh theo chu kỳ mùa dịch (seasonal trend)

8 Đường cong dịch, ngưỡng dịch

5 Thời

tiết

Các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa theo thời gian với các giá trị được đo và ghi nhận tại tổng cục khí tượng thuỷ văn Hà Nội theo tháng

từ 2002-2007

9 Tương quan nhiệt độ với ca bệnh

10 Tương quan độ ẩm với ca bệnh

11 Tương quan lượng mưa với ca bệnh

Trang 15

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU3.1 PHÂN BỐ CÁC TRƯỜNG HỢP MẮC SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE Bảng 3.1: Phân bố SXHD theo giới của Hà Nội từ 2002-2007.

Nhận xét: Trong tổng số các ca mắc SXHD được báo cáo và ghi nhận trên

địa bàn 14 quận huyện thành phố Hà Nội từ 2002-2007, tỉ lệ nam mắc qua cácnăm đều cao hơn nữ

Bảng 3.2: Phân bố các ca bệnh SXHD theo nhóm tuổi từ 2002-2007

2003 (%)

2004 (%)

2005 (%)

2006 (%)

2007 (%)

Tổng 2002-2007 (%)

Trang 16

Nhận xét: Qua các năm từ 2002-2007, 90,4% các ca bệnh tập trung chủ yếu ở

các quận nội thành Phân tích số ca bệnh từng năm theo địa bàn quận huyệncho thấy các ca SXHD phần lớn xảy ra hàng năm tập trung tại các địa bànThanh Xuân (23,6%), Đống Đa (19,8%), Hoàng Mai (19,1%), Hai Bà Trưng(16,2%) Trong khi đó địa bàn Sóc Sơn (0,5%), Gia Lâm (0,8%), Long Biên(0,9%) có rất ít các ca bệnh

Trang 17

Bản đồ 3.1: Mật độ ca bệnh SXHD theo quận huyện từ 2002-2007 Nhận xét: Tâm điểm các ca bệnh tập trung chính ở 5 quận Nội

thành là Thanh Xuân, Đống Đa, Hai Bà Trưng, Hoàng Mai, Thanh Trì 5 quận huyện này ở vị trí giáp ranh nhau Các quận huyện xung quanh 5 quận huyện này có số ca mắc SXHD thấp hơn.Càng xa tâm điểm của 5 quận huyện này thì mật độ ca bệnh giảm.

Trang 18

Bản đồ 3.2 Bản đồ phân bố mật độ mắc/100.000 dân theo quận/huyện Nhận xét: 5 quận nội thành Thanh Xuân, Đống Đa, Hai Bà Trưng, Hoàng

Mai là những quận có mật độ mắc trên 100.000 dân cao nhất từ 2002-2007

Trang 19

Biểu đồ 3.2: Phân bố dịch tễ học SXHD theo tháng từ 2002-2007 Nhận xét : Thời điểm tháng 4 và tháng 5 hàng năm, số ca SXHD bắt đầu tăng

và thời điểm cao nhất của dịch bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 11 mà đỉnh điểm

cao nhất là tháng 10

Trang 20

Biểu đồ 3.3: Phân bố ca bệnh SXHD theo chu kỳ/mùa dịch từ 2002-2007

Nhận xét: Phân bố các ca SXHD từ năm 2002-2007 cho thấy bệnh có tínhchất chu kỳ xảy ra hàng năm Mỗi năm diễn biến SXHD diễn biến theo chu

kỳ 2 đỉnh dịch Đỉnh thứ nhất bắt đầu từ tháng 4 tăng nhẹ vào tháng 5 và đỉnhthứ hai là thời điểm từ tháng 9 đến tháng 11 trong đó đỉnh dịch cao nhất vàotháng 10 Diễn biến này xảy ra liên tục qua các năm Tuy nhiên năm 2006 và

2007, sốca mắc SXHD tăng đột biến

Trang 21

2 data1 data2 data3 data4

*: - - - - : mức cao của 95% khoảng tin cậy của ngưỡng dịch trong 6 năm

: mức thấp của 95% khoảng tin cậy của ngưỡng dịch trong 6 năm

Biểu đồ 3.4: Phân bố 95% khoảng tinh cậy của ngưỡng dịch từ 2002-2007 Nhận xét: Nhìn chung ngưỡng dịch SXHD từ 2002-2007 dao động ở

ngưỡng trên dưới 200 ca/năm Tuy nhiên đến năm 2007, 2008 số lượng các

ca SXHD năm 2006 và 2007 đã vượt quá mức cao của 95% khoảng tin cậycủa ngưỡng dịch trong 6 năm từ 2002 đến 2007

Ngày đăng: 06/11/2015, 15:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w