Để đóng góp vào việc đánh giá kết quả của một phác đồ điều trị chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “điện châm kết hợp thuốc bổ thận tráng dương trong hỗ trợ cắt cơn nghiện ma túy trên
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Tệ nạn ma tuý là một thảm hoạ đang lan tràn ở khắp các nước trên thế giới
và có chiều hướng ngày càng gia tăng Nó không những huỷ hoại sức khoẻ của conngười và là nguy cơ dẫn đến các bệnh lây truyền qua đường máu mà còn làm bănghoại đạo đức, suy thoái nhân cách, làm mất đi khả năng lao động của con người,kinh tế gia đình kiệt quệ, các tệ nạn xã hội phát sinh: Trộm cắp, cướp giật, đâmchém…
Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới (TCYTTG) [theo 41], năm 1985, thếgiới có khoảng 48 triệu người nghiện ma tuý, nhưng đến năm 2000, ước tính có hơn
230 triệu người nghiện ma tuý, chiếm 4% dân số thế giới
Do đó việc ngăn chặn hiểm họa ma túy là việc rất cần thiết, đã có nhiều côngtrình nghiên cứu và phương pháp cai nghiện ma tuý Nhưng để tìm ra được mộtphương pháp cai NMT hiệu quả, thuận tiện, đơn giản, ít tốn kém và tỷ lệ tái nghiệnthấp nhất vẫn là một vấn đề khó Ngoài ra những người nghiện ma túy thường kèmtheo thể trạng kém và mắc các bệnh kèm theo như HIV/AIDS, viêm gan B, viêmgan C… nên trong quá trình cai nghiện ma túy việc nâng cao thể trạng và điều trịcác bệnh kèm theo là điều rất cần thiết
Phương pháp điều trị hỗ trợ cai NMT bằng điện châm là phương pháp điềutrị không dùng thuốc do Nguyễn Tài Thu đề xuất và nghiên cứu từ năm 1991 Cáckết quả bước đầu cho thấy châm cứu cắt cơn nghiện nhanh, phục hồi chức năng sinh
lý cho người bệnh trong một thời gian ngắn, phù hợp với hoàn cảnh kinh tế nước ta,
ít tốn kém, đơn giản, dễ áp dụng trong cộng đồng
Theo Nguyễn Tài Thu có thể phân loại NMT làm 5 thể lâm sàng [48] Đởm,Tỳ-Vị ,Tâm-Tiểu trường,Phế-Đại trường và Thận-Bàng quang Đã có rấtnhiều đề tài nghiên cứu về từng thể bệnh riêng lẻ nhưng chưa có một đề tài nàonghiên cứu về điều trị hỗ trợ cai NMT thể Tỳ-Thận
Can-Những nghiên cứu gần đây về thuốc y học cổ truyền trong điều trị nâng cao thểtrạng cho bệnh nhân nhiễm HIV cho thấy hiệu quả rất khả quan Trong đó thuốc
Trang 2viên nang bổ thận tráng dương cho thấy tác dụng nâng cao thể trạng trên bệnh nhânHIV/AIDS rất tốt và đã được áp dụng trên lâm sàng [41].
Để đóng góp vào việc đánh giá kết quả của một phác đồ điều trị chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “điện châm kết hợp thuốc bổ thận tráng dương trong hỗ trợ cắt cơn nghiện ma túy trên bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS thể tỳ thận dương hư”.
Nhằm các mục tiêu sau:
1 Tìm hiểu các đặc điểm, lâm sàng, cận lâm sàng hội chứng cai nghiện
ma tuý và hội chứng suy nhược cơ thể của bệnh nhân nghiện ma tuý nhiễm HIV/ AIDS thể Tỳ Thận dương hư.
2 Đánh giá tác dụng của phương pháp điện châm kết hợp thuốc “bổ thận tráng dương” trong hỗ trợ cắt cơn nghiện ma túy trên bệnh nhân nhiễm HIV/ AIDS thể Tỳ-Thận dương hư.
Trang 3CHƯƠNG 1TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.2 Khái niệm về chất ma tuý :
1.2.1.Định nghĩa chất ma tuý.
Chất ma tuý(CMT) là những chất gây nghiện - tự nhiên (Nhựa thuốc phiện, lá
cô ca…) bán tổng hợp (Heroin) hay chất tổng hợp (Amphetamin) Những chất nàytác động đặc hiệu vào hệ thần kinh trung ương và nếu sử dụng lặp lại nhiều lần sẽdẫn đến trạng thái phụ thuộc vào chất đã sử dụng gọi là NMT [48], [54]
1.2.2 Phân loại các chất ma tuý.
Ở nước ta, theo vụ Điều trị Bộ Y Tế các CMT có nhiều loại, dựa vào tácdụng dược lý chính của chúng trên hệ thống thần kinh trung ương, gây ra các biếnđổi chức năng tâm thần đặc trưng có thể phân ra các loại sau [48]:
1.2.2.1 Các chất gây êm dịu.
- Các thuốc bình thản, giải lo âu, gây ngủ (Benzodiazepin, barbituric…)
- Cocain là sản phẩm từ hoa và lá khô của cây coca Các chế phẩm của Cocain(Crack) có tác dụng nhanh hơn cocain Gây phụ thuộc tâm thần và gây độc tâmthần
1.2.2.3 Các chất kích thần gây ảo giác:
- Estasy (XTC)
1.2.2.4 Các dung môi hữu cơ gây êm dịu và ảo giác.
Colles (chất tẩy) Dissolvants (chất hoà tan)
1.2.2.5 Các chất gây ảo giác.
- Các sản phẩm của Canabis (cần sa), marijuana (lá khô), Haschich (rễ)
Trang 4- LSD 25 và các chất tương tự.
1.2.2.6 Các chất không xếp trong các nhóm nêu trên.
- Thuốc lá, thuốc lào (Nicotin) là loại ma tuý nhẹ được sử dụng hợp pháp gây dungnạp và phụ thuộc về cơ thể và tâm thần
* Trong tiếng việt từ “Ma tuý” mới xuất hiện vài chục năm nay “Ma” có nghĩa
là kỳ lạ, huyền ảo; “Tuý” là say Ma tuý là chất làm cho con người bị say đắm, mê hoặc, quyến rũ Ngày nay những chất gây nghiện ngày càng nhiều, đa dạng nên
“Ma tuý” được dùng để chỉ các chất gây nghiện nói chung Trong phạm vi đề tài này chúng tôi chỉ đề cập đến NMT chất dạng thuốc phiện (Nhóm Opiat) Vậy nguồngốc của thuốc phiện và các chế phẩm (Thuốc phiện, Codein, Morphin, Heroin) có thể được trình bày tóm tắt như sau:
- Thuốc phiện: Là nhựa của quả cây thuốc phiện được cô lại Nhựa thuốc phiện làmột hỗn hợp các chất hữu cơ như: Đường, đạm, chất béo và một số chất cao phân tửkhác Có hơn 25 Alcaloid đã được phát hiện trong thành phần của nhựa cây thuốcphiện song chỉ có 4 đến 5 loại được coi là thành phần cơ bản nhất bao gồm:Morphin, codein, thebain, papaverin và nacotin (noscapin)…Trong đó chỉ có cácloại nhân thơm Piperidin-phenanthren là tác dụng mạnh lên hệ thần kinh trung ương(Morphin, cocain) Thuốc phiện có 3 dạng:
+Thuốc phiện sống (Rawopium) là nhựa thuốc phiện mới thu hoạch từ quả và lácủa cây thuốc phiện, phơi khô, đóng gói Thuốc phiện sống đặc dẻo có màu nâuđen, đen sẫm, có mùi thơm đặc biệt, ít tan trong nước
+Thuốc phiện chín (Preparedopium) Thường gặp ở các nước Nam á được bào chế
từ thuốc phiện sống bằng cách dùng nước nóng hoà tan nhiều lần, rồi lọc qua vảinhiều lần, sấy khô dịch lọc và đóng thành bánh, có hình dạng kích thước khác nhau.Thuốc phiện chín màu nâu, thơm hơn thuốc phiện sống
+Xái thuốc phiện (Drossopium) là thành phần còn lại trong tẩu sau khi thuốc phiệnđược hút xong Thường trong xái thuốc phiện vẫn còn lại một lượng thuốc phiệnnhất định nên ở các nước Đông Nam á người ta thường trộn xái thuốc phiện vớithuốc phiện sống để hút lại [7]
Trang 5- Codein: là Alcaloid của cây thuốc phiện dược bào chế dưới dạng viên uống.
- Heroin: là chế phẩm của Morphin tồn tại dưới dạng bột màu trắng Nó là loại matuý mạnh nhất trong nhóm các chất dạng thuốc phiện và cũng là loại bị lạm dụngnhiều nhất do đạt được hiệu quả nhanh và đơn giản trong cách sử dụng
1.3 Quan niệm về nghiện ma tuý theo y học hiện đại.
1.3.1 Định nghĩa nghiện ma tuý theo y học hiện đại.
Nghiện ma tuý theo ICD-10 được định nghĩa như sau [9], [56]:
NMT là một trạng thái nhiễm độc mạn tính chất ma tuý gây lệ thuộc về mặt cơ thể
và tâm lý vào CMT và gây một trạng thái dung nạp (Liều dùng ngày càng tăng) saukhi đã sử dụng CMT nhiều lần
1.3.2 Cơ chế nghiện ma tuý theo y học hiện đại.
Người ta đã phân lập được các chất Morphin nội sinh trong cơ thể, đó làEndorphin và Enkephalin, các chất này tạo phức hợp với các thụ thể (Receptor)trong não,do đó có tác dụng giảm đau và đều có tính chất chung là làm giảm sảnxuất AMP vòng, nhưng Endorphin và Enkephalin bị phá huỷ quá nhanh,nên khônggây nghiện [30],[48]
Các CMT tác động vào hệ thần kinh trung ương tuỳ theo cấu trúc của từngchất, nhưng điểm chung của cơ chế gây nghiện chủ yếu là do tác động qua lại giữaCMT và thụ thể đặc hiệu của nó nằm ở các vùng khác nhau của não [17] Ở đây chỉ
đề cập đến cơ chế gây nghiện của các chất dạng thuốc phiện (Thuốc phiện,Morphin, Heroin) là các CMT được sử dụng chủ yếu ở nước ta hiện nay
Các chất dạng thuốc phiện (CDTP) khi vào cơ thể đều chuyển hoá thànhMorphin rồi vào máu, thời gian bán huỷ của Morphin ở máu khoảng 2 giờ 30 phút.Sau 24 giờ, 90% Morphin bài tiết ra ngoài, chỉ một lượng nhỏ vào hệ thần kinhtrung ương và đến các thụ thể tiếp nhận Morphin (Các receptor) ở hệ viền, vùngdưới đồi, đồi thị, nhân đuôi và đám rối thần kinh chi phối ruột (Đám rối Auerbach)[22],[48] Có một số thụ thể tiếp nhận Morphin và chủ yếu là thụ thể nằm ở não, tậptrung nhiều nhất là vùng dưới đồi, một ít ở hệ thần kinh thực vật [30]
Tại các thụ cảm thể có sẵn những peptid nội sinh ( endorphin, Enkephalin).Các Neuropeptid này tác động qua lại với Morphin và dẫn truyền Morphin qua hệthần kinh đến các vùng khác nhau của cơ thể gây ra những tác dụng đặc hiệu
Trang 6Morphin có nhiều tác dụng có lợi, đặc biệt có tác dụng chữa bệnh như:
- Gây giảm đau (đây là tác dụng quan trọng nhất)
- Gây khoái cảm: giảm các phiền muộn do các stress gây ra
- Gây thản nhiên, bàng quang: giảm lo âu và đau khổ
- Ức chế hô hấp: chống ho
- Tăng cường lực cơ trơn dạ dày, ruột, chống tiêu chảy và nhiều tácdụng khác
Nhưng Morphin gây nhiều tác hại hơn, tác hại lớn nhất là gây nghiện với
ba trạng thái dung nạp, lệ thuộc về cơ thể và lệ thuộc về tâm lý
- Giải thích sự nghiện ma tuý [20], [48].
Từ khi tìm ra Morphin nội sinh (Endorphin) thì cắt nghĩa hiện tượng quen cácCDTP càng rõ: Chất chủ vận nội sinh “Receptor” của CDTP là Enkephalin bị giánghoá quá nhanh nên không gây quen thuốc Enkephalin hoặc mọi Opioid sẽ kíchthích thụ thể, làm ức chế sự giải phóng một số men, chủ yếu là ức chếAldenylcyclase(AC) từ đó giảm sản xuất ra cAMP (AMP vòng)
Khi dùng CDTP nhiều lần, CDTP tác động liên tục vào thụ thể làm ức chế liên tục
AC và giảm cAMP trong cơ thể Do cAMP là chất truyền tin thứ hai đóng vai trò rất quantrọng, nên tế bào đáp ứng lại bằng cách tăng tổng hợp AC hoặc ức chế phân huỷ enzym đểgiữ cân bằng nồng độ AC Người ta gọi đó là trạng thái quen thuốc hay trạng thái nghiện.Khi ngừng Morphin đột ngột (cai thuốc), CDTP biến khỏi cơ thể nhưng thụ thể vẫn giữthói quen đáp ứng với nồng độ cao của thuốc Lúc này Enkephalin nội sinh sẽ thay thếCDTP, nhưng không thoả mãn được nhu cầu của thụ thể, hậu quả là các AC không bị ứcchế nữa, nồng độ của cAMP sẽ cao vọt lên khác thường, xuất hiện tình trạng kích thích đóchính là những triệu chứng bắt gặp ở người đói thuốc phiện biểu hiện hội chứng cai
1.3.3 Hội chứng cai (hcc):
Khi người nghiện bị cắt đột ngột CMT thì các AC được giải phóng và gâytăng tổng hợp cAMP gây ra tình trạng kích thích gọi là HCC (Dựa vào tiêu chuẩnchẩn đoán của DSM IV-R (Diagnostic and Statistical Manual Revision) của hội tâmthần học Mỹ chỉnh lý năm 1994 gồm 13 triệu chứng sau:
+ Ngáp
Trang 7+ Chảy nước mắt, nước mũi
+ Nổi da gà, toát mồ hôi
+ Thèm ma tuý
+ Đau cơ, đau khớp
+ Mất ngủ
+ Buồn nôn, nôn
+ Đau bụng, ỉa chảy
1.3.4 Cơ sở sinh học của trạng thái lệ thuộc về mặt cơ thể [22], [48].
Khi người nghiện dừng sử dụng CDTP các thụ thể vẫn duy trì phươngthức đáp ứng với một lượng CDTP đưa vào cơ thể hàng ngày, tức là vẫn liên tụctổng hợp một lượng lớn men AC, do lượng Endorphin quá nhỏ không thể ức chếđược việc tổng hợp này và lượng cAMP trong cơ thể cao vọt, kích thích mạnh hệthần kinh trung ương, báo động gay gắt trạng thái thiếu hụt Morphin dẫn tới nhu cầucấp thiết phải đưa Morphin vào cơ thể, nếu không đưa vào thì cơ thể xuất hiện cáctriệu chứng sau:
+ Từ giảm đau chuyển sang đau cơ bắp và nội tạng
+ Từ thản nhiên, bàng quang chuyển sang bồn chồn
+ Từ khoái cảm chuyển sang buồn bực
+ Từ hẹp đồng tử chuyển sang giãn đồng tử
+ Từ khô da chuyển sang vã mồ hôi
Và nhiều triệu chứng trái ngược khác như: dị cảm, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, mấtngủ…
1.3.5 Cơ sở sinh học của trạng thái lệ thuộc về mặt tâm thần [6], [48].
Trang 8Theo nhận định của hội đồng các chuyên viên về lạm dụng ma tuý của WHOthì sự lệ thuộc vào chất ma tuý trước hết và chủ yếu là sự lệ thuộc về mặt tâm thần.
Do bản năng sinh tồn, cơ thể phải tự điều chỉnh để sớm chấm dứt sự lệ thuộc về mặt
cơ thể (HCC) trong vòng từ 1-2 tuần Tuy nhiên mất hội chứng cai rồi, đối tượngNMT vẫn tiếp tục nhớ và thèm chất ma tuý trong một thời gian dài Đó là nguyênnhân làm cho gần 100% các đối tượng NMT lại tái nghiện một thời gian ngắn saukhi cắt cơn trong 10 ngày nếu không điều trị duy trì Đây là một hiện tượng tâm sinhhọc phức tạp, chưa được sáng tỏ hoàn toàn và có nhiều cách giải thích khác nhau
Có tác giả cho rằng tập tính nghiện ma tuý hình thành trên cơ sở thần kinhsinh học nhưng được điều tiết bởi các nhân tố tâm lý (kinh nghiệm đã trải qua, tácđộng của môi trường xã hội, tác động của stress…) Các trạng thái khoái cảm, thảnnhiên do chất ma tuý gây ra là cơ sở sinh học của cái thèm và nhớ Một số nhà điềutrị tập tính cho rằng trong một thời gian dài tất cả những phản ứng hàng ngày của bộnão đối với chất ma tuý, những chất thụ thể đặc hiệu được lưu dấu vết bền vững vào
bộ nhớ của não và hình thành một phản xạ có điều kiện Do đó sự thèm và nhớ cáccảm giác dễ chịu, sảng khoái do chất ma tuý đem lại có cơ sở bền vững tại các tếbào thần kinh, tồn tại tiềm tàng và thường trực trong não Bởi vậy khi gặp một sốkích thích gợi nhớ CMT, các dấu vết của phản xạ có điều kiện lại được hoạt hoá,xung động gây thèm CMT xuất hiện trở lại và thúc đẩy người nghiện quay trở vềvới CMT Chính vì thế một số người sau khi đã cắt được HCC hoặc cai NMT đượcnhiều năm vẫn tái nghiện Đây chính là trở ngại lớn nhất trong điều trị NMT hiện nay
1.4 Tình hình nghiện ma tuý trên thế giới và việt nam
1.4.1 Tình hình nghiện ma tuý trên thế giới.
Theo thống kê của WHO năm 1985 trên thế giới có 48 triệu người nghiện cácthuốc gây nghiện nhưng đến năm 2000 ước tính trên thế giới có khoảng 230 triệungười NMT, chiếm 4% dân số thế giới [27] Tại Hoa Kỳ có tới 80% trong số họcsinh ở miền nam California và 40% học sinh ở bang Masachuset sử dụng ma tuý vàcũng tại Hoa Kỳ có tới 24 triệu người nghiện cần sa [40]
Trang 9Bên cạnh việc sử dụng các chất ma tuý cổ điển chiết xuất từ thảo mộc, ngườiNMT ngày nay còn sử dụng nhiều CMT tổng hợp như các chất cường thần, các chất
ảo giác, các chất gây ngủ, các chất giải lo âu…ở một số nước như Trung Quốc,Nhật Bản, Thái Lan, việc sử dụng Amphetamin ngày càng chiếm ưu thế, đặc biệt làtrong các vũ trường [15], [31]
Theo thống kê của UBQG phòng chống AIDS 95% người nhiễm HIV/AIDS
là người NMT Do đó NMT là nguy cơ chủ yếu và là một điều kiện tốt để căn bệnhHIV/AIDS phát triển vì họ thường dùng chung một bơm tiêm để tận dụng lượng matuý [34], [48]
1.4.2 Tình hình nghiện ma tuý ở Việt Nam.
Nghiện ma tuý ở Việt Nam đã có từ rất lâu, người dân ở các tỉnh miền núiphía Bắc đã biết trồng cây thuốc phiện vào các mục đích chữa bệnh, cúng tế, hiếuhỉ…và hút thuốc phiện dần dần trở thành một thói quen xấu ở nhiều vùng trong cảnước Các triều đại phong kiến cũng đã nhận thấy tác hại của việc hút thuốc phiện
và đã ra lệnh cấm hút thuốc phiện, cấm buôn bán và tàng trữ thuốc phiện [10], [54] Thời kỳ Pháp đô hộ nước ta, chính quyền thực dân lại độc quyền, công khai bánrượu và thuốc phiện trong cả nước vừa đầu độc dân ta vừa thu lợi nhuận kếch sù [10] Sau khi cách mạng tháng 8/1945 thành công cho đến ngày Miền Nam hoàntoàn giải phóng, công tác phòng chống NMT chỉ diễn ra và có kết quả khả quan ởvùng tự do.Còn ở các vùng tạm chiến, NMT vẫn tiếp tục phát triển và ngày càngtrầm trọng[10] Từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20, NMT đã có đặc điểm của NMThiện đại, đặc biệt nghiện Heroin đã trở thành một hiểm hoạ cho đất nước
Theo thống kê của WHO [45] Việt Nam năm 1975 có 100.000 người nghiện,chiếm 0,23% dân số Tới năm 2009 theo thống kê của Cục phòng chống tệ nạn xãhội thì tổng số nghiện trên toàn quốc khoảng 146.700 người và nghiện chủ yếu cácloại Morphin, Dolargan, Heroin [40] Hiện nay theo thống kê từ Bộ lao động thươngbinh xã hội thì cả 64 tỉnh thành phố, 90 quận huyện, 58 xã phường thị trấn đã gửibáo cáo có người NMT trong đó có 730 xã phường trong diện trọng điểm ma tuý.Tính đến tháng 2011 cả nước có khoảng 149.900 người NMT (Trong đó có 30.000
Trang 10người tại cơ sở do Bộ công an quản lý) Tuy nhiên theo một số chuyên gia thì con
số người nghiện thực tế còn vượt xa con số thống kê Điều đáng lo ngại là NMT độtuổi ngày càng trẻ: Dưới 18 tuổi là 4,5%,dưới 30 tuổi là 68,3% và 80% trong độtuổi lao động [44]
Theo UNAIDS, ở Việt Nam tính đến ngày 30/04/2005 toàn quốc đã phát hiệnđược 94.426 trường hợp nhiễm HIV, trong đó tập trung chủ yếu ở nhóm thanh thiếuniên NMT chiếm 60% Điều này thể hiện xu hướng trẻ hoá dịch HIV/ AIDS ở ViệtNam [6], [38]
Thực trạng hiện nay số người NMT trong cả nước được điều trị còn chiếm tỷ
lệ thấp so với tổng số người nghiện, tỷ lệ tái nghiện còn cao, số người nghiện mới ratăng, tập trung ở giới trẻ Số người nghiện mới và tái nghiện gia tăng, các chất gâynghiện ngày càng đa dạng và phức tạp đòi hỏi các cấp, các ngành và toàn xã hộicùng quan tâm giúp đỡ người nghiện cắt cơn và tái hoà nhập cộng đồng bởi nếu chỉngười nghiện quyết tâm thôi thì chưa đủ
1.5 HIV và AIDS.
1.5.1 Đặc điểm, cấu trúc HIV
1.5.1.1 Hình dạng và cấu trúc [19]
HIV là một loại virus gây nhiễm trùng mạn tính tiến triển chậm thuộc họ
Retrovirus, nhóm lentivirus, có dạng hình cầu, kích thước khoảng 80-120nm, cấutạo gồm 3 lớp :
Vỏ ngoài (Pepton) : Là một màng Lipid kép
Vỏ capsid gồm 2 lớp protein :
+ Lớp ngoài : gp18 với HIV-1 và gp17 với HIV-2
+ Lớp trong : gp24, là kháng nguyên rất quan trọng để chẩn đoán nhiễm HIV sớm
và muộn
Lõi : Chứa hai phân tử ARN đơn chứa 3 gen cấu trúc:
Gag (Group specific antigen)
Pol (polymerase
Env(Envelop)
Trang 11Ngoài 3 gen cấu trúc trên ở mọi Retrovirus, HIV còn có các gen điều hòa quátrình nhân lên của HIV.Taf (Transaetivation gene) làm tăng Nef (negative factor gene)làm chậm, còn Rev (Regulative gene) điều chỉnh qua Taf và Nef [19], [21]
1.5.1.2 Phân loại [19].
HIV1: Gây bệnh dịch phổ biến trên thế giới
HIV2: Khu trú ở một số địa phương, chủ yếu ở Tây Phi [19]
1.5.2 Nuôi cấy :
HIV nuôi cấy tốt trên tế bào lympho người và tế bào thường trực Hela có
TCD4
1.5.3 Đặc điểm dịch tễ học của HIV [19], [21], [22], [35]
1.5.3.1 Sự xâm nhập của HIV [19], [21].
Sau khi phơi nhiễm 5 -7 ngày, những tế bào HIV di chuyển đến cơ quanlympho ngoại vi, tại đây virus nhân lên nhanh chóng qua các giai đoạn :
- Virus gắn vào thụ thể CD4 và đồng thụ thể chemokine trên màng tế bàolympho TCD4
- Xâm nhập : ARN và RT của virus di chuyển vào trong nguyên sinh chất của
tế bào TCD4
- Sao chép ngược : Dưới dạng tác dụng của enzym sao chép ngược RT, ARNchuyển thành AND sợi kép
- AND của virus chuyển vào nhân và tích hợp vào ADN của vật chủ, sử dụng
bộ máy di truyền của tế bào vật chủ để sản xuất ra ARN của virus và các thành phầncấu tạo khác của virus
- Tổ hợp các protein của virus và virion này chồi thoát ra khỏi tế bào
- Ly giải tế bào nhiễm : chính do quá trình này mà đời sống của tế bào vật chủ
bị ngắn lại
1.5.3.2 Nguồn lây : (21)
Bệnh nhân AIDS và người nhiễm HIV là nguồn truyền nhiễm duy nhất củaHIV, không có ổ chứa tự nhiên ở động vật Mọi người đều có khả năng nhiễm HIV
Trang 12HIV phân lập được từ máu, tinh dịch, dịch tiết âm đạo, nước bọt, nước mắt, sữa mẹ,nước tiểu và các dịch khác cơ thể Nhưng nhiều nghiên cứu dịch tễ học cho thấy chỉ cómáu, dịch tiết âm đạo, tinh dịch đóng vai trò quan trọng trong việc lây truyền HIV
1.5.4 Thay đổi miễn dịch khi nhiễm HIV/AIDS [1], [2], [19], [20], [21], [35].
Khi cơ thể nhiễm HIV kéo dài, các kháng thể đặc hiệu với các glycoprotein,protein của vỏ nhân do gen cấu trúc, gen điều hòa và các enzym sao mã ngược đượctạo thành, nhưng đều không ngăn chặn được HIV phát triển, cơ thể lâm vào tìnhtrạng suy giảm miễn dịch :
Biểu hiện ở các tế bào miễn dịch :
Giảm số lượng tuyêt đối các tế bào miễn dịch như tế bào lympho TCD4, TCD8, tếbào lympho B do tác dụng trực tiếp của HIV hoặc giảm IL-2 từ tế bào lymphoTCD4 hoạt hóa Các tế bào của hệ thống miễn dịch không được bổ sung vì không
có tế bào nguồn
Giảm chức năng nhiều loại tế bào miễn dịch
Thay đổi các Cytokine
Sự thay đổi miễn dịch tạo điều kiện cho sự phát triển của nhiễm trùng cơ hội vàung thư
HIV chủ yếu tấn công và gây tổn thương tế bào lympho TCD4 rồi đến đại thựcbào Số lượng tế bào TCD4 giảm là nét đặc trưng nhất của suy giảm miễn dịch vìTCD4 là tế bào lympho T hỗ trợ - một loại tế bào miễn dịch đặc hiệu (thường gọi là
tế bào T hỗ trợ có phân tử CD4 trên bề mặt của nó) với chức năng điều hòa sựphòng vệ của cơ thể đối với nhiễm trùng và ung thư thông qua quá trình đáp ứngmiễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào
Cơ chế giảm tế bào lympho TCD4 ở bệnh nhân AIDS : Bệnh nhân bị suy giảmmiễn dịch nặng nề do tế bào lympho TCD4 nhiễm HIV và chưa nhiễm HIV bị tiêudiệt trực tiếp hoặc gián tiếp
Vì vậy sự giảm số lượng tế bào lympho TCD4 là một dấu hiệu đại diênđáng tin cậy để đánh giá tình trạng bệnh Theo các nghiên cứu trên thế giới số
Trang 13lượng TCD4 ở người bình thường từ 500 – 1400 tế bào/mm3 máu (người ViệtNam : 700 – 1200 tế bào/mm3 máu) Số lượng TCD8 từ 180 – 860 tế bào/mm3 máu.
Tỷ lệ TCD4/ TCD8: 1,1 – 3,5 [19] Số lượng TCD4.giảm nhiều hay ít liên quan đếnnồng độ virus trong máu Khi nồng độ virus là 30000 – 50000/ml thì số lượngTCD4 < 50 tế bào/mm3 máu Ngoài ra số lượng tế bào lympho cũng giảm dần theo
sự suy giảm của hệ thống miễn dịch Vì vậy cũng có thể dựa vào sự thay đổi sốlượng tế bào lympho để đánh giá tiến trình nhiễm HIV/AIDS [19]
1.5.5 Lâm sàng HIV/AIDS [19], [20], [21], [23].
HIV gây suy giảm miễn dịch tiến triển và hậu quả cuối cùng gây tử vong chobệnh nhân do nhiễm trùng cơ hội và ung thư Thời gian nhanh nhất từ khi lây nhiễmHIV tới khi tử vong do AIDS là 28 tuần [19] Thời gian trung bình từ khi nhiễmHIV tới khi phát triển thành AIDS là khoảng 10 năm liên quan đến số lượng tế bàolympho TCD4 và phụ thuộc vào tình trạng bệnh nhân, số lượng virus, biện pháp dựphòng, điều trị, quá trình phát triển thành AIDS được chia thành 4 giai đoạn:
1.5.5.1 Giai đoạn sơ nhiễm (Nhiễm virus cấp):
Chỉ có 20 – 50% có biểu hiện lâm sàng cới các triệu chứng rất thô sơ nhưbệnh cảnh nhiễm các virus khác, với các biểu hiện:
Hội chứng giả bệnh tăng bạch cầu đơn thuần nhiễm trùng hoặc giả cúm:
+ Sốt 39 – 40o C, hoặc sốt nhẹ thất thường
+ Đau đầu, mệt mỏi, đau nhức mình mẩy toàn thân
+ Sưng hạch ở vài nơi: Cổ, nách
+ Phát ban dạng sởi hoặc sẩn ngứa trên da
Xét nghiệm:
+ Bạch cầu đơn nhân tăng
+AST, ALT tăng vừa
Trang 14Các biểu hiện này hết sau 7 – 10 ngày Sau 6 – 12 tuần mới xuất hiện khángthể trong máu.
1.5.5.2 Giai đoạn nhiễm HIV không triệu chứng :
Bệnh nhân không có biểu hiện gì trên lâm sàng nhưng trong máu có HIV vàtrở thành nguồn lây cho mọi người qua hành vi nguy cơ của họ giai đoạn này kéodài từ 5 -20 năm hoặc lâu hơn, thông thường phát triển theo 3 xu hướng:
- Hoặc trở thành người mang HIV kéo dài trong nhiều năm nhưng vẫn khỏemạnh nếu người nhiễm quyết tâm thay đổi hành vi, luyện tập thể chất, chế độ sinhhoạt hợp lý và theo dõi sức khỏe thường xuyên
- Hoặc HIV diễn biến tự nhiên trong cơ thể, tiêu hủy dần các tế bào miễn dịch,diễn biến dai dẳng rồi trở thành AIDS trong vòng 5 – 7 năm
- Hoặc nhiễm HIV diễn biến nhanh thành AIDS trong vòng 1 – 2 năm nếungười bệnh vẫn tiếp tục hành vi của họ
1.5.5.3 Giai đoạn bệnh hạch dai dẳng toàn thân ( giai đoạn cận AIDS)
Sưng hạch toàn thân dai dẳng: thường sưng hạch cổ, nách Hạch to 1 – 2 cm,không đau, di động dễ sinh thiết hạch thấy hiện tượng tăng sinh Nếu hạch teo nhỏthì người bệnh diễn biến thành AIDS nhanh hơn
Sụt cân: là dấu hiệu thường gặp, thường sụt 10% trọng lương cơ thể màkhông rõ lí do
Sốt kéo dài trên 38o C không rõ nguyên nhân
Ngứa dai dẳng, gãi đến bật máu dùng thuốc chống ngứa không khỏi
Có thể ho hoặc tiêu chảy kéo dài không rõ nguyên nhân
1.5.5.4 Giai đoạn biểu hiện AIDS:
Với biểu hiện lâm sàng là nhiễm trùng cơ hội và các khối u.
1.5.6 Suy nhược cơ thể trên bệnh nhân HIV/AIDS [51].
1.5.6.1 Chứng suy nhược:
Điều quan trọng là phải phân biệt được mệt mỏi và suy nhược
Mệt mỏi là hiện tượng sinh lý xảy ra liên quan đến sự hoạt động quá mức vềthể xác và tâm thần, sẽ phục hồi khi nghỉ ngơi
Trang 15Chứng suy nhược hay hội chứng suy nhược mạn tính: Là tình trạng rối loạnphức tạp đặc trưng bởi sự mệt mỏi sâu rộng, kéo dài, không cải thiện khi nghỉ ngơi
và có thể ảnh hưởng xấu đối với thể chất lẫn tinh thần của người bệnh
Suy nhược cơ thể được chia làm 2 loại:
+ Suy nhược thực thể: do tình trạng bệnh lý gây ra chiếm 47 %
+ Suy nhược cơ năng: Do sang chấn tâm lý gây ra chiếm 53%.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy nhược cơ thể trên bệnh nhân HIV/AIDS
là do tình trạng miễn dịch, nhiễm trùng cơ hội và đặc biệt là do sang chấn tâm lí bởitác động ở môi trường xã hội bên ngoài, bởi sự kì thị định kiến của những ngườixung quanh đối với người nhiễm HIV/AIDS còn rất nặng nề Vì lẽ đó suy nhược cơthể trên bệnh nhân HIV/AIDS là tình trạng suy nhược kết hợp cả suy nhược thựcthể và suy nhược cơ năng
1.5.6.2 Thang điểm đánh giá lâm sàng mức độ suy nhược Bugrad – Crocq.
G m 15 tri u ch ng:ồm 15 triệu chứng: ệu chứng: ứng:
1 Rối loạn tiếp xúc
2 Rối loạn về nhạy cảm
3 Rối loạn về ngôn ngữ
4 Rối loạn về giác quan
5 Triệu chứng thần kinh
6 Suy giảm sức khỏe
7 Triệu chứng của lo âu biểu hiện
8 Rối loạn ăn uống
9 Cảm giác lo âu về tinh thần
10 Rối loạn giấc ngủ
Tổng điểm của các triệu chứng là điểm Bugard- Crocq
Thang điểm Bugrad – Crocq> 26 điểm được chẩn đoán là suy nhược
1.6 Quan niệm về nghiện ma tuý theo y học cổ truyền
Trang 16Dựa trên lý luận YHCT cổ xưa, Nguyễn Tài Thu đã nêu ra kết luận rằngNMT ảnh hưởng chức năng sinh lý tạng phủ, nó không chỉ ảnh hưởng đơn độc đếnmột tạng hay một phủ mà có thể ảnh hưởng đến 12 tạng phủ, 12 kinh mạch Ở mỗibệnh nhân khác nhau thì bệnh lý do ma tuý gây ra ở các tạng phủ cũng không giốngnhau [44], [48].
1.6.1 Nguyên nhân:
Theo Nguyễn Tài Thu [46], [48] thì nguyên nhân gây nghiện ma tuý gồm:
Ý muốn, tư tưởng muốn dùng ma tuý liên quan đến Can, Đởm, Tâm Tâmbào Can-Đởm không chỉ có nghĩa hẹp về chức năng sinh lý, giải phẫu của lá Gan,túi Mật mà còn có chức năng điều khiển trực tiếp về ý trí, ý thức của con người
“Can tướng quân chi quan chủ mưu lự, Đởm chủ quyết đoán” Tâm không chỉ cóchức năng “Chủ huyết mạch”đưa máu đi nuôi cơ thể mà còn quản lý về tinh thần,tình cảm, tư duy của con người: “Tâm chủ thần minh”
Cảm khoái và sự thèm muốn là do Can, Tâm có chức năng liên quan mậtthiết với chức năng của Tỳ, Vị “Tỳ-Vị khai khiếu tại khẩu-vị giác”
Hơi thơm của thuốc phiện, cảm giác khoan khoái, nhẹ nhõm khi dùng thuốcphiện có liên quan đến Phế - Đại trường “Phế chủ khí, Phế chiều bách mạch, Phếkhai khiếu tại tỵ”
1.6.2 Hội chứng tạng phủ của NMT theo lý luận YHCT
Vận dụng lý luận YHCT [11], [12], [44], [47] trong nghiên cứu để biệnchứng luận trị trong điều trị Theo Nguyễn Tài Thu không phải hội chứng nào do
ma tuý gây ra ở mọi người nghiện đều giống nhau, mà tuỳ theo trạng thái sinh lýkhác nhau của từng ngươì, thời gian sử dụng, mức độ sử dụng mà sinh ra năm nhómchứng trạng khác nhau: Can-Đởm, Tỳ -Vị, Tâm - Tâm bào, Tiểu trường - Tam tiêu,Thận - Bàng quang, Phế - Đại trường Sau đó phải dựa trên thể trạng: Hàn - Nhiệt,
Hư - Thực của từng bênh nhân mà chia ra hai hội chứng khác nhau là: [41], [46]
Hội chứng thịnh (Chứng Thực):
Trang 17+ Triệu chứng: Thần kinh hưng phấn, nằm ngồi không yên, mất ngủ, vật vã, đậpphá, nhức đầu, co giật chân tay, thở mạnh, nói lung tung, đau bụng đi ngoài, tim đậpnhanh, hồi hộp, nhức trong xương và tứ chi, nam giới thì di mộng tinh, nữ giới thìkinh nguyệt không đều, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng dày.
Mạch: Dương mạch (Phù, huyền, hồng, hoạt, sác)
Hội chứng thực thường bao gồm các chứng trạng: Tâm nhiệt, tâm bào nhiệt,Can hoả vượng, Vị Trường nhiệt, Đởm nhiệt, Bàng quang nhiệt
Hội chứng suy (chứng hư):
Triệu chứng: Người gầy yếu, mệt mỏi, đi lại yếu, sắc sạm, môi thâm, sợnước, sợ lạnh, tim đập nhanh, hồi hộp, sợ hãi, nhiều mồ hôi, ỉa chảy, có thể phù haichi dưới, tinh thần chậm chạp không ăn được, nam giới thì di mộng tinh, liệt dương,
nữ giới thì khí hư nhiều, đi tiểu nhiều lần, nhức trong xương tuỷ, chất lưỡi hồngnhợt, rêu lưỡi trắng mỏng ướt Mạch: Âm mạch (trầm, huyền, tế, vi, nhược)
Hội chứng hư thường gồm các chứng trạng: Thận dương hư, Tỳ hư, Can hư Với lý luận phân tích ở trên thì cơ chế cắt cơn nghiện ma tuý bằng điện châmcủa YHCT là do tác dụng điều khí và điều hoà âm dương của chức năng sinh lý cáctạng phủ là nhằm đưa cơ thể trở lại trạng thái bình thường Đối với mỗi nhóm chứngtrạng phải chọn dùng các kinh huyệt thích hợp đồng thời phải tuỳ theo hội chứngthịnh, suy mà Tả (hội chứng thực) và Bổ (hội chứng hư)
Trong nhiều công trình nghiên cứu của Nguyễn Tài Thu và cs [38], [45], [46],[48], ma tuý gây tổn hại đến các tạng phủ gây ra các nhóm chứng trạng và côngthức điều trị của từng thể bệnh như sau:
Gây rối loạn chức năng Can-Đởm [34]:
Triệu chứng: Thèm thuốc, mất ngủ, bứt dứt, khó chịu, hay cáu gắt không cónghị lực, đau đầu, mắt đỏ, háo khát, tiểu tiện vàng, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng dầy,mạch: phù, huyền, sác
Pháp điều trị: Thanh nhiệt, bình can, giáng hoả, bổ Tỳ hoạt lạc
Châm tả các huỵêt: Hành gian, Bách hội, Suất cốc, Phong trì, Thượng tinh,Đồng tử liêu, Khúc trì, Hợp cốc
Trang 18Châm bổ các huyệt: Túc tam lý, Tam âm giao.
Gây rối loạn chức năng Tỳ-Vị [40]:
Triệu chứng: Thèm thuốc, tăng tiết nước bọt, đau bụng, buồn nôn và nôn,tiêu chảy (Có khi ra máu), ngáp, chảy nước mắt nhiều, đau cơ khớp Lưỡi nhạt, rêutrắng mỏng Mạch: phù hoặc trầm, sáp, nhược
Pháp điều trị: Kiện Tỳ, bình vị, thanh nhiệt
Châm tả các huyệt: Hợp cốc, Thiên đột, thuỷ đột xuyên Khí xá, Thiên Khu,Trung quản, Chương môn, Lương môn
Châm bổ các huyệt: Túc tam lý, Tam âm giao, Huyết hải
Gây rối loạn chức năng Tâm -Tiểu trường và tâm bào -Tam tiêu:
Triệu chứng: Thèm ma tuý, đau bụng, vã mồ hôi nhiều, tức ngực, hòi hộp,tim đập nhanh, bồn chồn, bứt rứt, khó ngủ, gai rét, lúcnóng, lúc lạnh Chất lưỡi đỏ,rêu lưỡi dày Mạch: Phù, hồng, sác
Pháp điều trị: BìnhTâm, an thần, thanh nhiệt, bổ Thận
Châm tả các huyệt: Nội quan, Thần môn, Hợp cốc, Khúc trì
Châm bổ các huyệt: Quan nguyên, Khí hải, Thận du, Thái khê
Gây rối loạn chức năng Thận - bàng quang [18], [41]:
Triệu chứng: Thèm ma tuý, ngáp nhiều, mất ngủ, đau khớp, đau lưng, đauxương nhức mỏi trong xương (dị cảm, dòi bò) Nam giới có thể di mộng tinh, liệtdương, nữ giới có thể rối loạn kinh nguyệt, vô kinh, khí hư.Chất lưỡi nhạt, rêu trắngmỏng Mạch: Trầm, sác, nhược
Pháp điều trị: Bổ Thận, thông kinh hoạt lạc
Châm tả các huyệt: Đại trường du, Ân môn, Uỷ trung, Thừa sơn, Côn lôn,Giáp tích L2 - L3
Châm bổ các huyệt: Thận du, Thái khê
Gây rối loạn chức năng Phế - Đại trường:
Triệu chứng: Thèm ma tuý, đau bụng, bứt rứt, khó thở, ho, tức ngực, cảmgiác nghẹt ở cổ, vã mồ hôi, háo khát, đại tiện táo Lưỡi đỏ, nứt nẻ, rêu vàng dày.Mạch: Phù, thực, khẩn, sác
Trang 19Pháp điều trị: Thanh nhiệt, tuyên phế khí, thông kinh hoạt lạc.
Châm tả các huyệt: Khúc trì, Phù đột, Trung phủ, Hợp cốc, Đản trung, Thiênđột, Quyền liêu xuyên Nghinh hương
Châm bổ các huyệt: Liệt khuyết, Túc tam lý
Ngoài ra còn có nhiều bệnh nhân biểu hiện bệnh không chỉ ở một cặp tạng phủ màảnh hưởng đến hai hay nhiều cặp tạng phủ như thể Can - Tỳ, Tỳ - Thận, Tâm - thận…Đặc biệt là thể Tỳ - Thận đây là một thể bệnh hay gặp trên lâm sàng
Thể Tỳ - Thận dương hư là thể kết hợp giữa thể Tỳ và thể Thận, theo lý luận
của Đông y: “Tiên thiên là gốc của sinh mệnh người ta, hậu thiên là nguồn sinh hóa củacon người.” Hai bộ phận đó có quan hệ rất khăng khít với nhau, nếu thiếu đi một bộphận người ta không thể sống được Trong đó bộ phận quan trọng của hậu thiên là Tỳ
Vị Đó là cơ quan sinh hóa của hậu thiên, đứng đầu các cơ quan của con người và cũng
là nguồn gốc của bát mạch, là bể của thủy cốc
Năm tạng sáu phủ đều được sự chuyển vận và tưới nhuần của nó, để sinh tinh,sinh huyết, thấm nhuần ra kinh mạch, điều dưỡng vinh vệ, đều nhờ vào Tỳ Vị Vị bạithì làm cho dương suy.Vị mạnh thì thận đầy đủ mà tinh khí vượng Không có thủy cốcthì không thể khỏe mạnh được Thận không những bài tiết, thanh lọc đào thải trongchuyển hóa mà cũng có chức năng chủ cốt tủy và tàng tinh Khi dùng ma túy lâu ngàygây ảnh hưởng đến chức năng của tỳ - thận gây ra các triệu chứng:
Trang 20+ Di tinh (nam), kinh nguyệt không đều (nữ).
+ Dị cảm như dòi bò trong các ống xương (chân, tay, cột sống)
+ Lưỡi đỏ, rêu lưỡi trắng dày
+ Mạch trầm, sáp, nhược
1.7 Điều trị hỗ trợ cai nghiện ma tuý.
1.7.1 Điều trị hỗ trợ cai nghiện ma tuý bằng YHHĐ.
Điều trị cai ngiện ma tuý nhằm hai mục tiêu cơ bản đó là điều trị giải độc(Cắt HCC - trạng thái phụ thuộc về cơ thể) và điều trị duy trì (Chống tái nghiện-trạng thái phụ thuộc về tâm thần) [39]
1.7.1.1 Nguyên tắc điều trị HCC:
+ Cắt ngay và cắt hoàn toàn CMT đang sử dụng.
+ Theo dõi, điều trị các triệu chứng cơ thể và tâm thần xuất hiện trong quátrình cắt cơn (Nhất là thời điểm sau 48 giờ ngừng sử dụng CMT)
1.7.1.2 Các phương pháp cai nghiện ma tuý:
- Liệu pháp tâm lý trực tiếp: Thuyết phục, thư giãn, liệu pháp hành vi
* Phương pháp cai bo (cai khô):
Phương pháp này được áp dụng ở Hoa Kỳ từ năm 1938, hiện nay ở Malaixiavẫn áp dụng Việt Nam cũng có một số gia đình dùng phương pháp này để điều trị
Phương pháp cai bo làm người bệnh phải trải qua một thời kỳ hết sức vất vả,khó khăn, tuy không tốn kém về thuốc men, nhưng rất nguy hiểm vì bệnh nhân vật
vã, kích thích, đập phá…đôi khi gây ra các triệu chứng nặng nề như suy hô hấp, suytuần hoàn đe doạ tính mạng của bệnh nhân [15], [54]
*Phương pháp đối kháng:
Trang 21Sau khi đã được điều trị HCC dùng phương pháp này để điều trị duy trìtrống tái nghiện Một số tác giả trên thế giới sử dụng các chất như: Naloxon,Natrexon để tranh chấp receptor với Morphin Các thuốc này là các thuốc đối khángthực thụ với các CDTP, chúng có ái lực mạnh với thụ thể của Morphin, nhưng lại cóhiệu lực yếu Phương pháp này có ưu điểm là giảm các triệu chứng của HCC, cắtcơn êm dịu Bệnh nhân dễ chấp nhận nhưng giá thành lại cao [18], [64].
*Phương pháp thay thế bằng Methadone [57], [65]:
Methadon hydroclorid là một chất dạng thuốc phiện (CDTP) được tổng hợpđầu tiên ở Đức năm 1941 và được sử dụng như một thuốc giảm đau mạnh [59].Năm 1964 Dole và Nyswenderr ở Hoa Kỳ đã bắt dầu sử dụng Methadone để điều trịchứng nghiện các chất dạng thuốc phiện (Morphin, Heroin, Dolargan…) và nhậnthấy Methadone là chất thay thế có tác dụng làm giảm nhẹ cơn đói ma tuý, phongtoả tác dụng gây khoái cảm của các CDTP, làm mất tập tính luôn tìm CMT và đốitượng NMT có thể tập trung vào các liệu pháp tái thích ứng xã hội [42] Nhượcđiểm của phương pháp này là thời gian điều trị rất dài, giá thành của thuốc đắt
*Điều trị cắt cơn bằng Catapressan [54]:
Khi Morphin hoặc dẫn chất của nó vào cơ thể, tới não sẽ tìm đến các thụ thểMorphin (chủ yếu là các thụ thể ), ngoài ra còn tác động lên các thụ thể khác nhưthụ thể 2 Morphin có tác dụng kích thích thụ thể 2 gây ức chế hoạt động Neuronthuộc hệ này (Gây ức chế giải phóng Adrenalin) Khi ngừng Morphin đột ngột, cácNeuron thoát ức chế và sẽ hoạt động quá mức gây tăng tiết Adrenalin phát sinh cácrối loạn thần kinh thực vật - nội tạng và cường giao cảm (Vã mồ hôi, nổi da gà, tăngthân nhiệt…) xuất hiện trong HCC
Catapressan (Clonidin) là thuốc giảm huyết áp có tác dụng đồng vận với thụthể 2 nói trên vì vậy thuốc có tác dụng làm mất các triệu chứng của HCC
* Điều trị cắt cơn bằng thuốc hướng thần:
Nguyễn Việt đã đưa ra phác đồ điều trị cắt cơn NMT bằng các thuốc hướngthần và đến năm 1995 được Bộ y tế cho là phác đồ có hiệu quả và ra quyết định banhành áp dụng trong toàn quốc [56]
Trang 22Đây là phương pháp điều trị cắt cơn nghiện đã và đang được áp dụng rộng rãi [37].
1.7.2 Điều trị hỗ trợ cai nghiện ma tuý bằng YHCT.
Với phương châm thừa kế và phát triển những tinh hoa của YHCT phươngđông có nhiều phương pháp điều trị đã được sử dụng như sau:
* Châm cứu đơn thuần [13]
* Thuốc đông y đơn thuần: sử dụng một số bài thuốc nam như Cedemex,Camat [33], [38], [53]…
* Châm cứu kết hợp với bài thuốc YHCT và xoa bóp dưỡng sinh [28], [43]
* Điều trị kết hợp YHCT và YHHĐ
* Điện châm cai nghiện ma túy [41], [46], [63]
1.8 Tình hình nghiên cứu châm cứu điều trị hỗ trợ cai NMT.
1.8.1 Châm cứu hỗ trợ cai nghiện ma tuý trên thế giới:
Từ năm 1972, H.L Wen, nhà giải phẫu thần kinh của Hồng Công đã tình cờphát hiện điện châm có thể làm dịu các triệu chứng của HCC khi tiến hành châm têcho một bệnh nhân nghiện ma tuý trước khi mổ [54]
Năm 1995 Cui M [45] kết luận về châm cứu đối với cai nghiện ma tuý
là có hiệu quả, đơn giản, dễ thực hiện và ít có tác dụng phụ Cùng thời gian đó
có nhiều kết luận cùng quan điểm với kết luận của Cui.M nghiên cứu cai nghiện ma tuý bằng hai phương pháp: Nhóm 1 dùng Methadon, Nhóm 2 dùng châm cứu Các tác giả đã nhận xét rằng không có sự khác biệt về kết quả ở hai nhóm điều trị [49].
Năm 2000 tác giả Zhang và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu điều trị cainghiện Heroin bằng điện châm và châm cứu không kích thích một số huyệt như:Hợp cốc, Lao cung, Nội quan, Ngoại quan, Túc tam lý, Tam âm giao và đưa ra nhậnxét là điện châm có tác dụng cai nghiện ma tuý tốt hơn nhóm không sử dụng điệnchâm [73]
Zeng X và cs [72] so sánh tác dụng cai NMT của châm cứu với điều trị bằngMethadone Các tác giả nhận thấy triệu chứng HCC giảm sau 10 ngày sau điều trị.Các triệu chứng của HCC như lo lắng, đau nhức cơ xương ở nhóm châm cứu giảm
Trang 23nhiều hơn so với nhóm sử dụng Methadone từ ngày thứ 5 đến ngày thứ 9 trong quátrình điều trị.
1.8.2 Châm cứu hỗ trợ cai nghiện ma tuý ở Việt Nam:
Điều trị cai NMT bằng châm cứu là phương pháp điều trị vận dụng theo lýluận YHCT Hiện nay trong y học có xu hướng đi vào nghiên cứu tác dụng củaphương pháp này vì nó có nhiều ưu việt Châm cứu kích thích cơ thể con người,điều chỉnh sự mất cân bằng tạng phủ, phục hồi các chức năng sinh lý [14], [24],[26], [29], [47] mà không cần phải có sự can thiệp của các dược chất từ bên ngoàivào
Ở Việt Nam, từ những năm 1968 đến năm 1975 Nguyễn Tài Thu [45], [46],[48] đã điện châm cho nhiều thương binh mắc nghiện do dùng thuốc giảm đau trongđiều trị vết thương và nhận thấy sau 4 đến 7 ngày điều trị những thương binh nàyđều đã bình phục
Năm 1978, Trương Thìn cũng sử dụng châm cứu điều trị hỗ trợ cai nghiện
ma tuý và đưa ra nhận xét rằng châm cứu có thể cắt cơn nghiện từ 5-7 phút, cơnquay trở lại sau 12 giờ và sau 4-6 ngày thì giảm dần [43]
Năm 1994 Hoàng Bảo Châu cũng đánh giá châm cứu có tác dụng tốt trongviệc điều trị HCC và cho rằng nên dùng các huyệt ở mạch nhâm, ở các kinh âm vàthêm một số huyệt để điều trị triệu chứng [12]
Năm 1991-2002 Nguyễn Tài Thu và Viện châm cứu đã nghiên cứu đã nghiêncứu lâm sàng điện châm điều trị hỗ trợ cai NMT [47], [61] đặc biệt đã tiến hànhnghiên cứu sự thay đổi điện não và hàm lượng endorphin ở người NMT trước vàsau khi châm và đưa ra kết luận rằng lượng endorphin trong máu sau điều trị tăng
hơn so với trước điều trị [41] Điều này phần nào làm sáng tỏ cơ sở khoa học củachâm cứu trong điều trị cai NMT
Nguyễn Tài Thu cho rằng nguyên lý của cai nghiện ma tuý bằng châm cứu làđộng viên nội lực của cơ thể, duy trì sự thăng bằng công năng tạng phủ, khi thiếuchất Morphin bên ngoài đưa vào cơ thể trong khi cai nghiện ma tuý [48]
Trang 24Bình thường não bộ sản sinh ra Morphin nội sinh với lượng nhất định đủ để cânbằng chức năng của các tạng phủ NMT tức là đã đưa một lượng Morphin từ bênngoài vào cơ thể (Mà thường dùng một lượng cao hơn Morphin nội sinh do cơ thể
tự sản xuất ra) Lượng Morphin bên ngoài vào cơ thể làm tê liệt chức năng tự sản xuấtMorphin nội sinh của cơ thể dẫn đến mất tác dụng điều tiết công năng tạng phủ
Khi cai nghiện ma tuý tức là không cho Morphin từ bên ngoài vào cơ thể,nhưng ngay lúc đó Morphin nội sinh chưa được sản xuất ra, không điều hoà đượchoạt động bình thường của tạng phủ, nên tạo ra các phản ứng bệnh lý mà ta gọi làHCC
Với tác dụng điều khí châm cứu có thể điều hoà lại và chấm dứt các biểuhiện bệnh lý (Biểu hiện của HCC), sự sản xuất Morphin nội sinh được châm cứukích thích, khởi động và dần hồi phục - cơ thể trở lại trạng thái hoạt động bìnhthường Trong khoảng 3 - 4 ngày lượng Morphin nội sinh sản xuất ra dáp ứng đượchoạt động bình thường của cơ thể [30], [48]
Năm 1998 Nguyễn Tài Thu, Nguyễn Quốc Khoa, Trần Văn Thanh và cộng
sự đã tiến hành nghiên cứu điện não của bệnh nhân NMT và sự phục hồi của nódưới tác dụng của điện châm và đưa ra kết luận các CMT có ảnh hưởng sâu sắc lên
sự biến đổi não, theo dõi sự phục hồi của các sóng điện não cơ bản có thể đánh giá
và tiên lượng được quá trình điều trị
Năm 2002 Nguyễn Diên Hồng tiến hành nghiên cứu dùng điện châm cắt cơnđói ma túy bằng phương pháp điện châm trên 81 bệnh nhân đã đưa ra kết luận điệnchâm trong điều trị cắt cơn đói ma túy đạt kết quả loại tốt chiếm 92,59%, loại kháchiếm 7,41% và hàm lượng opiat trong nước tiểu giảm đáng kể ], [48]
1.9 Phương pháp điện châm:
Mục đích của châm cứu là nhằm điều khí, đưa sự mất cân bằng âm dươngcủa cơ thể về trạng thái cân bằng Người xưa đã dùng tay vê kim nhằm bổ tả.Nhưng thực tế cho thấy rằng vê kim bằng tay thì sự điều khí không mạnh, khôngnhanh, không sớm đưa được sự vận hành của khí huyết về trạng thái cân bằng vàthường làm cho bệnh nhân đau đớn Nhưng ngược lại thì các xung điện của máy
Trang 25điện châm rất đều đặn, nhịp nhàng không làm cho bệnh nhân đau lại có tác dụngđiều khí nhanh chóng có thể chữa được nhiều bệnh [26].
Điện châm tức là dùng một máy tạo xung điện ở tần số thấp, kích thích vàđiều khiển sự vận hành của khí huyết, sự hoạt động của các cơ, các dây thần kinh,các tổ chức, làm tăng cường sự dinh dưỡng của các tổ chức, đưa trạng thái của cơthể về trạng thái cân bằng ổn định qua các kim đã châm trên huyệt
*Kỹ thuật kích thích bằng máy điện châm:
Kỹ thuật kích thích bằng máy điện châm cần được tiến hành thật chính xác.Sau khi đã châm đắc khí rồi, nối dây của các cực tả và bổ của máy điện châm vớicác kim trên huyệt, máy điện châm giúp cho thầy thuốc bổ và tả thích hợp với từnghuyệt, từng loại chứng bệnh, từng thể trạng của bệnh nhân
Nối dây : Nối các dây ở các nút của kênh bổ với các kim được châm bổ, các
dây ở các nút của kênh tả với các kim được châm tả Đối với mỗi cặp dây phải nốicác kim châm trên huyệt cùng kinh dương với nhau hoặc cùng kinh âm với nhau
Kích thích điện:
+Cường độ: Tăng dần từ cường độ thấp nhất (2A) tới mức kích thích tối đa màbệnh nhân chịu được cường độ kích thích đó (cường độ kích thích tối đa của máyđiện châm là (100A)
+Tần số: Điều chỉnh tần số từ 2 Hz đến 10 Hz trong trường hợp bổ và 10 Hz đến
40 Hz trong trường hợp tả
+Thời gian kích thích: Thời kích thích kéo dài từ 20 đến 30 phút tuỳ theo mỗi
chứng bệnh
1.10 Tổng quan về thuốc “ bổ thận tráng dương” [4], [5].
1.10.1 Xuất xứ của thuốc “Bổ thận tráng dương”
Trên cơ sở lý luận của YHCT, tham khảo các nghiên cứu về dược thảo có tác dụng nâng cao thể trạng của bệnh nhân, qua đó nâng cao sức đề kháng của cơ thể, chống lại sự phát triển của HIV và kết hợp kinh nghiệm lâm sàng, nhóm nghiêncứu đã dùng viên nang “Bổ thận tráng dương” có nguồn gốc từ bài:“ Hữu quy ẩm” được giới thiệu trong Cảnh nhạc toàn thư
Trang 261.10.2 Thành phần của thuốc “ Bổ thận tráng dương”
Thục địa 24g Cam thảo trích 16g
Hoài sơn 16g Phụ tử chế 12g
Sơn thù 08g Nhục quế 12g
Kỷ tử 16g Đỗ trọng 16g
1.10.3 Giới thiệu về viên nang “ Bổ thận tráng dương”
- Thành phần: Viên nang cứng “bổ thận tráng dương” được làm từ cao khô của bài thuốc “Bổ thận tráng dương” đạt tiêu chuẩn cơ sở
- Nơi sản xuất: thuốc được sản xuất tại công ty cổ phần dược liệu
Mediplantex
- Dạng bào chế: thuốc được bào chế dạng viên nang Hàm lượng
500mg/viên
Đóng trong lọ Mỗi lọ 60 viên
- Đã được thử độc tính cấp và bán trường diễn
Viên nang “Bổ thận tráng dương” đã được công ty dược liệu Mediplatex sản xuất đạt tiêu chuẩn cơ sở và thử độc tính cấp và bán trường diễn tại viện nghiên cứu dược liệu – Học viện y dược học cổ truyền Việt Nam năm 2009 Kết quả cho thấy thuốc có tính an toàn cao [5]
BSCKII Phạm Thủy Phương tại trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Thái Nguyên đã nghiên cứu viên nang “bổ thận tráng dương” có tác dụng nâng cao thể trạng đối với bệnh nhân HIV/AIDS Theo nghiên cứu 100% bệnh nhân đáp ứng với điều trị, trong đó 62,5 % cải thiện tốt tình trạng suy nhược, 21,88% cải thiện ở mức độ khá, 15,63% cải thiện ở mức độ trung bình Trên số lượng tế bào TCD4 thuốc có tác dụng tăng số lượng TCD4 trung bình 83,81 tế bào/mm3 máu sau 3 tháng điều trị và khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0,01
Trang 27Viên nang “ Bổ thận tráng dương” có nguồn gốc từ bài thuốc “Hữu quy ẩm”,theo YHCT thuốc có tác dụng ôn bổ thận dương, bổ tinh huyết, có khả năng cải thiện tình trạng suy nhược cơ thể, nâng cao thể trạng cho bệnh nhân rất phù hợp trong khâu điều trị chăm sóc giảm nhẹ trên bệnh nhân HIV/AIDS, đặc biệt là bệnh nhân ở giai đoạn đầu.
Do viên nang “ Bổ thận tráng dương” có tác dụng nâng cao thể trên bệnh nhân HIV/AIDS nên chúng tôi áp dụng điện châm kết hợp thuốc bổ thận tráng dương trong hỗ trợ cắt cơn nghiện ma túy trên bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS thể tỳ thận dương hư
Trang 28CHƯƠNG 2ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu.
Việc chọn bệnh nhân nghiên cứu được tiến hành tại trung tâm nghiên cứuđiện châm hỗ trợ điều trị cai nghiện ma tuý Bệnh viện châm cứu trung ương
Thời gian thu thập và sử lý số liệu từ …/…/2013 đến …/…/2013
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân.
Chọn 2 nhóm bệnh nhân tương đồng về lứa tuổi:
Nhóm 1 (n = 30): Bệnh nhân được chẩn đoán xác định nghiện ma tuý nhiễm HIV/AIDS theo YHHĐ sẽ được điều trị bằng điện châm kết hợp thuốc “bổ thận trángdương”
Nhóm 2 (n = 30): Bệnh nhân được chẩn đoán xác định nghiện ma tuý nhiễm HIV/AIDS theo YHHĐ chỉ điều trị bằng điện châm đơn thuần
*Tiêu chuẩn lâm sàng:
Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định NMT theo ICD-10 (International lasiffication of Diseases) [4], [55] mục 11-F: Khi có tối thiểu 3 trong 6 triệu chứng sau thì có thể chẩn đoán nghiện ma tuý:
- Thèm muốn mãnh liệt CMT
- Khó khăn trong việc kiểm soát hành vi sử dụng CMT
- Sau khi thôi dùng CMT từ 6 đến 8 giờ sẽ xuất hiện “Hội chứng cai”
- Có hiện tượng dung nạp CMT (Liều dùng ngày càng tăng).
- Sao nhãng các thích thú cũ
- Biết rõ tác hại của CMT nhưng vẫn tiếp tục dùng
2.1.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán HCC theo YHCT thể Tỳ - Thận dương hư:
Bệnh nhân có các triệu chứng sau [27], [38]
- Bệnh nhân ngáp nhiều, đau lưng, đau xương, nhức trong tủy (dấu hiệu dòi bò)
- Người lạnh, chân tay lạnh
- Đại tiện phân nát
Trang 29- Lưỡi chất nhợt, rêu lưỡi trắng dày.
- Mạch trầm, nhược
* Tiêu chuẩn cận lâm sàng:
- Thử (test ) Morphin dương tính trong nước tiểu
(Định lượng >200ng/ml nước tiểu)
- Xét nghiệm ELISA phát hiện kháng thể kháng HIV (+)
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân.
+ Bệnh nhân không tự nguyện cai NMT
+ Bệnh nhân không có các triệu chứng rối loạn chức năng Tỳ - Thận
+ Bệnh nhân không chấp hành nội qui điều trị
+ Bệnh nhân đang mắc các bệnh cấp tính và phụ nữ có thai
2.1.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu.
Các triệu chứng lâm sàng NMT thể Tỳ - Thận theo YHCT trước, trong vàsau điều trị
Theo dõi trọng lượng cơ thể BMI (Body Mass Index) trước và sau 1 thángđiều trị
Trọng lượng cơ thể (kg) BMI =
Chiều cao 2(cm2)
Bảng 2.1 Bảng điểm của Himmelsbach(1982) [trích dẫn từ 41].
Trang 30Các bệnh nhân sau khi được tiếp nhận điều trị sẽ được đánh giá mức độ nghiệnbằng sử dụng bảng điểm của Himmelsbach (Năm 1982) với tổng số là 30 điểm, theo
3 mức độ:
+ Dưới 10 điểm là nghiện nhẹ
+ Từ 10 - 20 điểm là nghiện vừa
+ Trên 20 điểm là nghiện nặng
* Tiêu chuẩn đánh giá lâm sàng mức độ suy nhược Bugrad – Crocq.
Gồm 15 tri u ch ng:ệu chứng: ứng:
1 Rối loạn tiếp xúc
2 Rối loạn về nhạy cảm
3 Rối loạn về ngôn ngữ
4 Rối loạn về giác quan
5 Triệu chứng thần kinh
6 Suy giảm sức khỏe
7 Triệu chứng của lo âu biểu hiện
8 Rối loạn ăn uống
9 Cảm giác lo âu về tinh thần
10 Rối loạn giấc ngủ
Bệnh nhân có suy nhược cơ thể với tổng điểm >26 điểm
Bệnh nhân được theo dõi từ trước khi điều trị và sau 1 tháng điều trị
Bệnh nhân được làm các xét nghiệm Hồng cầu, Bạch cầu trước và sau 1tháng điều trị
Bệnh nhân được lấy nước tiểu 3 lần:
Lần 1 vào ngày thứ nhất sau khi được đưa vào viện chưa điều trị gì
Lần 2 vào ngày thứ 4 sau khi điều trị 3 ngày
Lần 3 vào cuối ngày thứ 7 sau khi đã điều trị được 7 ngày
Trang 31Cách tiến hành như sau: Lấy ống nghiệm loại 10 ml đã rửa sạch sấy khô Buổisáng sớm bệnh nhân ngủ dậy thầy thuốc (người nhà) trực tiếp lấy nước tiểu, không
để cho bệnh nhân tự lấy tránh mẫu không chuẩn hoặc bị pha loãng Sau đó dán nhãn
có tên tuổi của bệnh nhân vào ống nghiệm đem đi định lượng nồng độ Opiat
Bệnh nhân được ghi điện não ở ngày đầu vào viện và sau 7 ngày điều trị đểđánh giá sự thay đổi điện não trước điều trị và sau điều trị
- So sánh sự thay đổi tỷ lệ của thành phần các sóng điện não ngày đầu vào viện vàtrước khi ra viện Theo phân loại mức độ biến đổi điện não của H.G.Niebeling(1982) và J.Kuglier với 3 mức độ [11]:
+ Nhẹ:
Hoạt động của sóng Alpha không đều hoặc rất ổn định, phản ứng ngừngAlpha không rõ ràng hoặc không hoàn toàn
Sóng Theta lan toả ưu thế
Sóng Beta xuất hiện với biên độ cao
+ Trung bình:
Hoạt động Alpha chậm hoặc nghèo nàn và thường mất
Cân xứng 2 bán cầu rõ
Sóng Theta lan toả là chủ yếu
Sóng Delta xuất hiện từng nhóm hay từng đợt
Các dạng nhọn hoặc phức hợp cũng có thể xuất hiện
+ Nặng:
Hoạt động Alpha không có hoặc rất ít
Sóng Theta và Delta chiếm chủ yếu trên bảng ghi
Có thể xuất hiện sóng Beta biên độ cao xen lẫn.Trong khi đó điện não
sinh lý bình thường có biểu hiện như sau:
Sóng Alpha tần số 8-12 chu kỳ/giây, biên độ trung bình là 50v, xuất hiện
nhiều ở vùng chẩm, đôi khi có ở vùng đỉnh,phản ứng ngừng Alpha dương tính