LỜI CAM ĐOAN Em xin cam đoan đề tài “Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh tiểu học qua việc giải các bài toán chuyển động đều” là kết quả em trực tiếp nghiên cứu, tìm tòi thông qua s
Trang 2================
NGUYỄN THỊ HỒNG
PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠO
CHO HỌC SINH TIỂU HỌC QUA VIỆC GIẢI CÁC BÀI TOÁN
CHUYỂN ĐỘNG ĐỀU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học
Người hướng dẫn khoa học Th.S NGUYỄN VĂN ĐỆ
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các giảng giảng viên trong khoa Giáo dục Tiểu học đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình làm khóa luận này Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo Nguyễn Văn Đệ đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình để em hoàn thành khóa luận
Trong khi thực hiện đề tài này, do thời gian và năng lực có hạn nên khóa luận không tránh khỏi thiếu sót và hạn chế Vì vậy, em rất mong nhận được sự tham gia đóng góp ý kiến của thầy cô và bạn bè để khóa luận của em hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Hồng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đề tài “Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh tiểu học qua việc giải các bài toán chuyển động đều” là kết quả em trực tiếp
nghiên cứu, tìm tòi thông qua sự hướng dẫn của thầy giáo Nguyễn Văn Đệ
Trong quá trình nghiên cứu, em có sử dụng tài liệu của một số nhà nghiên cứu, một số tác giả đã được trích dẫn đầy đủ Tuy nhiên, đó chỉ là cơ
sở để em rút ra những vẫn đề cần tìm hiểu ở đề tài của mình
Khóa luận này là kết quả của riêng cá nhân em, không trùng với các kết quả của các tác giả khác Những điều em nói trên là hoàn toàn đúng sự thật
Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Hồng
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 2
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4
6 Phạm vi nghiên cứu 4
7 Giả thuyết khoa học 4
8 Cấu trúc khóa luận 4
NỘI DUNG 5
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1 Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học 5
1.1.1 Tri giác 5
1.1.2 Trí nhớ 5
1.1.3 Chú ý 5
1.1.4 Tưởng tượng 5
1.1.5 Tư duy 6
1.2 Tư duy 6
1.2.1 Khái niệm 6
1.2.2 Đặc điểm của tư duy 7
1.2.3 Các giai đoạn của quá trình tư duy 7
1.2.4 Các thao tác tư duy 7
1.3 Tư duy sáng tạo 8
1.3.1 Khái niệm tư duy sáng tạo 8
Trang 71.3.2 Các đặc trưng của tư duy sáng tạo 8 1.3.3 Vai trò của việc phát triển tư duy sáng tạo cho HSTH 10
1.4 Tình hình nghiên cứu và vận dụng tư duy sáng tạo cho học sinh tiểu học hiện nay 10
1.4.1 Thực trạng việc giải các bài toán chuyển động đều ở nhà trường tiểu học 10 1.4.2 Thực trạng phát triển tư duy sáng tạo cho HSTH thông qua việc giải các bài toán chuyển động đều ở trường tiểu học 11
Chương 2 PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠO CHO SINH TIỂU HỌC QUA VIỆC GIẢI CÁC BÀI TOÁN CHUYỂN ĐỘNG ĐỀU 14 2.1 Nội dung toán chuyển động đều ở cấp Tiểu học 14
2.1.1 Toán chuyển động trong chương trình toán tiểu học 14 2.1.2 Các dạng toán chuyển động đều trong chương trình toán ở Tiểu học 14 2.1.3 Kiến thức cần lưu ý 15
2.2 Xây dựng hệ thống bài toán chuyển động đều góp phần phát triển tư duy sáng tạo cho HSTH 19 KẾT LUẬN 45 TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong hệ thống giáo dục của mỗi quốc gia thì hệ thống giáo dục Tiểu học giữ một vị trí quan trọng Việc đào tạo, bồi dưỡng nhân tài phải bắt đầu được quan tâm ngay từ bậc Tiểu học, vì đây là “cái nôi” tri thức đầu tiên và là bậc học quan trọng đặt nền móng cho sự hình thành nhân cách của mỗi học sinh Trong quyết định số 2967/ GD-ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ rõ: “Tiểu học là cấp học nền tảng đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành, phát triển toàn diện nhân cách của con người, đặt nền tảng vững chắc cho giáo dục phổ thông và toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân” Do đó ở Tiểu học, các em đã được tạo điều kiện để phát triển toàn diện tối đa với các môn học thuộc tất cả các lĩnh vực: Tự nhiên, Xã hội, Con người
Trong các môn học ở trường Tiểu học thì môn Toán có một ý nghĩa và
vị trí đặc biệt quan trọng Toán học với tư cách là một khoa học nghiên cứu một số mặt của thế giới hiện thực, nó có một hệ thống khái niệm, quy luật và
có phương pháp nghiên cứu riêng Hệ thống này luôn phát triển trong quá trình nhận thức thế giới và đưa ra kết quả là những tri thức toán học để áp dụng vào cuộc sống Như vậy với tư cách là một môn học trong nhà trường thì môn Toán giúp trang bị cho học sinh một hệ thống tri thức, phương pháp riêng để nhận thức thế giới, làm công cụ cần thiết để học tập các môn học khác và phục vụ cho cấp học trên
Môn toán giúp phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh Tư duy sáng tạo không chỉ giúp HS giải quyết nhiệm vụ trước mắt mà còn có khả năng giải quyết những nhiệm vụ mang tính lâu dài Nó cải tạo lại thông tin, giải quyết những cái mới chỉ tưởng tượng, làm tiết kiệm kiệm công sức của con người, giúp con người hành động có hiệu quả hơn Nếu không có khả năng tư duy sáng tạo thì học sinh sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong giải quyết tốt các vấn đề
Trang 9xảy ra trong quá trình học tập Với nhà trường tiểu học, rèn luyện tư duy, đặc biệt là tư duy sáng tạo là một nhiệm vụ trọng tâm cơ bản trong mục tiêu giáo dục toàn diện
Với toán chuyển động, tính thực tiễn, tính logic, tính trừu tượng cao được thể hiện qua muôn vàn các tình huống chuyển động đa dạng và phức tạp cho nên việc giải các bài toán chuyển động không chỉ áp dụng các thuật ngữ giải hay những công thức, quy tắc một cách cứng nhắc mà phải xuất phát từ những phân tích, suy luận linh hoạt, thoát khỏi những mâu thuẫn có sẵn Chính điều này làm cho việc mò mẫm, tìm tòi, tư duy, và đặc biệt là tư duy sáng tạo trở thành một hoạt động không thể thiếu trong suốt quá trình giải toán chuyển động
Thực tế giảng dạy cho thấy, phần đa vẫn chỉ là giáo viên hướng dẫn cho học sinh bằng cách giải thông thường, áp dụng công thức một cách máy móc, chẳng hạn như chuyển động cùng chiều – cùng xuất phát thì cần tìm hiệu vận tốc, còn chuyển động ngược chiều – xuất phát không cùng nhau thì cần tính tổng vận tốc của hai xe,… Nói đúng hơn là học sinh chưa biết biểu thị các đại lượng đã biết và chưa biết để thấy được mối liên hệ giữa chúng, cần phải tính gì trước để tìm ra cái mà bài toán yêu cầu, mà cứ nghiễm nhiên công nhận và ghi nhớ máy móc công thức, quy tắc trên
Xuất phát từ những lí do trên, tôi quyết định chọn đề tài “Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh tiểu học qua việc giải các bài toán chuyển động đều” Tôi mong rằng thông qua đề tài này, đối với giáo viên thì đây là một tài
liệu tham khảo hữu ích; còn đối với học sinh thì yêu thích môn học toán nói chung và say mê tìm tòi giải toán, toán chuyển động nói riêng và đặc biệt là góp phần phát triển tư duy sáng tạo cho các em
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các bài tập toán chuyển động đều nhằm phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh tiểu học
Trang 103 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu những vấn đề lí luận về việc phát triển tư duy sáng tạo cho
HSTH qua việc giải các bài toán chuyển động đều
Tìm hiểu cơ sở thực tiễn của việc phát triển tư duy sáng tạo cho
HSTH qua việc giải các bài toán chuyển động đều
Các dạng bài tập toán chuyển động đều giúp phát triển tư suy sáng
tạo cho học sinh
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp nghiên cứu cơ sở lí luận
Nghiên cứu các tài liệu về giáo dục học môn Toán, tâm lí học, lí luận
dạy học môn Toán
Các sách báo, các bài viết về khoa học toán phục vụ cho đề tài
Các sách tham khảo, Toán tuổi thơ, Giúp em vui học Toán,…
4.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm sư phạm với lớp học thực nghiệm và lớp học đối chứng trên cùng một lớp đối tượng
4.3 Phương pháp điều tra
Trao đổi và thảo luận về những thuận lợi, khó khăn khi tổ chức hoạt động học tập giúp phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh trong việc học tập môn Toán ở Tiểu học
4.4 Phương pháp quan sát
Dự giờ, quan sát việc dạy học của giáo viên và việc học của học sinh trong quá trình khai thác các bài tập trong sách giáo khoa
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Đối tượng: Việc giải các bài toán chuyển động ở tiểu học nhằm phát
triển tư duy sáng tạo cho học sinh
Khách thể: Quá trình dạy học giải toán ở tiểu học
Trang 116 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các bài toán chuyển động đều trong môn Toán ở Tiểu học
7 Giả thuyết khoa học
Nếu việc giải các bài toán chuyển động đều nhằm phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh tiểu học thì góp phần nâng cao chất lượng dạy học Toán
ở nhà trường Tiểu học
8 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Tài liệu tham khảo thì khóa luận gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh Tiểu học qua việc giải các bài toán chuyển động đều
Trang 12NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học
1.1.1 Tri giác
Tri giác có vai trò quan trọng đối với con người, nó là thành phần chính của nhận thức cảm tính, là điều kiện quan trọng cho sự định hướng hành vi và hoạt động của con người trong môi trường xung quanh Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và không mang tính chủ động,
do đó khi phân biệt các đối tượng các em còn lẫn lộn, dễ mắc sai lầm Đến độ tuổi của học sinh lớp 5, tri giác chiều sâu phát triển mạnh nên tri giác của các
em đã đạt đến mức ổn định
1.1.2 Trí nhớ
Trí nhớ trực quan của HSTH phát triển mạnh hơn trí nhớ lôgic Tốc độ,
độ bền và tính đầy đủ của ghi nhớ được phát triển dần theo lứa tuổi, tính bền vững của trí nhớ tăng đặc biệt trong thời kì từ lớp 2 đến lớp 5 Việc dạy cho HSTH những phương pháp và cách thức thích hợp có vai trò quan trọng, thúc đẩy sự phát triển trí nhớ có chủ định của các em
1.1.4 Tưởng tượng
Trí tưởng tượng được hình thành trong suốt quá trình sống và hoạt động của trẻ Với các em ở giai đoạn cuối tiểu học, do các em đã lĩnh hội được
Trang 13những tri thức tương đối và đã có kinh nghiệm phong phú nên trí tưởng tượng của các em đã gần với hiện thực hơn Tuy nhiên, để trẻ giải quyết vấn đề bằng
sự tưởng tượng của các em thì chưa được thực sự chính xác, chặt chẽ một cách đầy đủ Do vậy, giáo viên cần có phương pháp dạy học phù hợp để phát huy hơn nữa trí tưởng tượng sáng tạo, phong phú của các em
1.1.5 Tư duy
Tư duy trừu tượng của các em phát triển nhanh chóng khi các em thực hiện các thao tác trí tuệ để giải quyết những vấn đề Ở các em, năng lực phân tích, khái quát, tổng hợp còn thấp, nó được phát triển dần dần trong quá trình học tập Muốn học sinh nhận thức tích cực thì giáo viên cần đưa các em vào tình huống có vấn đề liên quan đến nội dung bài giảng
1.2 Tư duy
1.2.1 Khái niệm
Theo từ điển triết học: “Tư duy, sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, là quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, lí luận Tư duy xuất hiện trong quá trình hoạt động sản xuất xã hội của con người và đảm bảo phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những mối liên hệ hợp quy luật Tư duy chỉ tồn tại trong mối liên hệ không thể tách rời khỏi hoạt động lao động và lời nói, là hoạt động chỉ tiêu biểu cho xã hội loài người cho nên tư duy của con người được thực hiện chặt chẽ với lời nói và những kết của của tư duy được ghi nhận trong ngôn ngữ Tiêu biểu cho tư duy là quá trình như trừu tượng hóa, phân tích và tổng hợp, việc nêu lên là những vấn đề nhất định và tìm cách giải quyết chung, việc đề xuất những giả thiết, những ý niệm Kết quả của quá trình tư duy bao giờ cũng là một ý nghĩ nào đó”
Còn theo Nguyễn Quang Cẩn, tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính
Trang 14quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết [3]
1.2.2 Đặc điểm của tư duy
Tư duy là sản phẩm của bộ não con người và là quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan
Kết quả của quá trình tư duy bao giờ cũng là một ý nghĩ và được thể hiện qua ngôn ngữ
Bản chất của tư duy là ở sự phân biệt, sự tồn tại độc lập của đối tượng được phản ánh với hình ảnh nhận thức được qua khả năng hoạt động của con người nhằm phản ánh đối tượng
Tư duy là quá trình phát triển năng động và sáng tạo
Khách thể trong tư duy được phản ánh với nhiều mức độ khác nhau
từ thuộc tính này đến thuộc tính khác, nó phụ thuộc vào chủ thể là con người
1.2.3 Các giai đoạn của quá trình tư duy
Mỗi hành động của tư duy là một quá trình giải quyết một nhiệm vụ nào đó nảy sinh trong quá trình nhận thức hay trong hoạt động thực tiễn Từ chủ thể gặp “Tình huống có vấn đề”, nhận thức được vấn đề đến khi giải quyết được vấn đề là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn Đó là các giai đoạn sau:
Xác định vấn đề và biểu đạt vấn đề
Huy động các tri thức, kinh nghiệm
Sàng lọc các liên tưởng và hình thành giả thuyết
Kiểm tra giả thuyết
Giải quyết nhiệm vụ
1.2.4 Các thao tác tư duy
Phân tích – tổng hợp
So sánh
Trang 15 Trừu tượng hóa và khái quát hóa
1.3 Tư duy sáng tạo
1.3.1 Khái niệm tư duy sáng tạo
Tư duy sáng tạo là một dạng tư duy độc lập, tạo ra ý tưởng mới độc đáo
và có hiệu quả giải quyết vấn đề cao
Ý tưởng mới được thể hiện ở chỗ phát hiện vấn đề mới, tìm ra hướng đi mới, tạo ra kết quả mới
Tính độc đáo của ý tưởng mới thể hiện ở giải pháp lạ, hiếm, không quen thuộc hoặc duy nhất
1.3.2 Các đặc trưng của tư duy sáng tạo
Tổng hợp các kết quả nghiên cứu về cấu trúc của Tư duy sáng tạo, có thể nêu lên ba thành phần cơ bản của tư duy sáng tạo:
Dễ dàng chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác,
từ thao tác tư duy này sang thao tác tư duy khác, vận dụng linh hoạt các hoạt động trí tuệ như: Phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa
và các phương pháp suy luận như: Quy nạp, suy diễn, tương tự, dễ dàng
Trang 16chuyển từ giải pháp này sang giải pháp khác; điều chỉnh kịp thời hướng suy nghĩ nếu gặp trở ngại
Suy nghĩ không rập khuôn, không áp dụng một cách máy móc những kinh nghiệm, kiến thức, kĩ năng đã có vào trong hoàn cảnh mới, điều kiện mới, trong đó có những yếu tố thay đổi
Nhận ra vấn đề mới trong điều kiện quen thuộc, nhìn thấy chức năng mới của đối tượng quen biết
Tính nhuần nhuyễn
Đó là năng lực tạo ra một cách nhanh chóng sự tổ hợp giữa các yếu tố riêng lẻ của tình huống hoàn cảnh, đưa ra giả thuyết mới và ý tưởng mới
Tính nhuần nhuyễn được thể hiện rõ nhất qua hai đặc trưng sau:
Tính đa dạng của các cách xử lí khi giải toán; khả năng tìm được nhiều giải pháp trên nhiều góc độ và tình huống khác nhau
Khả năng xem xét đối tượng dưới nhiều khía cạnh khác nhau; có một cái nhìn sinh động từ nhiều phía đối với các sự vật và hiện tượng chứ không phải cái nhìn bất biến, phiến diện, cứng nhắc
Tính độc đáo
Khả năng tìm ra những liên tưởng và những kết hợp mới
Khả năng nhìn ra những mối liên hệ trong những sự kiện bên ngoài
tưởng như không có liên hệ với nhau
Khả năng tìm ra giải pháp lạ tuy đã biết những giải pháp khác
Các yếu tố cơ bản nói trên không tách rời nhau mà trái lại, chúng quan
hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ bổ sung cho nhau
Tính hoàn thiện
Tính hoàn thiện của TDST là khả năng lập kế hoạch, phối hợp các ý nghĩ và hành động, phát triển ý tưởng, kiểm tra và chứng minh ý tưởng
Trang 17 Tính nhạy cảm vấn đề
Tính nhạy cảm vấn đề của TDST là năng lực nhanh chóng phát hiện vấn đề, sự mâu thuẫn, sai lầm do thiếu lôgic, phương án chưa tối ưu, từ đó đề xuất hướng giải quyết, tạo ra cái mới
1.3.3 Vai trò của việc phát triển tư duy sáng tạo cho HSTH
Tư duy sáng tạo không chỉ giúp HS giải quyết nhiệm vụ trước mắt mà còn có khả năng giải quyết những nhiệm vụ mang tính lâu dài Nó cải tạo lại thông tin, giải quyết những cái mới chỉ tưởng tượng, làm tiết kiệm kiệm công sức của con người, giúp con người hành động có hiệu quả hơn Nếu không có khả năng tư duy sáng tạo thì học sinh sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong giải quyết tốt các vấn đề xảy ra trong quá trình học tập Với nhà trường tiểu học, rèn luyện tư duy, đặc biệt là tư duy sáng tạo là một nhiệm vụ trọng tâm cơ bản trong mục tiêu giáo dục toàn diện
1.4 Tình hình nghiên cứu và vận dụng tư duy sáng tạo cho học sinh tiểu học hiện nay
1.4.1 Thực trạng việc giải các bài toán chuyển động đều ở nhà trường tiểu học
Nhìn chung toán chuyển động là khó đối với học sinh tiểu học bởi tính lôgic, tính trừu tượng cao Từ thực tế cho thấy giáo viên thường lướt qua trong các buổi ôn tập củng cố kiến thức cho học sinh, nếu có chỉ đơn giản là giải lại những bài tập trong sách giáo khoa khá đơn giản, học sinh chỉ cần nhớ công thức rồi áp dụng; hoặc là trong các kì thi học sinh giỏi thì cũng chỉ là những em trong đội tuyển đó mới có cơ hội làm quen giải các bài toán chuyển động hay, thú vị và có nhiều cách giải Vậy là với dạng toán này, các em chỉ dừng lại ở một cách giải, các em không có cơ hội suy nghĩ, tìm tòi đến cách giải thứ hai, thứ ba hay nhiều hơn ba cách giải Trong khi cách giải một thường là áp dụng công thức cô giáo cung cấp, các em áp dụng một cách máy
Trang 18móc, bài nào không áp dụng được thì các em chờ cô giáo chữa như vậy nó không hoàn toàn trở thành kiến thức của các em bởi không phải các em tự phát hiện ra
Từ thực tế giảng dạy cho thấy các bài toán chuyển động vừa được đánh giá là khó xong lại được ít chú ý tới hơn so với các dạng toán khác Nên chưa phát triển hết khả năng tư duy sáng tạo cho học sinh Trong khi, toán chuyển động là một dạng toán giúp HS phát huy khả năng tìm tòi, mò mẫm, tư duy và nhất là phát triển tư duy sáng tạo cho các em Tôi thiết nghĩ giáo viên cần phải biết phối hợp hòa đều việc đưa các dạng toán đến với các em hay với những bài toán chuyển động thì không chỉ dừng lại ở một cách giải để từ đó kích thích, tạo không khí học tập sôi nổi, các em có hứng thú say mê với những bài toán chuyển động vô cùng sinh động Bởi đó chính là một hoạt động không thể thiếu trong quá trình dạy học nhằm phát huy óc tìm tòi, tư duy sáng tạo của các em, giúp các em linh hoạt hơn trong việc giải quyết mọi vấn đề của cuộc sống
1.4.2 Thực trạng phát triển tư duy sáng tạo cho HSTH thông qua việc giải các bài toán chuyển động đều ở trường tiểu học
Qua tìm hiểu thực tế giảng dạy ở nhà trường tôi thực tập, tôi cho rằng việc phát triển TDST cho HS hiện nay ở trường tiểu học vẫn còn những hạn chế nhất định Về phía GV, mặc dù GV ít nhiều đã nhận thức được cần thiết phải hình thành, phát triển TDST cho HS nhưng phần lớn GV đều chưa có biện pháp cụ thể để phát triển TDST cho HS Họ lí giải việc phát triển TDST cho HS một cách chung chung Trong quá trình dạy học, GV chưa chú ý đến việc phát triển TDST cho nhiều nhóm đối tượng học sinh giỏi, khá, trung bình… Không ít GV cho rằng tính sáng tạo, trong đó có TDST là một khả năng thiên phú, chỉ có ở một số ít người Như vậy GV chưa chú ý phát triển TDST cho mọi đối tượng HS, trong khi tôi tin chắc rằng với những bài toán
Trang 19chuyển động có nhiều cách giải, nếu có phương pháp giảng dạy tốt thì sẽ được mọi đối tượng HS quan tâm Về phía HS, vẫn chưa có những hoạt động học tập như tích cực tham gia vào các hoạt động học tập, kiên trì bám đuổi nhiệm vụ học tập góp phần tạo nên không khí học tập sôi nổi Ngoài ra những hoạt động thể hiện tư duy sáng tạo của học sinh cũng rất hạn chế, biểu hiện như khi cô giáo đưa ra bài toán, chưa đọc hết đầu bài nhưng vì biết là toán chuyển động HS đều cho rằng là loại toán khó, không làm được mà nó chỉ dành cho những ai học giỏi thôi Như vậy mặc dù việc phát triển TDST cho HSTH thông qua các bài toán chuyển động đều là rất cần thiết Tuy nhiên, thực trạng việc phát triển TDST cho HS trong giảng dạy thì chưa được quan tâm đúng mức Thực tế này có nhiều nguyên nhân, lí do như tôi đã phân tích ở trên Trong đó nguyên nhân chính là chưa có phương pháp, biện pháp hữu hiệu
Trang 20 Nghiên cứu và vận dụng tư duy sáng tạo cho HSTH hiện nay
Đây chính là cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài, dựa trên cơ sở lí luận
đã tìm hiểu ở chương 1 Trong chương 2, chúng tôi xây dựng các bài tập toán chuyển động đều nhằm phát triển tư duy sáng tạo cho HSTH
Trang 21Chương 2 PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠO CHO SINH TIỂU HỌC QUA VIỆC GIẢI CÁC BÀI TOÁN CHUYỂN ĐỘNG ĐỀU
2.1 Nội dung toán chuyển động đều ở cấp Tiểu học
2.1.1 Toán chuyển động trong chương trình toán tiểu học
Đến lớp 5, sang tới học kì 2 các em mới chính thức học về toán chuyển động đều Đầu tiên học về các số đo thời gian rồi mới đến Toán chuyển động đều, đó là các đại lượng vận tốc, quãng đường, thời gian
Toán chuyển động đều thực chất thể hiện quan điểm hàm số, quan điểm ánh xạ của toán học hiện đại vào chương trình tiểu học Nó có những giá trị biến thiên rất khó xác định Những giá trị biến thiên này không nằm trong tình huống chuyển động cụ thể mà nằm trong mối quan hệ giữa các đại lượng Nó không thể nhìn thấy bằng mắt thường mà chỉ có thể nhận thức bằng suy luận, bằng tưởng tượng [20] Với đặc trưng là vừa trừu tượng vừa cụ thể, bài toán chuyển động đều mang tính lôgic, tính thực tiễn cao, vừa đòi hỏi khả năng tưởng tượng và phỏng đoán trực giác nhạy cảm của học sinh Chính điều này làm cho quá trình giải toán chuyển động phát triển được tư duy sáng tạo cho học sinh
2.1.2 Các dạng toán chuyển động đều thường gặp trong chương trình toán
ở Tiểu học
Căn cứ vào các yếu tố của chuyển động có các dạng sau:
Bài toán tính quãng đường
Bài toán tính vận tốc – bài toán tính vận tốc trung bình
Bài toán tính thời gian
Căn cứ vào số lượng vật tham gia chuyển động có các dạng sau:
Bài toán chuyển động ngược chiều, gặp nhau
Trang 22 Bài toán chuyển động cùng chiều, đuổi nhau
Bài toán chuyển động ngược chiều, rời xa nhau
Căn cứ vào đặc điểm của quãng đường mà vật thực hiện chuyển động
có các dạng sau:
Bài toán chuyển động theo đường vòng
Bài toán chuyển động lên dốc, xuống dốc
Bài toán chuyển động chạy đi chạy lại nhiều lần
Bài toán có tính đến chiều dài của vật chuyển động
Ngoài ra còn có một số dạng toán tương tự toán chuyển động như:
Loại toán “Vòi nước chảy vào bể”
Loại toán “Công việc chung”
Loại toán về “Tỉ trọng”
2.1.3 Kiến thức cần lưu ý
2.1.3.1 Bài toán tính quãng đường
Công thức: Quãng đường = vận tốc Thời gian
s v t 2.1.3.2 Bài toán tính vận tốc – Bài toán tính vận tốc trung bình
Công thức: Vận tốc = Quãng đường: Thời gian
s v t
2.1.3.3 Bài toán tính thời gian
Công thức: Thời gian = Quãng đường: Vận tốc
s t t
Trang 23 Quãng đường, kí hiệu là s Đơn vị thường dùng: mét (m) hoặc kilomet (km)
Thời gian, kí hiệu là t Đơn vị thường dùng: giờ, phút, giây
Phương pháp suy luận lôgic
2.1.3.5 Các bài toán về hai vật chuyển động ngược chiều
Trang 24 Phương pháp giả thiết tạm
2.1.3.6 Các bài toán về hai vật chuyển động cùng chiều
Phương pháp giả thiết tạm
2.1.3.7 Bài toán chuyển động theo đường vòng
2.1.3.8 Bài toán chuyển động xuôi dòng ngược dòng
Trang 25 Phương pháp thường dùng
Phương pháp sơ đồ đoạn thẳng
Phương pháp rút về đơn vị
Phương pháp tỉ số
Phương pháp suy luận lôgic
2.1.3.9 Bài toán chuyển động chạy đi chạy lại nhiều lần
2.1.3.10 Bài toán có tính đến chiều dài của vật chuyển động
Kiến thức cần nhớ
Ta xét chuyển động của đoàn tàu có vận tốc v và chiều dài l trong các
trường hợp
Đoàn tàu chạy qua một cột điện:
Thời gian chạy qua = l : v
Đoàn tàu chạy qua một cái cầu có chiều dài d:
Thời gian chạy qua cầu = (l + d) : v
Đoàn tàu chạy qua một cái ôtô (có chiều dài không đáng kể) đang chạy ngược chiều:
Đối với trường hợp này ta xem như bài toán về chuyển động của hai vật ngược chiều xuất phát từ hai vị trí: A (đuôi tàu) và B (ôtô)
Đoàn tàu chạy qua một ôtô đang chạy cùng chiều:
Đối với trường hợp này ta xem như bài toán về chuyển động của hai vật cùng chiều xuất phát từ hai vị trí: đuôi tàu và ôtô
Phương pháp thường dùng
Phương pháp suy luận
Phương pháp sơ đồ đoạn thẳng
2.1.3.11 Loại toán “Vòi nước chảy vào bể”
Thể tích của lượng nước (tương tự quãng đường): thể tích thường tính bằng lít; m2
; dm2
Trang 26Sức chảy của nước (tương tự vận tốc) – còn gọi là lưu lượng Đơn vị: lít/phút; lít/giây; lít/giờ
Thời gian chảy của vòi nước (tương tự thời gian), tính theo đơn vị: giây, phút, giờ
Thể tích của nước = Sức chảy Thời gian
2.1.3.12 Loại toán “Công việc chung”
Công việc hoàn thành tương tự như quãng đường (S)
Năng suất làm việc tương tự như vận tốc (V) Đơn vị: công việc/ngày; công việc/giờ
Thời gian làm xong công việc như thời gian (t)
Công việc = Năng suất Thời gian
A C D B
50 km
Trang 27Bài giải
Cách 1:
Nhận xét: Trên cùng một quãng đường thì vận tốc tỉ lệ nghịch với thời gian, giả sử vận tốc lúc đầu là 5 phần thì vận tốc lúc sau là 3 phần; do đó thời gian lúc đầu sẽ là 3 phần, thời gian lúc sau là 5 phần
Thời gian ban đầu đi trên CB:
Thời gian đã giảm trên CB:
2 giờ
Thời gian đi trên CB ban đầu là: (2 : 2) 3 3 (giờ)
Thời gian ban đầu đi trên BD:
Thời gian đã giảm đi trên BD:
1 giờ 20 phút
1 giờ 20 phút = 80 phút
Thời gian đi trên đoạn BD với vận tốc ban đầu là: (80 : 2) 3 120 (phút)
120 phút = 2 giờ
Thời gian đi đoạn CD với vận tốc ban đầu là: 3 2 1 (giờ)
Vận tốc ban đầu là: 50 :1 50 (km/giờ)
3