1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khoá luận tốt nghiệp rèn luyện kĩ năng học toán cho học sinh lớp 2 theo mô hình VNEN

49 553 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC s u ' PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIẢO DỤC TIÊU HỌCTRẦN THỊ THỦY RÈN LUYỆN KĨ NĂNG HỌC TOÁN CHO HỌC SINH LỚP 2 THEO MÔ HÌNH VNEN Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC s u ' PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIẢO DỤC TIÊU HỌC

TRẦN THỊ THỦY

RÈN LUYỆN KĨ NĂNG HỌC TOÁN

CHO HỌC SINH LỚP 2 THEO MÔ HÌNH VNEN

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học

HÀ NỘI, 2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIẾU HỌC t _ •

TRẰN THỊ THỦY

RÈN LUYỆN KĨ NĂNG HỌC TOÁN

CHO HỌC SINH LỚP 2 THEO MÔ HÌNH VNEN

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán ở Tiếu học

Người hướng dẫn khoa học: ThS NGUYỄN THỊ HƯƠNG

HÀ NỘI, 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ của các thầy, cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình làm khóa luận này Đặc biệt em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến cô

giáo ThS Nguyễn Thị Hương - người đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình để em

có thể hoàn thành khóa luận

Trong quá trình thực hiện đề tài khóa luận, dù đã cố gắng nhưng do thời gian và năng lực có hạn nên em vẫn chưa đi sâu khai thác hết được và còn nhiều thiếu sót, hạn chế Em rất mong được sự tham gia đóng góp ý kiến của thầy, cô giáo và bạn bè

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 06 tháng 05 năm 2015

Sinh viên

Trần Thị Thủy

Trang 4

LỜ I C A M Đ O A N

Đe tài khóa luận: “Rèn luyện k ĩ năng học toán cho học sinh lớp 2

theo mô hình VNEN” được em thực hiện dưới sự hướng dẫn của cô giáo

ThS Nguyễn Thị Hương Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu

của riêng cá nhân em Ket quả thu được trong đề tài là hoàn toàn trung thực

và không trùng với kết quả nghiên cún của các tác giả khác

Neu sai em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm!

Hà Nội, ngày 06 tháng 05 năm 2015

Sinh viên

Trần Thị Thủy

Trang 5

DANH MỤC VIET TAT

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐÀU 1

1 Lý do chọn đề tà i 1

2 Mục đích nghiên CÚ01 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứ u 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cún 3

6 Dự kiến cấu trúc đề tài 4

NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1 C ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ c ơ SỞ THựC TIỄN 5

1.1 Cơ sở lý luận 5

1.1.1 Đặc điểm nhận thức của HS lớp 2 5

1.1.2 Rèn luyện kĩ năng học toán cho HS lớp 2 6

1.1.3 Rèn luyện kĩ năng học toán cho HS lóp 2 theo mô hình VNEN 10

1.2.3 Phương pháp điều tra 24

1.2.4 Kết quả điều tr a 24

CHƯƠNG 2 BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG HỌC TOÁN CHO HỌC SINH LỚP 2 THEO MỒ HÌNH VNEN 28

2.1 Nguyên tắc 28

2.1.1 Đảm bảo tính vừa sức 28

2.1.2 Đảm bảo tính khoa học 28

2.1.3 Đảm bảo tính khả th i 28

2.1.4 Đảm bảo sự phối hợp 29

2.2 Các biện pháp 29

2.2.1 Nâng cao ý thức rèn luyện kĩ năng học toán cho HS lóp 2 29

2.2.2 Tăng cường vai trò các cá nhân và tập thể trong việc tổ chức rèn luyện kĩ năng học toán cho HS lóp 2 30

2.2.3 Cung cấp đầy đủ các nguồn tài liệu cho HS 30

Trang 7

2.2.4 Phối hợp hoạt động các lực lượng GV, tập thể lớp, phụ huynh trong rèn

luyện kĩ năng học toán cho HS lóp 2 31

2.3 Ví dụ minh họa 32

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 39

PHỤ LỤC 41

TÀI LIỆU THAM KHẢO 43

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục Tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, có vai trò hết sức quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục Học sinh tiểu học (HSTH) thuộc giai đoạn tuổi tù’ 6 đến 10 nên có những đặc điểm phát triển tâm sinh lí riêng Vì thế, dạy học ở tiểu học cần có cái nhìn khoa học về tâm lí của trẻ để lựa chọn phương pháp giáo dục phù hợp Từ đó khơi dậy, hình thành và phát triển năng lực cần thiết, các phẩm chất tốt đẹp, lâu dài cho các em

Toán học là một môn học quan trọng ở Tiểu học, đóng góp một phần không nhỏ vào việc hoàn thành nhiệm vụ dạy và học Nó cung cấp những kiến thức cơ bản về số học, các yếu tố hình học, đo đại lượng, giải toán có lời văn, giúp HS phát triển khả năng tư duy, khả năng suy luận, trau dồi trí nhớ, giải quyết vấn đề có căn cứ khoa học, chính xác nói chung và kĩ năng học Toán nói riêng Qua học tập môn toán, học sinh (HS) phát triển được trí thông minh, tư duy độc lập sáng tạo, kích thích trí tò mò, tự khám phá và tự rèn luyện bản thân

Ớ lớp 2, do đặc điểm nhận thức lứa tuổi này là sự chú ý không chủ định nên việc học Toán trở nên khó khăn Một điểm đáng quan tâm là HSTH lại rất ham hiểu biết, ham học hỏi, có trí nhớ tốt và có trí tưởng tượng phong phú Vì vậy, trong quá trình dạy học Toán, giáo viên cần phải biết đưa ra tình huống khơi gợi trí tò mò, hứng thú học tập cho HS để các em tự nâng cao trách nhiệm của bản thân, thể hiện rõ vai trò chủ thể trong quá trình nhận thức, phát huy tối đa năng lực sáng tạo, tinh thần tụ’ học, tụ’ giải quyết các vấn đề mà các

em thấy tự tin, phấn khởi để giúp các em tự hình thành khái niệm bằng chính

sự tư duy của mình Tuy nhiên, mô hình nhà trường truyền thống lại chưa thực sự giúp học sinh phát huy được năng lực của bản thân mà nó khiến các

Trang 9

em học tập một cách thụ động, máy móc, thiếu sự sáng tạo, dẫn đến nhũng khó khăn trong việc hình thành các kĩ năng học Toán cần thiết.

Mô hình VNEN là một dự án về sư phạm nhằm xây dựng và nhân rộng kiểu mô hình nhà trường tiên tiến, hiện đại, phù họp với mục tiêu phát triển

và đặc điểm giáo dục Việt Nam theo nguyên tắc lấy HS làm trung tâm Nó khắc phục được một số nhược điểm của mô hình nhà trường truyền thống, như: dạy học chủ yếu bằng phương pháp thuyết trình, vai trò của giáo viên lấn

át vai trò của HS trong quá trình học tập, giáo viên cố gắng làm bằng mọi cách đế HS ghi nhớ bài học, thuộc bài một cách máy móc, thậm chí áp đặt nội dung sách giáo khoa một cách cứng nhắc Mô hình này vừa thiết kế theo mô hình trường học truyền thống, vừa có sự đổi mới căn bản về mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình, tài liệu học tập, phương pháp dạy - học, cách tổ chức quản lý lóp học, Điểm nổi bật của mô hình này là đổi mới các hoạt động sư phạm, một trong những hoạt động đó là đổi mới cách thức tổ chức lóp học Quản lý lớp học là “Hội đồng tụ’ quản học sinh”, các “ban” trong lớp nhằm phát huy quyền làm chủ quá trình học tập - giáo dục nói chung và rèn luyện kĩ năng học nói riêng Môi trường, cấu trúc lớp học theo mô hình VNEN góp phần hỗ trợ đáng kể trong việc năng cao chất lượng học tập và giáo dục HS

HS được tụ’ chủ, tự khẳng định vai trò cá nhân của mình trong tập thế lóp học; bước đầu hình thành nhân cách, giá trị dân chủ, ý thức tập thể theo xu hướng thời đại Nội dung hoạt động - đặc trưng về tổ chức lớp học VNEN- cũng góp phần không nhỏ trong việc phát triển năng lực cho HS, đồng thời tạo ra mội trường học tập thân thiện, hiệu quả Đây chính là những nhân tố tích cực giúp cho HS dần có được kĩ năng học Toán dễ dàng và hiệu quả

Bên cạnh đó, em hiện đang là một sinh viên năm cuối sư phạm, sau nhiều kỳ kiến tập và thực tập, tận mắt thấy được HS khi học Toán đều rất hăng say, ham học hỏi, có năng lực sáng tạo nhưng lại thiếu hụt trầm trọng về

Trang 10

kĩ năng Vì vậy, mong muốn của em là tìm ra các biện pháp hình thành và phát triển kĩ năng học Toán, phát huy tối đa năng lực của HS để các em có thể học mọi lúc, mọi nơi và trong mọi hoàn cảnh.

Chính vì những lý do trên, em đã tiến hành lựa chọn nghiên cứu đề tài

“Rèn luyện k ĩ năng học toán cho học sinh lớp 2 theo mô hình VNEN”.

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu kĩ năng học toán cho HS lớp

2 theo mô hình VNEN và đề xuất một số biện pháp rèn luyện kĩ năng học toán cho HS lớp 2 theo mô hình VNEN nhằm góp phần nâng cao kết quả học tập toán của HS

3 Nhiệm vụ nghiên cửu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của kĩ năng học toán cho HS lớp 2

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của kĩ năng học toán cho HS lóp 2 theo mô hình VNEN

- Nghiên cún cơ sở lí luận của việc rèn luyện kĩ năng học toán cho HS lớp 2 theo mô hình VNEN

- Tìm hiểu cơ sở thực tiễn của việc rèn luyện kĩ năng học toán cho HS lớp 2 theo mô hình VNEN

- Đe xuất một số biện pháp rèn luyện kĩ năng học toán cho HS lớp 2 theo mô hình VNEN

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cửu

- Đối tượng nghiên cún: kĩ năng học toán theo mô hình VNEN

Trang 11

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

- Phương pháp thống kê toán học

- Phương pháp nghiên cứu lí luận

6 Dự kiến cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo nội dung của khóa luận gồm 2 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn

Chương 2: Biện pháp rèn luyện kĩ năng học Toán cho học sinh lớp 2 theo mô hình VNEN

Trang 12

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 C ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ c ơ SỞ THỤC TIỄN

- Chú ý có chủ định hình thành và phát triển mạnh mẽ HSTH giai đoạn đầu: chú ý có chủ định chưa bền vững, dễ bị phân tán

- Các thuộc tính chú ý được hình thành và phát triển nhanh HSTH giai đoạn đầu: khối lượng chú ý hẹp, thiếu bền vững; chưa có kĩ năng phân phối chú ý, chưa biết hướng sự chú ý vào nội dung cơ bản của bài học

- Sự chú ý của HS chủ yếu hướng ra bên ngoài, gắn liền với hành độngvật chất Khả năng chú ý hướng vào bên trong còn yếu

b Tri giác

- Còn mang tính tổng thể, tri giác phân tích đang được hình thành

- Thường gắn với hành động vật chất

- Tính cảm xúc thể hiện rõ khi tri giác

- Các loại tri giác: không gian, vận đông, thời gian được hình thành vàphát triển mạnh

c Trí nhớ

- Trí nhớ không chủ định (có trước tuổi học) vẫn tiếp tục phát triển

- Trí nhớ có chủ định hình thành và phát triển mạnh do HSTH ghi nhó’ máy móc tốt và ghi nhớ hình thành được phát triến mạnh

- Trí nhớ ngắn hạn phát triến tốt hơn trí nhớ dài hạn

Trang 13

- Trí nhớ trực quan- hình ảnh phát triển tốt hơn trí nhớ từ ngữ- trìmtượng

- Khái quát hóa chủ yếu là khái quát hóa hình thức, kinh nghiệm Khái quát hóa nội dung bắt đầu được hình thành Tư duy còn gắn liền với chuẩn thực tế kinh nghiệm, HS khó chấp nhận giả thiết không thực

Theo Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên): kĩ năng (KN) là khả

năng con người vận dụng nhũng kiến thức đã thu được trong lĩnh vực nào đó

áp dụng vào thực tế Từ điển đưa ra khái niệm chung về KN một cách chung,

có sự đồng nhất và được coi như khả năng của con người

Trang 14

Theo tác giả Đào Quang Trung, KN là khả năng con người thực hiện công việc một cách có hiệu quả và chất lượng trong một thời gian thích hợp, trong những điều kiện nhất định dựa vào tri thức và kĩ năng, kĩ xảo đã có Như vậy KN là một quá trình tâm lí và luôn gắn với những hoạt động cụ thể

Kĩ năng là kiến thức trong hành động Do đó, kĩ năng được hình thành trong hành động và những điều kiện cụ thế Theo định nghĩa này, tác giả đã đưa ra khái niệm về kĩ năng là khả năng con người thực hiện công việc một cách hiệu quả và chất lượng trong thời gian thích họp Tuy nhiên, khái niệm này còn chưa có sự phân biệt: kĩ năng, kĩ xảo, tri thức

Cũng đưa ra khái niệm kĩ năng, PGS.TS Đặng Thành Hưng - Viện khoa học Giáo dục Việt Nam cho rằng: KN là một dạng hành động được thực hiện tự giác dựa trên tri thức về công việc, khái niệm vận động và những điều kiện sinh học, tâm lí khác của cá nhân như: nhu cầu, tình cảm, ý chí, tính tích cực cá nhân, để đạt được kết quả theo mục đích hay tiêu chí đã định hoặc mức độ thành công theo chuẩn hay quy định

Theo một số tài liệu, kĩ năng nhìn chung được hiểu là khả năng vận dụng kiến thức đã lĩnh hội được vào hoạt động cụ thể, đồng thời thông qua hoạt động mà rèn luyện kĩ năng đã có (ở mức thuần thục để trở thành kĩ xảo) cũng như hình thành kĩ năng mới Tuy nhiên khả năng là thuộc tính cá nhân cho thấy một người có thể thực hiện hành động song chưa thực hiện hành động ấy trên thực tế Do đó nếu coi kĩ năng cũng như khả năng là thuộc tính

cá nhân hay thuộc tính tâm lí (bên trong) thì rất khó để nhận ra một người có

kĩ năng hay không? Hơn nữa, trong các tài liệu cũng không hoặc rất ít đề cập đến nội dung, các thành phần cấu trúc hay điều kiện đảm bảo một người thực

sự có kĩ năng Vì vậy, cũng chưa đưa ra được các căn cứ để nhận biết hay đánh giá kĩ năng

Tương tự tri thức, kĩ năng là hình thức biếu hiện của khả năng hay năng lực chứ tự nó không phải là khả năng hay năng lực Đẻ nhận diện kĩ năng nào

Trang 15

đó, ít nhất phải căn cứ vào những tiêu chí tối thiểu như bản chất chung của kĩ năng, các điều kiện và thành phần cấu trúc kĩ năng.

Trên cơ sở nghiên CÚ01 tài liệu, em thấy người nghiên CÚ01 chủ yếu lựa chọn quan điểm về kĩ năng của tác giả Đặng Thành Hung, lấy đó là cơ sở chính cho những phân tích và đánh giá của bài viết

Mọi kĩ năng đều có cấu trúc chung như nhau chỉ nội dung cụ thể của mỗi thành tố cấu trúc đó mới có sự khác biệt, ùy theo đó là kĩ năng nào Là một dạng hành động nên kĩ năng có cấu trúc bao gồm: (1) là hệ thống thao tác được

tổ chức linh hoạt, (2) trình tự’ logic của quá trình thực hiện thao tác, (3) các hành vi và quá trình điều chỉnh hoạt động, (4) nhịp độ và cơ cấu thời gian thự hiện hoạt động Cần lưu ý rằng, tri thức và kết quả hành động không phải là hành tố cấu trúc kĩ năng Tri thức không nằm trong kĩ năng mà là điều kiện mà chủ thể cần phải có để hình thành kĩ năng và kiểm soát kĩ năng của mình Kết quả hành động không nằm trong kĩ năng mà nằm trong hiệu quả của kĩ năng

b K ĩ năng học toán

Theo quan điểm về kĩ năng ở trên, ta có thể hiểu kĩ năng học là khả năng HS thực hiện việc học tập một cách có chất lượng và hiệu quả trong một thời gian thích họp, trong những điều kiện nhất định dựa vào tri thức và kĩ xảo đã có Đặc biệt, HS phải chú ý rèn luyện thật nhiều sao cho thuần thục và trở thành thói quen tốt trong quá trình học tập

Kĩ năng học toán là một trong số nhũng kĩ năng học tập quan trọng mà trẻ cần có để có kết quả học tập tốt Kĩ năng học toán là khả năng HS học kiến thức mới, làm bài tập, một cách có chất lượng và hiệu quả trong thời gian nhất định và trong điều kiện cụ thể, thích họp dựa vào tri thức và kĩ xảo đã có

c K ĩ năng học toán của HS lóp 2

■ Quan niệm

Kĩ năng học toán của HS lóp 2 bao gồm khả năng như:

- Thực hiện cộng (trù) không nhớ (có nhớ) trong phạm vi 100, 1000

Trang 16

- Thực hiện nhân (chia) trong bảng 2, 3, 4, 5.

- Thực hiện đọc, viết so sánh các số trong phạm vi 1000

- Thực hiện cộng (trù) không nhớ trong phạm vi 1000

- Tìm các phần bằng nhau của một hình

- Các đơn vị đo: độ dài, thời gian, khối lượng, dung tích

- Một số hình hình học: hình chữ nhật, hình tứ giác, đường gấp khúc; tính chu vi hình tam giác, hình tứ giác

- Giải toán có lời văn có một phép tính

■ Đặc điểm:

Căn cứ vào đặc điểm nhận thức cuả HS lớp 2, em nhận thấy:

- Những kĩ năng như: học kiến thức mới, làm bài tập, giải toán, của

HS còn mới hình thành nhưng HS còn chưa ghi nhớ chắc chắn mà chỉ là ghinhớ máy móc, chưa bền vững và dễ bị phân tán

- Khả năng vận dụng các kĩ năng còn kém do tư duy và tri giác còn cần gắn với thực tế, cụ thể

Trang 17

- Hình thành ở HS kiến thức cơ bản của chương trình học ở Tiểu học.

- Giúp đỡ khi HS gặp khó khăn trong qua trình hình thành kiến thức mới, làm bài tập, giải toán,

- Tập trung chú ý theo sự hướng dẫn của GV

- Giúp cho hoạt động ngoại khóa diễn ra đúng theo một phần kế hoạch

về nhân sự tham gia

• Vai trò của phụ huynh HS

- Hỗ trợ, giúp đỡ, ủng hộ các hoạt động của nhà trường và các hướng dẫn, chỉ đạo của GV

1.1.3 Rèn luyện k ĩ năng học toán cho HS lớp 2 theo mô hình VNEN

a Mô hình VNEN

■ Khái niệm

VN là các chữ cái đầu của tên nước: Việt Nam

EN là các chữ cái đầu của các tù’ trong tiếng Tây Ban Nha: Escuela Nueva (Escuela: trường học, Nueva: mới)

VNEN có nghĩa: Trường học mới Việt Nam (Trường học mới tại Việt

Nam); hiện tại tồn tại cách đọc: Vê- en nờ- e- en nờ (đọc theo tên chữ cái

Trang 18

tiếng Việt)/ Vờ- nờ- e- nờ (đọc theo tên âm tiếng Việt)/ hoặc đọc theo cách đơn giản, tiện dụng: Vờ- nen.

Neu đọc: Vi- en- i- en là không chính xác vì VNEN không liên quan đến viết tắt các chữ cái trong tiếng Anh

■ Lịch sử hình thành

Mô hình VNEN được thực hiện theo mô hình EN (Escuela Nueva) là

mô hình nhà trường được thực hiện tại Cộng hòa Côlômbia

Vào những năm 70 - 80 của thế kỉ trước, Cộng hòa Côlômbia được sự

hỗ trợ kinh phí tù’ Ngân hàng Thế giới, Ọuỹ tiền tệ quốc tế, UNESCO và nhiều tổ chức khác của Liên họp quốc để phát triển giáo dục cơ bản vốn đang rất yếu kém ở đất nước này Đông đảo các chuyên gia giáo dục giỏi từ Mĩ, Anh, Canađa, Ôxtrâylia, Tây Ban Nha, đã tới Côlômbia để xây dựng và phát triển các Chương trình, Dự án về Giáo dục, trong đó mô hình EN được đánh giá là có hiệu quả rõ rệt nhất về phổ cập giáo dục cơ bản, về thay đổi nhà trường và nâng cao chất lượng giáo dục Mô hình EN đã có sức hấp dẫn, lan tỏa nhanh chóng, được nhân rộng ra nhiều nước ở vùng Caribê và khắp các nước châu Mĩ La tinh

Năm 2000, Liên hợp quốc đã chọn mô hình EN là một trong ba cải cách đáng chú ý nhất của Côlômbia Tổ chức UNESCO coi mô hình EN là

mô hình nhà trường có chất lượng tốt nhất về giáo dục tiểu học ở các vùng nông thôn của châu Mĩ La tinh Ngân hàng thế giới cũng chọn mô hình EN là một trong ba nội dung cải cách đáng chú ý nhất ở các nước phát triển trên thế giới Năm 2012, tạp chí Toàn cầu của Thụy Điển đã tổ chức bình chọn để tìm

ra 100 giải pháp có hiệu quả, có ảnh hưởng nhất tù’ xưa tới nay, trong mọi lĩnh vục và trên khắp toàn cầu Mô hình EN được bình chọn xếp thứ 46/100 và xếp thứ 3 trong các giải pháp có hiệu quả nhất trong lĩnh vực giáo dục

Trang 19

Mô hình EN đã đưa ra một giải pháp giáo dục cụ thể để thay đổi nhà trường, phù hợp với xu thế phát triển của giáo dục hiện đại Các nước châu

Mĩ La tinh và Côlômbia có điều kiện và môi trường giáo dục mang nhiều nét tương đồng với Việt Nam Do vậy, việc học tập và làm theo mô hình nhà trường của Côlômbia là phù hợp với Việt Nam, thể hiện cách tiếp cận từng bước , chắc chắn và hiệu quả Mặt khác các tư tưởng cũng như chiến lược mô hình EN mang tính hiện đại, được tổng kết qua thực tiễn của giáo dục các nước tiên tiến Chúng ta vận dụng mô hình EN có chọn lọc, không rập khuôn mẫu mà tích hợp mạnh mẽ giữa yếu tố tích cực cuả mô hình EN với thành tựu giáo dục của nhiều năm đổi mới ở Việt Nam để trở thành mô hình nhà trường mới của Việt Nam, đó là mô hình VNEN Mô hình VNEN được kiến tạo nhưng không tách rời những đặc trung phù họp về mặt tổ chức sư phạm của nhiều mô hình nhà trường có tiếng vang ở thế kỉ XX

Có thể nói, mô hình VNEN dựa trên quan điểm và lí luận của giáo dục hiện đại và kết hợp hài hòa với thực tiễn của giáo dục Việt Nam

■ Nguyên tắc

- Lấy HS làm trung tâm (HS được học theo khả năng của riêng mình; tự quản; hợp tác và tự giác trong học tập)

- Nội dung gắn bó chặt chẽ với đời sống hàng ngày của HS

- “Xep lóp linh hoạt”: HS được lên lóp trên nếu được GV đánh giá đạt được các mục tiêu giáo dục tối thiểu

- Phụ huynh và cộng đồng phối hợp chặt chẽ với GV đế giúp đỡ HS một cách thiết thực trong học tập; tham gia giám sát việc học tập của con em mình

- Góp phần hình thành nhân cách giá trị dân chủ, ý thức tập thế theo xu hướng thời đại cho HS

■ Mục tiêu và đặc điểm

Trang 20

Mô hình VNEN đã thực sự làm thay đổi nhà trường nhằm hướng tới mục tiêu cao cả là tạo ra những trường học có chất lượng phù hợp với xu thế phát triển của giáo dục ở khu vực và thế giới Cụ thể, theo mô hình VNEN, các nhà trường sẽ đạt được những mục tiêu sau:

- Lấy hoạt động học của HS làm trung tâm

Chủ thể của quá trình dạy học trong mô hình VNEN là HS được học tập thông qua các hoạt động tự học hay học theo nhóm; phương pháp học của

HS được coi trọng hơn trong quá trình dạy học

- Đưa ra một chương trình học phong phú và bổ ích

Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học được thay đổi; đánh giá qúa trình học của HS gần với phương pháp đánh giá lớp học hiện đại; nội dung học được giảm tải; môn học và kế hoạch dạy học được điều chính phù hợp với thực tế hơn; chú ý đến phương pháp học tập từ đời sống hàng ngày

- Thúc đẩy việc học tập của HS

Tốc độ học tập phù hợp với khả năng tiếp thu của HS; dạy học không mang tính đồng loạt mà hướng tới cá thể hóa HS; học tập mang tính hợp tác, tương tác đa chiều; mục đích của đánh giá HS trong VNEN là nhằm thúc đẩy quá trình học tập, giúp các em cố gắng liên tục để được tiến bộ và có nhiều thành tích cao

- Có bầu không khí nhà trường tích cực

Hợp tác, hỗ trợ, tích cực, dân chủ và không có cạnh tranh là những đặc điểm cơ bản nhất trong tất cả các hoạt động của nhà trường, của HS, giáo viên

và cán bộ quản lí giáo dục Hoạt động của Hội đồng tự quản HS, các hoạt động hỗ trợ học tập, khiến cho không khí hoạt động nhà trường thay đổi nhanh chóng và dễ nhận thấy

- Nuôi dưỡng, cổ vũ những mối tương tác mang tính đồng nghiệp; đề cao, ủng hộ cho việc giải quyết vấn đề một cách sáng tạo

Trang 21

Sinh hoạt chuyên môn ở các trường được tổ chức định kì và luôn theo đuổi mục tiêu lấy HS làm trung tâm trong quá trình dạy học Mục đích của sinh hoạt chuyên môn là tạo cho GV cơ hội tốt nhất đế phát triển khả năng nghề nghiệp, tiềm năng sáng tạo của mình Sinh hoạt chuyên môn là tìm kiếm, phân tích các hoạt động học của HS, giúp các em vượt khó để học tập tiến bộ Mỗi GV phải tụ’ nhìn lại mình, để rồi mạnh dạn đưa ra những thay đổi, điều chỉnh tài liệu hướng dẫn học/ hướng dẫn hoạt động giáo dục cho phù hợp Có thể nói, sinh hoạt chuyên môn đi liền, không tách rời với quá trình giảng dạy và học tập.

- Cuốn hút cha mẹ học sinh và cộng đồng tham gia

GV, HS và cha mẹ học sinh, cộng đồng là những chủ thể luôn gắn bó, tương tác trong mô hình VNEN Nội dung có liên quan và gắn kết với gia đình, cộng đồng được biểu hiện thông qua hoạt động úng dụng trong tài liệu hướng dẫn học/ hướng dẫn hoạt động giáo dục Nhà trường học tập văn hóa địa phương và kiến thức của cộng đồng, ngược lại, gia đình và cộng đồng tiếp thu tri thức trục tiếp từ nhà trường hoặc gián tiếp từ chính HS là con em mình Tức là, HS mang kiến thức về cho gia đình và cộng đồng

- Tổ chức lớp học và tổ chức các hoạt động giáo dục

Theo mô hình của trường học mới, quản lí lóp học là “Hội đồng tự quản học sinh”, các “ban” trong lóp, do HS tụ' nguyện xung phong và được các bạn tín nhiệm “Hội đồng tự quản học sinh” bao gồm các thành viên là

HS Hội đồng tự quản được thành lập là vì HS đế đảm bảo cho các em tham gia một cách dân chủ, tích cực vào đời sống học đường; khuyến khích các em tham gia một cách toàn diện vào các hoạt động của nhà trường, phát triển tính tụ’ chủ, sự tôn trọng, bình đắng, tinh thần hợp tác và đoàn kết của HS “Hội đồng tự quản học sinh” là một biện pháp giúp HS được phát huy quyền làm chủ quá trình học tập, giáo dục HS có điều kiện hiểu rõ quyền và trách nhiệm

Trang 22

trong môi trường giáo dục, được rèn các kĩ năng lãnh đạo, kĩ năng tham gia, hợp tác trong các hoạt động Tổ chức Bộ máy Hội đồng tự quản HS bao gồm:

1 Chủ tịch Hội đồng tụ’ quản học sinh, 2 phó Chủ tịch Hội đồng tự quản và các ban (Ban học tập, Ban sức khoẻ, vệ sinh, Ban văn nghệ, thể dục, Ban thư viện, Ban đối ngoại )

Điểm nổi bật của mô hình VNEN là đổi mới về các hoạt động sư phạm, một trong những hoạt động đó là đổi mới về cách thức tổ chức lớp học Lớp học được thiết kế cho HS ngồi thành từng nhóm, các em hoạt động cá nhân, khi cần thiết có thế trao đổi trong nhóm Như vậy vừa phát huy tính tích cực của bản thân HS, vừa phát huy được sự hỗ trợ của các em cũng như sự cộng tác, tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau trong nhóm Đối với việc tổ chức sinh hoạt của lớp, coi trọng tính tự quản của HS

Cách sắp xếp bàn ghế thay vì bàn ghế được sắp theo hàng ngang như trước đây, các lớp học VNEN yêu cầu sắp xếp lại bàn ghế theo nhóm HS: nhóm 4 hoặc nhóm 6 Sự thay đổi trong cách sắp xếp bàn ghế tạo ra sự thay đổi về vị trí chỗ ngồi, từ đó tạo ra sự thay đổi về tâm thế học tập và quan hệ tương tác của đứa trẻ Với cách ngồi theo hàng ngang, trẻ không cần tương tác với nhau, trẻ chỉ có một quan hệ tương tác: cô và trò Từ đó, nảy sinh tâm

lý lấy GV làm trung tâm của quá trình học tập; hoạt động học tập chủ yếu từ nghe giảng - ghi nhớ vận dụng và tái hiện Cách học này chỉ tạo nên những bộ

óc biết ghi nhớ và tái hiện mà không tạo nên được con người có các năng lực

mà xã hội đang cần: năng lực tự chủ, năng lực phối hợp nhóm, năng lực tư duy, năng lực sáng tạo Với vị trí ngồi học theo nhóm HS cùng với cách tổ chức dạy học mới của GV, HS bên cạnh việc được học cái chữ, các em còn có

cơ hội hình thành các năng lực cần thiết ở con người xã hội trong tương lai Nhờ quan hệ tương tác được mở rộng, đa chiều: tương tác giữa HS (với tư cách là chủ thể của quá trình học tập) với tài liệu (với tư cách là đối tượng của

Trang 23

quá trình học tập, được viết lại chủ yếu dành cho người học với các hướng dẫn sư phạm) dưới sự điều hành của nhóm trưởng và vai trò cố vấn của GV; Tương tác giữa HS với các dụng cụ học tập (tranh ảnh, đồ dùng, vật thật ); Tương tác giữa HS với HS (hai chủ thể với nhau) thông qua vai trò điều khiển của nhóm trưởng, của GV; Tương tác giữa HS với GV và ngược lại Điều cần chú ý là trong các mối quan hệ tương tác trên, HS với tư cách là chủ thế của quá trình học tập, của hoạt động tương tác sẽ có tác dụng kích thích các hoạt động của bộ não nhằm giúp các em hình thành và phát triển nhanh các “năng lực người” ngay trong quá trình học.

■ Nội dung bài học

vấn đề Mỗi vấn đề được chia làm ba bước: Bước đầu tiên là HS tự học để nắm được kiến thức; Bước thứ hai là HS vận dụng những kiến thức để giải quyết nhiệm vụ trực tiếp; Bước thứ ba là ứng dụng những kiến thức đó vào điều kiện thực tế của nhà trường, của cộng đồng, gia đình

Chính nhũng nội dung dạy học được thiết kế như vậy đã đảm bảo được kiến thức có tính thực tiễn và đảm bảo HS được tự học, chứ không phải chỉ ngồi nghe GV giảng bài Trong quá trình HS học theo nhóm, GV quan sát tùng

HS, quan sát nhóm HS, phát hiện những HS gặp khó khăn trong học tập để giúp đỡ kịp thời và đánh giá các em hoàn thành từng bước một Mỗi bước, GV

có sự động viên, khích lệ để các em chuyển sang bước tiếp theo được tốt hơn Việc thiết kế nội dung và quy trình dạy học như vậy vừa đảm bảo kiến thức thực tiễn, vừa tránh hàn lâm và vừa đảm bảo tính tự giác học tập của các em

■ Tài liệu Hướng dẫn học

Tài liệu hướng dẫn học tập các môn học theo VNEN được thiết kế theo Chuẩn Kiến thức - Kỹ năng của Chương trình GDPT cấp tiểu học (Quyết định 16/2006/ QĐ - BGDĐT); các đơn vị kiến thức - kỹ năng dựa trên sách giáo

Trang 24

khoa hiện hành được thiết kế lại khoa học hơn, dành cho HS tự học dưới sự hướng dẫn của GV Tài liệu dạy và học trong mô hình trường học mới được gọi là “tài liệu 3 trong 1” Vì tài liệu “Hướng dẫn học tập” thay thế 3 loại sách: Sách giáo khoa, sách giáo viên, vở bài tập Do đó, chỉ cần một quyển sách HS có thể tự học, tự’ làm bài; GV chỉ cần nhìn vào đó để hướng dẫn HS tụ’ học, phụ huynh cũng có thể sử dụng để hướng dẫn con em mình mà không cần bất cứ một tài liệu hỗ trợ nào khác Đa số kênh hình và kênh chữ trong tài liệu rõ ràng, dễ hiểu, giúp HS tiếp cận bài học một cách dễ dàng Tài liệu thể hiện sự tương tác giữa HS, GV và phụ huynh HS, cộng đồng Tài liệu được thiết kế là một chuỗi các hoạt động: Hoạt động cơ bản, hoạt động thực hành, hoạt động ứng dụng nhằm giúp HS tích cực, tự giác, hứng thú trong việc chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng phù họp với đặc điểm, trình độ của từng đối tượng Tài liệu còn có tác dụng hướng dẫn HS biết cách khai thác tài liệu, sử dụng đồ dùng học tập trong “Thư viện lớp” hay tại các “Góc học tập”, “Góc cộng đồng” phục vụ cho từng bài học Hơn thế nữa, tài liệu còn giúp GV thuận lợi hơn trong việc đổi mới phương pháp dạy học: GV giữ vai trò là người tổ chức, điều hành, giám sát, hỗ trợ HS trong quá trình học tập Bên cạnh đó, tài liệu còn chú trọng các hoạt động ứng dụng sau mỗi bài học, giúp

HS biết vận dụng kiến thức được học vào thực tiễn, thấy rõ lợi ích thiết thực

từ những điều được học đối với bản thân, gia đình, cộng đồng Đồng thời tài liệu cũng tạo điều kiện để cộng đồng tham gia vào quá trình giáo dục HS Cộng đồng giúp đỡ HS về cơ sở vật chất, động viên về tinh thần, mở rộng kiến thức về thực tế đời sống, trang bị cho HS những kĩ năng sống

GV hướng dẫn HS chủ động làm theo định hướng của quy trình 10 bước học tập:

Bước 1 : Chúng em làm việc nhóm

Ngày đăng: 06/11/2015, 10:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w