ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN NGUYỄN KHÁNH HÒA HỆ THỐNG CHỨC DANH NGHỀ NGHIỆP, CÁC CHUẨN KỸ NĂNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
NGUYỄN KHÁNH HÒA
HỆ THỐNG CHỨC DANH NGHỀ NGHIỆP, CÁC CHUẨN KỸ NĂNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
NGUYỄN KHÁNH HÒA
HỆ THỐNG CHỨC DANH NGHỀ NGHIỆP, CÁC CHUẨN KỸ NĂNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở VIỆT NAM
Ngành: Công nghệ thông tin
Chuyên ngành: Quản lý Hệ thống thông tin
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS-TS Nguyễn Đình Hóa
Hà Nội - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ học hàm, học vị nào Các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Học viên thực hiện Luận văn
Nguyễn Khánh Hòa
Trang 4MỤC LỤC
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG ĐÀO TẠO NGUỒN
NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN, HỆ THỐNG CHỨC DANH
NGHỀ NGHIỆP VÀ CHUẨN KỸ NĂNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
11
1.1 Cơ sở lý luận về hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT 11
1.1.2 Đào tạo nguồn nhân lực CNTT dưới góc nhìn lý thuyết hệ thống 13
1.2.2 Hệ thống chức danh nghề nghiệp CNTT trên thế giới 19 1.2.3 Hệ thống chức danh nghề nghiệp CNTT ở Việt Nam 20
1.3.4 Việc xây dựng, áp dụng một số chuẩn kỹ năng CNTT ở Việt Nam 32 Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở VIỆT NAM
36
Trang 52.1.3 Đào tạo ngắn hạn 38
2.4 Đánh giá chung về đào tạo nguồn nhân lực CNTT ở Việt Nam giai
đoạn 2010 – 2013
45
2.4.2 Khó khăn, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế 47 Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI ĐÀO TẠO NGUỒN
NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU
THỰC TẾ
50
3.1 Mục tiêu và những nội dung đổi mới giáo dục đại học và giáo dục
nghề nghiệp trong giai đoạn hiện nay
50
3.1.2 Những nội dung đổi mới giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp
trong giai đoạn hiện nay
50
3.2 Một số giải pháp đổi mới đào tạo nguồn nhân lực CNTT đáp ứng
yêu cầu thực tế
52
3.2.1 Đổi mới chương trình, nội dung đào tạo, phương pháp dạy và học,
đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo nhằm đạt chuẩn kiến thức, kỹ
năng nghề nghiệp CNTT
52
3.2.2 Phối hợp chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp trong đào
tạo nguồn nhân lực CNTT
56
3.2.3 Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng các kỹ năng mềm và nâng cao khả
năng ngoại ngữ (đặc biệt là tiếng Anh) cho học sinh, sinh viên ngành
CNTT
60
3.2.4 Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý
và tăng cường các điều kiện tài chính, cơ sở vật chất, trang thiết bị học
tập đáp ứng yêu cầu đổi mới đào tạo nguồn nhân lực CNTT
tin trình độ cao ở Nhật Bản
78
Trang 6Phụ lục 5: Các chức danh công việc nghề CNTT của nhóm Máy tính và
Hệ thống thông tin quản lý ở Canada
79
Phụ lục 6: Chuẩn kỹ năng CNTT chuyên nghiệp của Nhật Bản 81
Phụ lục 8: Chuẩn kỹ năng CNTT chuyên nghiệp, tổng quan và triển khai
trên toàn thế giới
102
Phụ lục 9: Một số chứng chỉ quốc tế về CNTT chuyên nghiệp tại Việt
Nam hiện nay
104
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7Chữ viết tắt Diễn giải
CIO (Chief of Information Officer) Giám đốc công nghệ thông tin
Hội tin học thành phố Hồ Chí Minh
ITPEC (IT Professional Examination
Council)
Hội đồng thi chuyên nghiệp CNTT
ITSS (Skill Standards for IT
VINASA (Vietnam Software and IT
ABET (Accreditation Board for
Engineering and Technology)
Hội đồng Kiểm định Kỹ thuật và Công nghệ (Mỹ)
BCS (British Computer Society) Hội tin học Anh
NOC (National Occupational
Classification)
Phân loại nghề nghiệp Quốc gia (Canada)
DANH MỤC CÁC BẢNG VẼ
Trang 8Trang Bảng 2.1: Quy mô đào tạo nhân lực CNTT-TT bậc đại học,
Bảng 2.4: Dự báo nhu cầu nhân lực ứng dụng CNTT trong cơ
quan nhà nước và trong cộng đồng đến năm 2015 và 2020
41
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Trang
Hình 1.2: Mối liên hệ ngược giữa đầu vào và đầu ra của hệ
thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT
18
Hình 1.3: Quan hệ giữa Nhà nước, người sử dụng lao động,
người lao động và cơ sở đào tạo thông qua các chuẩn
31
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Công nghệ thông tin (CNTT) là một trong những động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của thế giới Nền kinh tế công nghiệp đang chuyển sang nền kinh tế tri thức Việt Nam là một nước đang phát triển, đang trong giai đoạn “Dân số vàng” nếu không xây dựng cơ sở hạ tầng theo kế hoạch sẽ phải đối đầu với nguy cơ mắc “Bẫy thu nhập trung bình” mà khó có thể thoát ra được Nếu như trước đây, vai trò của CNTT được coi là “Hạ tầng của hạ tầng” của nền kinh tế, thì tại Diễn đàn cấp cao về công nghệ thông tin - truyền thông (CNTT-TT) Việt Nam năm 2013 (ICT Summit 2013) [1], Thủ tướng Chính phủ đã khẳng định: “CNTT là nền tảng của phương thức phát triển mới, là con đường ngắn nhất để Việt Nam tiến kịp các nước phát triển, tiến
kịp thời đại” Như vậy, vai trò của CNTT đã được nâng tầm thành “Phương thức
phát triển” Tại Diễn đàn cấp cao CNTT-TT Việt Nam ASOCIO 2014 (Vietnam
- ASOCIO ICT Summit 2014) [44], vai trò của CNTT được tiếp tục khẳng định:
“Tầm nhìn CNTT là phương thức phát triển mới, là cơ hội và nền tảng thiết yếu cho mọi quốc gia phát triển, là con đường nhanh nhất vươn đến sự thịnh vượng” Với vai trò này, phát triển nguồn nhân lực CNTT sẽ là con đường tất yếu để hình thành xã hội thông tin, góp phần tăng trưởng kinh tế nhanh, mạnh, bền vững, tạo khả năng đi tắt, đón đầu, rút ngắn quá trình công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) và chủ động hội nhập kinh tế thế giới, trong đó phát triển nguồn nhân lực CNTT chất lượng cao là khâu đột phá, có ý nghĩa quyết định thành công Nhiệm vụ đào tạo gắn với thị trường lao động mà đặc biệt là gắn với từng chức danh nghề nghiệp của nhân lực trong lĩnh vực CNTT, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng tạo nên chất lượng, hiệu quả trong khi nền kinh tế nước ta đang phải đối mặt trước nhiều thách thức và ngày càng tham gia hội nhập sâu vào Tổ chức Thương mại thế giới “Kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực CNTT đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020” theo Quyết định số 698/2009/QĐ-TTg ngày 01/06/2009 [40] Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt trong đó khẳng định: “Phát triển nguồn nhân lực CNTT là yếu tố then chốt có ý nghĩa quyết định đối với việc phát triển và ứng dụng CNTT Phát triển nguồn nhân lực CNTT phải đảm bảo chất lượng, đồng bộ, chú trọng tăng nhanh tỷ lệ nguồn nhân lực có trình độ cao” Để đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực CNTT phải nâng cao chất lượng đào tạo
Trang 10Thực trạng hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT trong những năm gần đây tiếp tục được duy trì, ổn định về quy mô và hình thức đào tạo, chất lượng đào tạo ngày càng được nâng cao, đặc biệt việc đào tạo nguồn nhân lực CNTT chất lượng cao đã được chú trọng Tuy nhiên, nói đến vấn đề đào tạo nguồn nhân lực CNTT phải hình dung đầy đủ đối tượng cần đào tạo, nhưng cho đến nay chúng ta chưa xây dựng được một hệ thống chức danh nghề nghiệp CNTT, đây là vấn đề cơ bản và rất cần thiết cho việc định hướng đào tạo nguồn nhân lực CNTT ở nước ta
Muốn có một chiến lược đào tạo đúng đắn, phù hợp phải biết nhu cầu của thị trường, xác định rõ hệ thống chức danh nghề nghiệp, các trình độ cho từng chức danh, chương trình đào tạo cho từng trình độ của từng chức danh tương ứng với chuẩn kỹ năng CNTT đã xây dựng Đến nay, chưa có một khảo sát, thống kê đầy đủ về chức danh nghề nghiệp CNTT để có nhận định một cách chính xác, làm cơ sở để tìm chiến lược phát triển nhân lực CNTT cụ thể hơn Do vậy, việc nghiên cứu các vấn đề về hệ thống chức danh nghề nghiệp, chuẩn kỹ năng CNTT và vấn đề đào tạo nguồn nhân lực CNTT là rất cần thiết, có tính cấp
bách về ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn Đó là lý do tôi chọn đề tài “Hệ
thống chức danh nghề nghiệp, các chuẩn kỹ năng CNTT và giải pháp đổi mới đào tạo nguồn nhân lực CNTT ở Việt Nam” làm luận văn cao học chuyên ngành
Quản lý Hệ thống thông tin
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT, hệ thống chức danh nghề nghiệp và chuẩn kỹ năng CNTT Phân tích thực trạng về đào tạo nguồn nhân lực CNTT, từ đó đề xuất một số giải pháp đổi mới đào tạo nguồn nhân lực CNTT ở Việt Nam hiện nay
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT, hệ thống chức danh nghề nghiệp và chuẩn kỹ năng CNTT
- Phân tích thực trạng về đào tạo nguồn nhân lực CNTT ở Việt Nam giai đoạn 2010 - 2013, đánh giá chung về thuận lợi và kết quả đạt được, khó khăn, hạn chế và làm rõ nguyên nhân của những hạn chế
- Đề xuất và phân tích một số giải pháp đổi mới đào tạo nguồn nhân lực CNTT
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề về hệ thống chức danh nghề nghiệp, chuẩn kỹ năng CNTT và đào tạo nguồn nhân lực CNTT ở Việt Nam
Trang 11- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu những vấn đề chung về hệ thống chức danh nghề nghiệp, chuẩn kỹ năng CNTT và đào tạo nguồn nhân lực CNTT trình
độ đại học, cao đẳng và đào tạo nghề chuyên ngành CNTT ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2013
5 Phương pháp nghiên cứu
- Đọc, phân tích - tổng hợp , diễn dịch - quy nạp, thống kê, so sánh, tổng kết thực tiễn
- Thu thập và xử lý thông tin, các số liệu được sử dụng trong luận văn chủ yếu được thu thập qua các sách, bài báo, các báo cáo đánh giá, tổng kết của Bộ Thông tin và Truyền thông (TT&TT), Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng cục Dạy nghề trực thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các văn bản của Nhà nước
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương :
Chương 1 Cơ sở lý luận về hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT, hệ thống chức danh nghề nghiệp và chuẩn kỹ năng CNTT
Chương 2 Thực trạng về đào tạo nguồn nhân lực CNTT ở Việt Nam Chương 3 Một số giải pháp đổi mới đào tạo nguồn nhân lực CNTT đáp
ứng yêu cầu thực tế
Trang 12Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN, HỆ THỐNG CHỨC DANH NGHỀ NGHIỆP VÀ CHUẨN KỸ NĂNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
1.1 Cơ sở lý luận về hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT
Việc đào tạo nguồn nhân lực CNTT được tiến hành bởi hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT Vận dụng lý thuyết hệ thống có thể làm rõ hơn một số vấn đề cần giải quyết trong lĩnh vực này Trước khi đi vào chi tiết cần làm rõ một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực CNTT
Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm nguồn nhân lực, tuỳ theo góc
độ xem xét vấn đề
Theo Liên hợp quốc [52]: ”Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến
thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng”
Theo các nhà khoa học tham gia chương trình KX-07 [50]: “Nguồn nhân
lực được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh
thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động”
Theo giáo trình “Nguồn nhân lực” của Nhà xuất bản Lao động xã hội
[43]: “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không
phân biệt người đó đang được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào
và có thể coi đây là nguồn nhân lực xã hội”
Từ những cách hiểu khái niệm “Nguồn nhân lực” như nói trên, có thể định nghĩa khái niệm nguồn nhân lực CNTT một cách tổng quát như sau:
Nguồn nhân lực CNTT là nguồn lực con người có trình độ, năng lực hoặc
tiềm năng (trí lực, tâm lực và thể lực) tham gia hoạt động trong lĩnh vực CNTT
để duy trì và phát triển lĩnh vực này
Các định nghĩa cụ thể hơn:
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia [2]:
“Nhân lực CNTT Việt Nam là nguồn nhân lực làm việc trong các doanh
nghiệp điện tử, viễn thông, doanh nghiệp công nghiệp CNTT; nhân lực cho ứng dụng CNTT; nhân lực cho đào tạo CNTT, điện tử, viễn thông và người dân sử dụng các ứng dụng CNTT Nguồn nhân lực này là yếu tố then chốt có ý nghĩa quyết định đối với việc ứng dụng và phát triển CNTT tại Việt Nam.”
Trang 13Theo “Kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực CNTT đến năm 2015
và định hướng đến 2020”, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 698/2009/QĐ-TTg ngày 01/06/2009 [40]:
“Nhân lực CNTT là nhân lực làm công tác đào tạo về CNTT, điện tử, viễn
thông; nhân lực chuyên nghiệp về CNTT, điện tử, viễn thông làm trong các doanh nghiệp và công nghiệp; nhân lực cho ứng dụng CNTT của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp; cán bộ, viên chức và mọi người dân sử dụng, ứng dụng CNTT.”
Theo “Quy hoạch phát triển nhân lực ngành TT&TT giai đoạn 2011- 2020” Bộ trưởng Bộ TT&TT phê duyệt tại Quyết định số 896/2012/QĐ-BTTTT ngày 28/05/2012 [9] đã xác định về nhân lực CNTT Nhân lực CNTT chuyên nghiệp bao gồm: nhân lực công nghiệp phần cứng, nhân lực công nghiệp phần mềm, nhân lực công nghiệp nội dung số Nhân lực ứng dụng CNTT bao gồm: nhân lực ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước, nhân lực ứng dụng CNTT trong tổ chức, doanh nghiệp và trong cộng đồng
Nhân lực CNTT chuyên nghiệp
Nhân lực ứng dụng CNTT
Nhân lực công nghiệp nội dung
số
Trong tổ chức, doanh nghiệp
Trong cơ quan nhà nước
Trong cộng đồng
Trang 14Như vậy, theo góc độ quản lý nhà nước, nhân lực CNTT được phân loại theo lĩnh vực hoạt động trong nền kinh tế - xã hội, thể hiện ở hình minh họa 1.1, trong đó lĩnh vực đào tạo CNTT được tách riêng do tầm quan trọng của nhóm này
Có thể thấy rằng cách phân loại này không căn cứ vào bản thân con người đang xét Một kỹ sư CNTT làm việc chuyên về CNTT trong một ngân hàng sẽ được xếp vào nhóm nhân lực ứng dụng CNTT chứ không phải nhân lực CNTT chuyên nghiệp Diễn đạt một cách chính xác thì phải nói rõ đó là nhân lực CNTT trong khu vực CNTT-TT của nền kinh tế - xã hội và nhân lực CNTT trong các khu vực còn lại
Dưới góc độ đào tạo nguồn nhân lực và trong khuôn khổ nghiên cứu của luận văn này, cần chia nhân lực CNTT làm hai phạm trù chuyên nghiệp CNTT hay ứng dụng CNTT căn cứ vào chính bản thân con người đó
a) Nhân lực CNTT chuyên nghiệp: người được đào tạo nghề nghiệp về CNTT và làm việc chuyên môn về CNTT để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ CNTT
b) Nhân lực ứng dụng CNTT: không làm việc chuyên môn về CNTT, chỉ
sử dụng CNTT trong công việc hàng ngày
1.1.2 Đào tạo nguồn nhân lực CNTT dưới góc nhìn lý thuyết hệ thống
Lý thuyết hệ thống [36] nghiên cứu và giải quyết các vấn đề đặt ra theo quan điểm toàn diện, quan điểm hệ thống Một trong những tiền đề cơ bản của quan điểm này là mọi sự vật, hiện tượng luôn tồn tại vận động và phát triển trong mối quan hệ qua lại, tác động chi phối lẫn nhau, qua đó hình thành nên những nhóm sự vật và hiện tượng có cùng chung những thuộc tính, tính chất hoặc chức năng, mục tiêu hay là những hệ thống Lý thuyết hệ thống bao gồm hàng loạt các phạm trù, khái niệm, ta có thể vận dụng một số khái niệm cơ bản của hệ thống vào nghiên cứu hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT
Khái niệm hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT
Theo lý thuyết hệ thống:
“Hệ thống là tập hợp các thành tố (phần tử) có mối liên hệ và quan hệ mật
thiết, tác động hữu cơ, chi phối lẫn nhau theo quy luật nhất định để tạo thành một chỉnh thể (còn gọi là hệ toàn vẹn hay hệ tích hợp) Từ đó làm xuất hiện những thuộc tính mới của hệ thống, mà từng thành tố riêng lẻ trước đó không có hoặc có nhưng không đáng kể.”
Như vậy dựa trên khái niệm chung về hệ thống, khái niệm hệ thống đào tạo
nguồn nhân lực CNTT bao hàm các đặc trưng cụ thể sau:
Trang 15- Là tập hợp các thành tố (phần tử) có quan hệ chặt chẽ với nhau Theo luật Giáo dục năm 2005 [33] và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục năm 2009 [34] , các thành tố của hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT bao gồm các cơ sở giáo dục đại học (trường đại học, trường cao đẳng), cơ sở giáo dục nghề nghiệp (trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề, trường trung cấp chuyên nghiệp, trung tâm dạy nghề, lớp dạy nghề), cơ sở giáo dục thường xuyên (trung tâm tin học, trung tâm giáo dục thường xuyên) có đào tạo nguồn nhân lực CNTT
- Các thành tố này có tính độc lập tương đối, có vai trò, vị trí, chức năng chuyên biệt, tạo thành một chỉnh thể có mục tiêu, chức năng chung là đào tạo nguồn nhân lực CNTT
- Có cơ cấu tổ chức, vận hành, điều khiển và điều chỉnh trong môi trường nhất định, luôn có mối quan hệ tương tác với môi trường, duy trì cân bằng động với môi trường xã hội
Mục tiêu và chức năng của hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT Mục tiêu của hệ thống là trạng thái mong đợi cần có của hệ thống sau một
thời gian nhất định Sự hoạt động của hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT phải nhằm đạt được mục tiêu của hệ thống phản ánh các yêu cầu của xã hội, thị trường lao động Mục tiêu của hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT được xác định cụ thể dần từ mục tiêu chung (mục tiêu tổng quát) đến mục tiêu cụ thể (mục tiêu bộ phận cho từng phân hệ giáo dục, trình độ đào tạo, chương trình đào tạo, )
Chức năng của hệ thống là khả năng hoạt động của hệ thống trong việc
biến đầu vào thành đầu ra, là khả năng “biến đổi” trạng thái của hệ thống hay là phản ứng của hệ đối với các tác động lên hệ Do đó, có thể hiểu chức năng của
hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT là khả năng “biến đổi” trạng thái của hệ thống thông qua việc thực hiện quá trình đào tạo để biến đầu vào thành đầu ra Nói cách khác, bằng những hoạt động có chủ định, có kế hoạch, có hệ thống, tổ chức, hướng đích, hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT thực hiện chức năng đào tạo nguồn nhân lực CNTT theo yêu cầu của xã hội, thị trường lao động Chức năng của hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT gắn với mục tiêu của hệ thống (mục tiêu chung và mục tiêu riêng của mỗi bộ phận)
“Kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực CNTT đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020” do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định
số 698/2009/QĐ-TTg ngày 01/06/2009 [40] và Đề án “ Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về CNTT” do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 1755/2010/QĐ-TTg ngày 22/09/2010 [41] đã xác định mục tiêu của hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT đến năm 2015 và định hướng phát triển đến năm 2020 là:
Trang 16Mục tiêu chung
- Phát triển mạnh nguồn nhân lực CNTT nhằm đảm bảo có đủ nhân lực phục vụ nhu cầu thị trường trong nước và một phần thị trường nước ngoài Xây dựng nguồn nhân lực CNTT đủ phẩm chất, năng lực làm chủ công nghệ, kỹ thuật hiện đại, với cơ cấu hợp lý, đáp ứng kịp thời và thường xuyên nhu cầu xây dựng
và phát triển xã hội thông tin, kinh tế tri thức, sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
- Hiện đại hóa, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của hệ thống đào tạo nhân lực CNTT để trình độ đào tạo nhân lực CNTT của nước ta tiếp cận trình
độ quốc tế và tham gia thị trường đào tạo nhân lực quốc tế Từng bước trở thành một trong những nước cung cấp nhân lực CNTT chất lượng cao cho các nước trong khu vực và trên thế giới
- Không ngừng nâng cao nhận thức, phổ cập kiến thức và kỹ năng sử dụng các ứng dụng và dịch vụ CNTT cho toàn xã hội
Mục tiêu cụ thể về đào tạo nhân lực CNTT chuyên nghiệp
- Tạo được bước chuyển biến đột phá về chất lượng trong đào tạo nguồn nhân lực CNTT Đào tạo CNTT ở các trường đại học đạt trình độ và chất lượng tiên tiến trong khu vực các nước Đông Nam Á
+ Đến năm 2015: 30% số lượng sinh viên CNTT, điện tử, viễn thông sau khi tốt nghiệp ở các trường đại học có đủ khả năng chuyên môn và ngoại ngữ để
có thể tham gia thị trường lao động quốc tế
+ Đến năm năm 2020: đào tạo CNTT, điện tử, viễn thông tại nhiều trường đại học đạt trình độ quốc tế, 80% sinh viên CNTT và truyền thông tốt nghiệp ở các trường đại học đủ khả năng chuyên môn và ngoại ngữ để tham gia thị trường lao động quốc tế Tổng số nhân lực tham gia hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp CNTT đạt 1.000.000 người, trong đó bao gồm nhân lực hoạt động trong nước và nhân lực tham gia xuất khẩu
- Tăng cường xây dựng đội ngũ giảng viên, giáo viên CNTT, nâng cao chất lượng và số lượng giảng viên, giáo viên CNTT, điện tử, viễn thông ở các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và các cơ sở dạy nghề
+ Đến năm 2015, ở bậc đại học, cao đẳng đảm bảo tỷ lệ trung bình 15 –
20 sinh viên có 1 giảng viên CNTT; 70% giảng viên đại học và trên 50% giảng viên cao đẳng có trình độ thạc sĩ trở lên, trên 50% giảng viên đại học và ít nhất 10% giảng viên cao đẳng có trình độ tiến sĩ
+ Đến năm 2020, trên 90% giảng viên đại học và trên 70% giảng viên cao đẳng có trình độ thạc sĩ trở lên, trên 75% giảng viên đại học và ít nhất 20% giảng viên cao đẳng có trình độ tiến sĩ
Trang 17- Đảm bảo đủ nhân lực đáp ứng được sự phát triển của các doanh nghiệp trong lĩnh vực CNTT và truyền thông Từ nay đến năm 2015, cung cấp cho các doanh nghiệp 250.000 lao động chuyên môn về CNTT, điện tử, viễn thông có trình độ từ trung cấp chuyên nghiệp và sơ cấp nghề (đào tạo 1 năm) trở lên, trong đó có 50% lao động có trình độ cao đẳng, đại học và 5% có trình độ thạc sĩ trở lên
Mục tiêu cụ thể về đào tạo nhân lực ứng dụng CNTT
- Đào tạo cán bộ chuyên trách CNTT có trình độ cao đẳng hoặc tương đương trở lên đáp ứng đủ cho các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, các cơ sở nghiên cứu, trường đại học, cao đẳng và cán bộ chuyên trách trình độ trung cấp chuyên nghiệp trở lên ở cơ sở giáo dục tiểu học, giáo dục trung học
- Bồi dưỡng chuyên môn về CNTT cho các cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các
Bộ, ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Đảm bảo đa số cán bộ, công chức, viên chức được đào tạo về ứng dụng CNTT trong công việc của mình
- Đẩy mạnh việc phổ cập kiến thức và kỹ năng ứng dụng CNTT Đảm bảo 100% học sinh trung cấp chuyên nghiệp và học nghề được đào tạo các kiến thức
và kỹ năng ứng dụng về CNTT Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng và xây dựng đội ngũ giáo viên dạy tin học cho các cơ sở giáo dục phổ thông Đến năm 2020, toàn
bộ học sinh các cơ sở giáo dục phổ thông và các cơ sở giáo dục khác được học ứng dụng CNTT
Đầu vào, đầu ra, trạng thái và môi trường của hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT
Nhà trường, cơ sở đào tạo nhân lực CNTT là đơn vị cấu trúc cơ bản của hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT
Đầu vào của hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT bao gồm các thành tố
cơ bản là: người học, người dạy, cán bộ quản lý (CBQL), chương trình đào tạo, giáo trình, cơ sở vật chất (CSVC), phương tiện giảng dạy và học tập, đầu tư tài chính, chính sách của Nhà nước, công tác quản lý (CTQL) của Nhà nước và của nhà trường, sự tham gia của xã hội, điều kiện môi trường kinh tế - xã hội trong
và ngoài nước
Đầu ra của hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT là chất lượng, hiệu
quả đào tạo, là sản phẩm đào tạo (người tốt nghiệp)
Chất lượng đào tạo nguồn nhân lực CNTT là kết quả đào tạo của toàn bộ quá trình đào tạo (nội dung đào tạo, phương pháp dạy của thầy, phương pháp học của trò, hình thức tổ chức dạy và học, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ để phục vụ đào tạo) và được thể hiện cụ thể ở các phẩm chất giá trị nhân cách, năng lực nghề nghiệp (tri thức, kỹ năng, thái độ đạo đức nghề
Trang 18nghiệp: tri thức là kiến thức cơ bản và chuyên sâu về nghề trong lĩnh vực CNTT,
kỹ năng bao gồm các kỹ năng chuyên môn và kỹ năng mềm) của người tốt nghiệp
Hiệu quả đào tạo là kết quả đào tạo được xem xét trên cơ sở căn cứ vào mối quan hệ chung giữa sự đầu tư của Nhà nước và xã hội về mọi mặt cho hệ thống đào tạo với kết quả thực tế thu được trong môi trường xã hội và thời gian nhất định (khả năng thích ứng của sản phẩm đào tạo với môi trường xã hội)
Trạng thái của hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT được biểu hiện ở
khả năng kết hợp giữa đầu vào và đầu ra của hệ thống, ở chất và lượng của các thành tố đầu vào và đầu ra thông qua việc thực hiện quá trình đào tạo xét ở một thời điểm hoặc khoảng thời gian nhất định Vì vậy, đánh giá thực trạng hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT là việc xem xét trạng thái của hệ thống, xem xét khả năng kết hợp chất và lượng các thành tố đầu vào và đầu ra, thành tố quá trình (nội dung, phương pháp dạy của giáo viên, phương pháp học của học sinh, hình thức tổ chức dạy và học, ) của hệ thống xét ở một thời điểm hoặc khoảng thời gian nhất định
Môi trường là điều kiện cho sự tồn tại và hoạt động của hệ thống Mỗi hệ
đều gắn liền với môi trường (với ngoại giới) bằng những mối quan hệ qua lại Cũng như các hệ kinh tế - xã hội khác, hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT luôn chịu sự chi phối tác động của môi trường kinh tế - xã hội cả trong và ngoài nước Vì vậy, hệ bao giờ cũng tìm cách thích nghi với tác động của môi trường kinh tế - xã hội
Theo lý thuyết hệ thống, đầu vào của hệ thống là những tác động từ môi trường lên hệ thống Đầu ra của hệ thống là các phản ứng trở lại của hệ thống với môi trường Như vậy giữa đầu vào và đầu ra của hệ thống luôn có mối liên
hệ ngược Môi trường kinh tế - xã hội luôn vận động và phát triển, để có được sản phẩm đào tạo (người tốt nghiệp) đáp ứng yêu cầu của xã hội, thị trường lao động thì sản phẩm này luôn phải được đánh giá, từ đó điều chỉnh các thành tố đầu vào và thành tố của quá trình đào tạo để đạt được sản phẩm đào tạo có chất lượng và hiệu quả cao hơn Nói cách khác, mục tiêu quan trọng mà hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT phải đạt được là chất lượng và hiệu quả đào tạo Chất lượng đào tạo là mức độ đạt được mục tiêu đào tạo Vì vậy trong đào tạo nguồn nhân lực luôn phải duy trì mối liên hệ ngược, phải đánh giá được chất lượng đào tạo (thành tố đầu ra), từ đó điều chỉnh các thành tố đầu vào và thành tố của quá trình đào tạo để hệ thống đào tạo tiếp cận được với mục tiêu đã đề ra
Những vấn đề phân tích nêu trên được thể hiện ở hình 1.2 sau:
Trang 19
Hình 1.2 : Mối liên hệ ngược giữa đầu vào và đầu ra của hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT
1.2 Hệ thống chức danh nghề nghiệp CNTT
1.2.1 Khái niệm chức danh nghề nghiệp
Trước tiên, cần phân biệt chức danh không phải là chức vụ Chức danh và chức vụ đều gắn với vị trí việc làm, nhưng chức danh thường gắn với vị trí việc làm nhiều hơn, trong khi chức vụ thường gắn với trách nhiệm nhiều hơn
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia [2]:
“Chức danh là chức phận về danh tính của một người được xã hội công
nhận Ví dụ như giáo sư, bác sĩ, dược sĩ, tiến sĩ, thạc sĩ, cử nhân ”
“Chức vụ là sự đảm nhiệm một vai trò, địa vị nào đó trong một tổ chức,
một tập thể Ví dụ như Tổng thống, Chủ tịch, Thủ tướng đối với một quốc gia; Giám đốc, Trưởng phòng đối với một tổ chức kinh doanh.”
Theo quy định tại Điều 7, Luật Viên chức năm 2010 [35]:
“Vị trí việc làm là công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý tương ứng” và “Chức danh nghề nghiệp được xây
Quá trình ĐT (ND, PP, HTTC dạy và học, NCKH và PTCN)
Mối liên hệ ngược
Môi trường kinh tế - xã hội
ĐT (người tốt nghiệp) + Phẩm chất giá trị nhân cách
+ Năng lực nghề nghiệp (tri thức, kỹ năng, thái độ)
- Sản phẩm NCKH, dịch vụ xã hội
Trang 20dựng, quy định theo hệ thống danh mục, tiêu chuẩn và mã số chức danh nghề nghiệp”
Theo quy định tại Điều 8, Luật Viên chức:
“Chức danh nghề nghiệp là tên gọi thể hiện trình độ và năng lực chuyên
môn, nghiệp vụ của viên chức trong từng lĩnh vực nghề nghiệp.”
Thông tư số 12/2012/TT-BNV ngày 18/12/2012 [8] của Bộ Nội vụ “Quy định về chức danh nghề nghiệp và thay đổi chức danh nghề nghiệp đối với viên chức”, Điều 5 quy định kết cấu chung của tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp Mỗi chức danh nghề nghiệp được kết cấu bao gồm:
- Tên và hạng của chức danh nghề nghiệp (từ hạng I đến hạng IV theo quy định tại Khoản 2, Điều 3 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12/04/2012 của chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng, quản lý viên chức);
- Nhiệm vụ: liệt kê chi tiết và cụ thể những công việc phải thực hiện có mức độ phức tạp phù hợp với hạng chức danh nghề nghiệp;
- Tiêu chuẩn về đạo đức nghề nghiệp;
- Tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng;
- Tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ
Như vậy, chức danh thường gắn với mô tả vị trí việc làm, nhiệm vụ, yêu cầu về trình độ, hiểu biết Kèm theo đó là các quy chế đánh giá, công nhận, chuyển đổi ngạch chức danh và chế độ đãi ngộ
1.2.2 Hệ thống chức danh nghề nghiệp CNTT trên thế giới
Dưới đây sẽ điểm qua hệ thống chức danh nghề nghiệp CNTT của một số nước tiêu biểu trên thế giới [27, 47, 48, 49, 51]
Ở Mỹ: theo văn phòng Thống Kê Lao Động Mỹ (Bureau of Labor
Statistics,U.S.), nghề CNTT có các chức danh chính sau:
- Nhà Khoa học máy tính và Quản trị cơ sở dữ liệu (Computers Scientists and Database Administrators)
- Kỹ sư phần cứng máy tính (Computers hardware Engineers)
- Kỹ sư phần mềm máy tính (Computers software Engineers)
- Người phân tích hệ thống (Systems Analysts)
- Người lập trình máy tính (Computers Programmers)
Cụ thể hơn, người ta chẻ nhỏ những chức danh trên rồi tập hợp chúng lại trong 2 lĩnh vực: Nghiên cứu phát triển (Development) và Dịch vụ (Services)
Trong “Nghiên cứu phát triển” được chia ra 6 lĩnh vực nhỏ hơn và có những chức danh như Nhà phân tích, Nhà thiết kế, Lập trình viên, Kỹ sư phần mềm, Chuyên gia nghiên cứu và phát triển, Nhà thiết kế đa phương tiện, Lập trình viên Internet, Chuyên gia thương mại điện tử, Nhà truyền thông dữ liệu
Trang 21Chức danh Kỹ sư phần mềm lại gồm Kỹ sư phần mềm ứng dụng và Kỹ sư phần mềm hệ thống Trong “Dịch vụ” được chia thành 7 lĩnh vực nhỏ hơn và có những chức danh như Nhà quản trị mạng, Nhà điều hành mạng, Kỹ sư mạng, Kỹ thuật viên thao tác mạng, Phân tích viên kinh doanh, Giảng viên CNTT, Người điều hành tiếp thị, Người điều hành quản trị cơ sở dữ liệu, Phân tích viên cơ sở
dữ liệu, Chuyên gia cơ sở dữ liệu, Chủ công sở CNTT,
Ta có thể tham khảo cụ thể hơn về danh sách các chức danh nghề nghiệp CNTT gồm 52 chức danh do Alison Doyle chuyên gia nghiên cứu nghề nghiệp ở
Mỹ đã đưa ra [Phụ lục 1] và theo Công nghệ Robert Half có 60 chức danh CNTT khác nhau và được phân vào 11 nhóm công việc nghề [Phụ lục 2]
Ở Nhật Bản: theo Cục Xúc tiến CNTT Nhật Bản (IPA - Information
technology Promotion Agency), có 35 lĩnh vực chuyên môn khác nhau với chức danh tương ứng, phân vào 11 nhóm công việc nghề và phân theo 7 cấp trình độ [Phụ lục 3] Trong Hệ thống chương trình chuẩn đào tạo kỹ sư xử lý thông tin trình độ cao ở Nhật Bản, có đào tạo một số chức danh như Kỹ sư phân tích hệ thống, Kỹ sư thiết kế hệ thống ứng dụng, Kỹ sư kiểm tra hệ thống, Kỹ sư sản xuất, Kỹ sư quản lý dự án, Kỹ sư vận hành và quản trị hệ thống, Kỹ sư phát triển, Kỹ sư thiết kế và sản xuất phần mềm, Kỹ sư dạy nghề, Kỹ sư hướng dẫn, Quản trị hệ thống gồm: Kỹ sư hệ thống máy tính cao cấp, quản trị hệ thống hạng
I, quản trị hệ thống hạng II, Chuyên viên kỹ thuật gồm: Chuyên viên kỹ thuật mạng, Chuyên viên kỹ thuật dữ liệu, Chuyên viên kỹ thuật thiết kế phần mềm, Chuyên viên kỹ thuật hệ thống cơ bản [Phụ lục 4]
Ở Canada: để phân loại và mô tả tất cả các ngành nghề trên toàn quốc
người ta dựa trên phiên bản năm 2006 của Phân loại nghề nghiệp Quốc gia (NOC - National Occupational Classification) Trong phân loại này, mỗi chức danh công việc (chức danh công việc thực tế mà mọi người sử dụng hàng ngày) thuộc về một nhóm các chức danh khác nhau Ví dụ các chức danh công việc phổ biến của nhóm Máy tính và Hệ thống thông tin quản lý gồm có 34 chức danh như Quản lý dự án máy tính, Quản lý mạng máy tính, Quản lý chương trình máy tính, Quản lý thiết bị máy tính, Quản lý thiết kế phần mềm máy tính, Quản lý các ứng dụng máy tính, Quản lý hệ thống Internet, Thiết kế hệ thống thông tin quản lý, Phân tích xử lý dữ liệu và hệ thống quản lý, [Phụ lục 5]
1.2.3 Hệ thống chức danh nghề nghiệp CNTT ở Việt Nam
Sự nghiệp đào tạo nhân lực CNTT ở Việt Nam hàng chục năm qua đã được các cấp, các ngành quan tâm đặc biệt Ngay từ năm 2003, Bộ Nội Vụ cùng
Bộ Bưu Chính Viễn Thông đã tổ chức các hội thảo ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng (trong khuôn khổ dự án “Hỗ trợ chính sách” do Canada tài trợ)
Trang 22bàn về việc xây dựng chức danh, tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ của những người làm việc trong lĩnh vực CNTT
Hội thảo quốc gia "Xây dựng chức danh, tiêu chuẩn công chức chuyên môn, nghiệp vụ ngành CNTT" [28] đã được tổ chức vào tháng 12 năm 2003 Thời gian đó, đối với công chức trong cơ quan nhà nước trong 196 ngạch thuộc
21 bảng lương công chức đang được áp dụng ở Việt Nam, mới xây dựng được chức danh, tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ cho 186 ngạch thuộc 19 ngành, nhưng chưa có chức danh, tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ của ngạch công chức chuyên ngành CNTT Cho đến nay ngay trong khối cơ quan nhà nước, vấn
đề chức danh dù đã được đề cập trong cả chục năm nay nhưng thực tế tới giờ chúng ta vẫn chưa ban hành được chính thức quy định tiêu chuẩn nghề nghiệp của chức danh ngạch công chức và hệ thống chức danh, tiêu chuẩn các chức danh nghề nghiệp của viên chức chuyên ngành CNTT
Hiện nay, Bộ Khoa học và Công nghệ - Bộ Nội vụ mới ban hành Thông
tư liên tịch số 24/2014/TTLT-BKHCN-BNV ngày 01/10/2014 [7] Quy định mã
số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành Khoa học và Công nghệ, tại khoản 3, Điều 2 đã quy định cho Nhóm chức danh Công nghệ bao gồm:
a) Kỹ sư cao cấp (hạng I)
b) Kỹ sư chính (hạng II)
c) Kỹ sư (hạng III)
d) Kỹ thuật viên (hạng IV)
Mặc dù chưa được chính thức ban hành, nhưng trên thực tế các chức danh nghề nghiệp CNTT vẫn tồn tại một cách khách quan nhằm phân biệt giữa các công việc khác nhau trong lĩnh vực này như Lập trình viên, Quản trị mạng, Chuyên viên thiết kế Website, Chuyên viên phát triển game và các tên gọi khác
Vì chưa có quy định thống nhất về hệ thống chức danh, tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ của các chức danh cho cả ngành nghề này, cho nên trên thực tế trong
cơ quan nhà nước thời gian qua cho thấy việc tuyển dụng cán bộ chuyên trách CNTT gặp rất nhiều khó khăn như khó xác định được chỉ tiêu, biên chế nhất là khi lĩnh vực CNTT có chuyên môn hoá ngày càng cao như hiện nay Không thể tuyển một kỹ sư CNTT để đảm nhiệm mọi vị trí việc làm từ quản trị mạng, quản trị cơ sở dữ liệu, đến vận hành, bảo dưỡng, diệt vi rút, đảm bảo an toàn an ninh thông tin
Đối với các cơ sở đào tạo CNTT không dự báo được nhu cầu nhân lực của thị trường lao động để có kế hoạch đáp ứng Khi tư vấn tuyển sinh rất ít cơ sở đào tạo mô tả rõ được cho thí sinh việc chọn những ngành nghề liên quan đến
Trang 23CNTT Các trường đại học, cao đẳng khi giao lưu trực tuyến với thí sinh thường chú trọng đến việc giới thiệu, quảng cáo trường nên thí sinh rất khó hình dung được ngành nghề mình sẽ chọn
Việc chưa quy định rõ các chức danh nghề nghiệp CNTT nên trong các doanh nghiệp cũng khó khăn trong việc tuyển dụng, sắp xếp, sử dụng nhân sự
Về phía người lao động cũng không thể hình dung cụ thể, rõ ràng về một “lộ trình” phát triển, thăng tiến từ xuất phát điểm khởi nghiệp tới các “nấc thang” thăng tiến về nghề nghiệp trong tương lai Khi tuyển dụng, ngoài các doanh nghiệp có bề dày hoạt động, còn đa số các doanh nghiệp mô tả công việc của ứng viên có thể đảm nhận và yêu cầu về các mặt đối với một ứng viên, được doanh nghiệp nêu rất sơ sài như làm phần mềm, tốt nghiệp đại học, cao đẳng ngành CNTT Có không ít trường hợp doanh nghiệp tự “định danh” cho các vị trí công việc, dẫn tới không thống nhất một mặt bằng chung về các chức danh, vị trí việc làm, thậm chí có trường hợp “định danh” sai hoặc không đầy đủ, làm ảnh hưởng tới quyền lợi của người lao động Mặt khác, cùng một chức danh nhưng mỗi doanh nghiệp lại dùng một tên gọi khác Chẳng hạn như Lập trình viên, Nhân viên lập trình, Chuyên viên lập trình, Kỹ sư phần mềm, Kỹ sư lập trình Để dễ xác định, có doanh nghiệp dùng luôn công việc sẽ làm thay cho tên gọi của chức danh như Nhân viên kinh doanh thiết bị tin học, Lập trình website thương mại bằng PHP và MySQL, Kỹ thuật triển khai phần mềm kế toán, Trên các trang tin tuyển dụng lao động cho thấy các nhà tuyển dụng dùng tên gọi các chức danh nghề CNTT chưa thống nhất và hiểu cũng chưa thống nhất Có đến hàng trăm tên gọi khác nhau cho những chức danh liên quan đến nghề CNTT, có những tên gọi đã khá quen thuộc như Lập trình viên, Quản trị mạng, Thiết kế website, Cử nhân tin học, Kỹ sư máy tính nhưng lại có nhiều chức danh nghe rất lạ tai như Nhân viên thay đổi mực in, Lập trình viên
hỗ trợ marketing
Với thực trạng trên, trong ngày Hội CNTT Việt - Nhật, ngày 24/11/2011
“Danh mục nghề ngành Phần mềm và Dịch vụ CNTT” [24] đã được Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ CNTT Việt Nam (VINASA - Vietnam Software and IT Services Association) lần đầu tiên công bố Danh mục nghề VINASA được xây dựng dựa trên Tiêu chuẩn Kỹ năng CNTT Nhật Bản (ITSS -Skill Standards for
IT Professionals) và Danh mục Chứng chỉ Châu Âu về nghề nghiệp tin học (EUCIP- European Certification of Informatics Professionals) có 9 ngạch, 33 phân ngạch và 7 bậc như sau:
a) Ngạch Kinh doanh, với 3 phân ngạch: Tư vấn hệ thống thông tin, Tư vấn sản phẩm CNTT, Kinh doanh qua kênh truyền thông;
Trang 24b) Ngạch Tư vấn, với 4 phân ngạch: Tư vấn chuyển đổi nghiệp vụ, Tư vấn CNTT, Tư vấn gói sản phẩm, Tư vấn triển khai hệ thống
c) Ngạch Kiến trúc CNTT, với 3 phân ngạch: Kiến trúc ứng dụng, Kiến trúc hạ tầng, Kiến trúc tích hợp
d) Ngạch Quản lý dự án (QLDA), với 4 phân ngạch: QLDA phát triển phần mềm, QLDA dịch vụ hạ tầng CNTT, QLDA thầu khoán, QLDA phát triển
Với Danh mục nghề của VINASA, các phân ngạch trong Danh mục chia
sẻ với nhau một khung kiến thức và kỹ năng chung, nhờ đó việc chuyển ngạch của người lao động có thể thực hiện được bằng cách đối chiếu yêu cầu về kiến thức và kỹ năng ở các bậc trình độ của các phân ngạch tương ứng Danh mục nghề là một danh sách mở, được bổ sung theo nhu cầu thực tế của ngành Mỗi doanh nghiệp có thể tự định nghĩa các phân ngạch đặc thù của mình để sử dụng cho nhu cầu riêng VINASA sẽ dựa trên đề nghị của các doanh nghiệp để cập nhật Danh mục nghề theo định kỳ hàng năm Khác với hệ thống ngạch bậc do Nhà nước quy định, Danh mục nghề của VINASA không đi kèm với quy định
về hệ số lương Bậc lương cụ thể cho nhân sự sẽ do từng doanh nghiệp tự quyết định
Danh mục nghề của VINASA đã giúp các doanh nghiệp của ngành Phần mềm và dịch vụ CNTT có thể sắp xếp, sử dụng bậc nhân sự một cách hiệu quả hơn, giúp người lao động tự định hướng lộ trình nghề nghiệp phù hợp với năng lực của mình
Từ nửa cuối năm 2012, Bộ TT&TT đã đặt hàng với đơn vị tư vấn hỗ trợ nghiên cứu Hệ thống chức danh CNTT trong cơ quan nhà nước [3] Đến nay, nhóm chuyên gia tư vấn đã hình thành dự thảo về Hệ thống chức danh này, sau
Trang 25khi đã khảo sát kinh nghiệm tại Mỹ, Nhật và một số Bộ, ngành ở Việt Nam Hệ thống chức danh với 4 nhóm gồm 26 chức danh cụ thể sau:
a) Nhóm Lãnh đạo, có 4 chức danh: Giám đốc CNTT Quốc gia (Bộ trưởng hoặc Thứ trưởng Bộ TT&TT phụ trách CNTT), Giám đốc CNTT cấp 1 (Thứ trưởng phụ trách CNTT của các Bộ, Chủ tịch, Phó Chủ tịch tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phụ trách về CNTT), Giám đốc CNTT cấp 2 (Cục trưởng quản lý nhà nước về CNTT ở Bộ, cơ quan ngang Bộ, lãnh đạo phụ trách CNTT
ở các Sở TT&TT, Giám đốc các trung tâm chuyên trách về CNTT ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ không có đơn vị quản lý nhà nước về CNTT, Giám đốc Trung tâm Thông tin Bộ TT&TT, Viện trưởng Viện nghiên cứu về CNTT trực thuộc
Bộ, cơ quan ngang Bộ), Giám đốc CNTT cấp 3 (Giám đốc Trung tâm CNTT trực thuộc các Tổng cục, Cục, Lãnh đạo đơn vị CNTT của sở, ban, ngành, Chủ nhiệm khoa CNTT ở các trường đại học)
b) Nhóm Chuyên viên quản lý nhà nước, có 4 chức danh: Chuyên viên CNTT cao cấp, Chuyên viên CNTT chính, Chuyên viên CNTT, Cán sự CNTT
c) Nhóm Kỹ thuật CNTT, có 12 chức danh: Kiến trúc viên CNTT, Thiết
kế hệ thống viên CNTT, Quản trị viên về mạng, Quản trị viên về cơ sở dữ liệu,
An toàn viên CNTT, Tư vấn viên CNTT, Lập trình viên CNTT, Kiểm thử viên CNTT, Kiểm định viên CNTT, Vận hành viên CNTT, Chuyên viên đào tạo, chuyển giao công nghệ, Viên chức quản lý dự án CNTT
d) Nhóm Nghiên cứu Khoa học và Đào tạo, có 6 chức danh: Nghiên cứu viên CNTT cao cấp, Nghiên cứu viên CNTT chính, Nghiên cứu viên CNTT, Giảng viên CNTT cao cấp, Giảng viên CNTT chính, Giảng viên CNTT
Ngày 9/10/2013, tại trụ sở Bộ TT&TT đã diễn ra phiên họp lần đầu tiên lấy ý kiến rộng rãi các bộ, ngành, tổ chức, trường học, hiệp hội… về Hệ thống chức danh CNTT trong cơ quan nhà nước do nhóm chuyên gia nghiên cứu đề xuất Có nhiều ý kiến góp ý cho Dự thảo Hệ thống chức danh này như: chỉ cần đưa ra danh mục các chức danh nêu bật đặc điểm riêng của ngành CNTT; đối với nhóm kỹ thuật CNTT cần tập trung hơn vào nghiên cứu và xác định các chức danh một cách phù hợp hơn, các chức danh nên tương thích với hoạt động đào tạo Một số ý kiến khuyến nghị nên nhóm gọn lại các chức danh CNTT bởi nếu "chẻ" kỹ quá thì có thể không bao quát hết các vị trí công việc có thể phát sinh trong thực tế khi công nghệ luôn phát triển với tốc độ nhanh chóng, dẫn tới liệt kê thiếu chức danh trong danh mục
Một nghiên cứu khác của thạc sỹ Tô Hồng Nam chuyên viên Vụ CNTT,
Bộ TT&TT [29] đưa ra một số đề xuất xây dựng các chức danh nghề nghiệp viên chức CNTT ở Việt Nam dựa trên các yếu tố sau:
Trang 26- Cơ sở pháp lý: Luật Viên chức năm 2010, Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức, Nghị định số 41/2012/NĐ-CP ngày 8/5/2012 về vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập, Thông tư số 12/2012/TT-BNV ngày 18/12/2012 quy định về chức danh nghề nghiệp và thay đổi chức danh nghề nghiệp đối với viên chức
- Bài học kinh nghiệm và kết quả nghiên cứu xây dựng hệ thống chức danh viên chức trong nước, chức danh chuyên môn, nghiệp vụ CNTT của một
số nước trên thế giới
- Khảo sát thực tiễn và xu thế phát triển ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước ở Việt Nam
- Thực trạng và dự báo trình độ chuyên môn hoá về CNTT trong các cơ quan nhà nước ở Việt Nam thời gian tới
- Thực tiễn đào tạo CNTT tại các trường, khoa, viện đào tạo CNTT trong nước
Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất xây dựng, ban hành 10 chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên môn nghiệp vụ CNTT trong cơ quan nhà nước và được
mô tả ngắn gọn về trách nhiệm, nhiệm vụ như sau:
Kiến trúc viên CNTT
- Trách nhiệm: chủ trì, tổ chức, chỉ đạo, trực tiếp triển khai các hoạt động
về xây dựng, thiết kế kiến trúc các hệ thống CNTT theo quy mô toàn quốc, toàn ngành, địa phương, đơn vị
- Nhiệm vụ: xây dựng các kiến trúc tổng thể hoặc kiến trúc chi tiết các hệ thống thông tin cho từng ngành hoặc địa phương, từng cơ quan
Thiết kế hệ thống viên CNTT
- Trách nhiệm: chủ trì, tổ chức, chỉ đạo, hoặc trực tiếp triển khai các hoạt động về phân tích, thiết kế các hệ thống thông tin, hệ thống cơ sở dữ liệu, các hệ thống ứng dụng CNTT, phần mềm ứng dụng CNTT theo quy mô toàn quốc, toàn ngành, địa phương, đơn vị hoặc theo yêu cầu
- Nhiệm vụ: phân tích, thiết kế các hệ thống thông tin, hệ cơ sở dữ liệu hoặc các hệ phần mềm ứng dụng
Quản trị viên về mạng
- Trách nhiệm: chủ trì, tổ chức, chỉ đạo, trực tiếp triển khai các hoạt động
về thiết kế, duy trì, quản lý, vận hành các hệ thống mạng thông tin, mạng máy tính
- Nhiệm vụ: quản lý, bảo hành, sửa chữa các hệ thống phần cứng, hệ thống mạng của ngành hoặc từng cơ quan, đơn vị
Quản trị viên cơ sở dữ liệu
Trang 27- Trách nhiệm: chủ trì, tổ chức, chỉ đạo, trực tiếp triển khai các hoạt động
về duy trì, quản lý, vận hành các hệ thống cơ sở dữ liệu
- Nhiệm vụ: quản lý, bảo hành các hệ thống cơ sở dữ liệu của ngành hoặc từng đơn vị
Tư vấn viên CNTT
- Trách nhiệm: tư vấn cho lãnh đạo, triển khai nghiên cứu về phát triển và ứng dụng CNTT và tư vấn về hoạt động duy trì, quản lý, vận hành các hệ thống thông tin trong thực tế
- Nhiệm vụ: tư vấn cho lãnh đạo, triển khai ứng dụng CNTT trong ngành, đơn vị gồm phần cứng, phần mềm, triển khai các dự án ứng dụng CNTT
Lập trình viên
- Trách nhiệm: chủ trì, tổ chức, triển khai phân tích các thiết kế hệ thống thông tin, hệ cơ sở dữ liệu, chương trình phần mềm ứng dụng và triển khai lập trình các hệ thống đó theo yêu cầu
- Nhiệm vụ: lập chương trình các hệ thống ứng dụng theo các thiết kế
Kiểm thử viên CNTT
- Trách nhiệm: chủ trì, tổ chức, triển khai kiểm thử và thẩm định tính đúng đắn của các thiết kế, các chương trình thể hiện các hệ thống thông tin, hệ
cơ sở dữ liệu và các phần mềm ứng dụng theo yêu cầu
- Nhiệm vụ: kiểm tra các thiết kế, các chương trình ứng dụng để phát hiện các sai sót trong quá trình, thiết kế, lập trình
Trang 28Ngoài những nghiên cứu trên, còn nhiều ý kiến đề xuất khác của các chuyên gia, nhà quản lý, doanh nghiệp, cơ sở đào tạo trong lĩnh vực CNTT về xây dựng hệ thống chức danh nghề nghiệp CNTT Có ý kiến cho rằng: nhân lực CNTT thực hiện 2 mảng công việc lớn là phát triển nền công nghiệp CNTT và xâm nhập vào mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội Về công nghiệp CNTT có công nghiệp phần cứng, công nghiệp phần mềm và công nghiệp nội dung số Do
đó, những chức danh tổng quát như Nhà khoa học máy tính, Quản trị cơ sở dữ liệu, Kỹ sư phần cứng máy tính, Kỹ sư phần mềm máy tính, Người phân tích hệ thống, Người lập trình máy tính đều phải có và phải đào tạo Trong từng chức danh tổng quát đó cần cụ thể hóa ra bao nhiêu chức danh nữa và xác định tỷ lệ đào tạo của từng chức danh, những vấn đề này rất phức tạp cần được tiếp tục nghiên cứu
1.2.4 Chức danh CIO (Chief of Information Officer)
Chức danh CIO trên thế giới [30]
Thuật ngữ CIO trên thế giới đã xuất hiện từ những năm 1981, bắt đầu từ khu vực tư nhân Khái niệm CIO ở các nước có nền CNTT phát triển được xác định khá rõ và có vai trò đặc biệt quan trọng thúc đẩy ứng dụng CNTT Theo đó, CIO có trách nhiệm khai thác thông tin, ứng dụng CNTT, phát huy tiềm lực CNTT để đem lại lợi ích tối đa cho hoạt động của cơ quan, tổ chức mình Chức danh CIO đã được công nhận là những người chịu trách nhiệm vạch ra, thực hiện các xu hướng chiến lược, xây dựng quy hoạch tổng thể, nắm bắt và ứng dụng tiến bộ CNTT vào công tác quản lý
Ở Mỹ, Luật về cải cách quản lý CNTT năm 1996 quy định các cơ quan
Liên bang bổ nhiệm và quy định trách nhiệm của các CIO Theo đó, CIO có nhiệm vụ giám sát, thực hiện quản lý tài nguyên thông tin, phát triển chiến lược toàn diện dự án e-Gov (Chính phủ điện tử) Đến năm 2000, thống đốc nhiều bang đã thực hiện bổ nhiệm CIO của bang mình Từ năm 2002, Luật về Chính
phủ điện tử của Mỹ lần đầu tiên quy định CIO Chính phủ Còn ở Canada, CIO
Chính phủ có từ trước năm 2000
Ở Hàn Quốc, năm 1999, Luật Khung về thúc đẩy tin học hóa sửa đổi
cũng đã đưa vào nội dung riêng về quan chức chịu trách nhiệm về công tác tin học hóa Trong đó quy định CIO có trách nhiệm thực hiện phương pháp mới, tiến hành tái cấu trúc tích cực
Không chỉ ở các nước có nền CNTT phát triển như Mỹ, Canađa, Hàn Quốc, Ấn Độ mà các nước trong khu vực như Trung Quốc, Singapore, Malaysia, Thái Lan và Philippines cũng đều đã thiết lập hệ thống chức danh CIO trong cơ quan nhà nước từ những năm 2000
Trang 29Chức danh CIO ở Việt Nam
Vấn đề chức danh CIO ở Việt Nam đã được đề cập khoảng 10 năm nay
Về thuật ngữ tiếng Việt CIO có thể được dịch là Lãnh đạo CNTT hay Giám đốc CNTT (được dùng khá phổ biến) Đây là vị trí nhằm tham mưu, tư vấn cho cấp
có thẩm quyền phê duyệt kiến trúc tổng thể về nghiên cứu, ứng dụng CNTT phù hợp với chiến lược phát triển CNTT quốc gia Văn bản cao nhất quy định trực tiếp nhất đến chức danh CIO cho đến nay là Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/04/2007 [16] của Chính phủ ban hành “Quy định về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước” Toàn bộ Điều 47 của Nghị định này, quy định các nội dung về vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn của Giám đốc CNTT Tuy nhiên, việc bổ nhiệm chức danh này trong khối cơ quan nhà nước vẫn chưa được chính thức hóa Theo xu thế chung của quốc tế, cũng như yêu cầu thực tế đặt ra thì việc nghiên cứu, xây dựng và ban hành hệ thống chức danh CIO, quy định cụ thể hơn công việc, chức trách, nhiệm vụ của CIO trong hệ thống chức danh nghề nghiệp CNTT ở nước ta hiện nay là rất cần thiết Đặc biệt, việc xây dựng tiêu chuẩn cho chức danh giám đốc CNTT trong cơ quan nhà nước sẽ tạo điều kiện cho cơ sở đào tạo có hướng đào tạo nhân lực cho quá trình thực hiện chính phủ điện tử
Như vậy, qua nghiên cứu hệ thống chức danh nghề nghiệp CNTT một số nước trên thế giới và ở Việt Nam cho thấy:
- Ở Mỹ và Nhật Bản công việc nghề CNTT đều được chia theo 11 nhóm, nhưng về tên nhóm, số lượng và tên các chức danh CNTT trong nhóm không hoàn toàn giống nhau
- So với Mỹ và Nhật Bản, Việt Nam đang xây dựng hệ thống chức danh CNTT theo hướng không phải mọi chức danh CNTT của các nước đều phải có trong hệ thống chức danh CNTT của Việt Nam, nhưng chắc chắn mọi công việc của các chức danh đó đều cần phải có trong phát triển CNTT ở nước ta
- Việc ban hành sớm hệ thống chức danh nghề nghiệp CNTT là rất cần thiết, nó sẽ là căn cứ để doanh nghiệp, cơ quan nhà nước tuyển dụng, bố trí, sắp xếp nhân sự đúng với yêu cầu chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ, năng lực của người làm CNTT, trả lương phù hợp theo vị trí việc làm, sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực CNTT; cơ quan quản lý nhà nước xây dựng tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ của từng chức danh nghề nghiệp, từ đó đánh giá chất lượng và hiệu quả công việc của người làm chuyên môn, nghiệp vụ về CNTT, đề xuất, ban hành chính sách đãi ngộ nhằm thu hút những người có trình độ chuyên môn cao về CNTT vào làm việc trong cơ quan nhà nước; cơ sở đào tạo có phương án đào tạo cả về số lượng, chất lượng chuyên ngành CNTT sát với yêu cầu thực tế
Trang 301.3 Chuẩn kỹ năng CNTT
Nói đến đào tạo nguồn nhân lực CNTT, ngoài việc xây dựng hệ thống chức danh nghề nghiệp thì không thể không nói đến chuẩn kỹ năng CNTT (hay chuẩn kỹ năng nhân lực CNTT) bởi kỹ năng nghề nghiệp là một yếu tố đầu ra của hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT
1.3.1 Khái niệm chuẩn kỹ năng CNTT
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về kỹ năng Tuy nhiên hầu hết các tác giả đều thừa nhận rằng kỹ năng được hình thành khi chủ thể vận dụng kiến thức vào thực tiễn Kỹ năng học được do quá trình lặp đi lặp lại một hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó Kỹ năng luôn có chủ đích và định hướng rõ ràng Như vây, theo nhiều tác giả:
Kỹ năng là năng lực hay khả năng của chủ thể thực hiện thuần thục một
hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết kiến thức hoặc kinh nghiệm nhằm tạo ra kết quả mong đợi
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia [2]:
“Kỹ năng là khả năng học được để thực hiện một nhiệm vụ với kết quả
xác định trước trong một khoảng thời gian nhất định Kỹ năng là thước đo lượng chuyên môn của người lao động và khả năng giám sát.”
Trên cơ sở tìm hiểu khái niệm kỹ năng, có thể định nghĩa:
Chuẩn kỹ năng CNTT (hay chuẩn kỹ năng nhân lực CNTT) là hệ thống
mô tả các kiến thức lý thuyết và kỹ năng thao tác, thực hành cần đạt được của nhân lực hoạt động trong lĩnh vực CNTT
Theo Thông tư số 11/2015/TT-BTTTT ngày 05/05/2015 của Bộ trưởng
Bộ TT&TT ban hành “Quy định Chuẩn kỹ năng nhân lực CNTT chuyên nghiệp”, Điều 4, khoản 1 đã đưa ra khái niệm cụ thể hơn về Chuẩn kỹ năng nhân lực CNTT chuyên nghiệp như sau:
“Chuẩn kỹ năng nhân lực CNTT chuyên nghiệp là hệ thống các yêu cầu về
kiến thức và kỹ năng CNTT mà người làm việc trong lĩnh vực CNTT cần đạt để
có thể thực hiện một hoặc một nhóm công việc cụ thể ” [11]
Chuẩn kỹ năng CNTT là công cụ trao đổi chung giữa doanh nghiệp, cơ sở đào tạo, người lao động, người học và các cơ quan quản lý nhà nước có được tiếng nói chung về chất lượng nguồn nhân lực CNTT Hệ thống chuẩn kỹ năng CNTT bao gồm nhiều chuẩn tương ứng với các vị trí làm việc cụ thể trong các
cơ quan, doanh nghiệp sử dụng nhân lực Các vị trí này không giống nhau tùy vào đặc thù của mỗi tổ chức, doanh nghiệp nhưng được tổng quát hoá lên Hệ thống chuẩn kỹ năng CNTT là một hệ thống mở, có thể sửa đổi và bổ sung theo yêu cầu thực tế
Trang 311.3.2 Chuẩn kỹ năng CNTT trên thế giới
Trên thế giới, nhiều nước đã có chuẩn kỹ năng CNTT làm cơ sở để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực CNTT [21] Tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, Chính phủ các nước đặc biệt quan tâm đến việc tổ chức đào tạo, sát hạch
và đối chiếu kết quả giữa các quốc gia thông qua các chuẩn kiến thức, kỹ năng
về CNTT Đồng thời, các tổ chức chuyên trách kiểm định chất lượng nguồn nhân lực đã được thành lập ở các nước này
Tại Hàn Quốc, hệ thống kiểm định chất lượng kỹ thuật quốc gia đã được
Cơ quan Phát triển nguồn nhân lực triển khai từ năm 1977 Đến 2007, có 564 loại hình sát hạch với xấp xỉ 3 triệu người tham dự Cuối năm 2009, Hàn Quốc
đã tổ chức một hội nghị quốc tế về đánh giá chất lượng nhân lực CNTT giữa các nước châu Á
Tại Trung Quốc, từ năm 1985 đã tiến hành tổ chức sát hạch CNTT, mỗi
năm tổ chức 2 kỳ theo 27 loại hình với hơn 200.000 lượt người tham dự
Tại Ấn Độ, Cơ quan Đảm bảo chất lượng giáo dục CNTT - Bộ Thông tin
Truyền thông là đơn vị chịu trách nhiệm tổ chức việc sát hạch CNTT, hàng năm đều tổ chức sát hạch theo 4 mức O, A, B, C Đến nay đã có hơn 150.000 lượt người được kiểm định
Tại Nhật Bản, từ 1969 các kỳ sát hạch thường xuyên được tổ chức, hàng
năm có khoảng 1 triệu lượt người tham dự Đến nay, Nhật Bản đã công nhận tương đương chuẩn kỹ năng CNTT với nhiều quốc gia trên thế giới như Mỹ, Anh, Đức, Canada, Australia, Tây Ban Nha, Hàn Quốc, Trung Quốc (Có thể tham khảo một số chuẩn kỹ năng CNTT chuyên nghiệp của Nhật Bản, Mỹ và việc triển khai trên thế giới [Phụ lục 6, 7, 8]
Ở Châu Âu, nổi bật và được dùng nhiều nhất là khung kiến thức và kỹ
năng để thi lấy Chứng chỉ ECDL (European Computer Driving License) và ICDL (International Computer Driving License), được xây dựng xuất phát từ các nhu cầu chuẩn hóa kiến thức và kỹ năng CNTT cho người sử dụng trong Cộng đồng Châu Âu Đến nay đã được áp dụng tại nhiều nước khác ở Châu Á
và Châu Phi
Có thể thấy trên thế giới các chuẩn kiến thức, kỹ năng CNTT đã được phát triển và áp dụng khá rộng rãi Điều đó cho thấy sự cần thiết, vai trò của chúng trong việc làm động lực phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT nói riêng và toàn ngành CNTT nói chung
1.3.3 Quan niệm về chuẩn kỹ năng CNTT ở Việt Nam
Các chủ thể tham gia thị trường nhân lực nói chung và thị trường nhân lực CNTT nói riêng, có thể chia ra làm 4 loại gồm: Nhà nước, người sử dụng lao
Trang 32động, người lao động và cơ sở đào tạo [21] Mỗi chủ thể có một vai trò khác nhau trong việc xây dựng, áp dụng các chuẩn nhân lực
Người sử dụng lao động thường thiết lập và sử dụng chuẩn thực tế phù
hợp nhất với mô hình hoạt động của họ Do đó, trong đại đa số trường hợp, người sử dụng lao động mong muốn áp dụng chuẩn thực tế này
Cơ sở đào tạo thường sử dụng các chuẩn hàn lâm để đào tạo nhân lực, có
vai trò giúp người lao động nâng cấp trình độ để đáp ứng các chuẩn thực tế
Người lao động phải tự nâng cấp năng lực cá nhân của mình để đáp ứng
yêu cầu chuẩn của người sử dụng lao động (chuẩn thực tế) và chuẩn của cơ sở đào tạo (chuẩn hàn lâm)
Nhà nước giữ vai trò thiết lập các chuẩn chính thức, làm khuôn mẫu áp
đặt lên các chuẩn thực tế và các chuẩn hàn lâm Nhà nước vừa đóng vai trò thực hiện chức năng là người điều phối thị trường nhân lực, vừa đóng vai trò của người sử dụng lao động
Hình 1.3: Quan hệ giữa Nhà nước, người sử dụng lao động, người lao
động và cơ sở đào tạo thông qua các chuẩn (Nguồn: VITEC)
Trang 33Trong Hình 1.3, các chuẩn thực tế và chuẩn hàn lâm được vẽ bởi các nét liền, thể hiện ảnh hưởng trực tiếp lẫn nhau giữa người sử dụng lao động (chuẩn thực tế) và cơ sở đào tạo (chuẩn hàn lâm) Các chuẩn chính thức do Nhà nước thiết lập thể hiện bằng các nét đứt bởi vì không phải lúc nào cũng được tuân thủ
và áp dụng trong thực tế bởi người sử dụng lao động, cơ sở đào tạo và người lao động Người lao động thông qua “năng lực cá nhân” đóng vai trò cầu nối hai chiều, tác động trực tiếp tới người sử dụng lao động và cơ sở đào tạo, thể hiện bởi các nét liền Không có sự phản hồi trực tiếp từ người lao động đến Nhà nước nên đường năng lực này được thể hiện bởi nét chấm “ .” Do vậy, Nhà nước chỉ có thể ước đoán năng lực cá nhân của người lao động thông qua chủ thể trung gian là cơ sở đào tạo và người sử dụng lao động Hệ thống chuẩn kỹ năng CNTT đóng vai trò là tiếng nói chung bảo đảm các bên tham gia thị trường lao động phải điều chỉnh hoạt động của mình để phù hợp với nhau
1.3.4 Việc xây dựng, áp dụng một số chuẩn kỹ năng CNTT ở Việt Nam
Ở nước ta, có hai đơn vị là Trung tâm Đào tạo và sát hạch CNTT Việt Nam VITEC (Vietnam Training and Examination Center) và Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ CNTT Việt Nam (VINASA - Vietnam Software and IT Services Association) [21] đã xây dựng và áp dụng chuẩn kỹ năng CNTT, nhưng việc xây dựng chuẩn kỹ năng chủ yếu dựa vào chuẩn kỹ năng của Nhật Bản
VITEC
Theo báo cáo của Trung tâm Đào tạo và sát hạch CNTT Việt Nam (VITEC), đơn vị trực thuộc Ban quản lý Khu Công nghệ cao Hòa Lạc (Bộ Khoa học và Công nghệ) Đến tháng 6/2013, dựa trên mô hình chuẩn kỹ năng CNTT của Nhật Bản, VITEC đã thích nghi và phát triển được ba chuẩn mức từ 1- 3 (trong tổng số 7 mức) kỹ năng CNTT dành cho chuyên gia được công nhận tương đương với chuẩn của Nhật Bản:
- Chuẩn Hộ chiếu CNTT (IT Passport), mức thấp nhất, có kiến thức tối thiểu
- Chuẩn Kỹ sư CNTT cơ bản (FE), mức thứ 2, tương đương trình độ mới tốt nghiệp đại học chuyên ngành CNTT
- Chuẩn Kỹ sư Ứng dụng CNTT (AP), mức thứ 3, tương đương trình độ thực hiện công việc độc lập, cấp chuyên gia CNTT (trước đây là chuẩn kỹ năng
Kỹ sư Thiết kế và Phát triển phần mềm)
Các chuẩn kỹ năng khác đang được nghiên cứu và đánh giá mức độ khả thi khi áp dụng vào điều kiện Việt Nam Trên thực tế, VITEC chưa từng công bố
Trang 34chính thức về các kết quả này nên có thể nói việc xây dựng các chuẩn CNTT vẫn ở trong giai đoạn nghiên cứu nội bộ, chưa hoàn thiện
VITEC cũng là đơn vị triển khai hệ thống sát hạch kỹ sư CNTT theo chuẩn Nhật Bản từ năm 2001 Là quốc gia đi sau, Việt Nam đang cố gắng rút ngắn giai đoạn nhằm đưa nguồn nhân lực CNTT Việt Nam hội nhập với thị trường quốc tế Tính đến tháng 04/2013, VITEC đã tổ chức được 23 kỳ sát hạch theo các chuẩn kỹ năng tương đương với Nhật Bản hoặc chuẩn kỹ năng của Nhật Bản, với số lượng đăng ký là 10.820 thí sinh, đạt yêu cầu là 1.507 thí sinh
Từ năm 2006, các kỳ sát hạch này được tổ chức theo cách “3 chung”: cùng một ngày, cùng một đề thi, cùng hệ thống chấm điểm với 7 nước thành viên ITPEC (IT Professional Examination Council): Nhật Bản, Thái Lan, Philippine, Malaysia, Myanmar, Mông Cổ và Việt Nam Mặc dù số lượng thí sinh đạt chiếm
tỉ lệ ít (>10%) nhưng Việt Nam hiện nay vẫn là một trong những nước tạm thời đang dẫn đầu trong số 6 nước kể trên về tổng số thí sinh tham dự sát hạch, cũng như số thí sinh thi đỗ Điều này cho thấy rằng yêu cầu đặt ra của các chuẩn Nhật Bản là khá cao, chỉ phù hợp một số ít thí sinh có nhu cầu làm việc cho một số doanh nghiệp của Nhật, không phù hợp với đa số các thí sinh của Việt Nam
VINASA
Bên cạnh VITEC, Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ CNTT Việt nam (VINASA) cũng đã có kế hoạch xây dựng hệ thống tiêu chuẩn phục vụ đánh giá nhân lực trong ngành Công nghiệp phần mềm và nội dung số Hệ thống của VINASA có tên viết tắt là VRS (VINASA Ranking System) Hệ thống này vẫn đang trong quá trình xây dựng, chưa được triển khai trong thực tế VRS dự kiến bao gồm 3 hệ thống con:
dự kiến được xây dựng theo mô hình “cử tuyển”, sử dụng khuôn mẫu của Hệ thống chuẩn kỹ năng CNTT do Cơ quan Xúc tiến CNTT (IPA) thuộc Bộ Kinh
tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản chủ trì Khi hệ thống Xếp bậc được triển khai tại doanh nghiệp, VINASA đóng vai trò “hậu kiểm” đối với kết quả xếp bậc do doanh nghiệp thực hiện Sau khi được xếp bậc, người lao động của doanh nghiệp có thể duy trì và tham chiếu hồ sơ xếp bậc của mình tại VINASA khi cần thiết (chuyển công tác, nghỉ việc .) Các ngạch chuyên môn của Hệ
Trang 35thống Xếp bậc được định nghĩa theo nhu cầu của công nghiệp phần mềm nói chung và công nghiệp CNTT nói riêng nhưng tất cả các ngạch đều chỉ được chia thành 7 bậc để đảm bảo tương thích với Hệ thống Chuẩn Kỹ năng CNTT của Nhật Bản Tương ứng với mỗi bậc của từng ngạch là một hoặc một số văn bằng chứng chỉ có sẵn trên thị trường đào tạo, có thể bao gồm văn bằng chứng chỉ của các trường đại học, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, các chương trình đào tạo công nghệ của các hãng công nghệ, các kỳ thi, sát hạch trung lập Việc xếp bậc chỉ được áp dụng đối với người lao động đang làm việc trong doanh nghiệp Các
cá nhân chưa có lịch sử làm việc, không được bất kỳ pháp nhân nào xác nhận về
kỹ năng và hành vi, đều không phải là đối tượng xếp bậc
Hoạt động xây dựng chuẩn kỹ năng CNTT quốc gia của Việt Nam
Cùng với việc nghiên cứu xây dựng hệ thống, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp CNTT, việc nghiên cứu xây dựng chuẩn kỹ năng nhân lực CNTT cũng
đã được triển khai
Tại Hội thảo “Phát triển nguồn nhân lực CNTT - chuẩn hoá kỹ năng nhân lực CNTT” diễn ra ngày 06/06/2014 [39], đại diện Vụ CNTT Bộ TT&TT đã giới thiệu về chuẩn kỹ năng dành cho những người làm việc trong ngành CNTT,
có hai chuẩn kỹ năng gồm: Chuẩn kỹ năng sử dụng CNTT và Chuẩn kỹ năng CNTT chuyên nghiệp (ở mức cao hơn) Bên cạnh việc giới thiệu chuẩn kỹ năng,
Vụ CNTT cũng đang đề xuất phân loại 18 nghề CNTT chuyên nghiệp như Bán hàng, Tư vấn, Lập trình viên, Quản lý hệ thống, Quản trị mạng và từ đó xây dựng chuẩn kỹ năng cho từng loại nghề Dự kiến chuẩn kỹ năng nhân lực CNTT
sẽ là bắt buộc đối với các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước, còn đối với các ngành nghề khác trong xã hội sẽ mang tính tham khảo
Ngày 11/03/2014, Bộ trưởng Bộ TT&TT đã ra Thông tư số BTTTT ban hành “Quy định Chuẩn kỹ năng sử dụng CNTT” [10] Theo Thông
03/2014/TT-tư này, Chuẩn kỹ năng sử dụng CNTT bao gồm: Chuẩn kỹ năng sử dụng CNTT
cơ bản và Chuẩn kỹ năng sử dụng CNTT nâng cao Cá nhân đạt Chuẩn kỹ năng CNTT cơ bản phải đáp ứng yêu cầu của tất cả 6 mô đun Chuẩn kỹ thuật sử dụng CNTT cơ bản Cá nhân đạt Chuẩn kỹ năng CNTT nâng cao phải đạt Chuẩn kỹ năng sử dụng CNTT cơ bản, đồng thời đáp ứng tối thiểu yêu cầu của 3 mô đun trong số 9 mô đun Chuẩn kỹ năng sử dụng CNTT nâng cao theo quy định
Ngày 3/10/2014 tại Hà Nội, Bộ TT & TT đã tổ chức Hội thảo với chủ đề
“Phát triển nguồn nhân lực CNTT - chuẩn hoá kỹ năng sử dụng CNTT” [23] Tại Hội thảo đại diện các bộ, ngành Trung ương như Bộ Nội vụ, các trường đại học về CNTT đã có những tham luận về nội dung áp dụng Chuẩn kỹ năng sử dụng CNTT trong đào tạo, giảng dạy và xã hội hóa
Trang 36Ngày 05/05/2015, Bộ trưởng Bộ TT&TT đã ra Thông tư số BTTTT ban hành “Quy định Chuẩn kỹ năng nhân lực CNTT chuyên nghiệp” [11] Điều 1, Thông tư này quy định một số Chuẩn kỹ năng nhân lực CNTT chuyên nghiệp, bao gồm:
11/2015/TT Chuẩn kỹ năng Cơ sở dữ liệu (Database skill standard);
- Chuẩn kỹ năng Hệ thống mạng (Network system skill standard);
- Chuẩn kỹ năng Quản lý hệ thống CNTT (System management skill
standard);
- Chuẩn kỹ năng An toàn thông tin (Information security skill standard);
- Chuẩn kỹ năng Thiết kế và phát triển phần mềm (Software design and
development skill standard)
So sánh Chuẩn kỹ năng CNTT chuyên nghiệp của Việt Nam được qui định ở thông tư 11/2005/TT-BTTTT với Chuẩn kỹ năng CNTT một số nước như Nhật Bản, Mỹ cho thấy:
- Giống nhau ở những nét chung là: tương ứng với các trình độ, mỗi lĩnh vực chuyên môn đều được chia thành các hoạt động, mỗi hoạt động được chia thành các công việc cụ thể và mỗi công việc được qui định các kiến thức, kỹ năng cần đạt để thực hiện công việc đó
- Khác nhau ở chỗ mỗi chuẩn kỹ năng nhân lực CNTT chuyên nghiệp của Việt Nam đều có yêu cầu về kiến thức cơ bản được qui định tách riêng, yêu cầu về kiến thức, kỹ năng chuyên sâu, được chia thành 4 hạng theo thứ tự từ thấp đến cao tương ứng hạng 04 đến hạng 01 Hạng là cấp độ thể hiện trình độ và năng lực của nhân lực CNTT
Để đạt mục tiêu tạo ra 1 triệu lao động CNTT vào năm 2020 theo tinh thần của Đề án “Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về CNTT-TT”, chắc chắn
sẽ cần một khoản đầu tư lớn cho việc phát triển nguồn nhân lực CNTT trong thời gian tới Xây dựng và ban hành chuẩn kỹ năng CNTT là cần thiết, bởi việc chuẩn hóa kỹ năng CNTT là căn cứ để đơn vị sử dụng lao động tuyển dụng, sử dụng và đãi ngộ nhân lực CNTT phù hợp; các cơ sở đào tạo có định hướng cập nhật, đổi mới chương trình, nội dung đào tạo đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động; người lao động và người học tự đánh giá năng lực, có kế hoạch học tập, nâng cao trình độ; cơ quan quản lý nhà nước có được thông tin đầy đủ, chính xác về hiện trạng nguồn nhân lực CNTT, từ đó có các cơ chế, chính sách phù hợp, hiệu quả để phát triển nguồn nhân lực CNTT
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở VIỆT NAM
Tổng hợp từ các văn bản của Nhà nước, các báo cáo tổng kết, thống kê của Bộ TT&TT, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng cục Dạy nghề trực thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, phân tích các ý kiến khảo sát đánh giá thực tiễn tại các hội thảo về lĩnh vực CNTT cho phép hình dung bức tranh tổng thể về đào tạo CNTT ở Việt Nam trong thời gian qua
2.1 Quy mô đào tạo nguồn nhân lực CNTT
2.1.1 Đào tạo bậc đại học, cao đẳng
Theo Sách trắng CNTT&TT Việt Nam năm 2014 [13], các số liệu thống
kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo về đào tạo nguồn nhân lực CNTT-TT trình độ đại học, cao đẳng trong các năm 2010 - 2013 được tổng hợp trong bảng 2.1 sau:
Bảng 2.1: Quy mô đào tạo nhân lực CNTT-TT bậc đại học, cao đẳng
- Số lượng trường ĐH, CĐ có đào tạo về
- Chỉ tiêu tuyển sinh ĐH, CĐ ngành
- Tổng số chỉ tiêu tuyển sinh đại học, cao đẳng ngành CNTT, điện tử, viễn thông năm 2013 là trên 67.518 sinh viên, tăng gần 3.000 chỉ tiêu (tăng nhẹ 3%)
so với năm 2012
Trang 38- Tỷ lệ tuyển sinh đại học, cao đẳng ngành CNTT, điện tử, viễn thông từ năm 2010 - 2013 giảm, năm 2013 chiếm gần 8% tổng chỉ tiêu tuyển sinh (do các ngành khác tăng chỉ tiêu tuyển sinh) Năm 2013, chỉ có 55.000 sinh viên đại học, cao đẳng CNTT, điện tử, viễn thông thực tế được tuyển, đạt 82%
- Số lượng sinh viên đại học, cao đẳng CNTT, điện tử, viễn thông hệ chính quy đang học từ năm 2010 - 2013, số lượng hàng năm tăng, giảm không
ổn định, năm 2011 tăng hơn so với năm 2010, năm 2012 giảm đi so với năm
2011 và đến năm 2013 là 176.614 sinh viên, tăng 7312 sinh viên so với năm
2012
- Từ năm 2011-2013, hàng năm có khoảng hơn 40.000 sinh viên đại học, cao đẳng CNTT, điện tử, viễn thông tốt nghiệp, năm 2013 có 42.896 sinh viên tốt nghiệp
2.1.2 Đào tạo nghề
Theo Sách trắng CNTT&TT Việt Nam năm 2014 [13], các số liệu thống
kê của Tổng cục Dạy nghề trực thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và kết quả khảo sát các trường đào tạo nghề CNTT, điện tử, viễn thông trên cả nước từ năm 2010 - 2013 được thể hiện ở bảng 2.2 sau:
Bảng 2.2: Quy mô đào tạo nhân lực CNTT-TT bậc trung cấp, cao đẳng nghề
- Số lượng trường CĐ nghề, TC nghề có
- Tỷ lệ tuyển sinh đào tạo nghề CNTT,
- Số lượng học viên nghề CNTT, điện
- Tỷ lệ tuyển sinh đào tạo nghề CNTT, điện tử, viễn thông từ năm 2010 –
2013 giảm, năm 2013 là 11,37 %
- Từ năm 2010 - 2013, số lượng học viên nghề CNTT, điện tử, viễn thông nhập học thực tế giảm, năm 2010 là 33.631 học viên, năm 2013 là 24.569 học viên, do đó tỷ lệ nhập học cũng chỉ đạt 81%
Trang 39Nhìn chung, hoạt động đào tạo nguồn nhân lực CNTT ở các bậc đại học, cao đẳng và trung cấp, cao đẳng nghề năm 2013 vẫn được đánh giá là tiếp tục được duy trì ổn định về quy mô, hình thức đào tạo Tuy nhiên với quy mô đào tạo như hiện nay, nhu cầu nhân lực CNTT hiện đang vượt quá khả năng đáp ứng của hệ thống đào tạo
2.1.3 Đào tạo ngắn hạn
Bên cạnh loại hình đào tạo dài hạn, loại hình đào tạo ngắn hạn (dưới 1 năm) cũng đang được mở rộng Trước đây, đa số cho rằng các chứng chỉ và các khóa đào tạo ngắn hạn về CNTT chỉ mang tính chất bổ sung và bổ trợ cho đào tạo chính quy CNTT thì hiện nay loại hình này đang đóng vai trò như một phương thức cung cấp nhân lực có trình độ thực tiễn cao Vì vậy ngày càng có nhiều người tham gia vào các khóa đào tạo này
Thực tế số lượng các cơ sở đào tạo cũng như số lượng và chủng loại các chứng chỉ quốc tế về CNTT hiện nay tại Việt Nam khá phong phú Một số chứng chỉ quốc tế về CNTT chuyên nghiệp phổ biến và được đánh giá cao trong những năm gần đây [46] Có thể nêu ví dụ như:
- Các chứng chỉ của Microsoft: Chứng chỉ quản trị hệ thống Microsoft MCSA (Microsoft Certified Systems Administrator); Chứng chỉ kỹ sư hệ thống Microsoft MCSE (Microsoft Certified Systems Engineer); Chứng chỉ chuyên gia CNTT của Microsoft MCITP (Microsoft Certified IT Professional);
- Các chứng chỉ của Cisco: Chứng chỉ cơ bản công nghệ mạng của Cisco CCNA (Cisco Certified Network Associate); Chứng chỉ chuyên nghiệp về công nghệ mạng của Cisco CCNP (Cisco Certified Network Professional); Chứng chỉ chuyên gia công nghệ mạng tương tác của Cisco CCIE (Cisco Certified Internetwork Expert);
- Chứng chỉ Chuyên gia bảo mật hệ thống thông tin của Cisco CISSP (Certified Information Systems Security Professional);
- Chứng chỉ về quản trị dự án của Viện quản lý dự án PMP (Project Management Professional);
- Chứng chỉ về bảo mật của Hiệp hội công nghiệp CNTT Security+ [Phụ lục 9]
Hiện có nhiều cơ sở đào tạo phi chính quy liên kết với nước ngoài như Hệ thống Aptech Việt Nam, Hệ thống NIIT Việt Nam, Hệ thống Arena Multimedia, Informatics Vietnam, Informatics Singapore, Bên cạnh đó là các cơ sở đào tạo trong nướcchuyên sâu về lĩnh vực CNTT như Học viện Công nghệ kỹ thuật Sài Gòn (Saigon CTT), Học viện CNTT Hà Nội (Hanoi CTT), Học viện mạng Netpro, Học viện mạng IPMAC, Trung tâm đào tạo Quản trị và An ninh mạng
Trang 40Athena… Các đơn vị này chủ yếu dựa vào hệ thống giáo trình của các hãng công nghệ lớn trên thế giới (như Microsoft, Cisco, Oracle, Nokia-Checkpoint, Juniper, Trend Micro, Found Stone…) và cấp chứng chỉ CNTT của chính hãng
đó như đã nêu ở trên.Đây là con đường ngắn nhất để người lao động kiếm được việc làm ở các công ty, bởi lẽ các chứng chỉ này đa phần được công nhận trên toàn thế giới.Ngoài ra, còn một số lượng lớn các trung tâm tin học đào tạo các khoá ngắn hạn, đào tạo theo chuyên ngành, đào tạo từ xa và đào tạo trong doanh nghiệp lớn như ở Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, số lượng trung tâm đào tạo hiện nay đã phần nào đáp ứng được nhu cầu đào tạo ngắn hạn trong lĩnh vực CNTT
2.1.4 Về cơ cấu ngành nghề đào tạo
Theo danh mục giáo dục đào tạo cấp IV – trình độ cao đẳng, đại học do
Bộ Giáo dục – Đào tạo ban hành tại Văn bản số 15/VBHN-BGDĐT ngày 08/05/2014 hợp nhất Thông tư số 14/2010/TT-BGDĐT và Thông tư số 32/2013/TT-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, nhóm ngành Máy tính và Công nghệ thông tin bao gồm các ngành [6]:
- Khoa học máy tính
- Truyền thông và mạng máy tính
- Kỹ thuật phần mềm
- Hệ thống thông tin
- An toàn, an ninh thông tin
- Công nghệ thông tin
- Tin học ứng dụng (riêng cho đào tạo trình độ cao đẳng)
Tất cả các ngành này hiện đều đang được đào tạo trong hệ thống các trường đại học, cao đẳng nước ta Tuy nhiên, cơ cấu ngành nghề đào tạo [19, 20] chưa cân đối, nhiều chuyên ngành rất thiếu nhân lực như nhân lực trong lĩnh vực phần mềm, dịch vụ CNTT, quản trị mạng, chuyên gia bảo mật và an ninh mạng, thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao về lập trình di động, điện toán đám mây, thiếu các chuyên gia đầu ngành, các giảng viên có trình độ cao, có đẳng cấp quốc tế về lĩnh vực CNTT Chỉ có khoảng 13% chuyên gia cung cấp các giải pháp tổng thể, chuyên gia có thể thiết kế hệ thống, phần mềm, có các chứng chỉ quốc tế về CNTT Đặc biệt rất thiếu đội ngũ cán bộ lãnh đạo CNTT, quản lý các
dự án CNTT và các kỹ sư trưởng về CNTT
Ở một số lĩnh vực như dịch vụ thương mại điện tử Việt Nam rất thiếu những cán bộ CNTT vừa có thể là kỹ sư CNTT, vừa biết cách làm thương mại điện tử Lĩnh vực giải trí, Việt Nam thiếu những người vừa thiết kế, đồ họa lại vừa làm công nghệ Lĩnh vực an ninh mạng và bảo mật thông tin, Việt Nam còn