NGHIÊN CỨU CHỌN LỌC TÍNH TRẠNG SỐ CON SƠ SINH SỐNG/Ổ ĐỐI VỚI NHÓM LỢN
Trang 1Viện chăn nuôi
Giang Hồng Tuyến
Nghiên cứu chọn lọc tính trạng số con sơ sinh sống/ổ Nghiên cứu chọn lọc tính trạng số con sơ sinh sống/ổ
đối với nhóm lợn MC3000, khả năng tăng khối l−ợng , khả năng tăng khối l−ợng
và tỷ lệ nạc
và tỷ lệ nạc đối với nhóm lợn MC đối với nhóm lợn MC15
Chuyên ngành: Di truyền và chọn giống vật nuôi
Mã số: 62 62 48 01
Tóm tắt luận án tiến sỹ Nông nghiệp
Hà Nội - 2009
Trang 2C«ng tr×nh ®−îc hoµn thµnh t¹i ViÖn ch¨n nu«i
Trang 3liên quan đến luận án
1 Giang Hồng Tuyến, Nguyễn Văn Đức, Đinh Văn Chỉnh (2006),
“Xác định tuổi giết thịt thích hợp đối với giống lợn Móng Cái và các tổ hợp lai
F1(PixMC), F1(LWxMC)” Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Chăn nuôi, (8), tr 4-6
2 Giang Hồng Tuyến, Nguyễn Văn Đức, Đinh Văn Chỉnh (2007),
“ảnh hưởng của một số nhân tố cố định đến các tính trạng sinh sản, sinh trưởng và chất lượng thân thịt của 2 nhóm lợn Móng Cái MC3000 và MC15” Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi, (9), tr 15-18
3 Giang Hồng Tuyến, Nguyễn Văn Đức, Đinh Văn Chỉnh (2008),
“Năng suất sinh sản của nhóm lợn Móng Cái MC3000 và Khả năng sản xuất của nhóm lợn Móng Cái MC15 qua 4 thế hệ” Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi, (11), tr 15-19
4 Giang Hồng Tuyến, Nguyễn Văn Đức, Đinh Văn Chỉnh (2008),
“Hiệu quả chọn lọc và tiến bộ di truyền về Số con sơ sinh sống/ổ đối với nhóm MC3000, tăng khối lượng và tỷ lệ nạc đối với nhóm MC15” Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Chăn nuôi, (5), tr 8-11
Trang 4Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Do nhu cầu tiêu dùng thịt lợn ngày càng cao và một phần để xuất khẩu, hàng loạt các giống lợn có năng suất cao và chất lượng tốt đã được nhập vào nước ta như Landrace, Large White, Duroc, vv Việc sử dụng các giống lợn cao sản nhập nội đã gây nên hiện tượng các giống địa phương ít
được quan tâm mặc dù chúng có một số đặc tính tốt Trước thực tế này, đòi hỏi cần có một chính sách phù hợp của Nhà nước đến việc lưu giữ các giống lợn nội Hơn nữa, khi điều kiện chăn nuôi trong nông hộ chưa tốt, lợn nội cần được phát huy và khai thác nhằm nâng cao sản lượng thịt
Móng Cái (MC) là giống lợn nội phổ biến nhất ở Việt Nam, đặc biệt ở miền bắc Nhờ sự hỗ trợ của chương trình lưu giữ quỹ gen, giống gốc và các
đề tài nghiên cứu khoa học đã xác định được 2 nhóm MC3000 có khả năng sinh sản tốt nhất, đặc biệt số con sơ sinh sống/ổ cao và nhóm MC15 có khả năng tăng khối lượng nhanh và tỷ lệ nạc cao của giống lợn nội Móng Cái
Để góp phần vào bảo vệ sự đa dạng sinh học của lợn và tạo nguồn nguyên liệu quý trong hệ thống lợn lai ở nước ta, đồng thời để giống lợn Móng Cái có thể phát triển nhanh, đáp ứng nhu cầu của sản xuất, đặc biệt cho các hộ chăn nuôi ở những nơi chưa có điều kiện tốt, 2 nhóm lợn này cần được nghiên cứu nhằm cải thiện, nâng cao chất lượng đàn lợn giống và cung cấp đầy đủ lợn giống tốt cho sản xuất Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài: Nghiên cứu chọn lọc tính trạng số con sơ sinh sống/ổ đối với nhóm lợn
MC3000, khả năng tăng khối lượng và tỷ lệ nạc đối với nhóm lợn MC15
2 Mục tiêu của đề tài
- Nâng cao tính trạng số con sơ sinh sống/ổ đối với nhóm lợn MC3000
- Nâng cao tính trạng tăng khối lượng và tỷ lệ nạc đối với nhóm lợn
MC15
Sản phẩm và các kết quả đạt được trong nghiên cứu về 2 nhóm lợn
MC3000 và MC15 là nguyên liệu di truyền để tạo dòng Móng Cái cao sản, kết hợp được những đặc điểm tốt vừa có số con sơ sinh sống/ổ cao của nhóm
MC3000, vừa có khả năng tăng khối lượng và tỷ lệ nạc cao của nhóm lợn MC15
góp phần xây dựng hệ thống giống lợn nội và lợn lai ngoại x nội ở miền Bắc Việt Nam đạt năng suất cao, chất lượng tốt và hiệu quả kinh tế lớn
Trang 53 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
đối với phương thức chăn nuôi trong nông hộ
4 Những đóng góp mới của luận án
- Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến một số tính trạng năng suất sinh sản, sinh trưởng và chất lượng thân thịt của 2 nhóm lợn MC3000 và MC15
- Xác định các tham số thống kê của các tính trạng cơ bản về sinh sản của nhóm lợn MC3000, sinh trưởng và chất lượng thân thịt của nhóm lợn MC15
- Xác định hệ số di truyền và giá trị giống về tính trạng số con sơ sinh sống/ổ của nhóm lợn MC3000, hệ số di truyền về tăng khối lượng và tỷ lệ nạc của nhóm lợn MC15
- Xác định hiệu quả chọn lọc và tiến bộ di truyền về số con sơ sinh sống/ổ của nhóm lợn MC3000, tăng khối lượng và tỷ lệ nạc của nhóm lợn MC15
- Chọn được nhóm lợn Móng Cái MC3000 có khả năng sinh sản tốt và nhóm MC15 có khả năng tăng khối lượng và tỷ lệ nạc cao
5 Bố cục của luận án
Luận án chính gồm 102 trang, trong đó: phần mở đầu 5 trang; tổng quan tài liệu 35 trang; đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 10 trang; kết quả nghiên cứu và thảo luận 50 trang; kết luận và đề nghị 2 trang; 27 bảng; 10 biểu đồ, 1 đồ thị; 124 tài liệu tham khảo, trong đó: 54 tài liệu tiếng việt, 64 tài liệu tiếng nước ngoài và 6 tài liệu từ mạng internet; phần phụ lục 8 trang
Chương 1 Tổng quan tài liệu
Để đáp ứng yêu cầu vật nuôi có giá trị giống cao không chỉ đối với một tính trạng mà đối với nhiều tính trạng khác nhau nhất là trong chọn lọc
Trang 6lợn giống, người ta đã đề xuất 4 phương pháp chọn lọc khác nhau: chọn lọc cá thể, chọn lọc lần lượt, loại thải độc lập và chỉ số chọn lọc
Giá trị kiểu hình (P) của bất kỳ một tính trạng số lượng nào cũng có thể phân chia thành giá trị kiểu gen (G) và sai lệch môi trường (E) Giá trị G
có thể phân thành giá trị cộng gộp của các gen (A), giá trị trội của các gen (D) và giá trị át gen (I) Giá trị E gồm hai thành phần là sai lệch môi trường chung (Eg) và sai lệch môi trường đặc biệt hay còn được gọi là sai lệch môi trường riêng (Es) Vì vậy, giá trị kiểu hình được biểu thị chi tiết như sau:
P = A + D + I + Eg + Es Hầu hết, những tính trạng có giá trị kinh tế của gia súc đều là những tính trạng số lượng (Nguyễn Văn Thiện, 1995 và Kiều Minh Lực, 1999) Tính trạng số lượng là những tính trạng được quy định bởi nhiều cặp gen và mỗi cặp gen chỉ có hiệu ứng nhỏ Tính trạng số lượng bị tác động rất lớn bởi môi trường và sự sai khác giữa các cá thể là sự sai khác về mức độ hơn là sự sai khác về chủng loại, đó là các tính trạng đa gen
Trong công tác giống lợn, các tính trạng số lượng được quan tâm nhất là: số con sơ sinh sống/ổ, tính trạng tăng khối lượng và tỷ lệ nạc Vì vậy, 3 tính trạng này được các nhà khoa học tập trung nghiên cứu nhiều nhất vì chúng là những thành phần chính của hiệu quả kinh tế trong ngành chăn nuôi lợn
Các tính trạng số con sơ sinh sống/ổ, tăng khối lượng và tỷ lệ nạc của lợn là các tính trạng số lượng Vì vậy, chúng đều do nhiều gen điều khiển, mỗi gen đóng góp một mức độ nhất định vào cấu thành năng suất của mỗi tính trạng Giá trị kiểu hình của các tính trạng này có sự phân bố liên tục và chịu tác động nhiều bởi yếu tố ngoại cảnh
Chương 2
Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là 2 nhóm lợn Móng Cái MC3000 và MC15 đã
được chọn từ năm 1999, tại Công ty Chăn nuôi Hải Phòng
Hai nhóm lợn MC3000 và MC15 là 2 nhóm thuần chủng được Bộ môn
Di truyền - Giống Vật nuôi, Viện Chăn Nuôi lựa chọn từ năm 1997 dựa
Trang 7trên tổng số 7 nhóm huyết thống của giống Móng Cái hiện có với đầy đủ các thông tin (Công ty Chăn nuôi Hải Phòng có 4 nhóm và Trại lợn giống Móng Cái Tràng Bạch có 3 nhóm) Mỗi nhóm có một đực giống đầu nhóm
và tên của đực giống đó được đặt tên cho nhóm
2.1.2 Thời gian nghiên cứu
Từ năm 1999 đến năm 2007
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu
- Công ty Chăn nuôi Hải Phòng - một trong những cơ sở giống của Nhà nước và được giao trách nhiệm giữ giống gốc giống lợn Móng Cái
- Các hộ chăn nuôi lợn nái Móng Cái ở Lào Cai được Trung tâm khuyến nông tỉnh Lào Cai chọn có đủ điều kiện và được tập huấn kỹ thuật chăn nuôi lợn Móng Cái
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng đến tính trạng năng suất sinh sản, sinh trưởng và chất lượng thân thịt của 2 nhóm MC3000 và MC15 ở 4 thế hệ
- Xác định được các tham số thống kê của các tính trạng cơ bản về sinh sản của nhóm lợn MC3000, sinh trưởng và chất lượng thân thịt của nhóm lợn MC15 ở 4 thế hệ
- Xác định được hệ số di truyền và giá trị giống về tính trạng số con sơ sinh sống/ổ của nhóm lợn MC3000, hệ số di truyền về tăng khối lượng và
tỷ lệ nạc của nhóm lợn MC15 tại 4 thế hệ
- Xác định được hiệu quả chọn lọc và tiến bộ di truyền về số con sơ sinh sống/ổ của nhóm lợn MC3000, tăng khối lượng và tỷ lệ nạc của nhóm lợn MC15 qua 4 thế hệ
Trang 8Sử dụng 200 lợn nái và 16 lợn đực giống của nhóm lợn MC3000 để nghiên cứu chọn lọc tính trạng số con sơ sinh sống/ổ qua 4 thế hệ Cụ thể:
Mỗi thế hệ sử dụng 50 nái giống và 4 đực giống được chọn từ lứa 2 và lứa 3 của 14 nái giống và 2 đực giống có giá trị giống về số con sơ sinh sống/ổ cao nhất ở thế hệ trước và giá trị kiểu hình của các chỉ tiêu về sinh sản: tuổi đẻ lứa đầu và số con cai sữa/ổ đạt mức từ trung bình trở lên để ước tính giá trị giống, làm căn cứ cho việc chọn lọc làm giống ở thế hệ tiếp theo Ngoài ra, các lợn nái và lợn đực được chọn làm giống phải có giá trị kiểu hình về tăng khối lượng đạt từ trung bình trở lên và độ dày mỡ lưng đạt từ trung bình trở xuống
Đối với nhóm lợn MC15 cũng sử dụng 50 lợn nái và 4 lợn đực giống/thế hệ để nghiên cứu tính trạng số con sơ sinh sống/ổ qua 4 thế hệ nhằm so sánh với nhóm MC3000
2.3.1.2 Chọn lọc tính trạng tăng khối lượng và tỷ lệ nạc
Đối với 2 tính trạng tăng khối lượng và tỷ lệ nạc, do có hệ số di truyền cao nên chúng tôi sử dụng phương pháp chọn lọc loại thải độc lập
Sử dụng số liệu của 200 lợn nái và 16 lợn đực giống của nhóm lợn
MC15 để nghiên cứu chọn lọc đồng thời 2 tính trạng tăng khối lượng và tỷ lệ nạc qua 4 thế hệ:
- Nuôi vỗ béo 200 con để chọn lọc các tính trạng tăng khối lượng và tỷ
lệ nạc: mỗi thế hệ 50 con (25 đực và 25 cái)
- Đo độ dày mỡ lưng tại điểm P2 của 50 lợn vỗ béo lúc kết thúc thí nghiệm
Từ kết quả của tăng khối lượng và độ dày mỡ lưng, chọn 10 nái và 2
đực có giá trị kiểu hình về tăng khối lượng cao nhất và độ dày mỡ lưng thấp nhất nhưng với giá trị kiểu hình về số con sơ sinh sống/ổ từ mức trung bình trở lên mới được làm giống
+ Mỗi thế hệ mổ khảo sát 10 lợn vỗ béo có giá trị kiểu hình về tăng khối lượng và độ dày mỡ lưng trung bình (con của 5 nái và 2 đực giống tốt nhất) để xác định tỷ lệ nạc
Đối với nhóm lợn MC3000 cũng sử dụng số liệu của 200 lợn nái và 16 lợn đực giống để tuyển chọn đồng thời 2 tính trạng tăng khối lượng và tỷ lệ nạc qua 4 thế hệ nhằm so sánh với nhóm MC15
Trang 92.3.2 Nuôi dưỡng lợn nái và lợn vỗ béo
- Lợn nái giống Móng Cái ở Công ty Chăn nuôi Hải Phòng và các hộ chăn nuôi tỉnh Lào Cai được nuôi theo quy trình chăn nuôi giống lợn Móng Cái của Công ty Chăn nuôi Hải Phòng:
- Thí nghiệm vỗ béo tại trại Móng Cái, Công ty Chăn nuôi Hải Phòng: + Vỗ béo bắt đầu lúc 3 tháng tuổi và kết thúc lúc 8 tháng tuổi
+ Chế độ ăn tự do
+ Cân lợn hàng tháng để xác định tính trạng tăng khối lượng trung bình + Đo độ dày mỡ lưng lúc kết thúc vỗ béo
- Các hộ chăn nuôi lợn Móng Cái ở tỉnh Lào Cai chỉ nuôi lợn nái sinh sản ở thế hệ 2 và thế hệ 3, mỗi thế hệ nuôi 10 lợn nái và 1 lợn đực mỗi nhóm 2.4 xử lý số liệu
Các số liệu về các chỉ tiêu sinh sản thu thập được kiểm tra bằng phần mềm PIGMANIA (2006)
Các tham số thống kê được xác định bằng chương trình SAS (1999) Các tham số di truyền về tính trạng số con sơ sinh sống/ổ và tăng khối lượng được xác định bằng chương trình MMLS-ML của Harvey (1990) và tính trạng tỷ lệ nạc được xác định bằng chương trình Minitab (2000)
Giá trị giống được xác định bằng chương trình PIGBLUP (2006)
So sánh mức độ sai khác giữa các số trung bình được xác định theo các phương pháp kiểm tra mức độ tin cậy số trung bình mẫu của Nguyễn Văn Đức và Lê Thanh Hải (2002)
Số liệu được xử lý tại Bộ môn Di truyền - Giống Vật nuôi, Viện Chăn nuôi
Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 3.1 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tính trạng năng suất sinh sản, sinh trưởng và chất lượng thân thịt
3.1.1 Một số yếu tố ảnh hưởng đến các tính trạng năng suất sinh sản của 2 nhóm lợn MC3000 và MC15
Mức độ ảnh hưởng của mỗi yếu tố nhóm giống, thế hệ và lứa đẻ đến các tính trạng năng suất sinh sản của 2 nhóm lợn MC3000 và MC15 được trình bày ở bảng 3.1 Hầu hết các tính trạng sinh sản của 2 nhóm lợn
Trang 10MC3000 và MC15 đều bị ảnh hưởng bởi các yếu tố nhóm giống, thế hệ và lứa
Kết quả phân tích mức độ ảnh hưởng của các yếu tố nhóm giống, thế
hệ và tính biệt đến các tính trạng chất lượng thân thịt của 2 nhóm lợn
MC3000 và MC15 cho thấy, các tính trạng chất lượng thân thịt của 2 nhóm này đều bị ảnh hưởng lớn bởi các yếu tố nhóm giống, thế hệ và tính biệt (P<0,05-P<0,001)
Trang 11được chọn làm tính trạng chọn lọc chính trong nghiên cứu này
3.2.1.1 Năng suất sinh sản của nhóm lợn MC3000 qua các thế hệ
Các giá trị trung bình bình phương nhỏ nhất và sai số chuẩn của các tính trạng năng suất sinh sản đối với nhóm lợn MC3000 được trình bày ở các bảng 3.4, 3.5, 3.6 và 3.7 Từ kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết các tính trạng năng suất sinh sản đối với nhóm lợn MC3000 đều có khuynh hướng tốt hơn qua mỗi thế hệ chọn lọc
Bảng 3.4 Năng suất sinh sản của nhóm lợn MC3000 ở thế hệ gốc
Bảng 3.5 Năng suất sinh sản của nhóm lợn MC3000 ở thế hệ 1
Trang 12Bảng 3.6 Năng suất sinh sản của nhóm lợn MC3000 ở thế hệ 2
Bảng 3.7 Năng suất sinh sản của nhóm lợn MC3000 ở thế hệ 3
Tuổi đẻ lứa đầu
Tuổi đẻ lứa đầu càng sớm thì thời gian sử dụng lợn nái càng dài Tuổi
đẻ lứa đầu của nhóm MC3000 trong nghiên cứu của chúng tôi qua 4 thế hệ cũng có khuynh hướng giảm từ thế hệ gốc đến thế hệ 3 Cụ thể, các giá trị
đạt được là: 375,42 ngày ở TH0, 369,30 ngày ở TH1, 361,50 ngày ở TH2 và 354,60 ngày ở TH3 Qua 4 thế hệ, nhóm MC3000 giảm 20,82 ngày (5,55%)
Số con sơ sinh sống/ổ
Đối với chăn nuôi lợn nái, số con sơ sinh sống/ổ là tính trạng quan trọng nhất, là chìa khoá quyết định năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh
tế chăn nuôi lợn nái Kết quả phân tích qua 4 thế hệ cho biết nhóm MC3000
khuynh hướng là số con sơ sinh sống/ổ tăng từ thế hệ gốc đến thế hệ thứ 3
Cụ thể, số con sơ sinh sống/ổ là: 11,82 con ở TH0, 12,31 con ở TH1, 12,88 con ở TH2 và 13,01 con ở TH3 Điều đó đã khẳng định được chọn lọc đóng vai trò quan trọng trong công tác giống nói chung và đặc biệt trong công tác giống đối với nhóm lợn Móng Cái MC3000 nói riêng Nhờ có chọn lọc,
số con sơ sinh sống/ổ của nhóm lợn MC3000 đã tăng lên đáng kể sau 4 thế hệ: tăng 1,19 con, đạt 10,07 % So với trung bình giống lợn Móng Cái trước khi được chọn lọc (10,56 con) đến thế hệ thứ 3, số con sơ sinh sống/ổ của nhóm MC3000 đã tăng được 2,45 con, tương đương 23,20 % Điều đó đã khẳng định được vai trò của chọn lọc có ý nghĩa rất lớn trong công tác chọn lọc số con sơ sinh sống/ổ của nhóm lợn MC3000
Trang 13Các giá trị số con sơ sinh sống/ổ ở nhóm MC3000 trong nghiên cứu này phù hợp với giá trị công bố của Lê Viết Ly (1999) nghiên cứu trên lợn Móng Cái là 10-14 con Các giá trị đạt được trong nghiên cứu cao hơn so với các kết quả cùng nghiên cứu trên giống lợn Móng Cái của các tác giả trong nước: cao hơn từ 0,88 đến 2,07 con so với các kết quả của Nguyễn Văn Đức (1997) (10,94 con), cao hơn từ 0,51 đến 1,70 con so với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Đức và Giang Hồng Tuyến (2000) (11,31 con), cao hơn từ 0,72 đến 1,91 con so với kết quả nghiên cứu của Lê Hồng Minh (2000) (11,10 con), cao hơn từ 1,77 đến 3,54 con so với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Nhiệm và cộng sự (2002) (9,48-10,05 con)
Số con cai sữa/ổ
Đối với giống lợn Móng Cái, do khối lượng sơ sinh nhỏ nên thời gian nuôi con thường kéo dài hơn lợn ngoại Trong nghiên cứu này, thời gian cai sữa của nhóm lợn MC3000 là 45 ngày Kết quả theo dõi cho thấy số con cai sữa/ổ của nhóm MC3000 tăng lên theo các thế hệ Các giá trị đạt được là: 9,45; 9,59; 9,61; 9,64 con/ổ, tương ứng với các thế hệ từ TH0 đến TH3
Mặc dù, số con sơ sinh sống/ổ cao, nhưng để tăng số lượng lợn cái làm nái vì đây là mục tiêu chính của việc sử dụng nguồn gen Móng Cái, cho nên chúng tôi chỉ giữ lại nuôi trung bình 10 lợn con sơ sinh/ổ, ưu tiên lợn cái Tính trạng số con cai sữa/ổ phụ thuộc vào số lợn con để lại nuôi/ổ Vì vậy, tuy số con sơ sinh sống/ổ tăng cao qua mỗi thế hệ chọn lọc, song
số con cai sữa/ổ qua 4 thế hệ chọn lọc có tăng nhưng không lớn Các kết quả phân tích cho thấy, ở mỗi thế hệ, mặc dù số lợn con đẻ lại nuôi tương
đương nhau nhưng số lợn con cai sữa/ổ đã tăng dần theo các thế hệ Điều
đó có thể giải thích do khả năng nuôi con của lợn nái ở thế hệ sau tốt hơn thế hệ trước và do số con sơ sinh sống/ổ nhiều cho nên những con được chọn nuôi có sức sống cao hơn
3.2.1.2 Số con sơ sinh sống/ổ của nhóm lợn MC3000 qua các lứa đẻ
Xu hướng chung, khả năng sinh sản của lợn nái là ở lứa đẻ thứ nhất thường có số con sơ sinh sống/ổ thấp nhất, sau đó tăng dần và đạt giá trị cao nhất ở lứa thứ 4-5, sau đó giảm dần ở các lứa sau
Qua các lứa đẻ cho thấy, số con sơ sinh sống/ổ của 8 lứa đẻ đều tăng lên qua các thế hệ (P<0,01-P<0,001), chứng tỏ hiệu quả chọn lọc đối với