1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp đánh giá hoạt động nhóm trong dạy học toán ở tiểu học

50 429 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 670,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

vậy đã làm phản tác dụng của việc tổ chức hoạt động nhóm, đặc biệt là với học sinh tiểu học và với môn toán khi mà kiến thức, kết quả là rất rõ ràng thì đánh giá như thế nào càng thể hiệ

Trang 1

HỌC TOÁN Ở TIỂU HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học

Người hướng dẫn khoa học

ThS Nguyễn Thị Hương

HÀ NỘI, 2015

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ của các thầy, cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình làm khóa luận này Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến cô

giáo – ThS Nguyễn Thị Hương - người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận

tình để tôi có thể hoàn thành khóa luận

Trong quá trình thực hiện đề tài khóa luận, dù đã cố gắng nhưng do thời gian và năng lực có hạn nên tôi vẫn chưa đi sâu khai thác hết được, vẫn còn nhiều thiếu sót và hạn chế Vì vậy, tôi mong nhận được sự tham gia đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và các bạn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 05 năm 2015

Sinh viên

Vũ Thị Bích

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài khóa luận: “Một số biện pháp đánh giá hoạt động nhóm trong

dạy học toán ở tiểu học” được tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của cô giáo –

ThS Nguyễn Thị Hương Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Kết quả thu được trong đề tài là hoàn toàn trung thực và không trùng với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác

Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm!

Hà Nội, tháng 05 năm 2015

Sinh viên

Vũ Thị Bích

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4

1.1 Cơ sở lí luận 4

1.1.1 Đánh giá 4

1.1.2 Hoạt động nhóm 5

1.1.3 Đánh giá hoạt động nhóm trong dạy học toán ở Tiểu học 7

1.2 Cơ sở thực tiễn 25

1.2.1 Mục đích điều tra 25

1.2.2 Nội dung điều tra 25

1.2.3 Đối tượng và thời gian điều tra 25

1.2.4 Phương pháp điều tra 25

1.2.5 Kết quả điều tra 26

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG NHÓM TRONG DẠY HỌC TOÁN Ở TIỂU HỌC 29

2.1 Biện pháp 1: Tổ chức lớp bồi dưỡng, tập huấn cho giáo viên về đánh giá, cách thiết kế các mẫu phiếu, cách sử dụng phiếu 29

2.1.1 Mục đích 29

2.1.2 Cách tiến hành 29

2.2 Biện pháp 2: Tăng cường vai trò của cá nhân học sinh và nhóm học sinh trong đánh giá 36

2.2.1 Mục đích 36

2.2.2 Cách tiến hành 36

2.3 Biện pháp 3: Kết hợp đánh giá giữa đánh giá kết quả của các đối tượng học sinh, nhóm, giáo viên trong việc đưa ra kết quả sau đánh giá 38

2.3.1 Mục đích 38

2.3.2 Cách tiến hành 38

KẾT LUẬN 42

PHỤ LỤC 43

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Theo UNESCO, bốn mục tiêu giáo dục của thế kỉ XXI là: học để biết, học để làm, học để sống và học để khẳng định bản thân Để đạt được những mục tiêu đó, giáo viên phải đổi mới từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, cách thức thực hiện

Xây dựng nền giáo dục của dân, do dân, vì dân, đảm bảo công bằng về

cơ hội học tập cho mọi người, tạo điều kiện để xã hội học tập và học tập suốt đời

Trong đó chú trọng vào đổi mới phương pháp dạy học, nhằm phát huy tính tích cực, nâng cao kiến thức, kĩ năng, tự giác, tự lực phát huy năng lực của học sinh ở tất cả các cấp học, bậc học Đặc biệt, ở bậc Tiểu học một trong những năng lực đó là năng lực hợp tác

Tuy nhiên khi tổ chức hoạt động nhóm giáo viên sẽ gặp phải không ít khó khăn như điều khiển cuộc thảo luận như thế nào cho hiệu quả, có học sinh không tham gia thảo luận thì làm thế nào

Hợp tác nhóm phải đảm bảo những yếu tố: Phụ thuộc tích cực vào nhau, đòi hỏi sự đối mặt, trách nhiệm cao của mỗi cá nhân, kĩ năng giao tiếp,

kĩ năng hoạt động xã hội

Và một điều rất quan trọng là khi tổ chức hoạt động nhóm thì giáo viên

sẽ đánh giá từng thành viên của nhóm như thế nào? Đó cũng là một vấn đề mà giáo viên gặp khó khăn và khá băn khoăn Làm thế nào để hoạt động nhóm được hiệu quả nhất? Hơn nữa việc đánh giá hoạt động nhóm của học sinh có thật sự tích cực và hiệu quả và công bằng không lại là một vấn đề? Nếu việc đánh giá học sinh trong hoạt động nhóm không chính xác sẽ dẫn tới: Một số học sinh sẽ không tham gia và có tư tưởng đẩy cho một số bạn thực hiện hoạt động nhóm đó, một số tham gia thì sau khi kết quả đánh giá không chính xác

Trang 7

vậy đã làm phản tác dụng của việc tổ chức hoạt động nhóm, đặc biệt là với học sinh tiểu học và với môn toán khi mà kiến thức, kết quả là rất rõ ràng thì đánh giá như thế nào càng thể hiện một cách rõ nét.Vậy phải làm thế nào để đánh giá được một cách chính xác nhất? Là một sinh viên khoa Tiểu học, tôi rất băn khoăn làm thế nào để đánh giá một cách tương đối chính xác trong hoạt động nhóm của học sinh tiểu học và đặc biệt là với môn toán Vì vậy tôi

xin chọn đề tài “Một số biện pháp đánh giá hoạt động nhóm trong dạy học toán ở tiểu học”

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu

Một số biện pháp đánh giá hoạt động nhóm trong dạy học toán ở Tiểu học

b Phạm vi nghiên cứu

Nội dung chương trình và phương pháp dạy học môn Toán ở Tiểu học

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu cơ sở lí luận về hoạt động nhóm, đánh giá, đánh giá hoạt động nhóm khi tổ chức các hoạt động dạy học Toán

- Tìm hiểu thực trạng đánh giá của giáo viên và học sinh khi dạy học theo nhóm

- Đề một số biện pháp để đánh giá hoạt động nhóm khi tổ chức các hoạt động dạy học Toán cho học sinh

Trang 8

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lí luận

- Phương pháp đàm thoại

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp thống kê toán học

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

- Phương pháp vấn đáp

6 Cấu trúc khoá luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung chính của khoá luận bao gồm:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2: Một số biện pháp đánh giá hoạt động nhóm trong dạy học Toán ở Tiểu học

Trang 9

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Đánh giá

1.1.1.1 Khái niệm

Theo quan điểm triết học, đánh giá là thái độ đối với những hiện tượng

xã hội, hoạt động hành vi của con người, xác định những giá trị của chúng tương xứng với các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức nhất định, được xác định bằng vị trí xã hội, thế giới quan, trình độ văn hoá

Tác giả Richan I Miller cho rằng: Đánh giá được chấp nhận “là sự việc

có giá trị” với ý nghĩa cuối cùng dẫn đến sự cải tiến hoạt động của cá nhân và tập thể

Theo Beeby: “Đánh giá là sự thu thập và lí giải một cách có hệ thống những bằng chứng dẫn tới sự phán xét về giá trị theo quan điểm hành động”

Theo Jean- Marie De Ketele (1989), đánh giá có nghĩa là:

+ Thu thập một tập hợp thông tin đủ thích hợp, có giá trị và đáng tin cậy

+ Xem xét mức độ phù hợp giữa tập hợp thông tin này và một tập hợp tiêu chí phù hợp với các mục tiêu định ra ban đầu hay được điều chỉnh trong quá trình thu thập thông tin

Trang 10

Đánh giá có nghĩa nhận định giá trị Những từ có nghĩa gần với đánh giá là phê bình, nhận xét, nhận định, bình luận, xem xét Theo viện ngôn ngữ học (1994) Từ điển Tiếng Việt Hà Nội: Nhà xuất bản khoa học xã hội

+ Hiện nay đã có sự đổi mới về cách đánh giá học sinh Tiểu học là đánh giá theo Thông tư 30 gồm đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì

+ Đánh giá là những hoạt động quan sát, theo dõi, trao đổi, kiểm tra nhận xét quá trình học tập, rèn luyện của học sinh, tư vấn, hướng dẫn, động viên học sinh, nhận xét định tính hoặc định lượng về kết quả học tập, rèn luyện, sự hình thành và phát triển một số năng lực của học sinh tiểu học Theo Thông tư số 30/2014/TT - BGĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 của Bộ trưởng

bộ giáo dục và đào tạo

Tóm lại: Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, rút ra những kết luận hoặc phán đoán về trình độ, phẩm chất của người học, hoặc đưa ra những quyết định về việc dạy học dựa trên cơ sở những thông tin đã thu thập được một cách hệ thống trong quá trình kiểm tra

- Về giáo dưỡng chỉ cho học sinh thấy mình đã tiếp thu điều vừa học đến mức độ nào, còn thiếu sót nào cần bổ sung

- Về mặt phát triển năng lực nhận thức giúp học sinh có điều kiện tiến hành các hoạt động trí tuệ như ghi nhớ, tái hiện, chính xác hoá, khái quát hoá,

hệ thống hoá kiến thức, tạo điều kiện cho học sinh phát triển tư duy sáng tạo,

Trang 11

- Về mặt giáo dục học sinh có tinh thần trách nhiệm cao trong học tập,

có ý chí vươn lên đạt những kết quả cao hơn, củng cố lòng tin vào khả năng của mình, nâng cao ý thức tự giác, khắc phục tính chủ quan tự mãn

Đối với giáo viên: Cung cấp cho giáo viên những thông tin “liên hệ ngược ngoài” giúp người học điều chỉnh hoạt động dạy

Đối với cán bộ quản lí giáo dục: Cung cấp cho cán bộ quản lí giáo dục những thông tin về thực trạng dạy và học trong một đơn vị giáo dục để có những chỉ đạo kịp thời, uốn nắn được những lệch lạc, khuyến khích, hỗ trợ những sáng kiến hay, bảo đảm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục

b Vai trò

Đánh giá nhằm nâng cao chất lượng giáo dục (bao gồm tất cả các hoạt động giáo dục, chương trình giáo dục, sản phẩm giáo dục) Chất lượng giáo dục được hiểu là sự phù hợp với mục tiêu giáo dục, nghĩa là đánh giá xác định mức độ đạt được các mục tiêu giáo dục định ra

Đánh giá đối với giáo viên:

- Đánh giá cung cấp cho giáo viên những thông tin để đưa ra những quyết định phù hợp liên quan tới hoạt động giảng dạy

- Đánh giá cung cấp cho giáo viên những thông tin để đánh giá hiệu quả giảng dạy của chính mình

- Đánh giá là cơ sở để giáo viên điều chỉnh, hoàn thiện hoạt động học của học sinh và hướng dẫn học sinh tự điều chỉnh, tự hoàn thiện hoạt động học của mình

Đối với học sinh:

- Hình thành ở học sinh nhu cầu, thói quen tự kiểm tra đánh giá

- Đánh giá cung cấp cho học sinh những thông tin ngược để điều chỉnh hoạt động học tập của mình

- Đánh giá khuyến khích học sinh có ý thức rèn luyện, bồi dưỡng tinh thần trách nhiệm và hình thành thói quen tốt trong học tập

Trang 12

Đối với cha mẹ học sinh

- Tham gia đánh giá quá trình và kết quả học tập, rèn luyện, quá trình hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của con em mình; tích cực hợp tác với nhà trường trong các hoạt động giáo dục học sinh

Đối với các cấp quản lí:

- Đánh giá cung cấp thông tin để chỉ đạo và điều chỉnh kịp thời hoạt động của các đơn vị giáo dục, đảm bảo hoạt động có hiệu quả

- Đánh giá cung cấp cơ sở để đưa ra các quyết định về nguồn lực, nhà trường, chương trình, đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên, học sinh

- Đánh giá cung cấp cơ sở để đưa ra các quyết định với người học: quyết định để học tiếp lên hay cần phải học lại, phân loại, sắp xếp

- Đánh giá giúp nhà quản lí đưa ra các quyết định để cải tiến và hoàn thiện nội dung hay chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học

1.1.1.3 Phân loại

a Theo mục tiêu của việc đánh giá

Đánh giá quá trình (formative): được sử dụng trong quá trình dạy và học để nhận được các phản hồi từ người học; xem xét mức độ thành công của việc dạy và học, chỉ ra trở ngại và tìm cách khắc phục

Đánh giá tổng kết (summative): nhằm tổng kết những gì người học đạt được, xếp loại người học, đề ra mục tiêu tiếp theo cho người học, lựa chọn những người thích hợp để tiếp tục đào tạo hoặc sử dụng trong tương lai; chứng tỏ hiệu quả của khoá học và hiệu quả việc dạy của giáo viên

Hai loại hình đánh giá nêu trên được tiến hành theo những cách hoàn toàn khác nhau Trong giảng dạy ở nhà trường, các cách đánh giá trong tiến hành thường gắn chặt với giáo viên, còn đánh giá kết thúc thường bám sát vào mục tiêu dạy học đã đề ra, và có thể tách khỏi giáo viên

Trang 13

b Theo phương thức thu thập thông tin để đánh giá

Chẳng hạn: Xét bề ngoài một câu hỏi đúng/ sai có vẻ là rất khách quan, tuy nhiên cần nhớ rằng quyết định để hỏi câu này - bao gồm ý kiến cho rằng

đó chính là câu hỏi cần phải đưa ra ý kiến như vậy là chủ quan

Ví dụ: Một cô gái đăng kí vào vị trí đánh máy cho một hãng quảng cáo

Cô gái được giao một bài kiểm tra đánh máy và được người phụ trách văn phòng phỏng vấn Kết quả kiểm tra cho thấy cô ta có thể đánh được 42 từ/ phút và mỗi trang không quá 2 lỗi - đó là cách kiểm tra đánh máy khách quan

Người phụ trách văn phòng xem bài của cô ấy và thấy rằng phần trình bày rất tốt

c Theo phương hướng sử dụng kết quả đánh giá

ĐG theo tiêu chuẩn (ĐG đối chiếu) và ĐG theo tiêu chí

Ví dụ: Câu chuyện dưới đây khái quát sự khác biệt giữa hai loại ĐG này:

Sau khi khám cho một bệnh nhân bị tai nạn giao thông, người nhà bệnh nhân đã hỏi bác sĩ Wun về khả năng phục hồi Bác sĩ Wun lắc đầu và trả lời:

“Thận của cô ta bị thương nặng và chúng tôi không thể cầm máu bên trong Tôi e rằng cô ta chỉ còn rất ít cơ hội”

Không thoả mãn với những lời báo trước này, gia đình bệnh nhân này quyết định hỏi ý kiến bác sĩ thứ hai là bác sĩ Too Khi được hỏi cùng câu hỏi,

bà bác sĩ mỉm cười và nói: “Bệnh nhân sẽ chậm phục hồi, nhưng so với các phụ nữ khác trong phòng bệnh thì các cơ hội phục hồi của bệnh nhân này là khá tốt”

Trang 14

Khi đưa ra lời phán xét về cơ hội phục hồi của bệnh nhân liên quan tới các tiêu chí thận bị thương nặng và chảy máu bên trong, bác sĩ Wun đã đưa ra lời đánh giá theo tiêu chí

Lời phán xét của bác sĩ Too căn cứ vào các cơ hội sống sót của bệnh nhân với cơ hội của các bệnh nhân khác ở trong phòng bệnh là đánh giá đối chiếu

i, Đánh giá theo tiêu chuẩn (norm - referrenced)

- Là đánh giá được sử dụng để xác định mức độ thực hiện của một cá nhân nào đó so với các cá nhân khác trong một nhóm mà trong đó việc đánh giá được thực hiện

- Trong đánh giá đối chiếu, bài kiểm tra được sử dụng để xác định việc thực thi của một cá nhân về một hệ các nhiệm vụ xác định có liên quan tới việc thực thi của những người khác cùng hoàn thành bài kiểm tra đó

ii, Đánh giá theo tiêu chí (criterion - referrenced)

- Là đánh giá được sử dụng để xác định mức độ thực hiện của một cá nhân nào đó so với các tiêu chí xác định cho trước

- Trong đánh giá theo tiêu chí, bài kiểm tra được sử dụng để xác định việc thực thi của một người theo một số chuẩn mực nhất định

Sử dụng KTĐG đối chiếu và KTĐG theo tiêu chí

Đánh giá đối chiếu cung cấp sự so sánh với các cá nhân khác nhau; đánh giá theo tiêu chí so sánh giữa cá nhân đó với một số mục tiêu hay nhiều mục tiêu đã định ra từ trước

Các bài kiểm tra dùng trong ĐG đối chiếu thường đưa ra một loạt điểm

số, nghĩa là có xu hướng dàn trải những người học ra Điểm số của bài kiểm tra theo tiêu chí thường gom những người học lại với nhau; vấn đề ở đây là việc dàn trải người học ra theo một hạng là không cần thiết cho một bài kiểm tra theo tiêu chí

Trang 15

Hình dung việc kiểm tra nhảy xa: Bài kiểm tra theo tiêu chí giống nhau

về bước nhảy trong đó vạch nhảy xa đặt cố định là 1m Bất kì người nào tham

dự kiểm tra này hoặc là người nhảy xa thành công hay không thành công

d Theo đối tượng đánh giá

- Đánh giá kết quả học tập của học sinh là quá trình thu thập và xử lí thông tin về trình độ, phẩm chất của người học trong quá trình học tập, lấy đó làm căn cứ cho những quyết định của giáo viên và nhà trường nhằm giúp người học học tập tiến bộ hơn

- Trong giáo dục ở nhà trường, đánh giá kết quả học tập học sinh tức là đánh giá mức độ hoàn thành các mục tiêu giáo dục đã đề ra cho học sinh sau một giai đoạn học tập Mục tiêu giáo dục được thể hiện ở mục tiêu của từng môn học cụ thể

Đánh giá giáo viên: Là quá trình thu thập thông tin về năng lực, trình

độ, phẩm chất của giáo viên

Đánh giá chương trình giáo dục: là sự thu thập thông tin về tính hiệu quả của chương trình giáo dục từ những người có liên quan trong việc giúp người học đạt được các mục tiêu giáo dục đã đặt ra

1.1.1.4 Công cụ, phương tiện đánh giá

Theo Hoàng Phê: “Công cụ là cái dùng để tiến hành một việc nào đó,

để đạt đến một mục đích nào đó”

Theo Nguyễn Lân: “Công cụ là phương tiện dùng để đạt một mục đích”

Trong khoá luận này công cụ được hiểu là các phương tiện được sử dụng trong suốt quá trình dạy và học nhằm đạt được các mục đích đánh giá Tính năng cơ bản của công cụ đánh giá là thu tập thông tin để cung cấp cho giáo viên và học sinh trong quá trình đánh giá và tự đánh giá

a Sổ ghi chép

Là một trong những phương tiện để thu thập thông tin có hệ thống, là căn cứ để giá viên đánh giá kết quả học tập của học sinh Giáo viên có thể

Trang 16

theo dõi và ghi lại những hành vi học tập của học sinh, những nhận xét về việc học của học sinh sau mỗi tiết học, bài học

Để thu thập thông tin từ phía học sinh thì giáo viên cần chú ý quan sát, nghe kết hợp với đánh giá con đường học sinh tìm tòi phát hiện kiến thức hoàn thiện kĩ năng và thái độ

b Bài kiểm tra

Gồm 2 loại:

b.1 Bài kiểm tra nói (kiểm tra miệng): là một thuật ngữ chỉ hoạt động đánh giá thường xuyên và trực tiếp mặt đối mặt giữa giáo viên và học sinh trong mỗi bài dạy mới hoặc sau một vài bài đã dạy nhằm đo lường một số hành vi thể hiện sự hiểu biết và khả năng ứng dụng những điều đã học của học sinh

Kiểm tra miệng dùng để đánh giá kết quả học tập của học sinh nhấn mạnh vào kĩ năng trình bày, giao tiếp của học sinh

b.2 Bài kiểm tra viết

Kiểm tra viết là hình thức kiểm tra phổ biến, được sử dụng đồng thời với nhiều học sinh ở cùng thời điểm Kiểm tra viết thường được sử dụng sau khi học xong một phần của chương, một chương hay nhiều chương, hoặc sau khi học xong toàn bộ chương trình Nội dung kiểm tra có thể bao quát từ vấn

đề lớn có tính chất tổng hợp đến vấn đề nhỏ Học sinh phải diễn đạt câu trả lời bằng ngôn ngữ viết

Dùng để kiểm tra, đánh giá kiến thức, kĩ năng của người học Gồm 2 loại: Trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan

c Bài tập

Giáo viên sử dụng bài tập trong sách giáo khoa hoặc vở bài tập để giao bài cho học sinh Ngoài ra, giáo viên có thể biên soạn các bài tập mới phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh

Trang 17

Là công cụ để đánh giá kĩ năng quan sát, nhận biết, tự chăm sóc bản thân, kĩ năng sử dụng lược đồ, bản đồ dụng cụ đo đạc,

Việc đánh giá dựa vào các biểu hiện cụ thể qua từng thao tác, từng bước hoặc sản phẩm cuối cùng học sinh thu được sau bài thực hành

e Bài báo cáo, thu hoạch

Báo cáo, thu hoạch dùng để đánh giá kĩ năng thu thập thông tin về một vấn đề nào đó: kĩ năng quan sát, so sánh, nhận xét, trình bày,

Hình thức: báo cáo, thu hoạch bằng miệng hoặc là bài viết

f Học sinh tự đánh giá

Bao gồm hoạt động học sinh tự đánh giá bản thân và đánh giá các bạn trong lớp Có thể dùng phiếu kiểm kê, thang xếp hạng, để học sinh đánh giá lẫn nhau Ngoài ra thực tế còn dùng thẻ, hoa, thang điểm,

Trên đây là một số công cụ đánh giá được dùng phổ biến, ngoài ra còn một số công cụ khác nữa

1.1.1.5 Tổ chức hoạt động đánh giá hoạt động nhóm ở tiểu học

Theo Thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 của

Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo về việc tổ chức hoạt động đánh giá gồm đánh giá thường xuyên (đánh giá bằng nhận xét) và đánh giá định kì (đánh giá bằng điểm số) kết quả học tập của học sinh

Trang 18

+ Dạng thứ hai là các câu tự luận có giới hạn, bài tập loại này có câu trả lời thường trong một phạm vi nội dung nhất định, hẹp hơn so với dạng bài thứ nhất

- Phối hợp việc sử dụng nhiều phương pháp, cách thức đánh giá : quan sát, vấn đáp, đàm thoại kết hợp phối hợp sử dụng các phiếu điều tra trong đó nổi bật đánh giá quá trình, đánh giá tổng kết

Trang 19

phát biểu cũng có cơ hội để đóng góp Kết quả thảo luận có thể trình bày, mỗi người một đoạn nối tiếp nhau,

- Trong suốt cuộc thảo luận nhóm nhỏ, giáo viên cần đi vòng quanh các nhóm và lắng nghe ý kiến của học sinh.Thỉnh thoảng cũng rất hữu ích nếu giáo viên xen lời bình luận vào cuộc thảo luận của một nhóm nào đó Đối với những đề tài nhạy cảm, thường có những tình huống mà học sinh sẽ cảm thấy bối rối, xấu hổ khi phải nói trước mặt giáo viên, khi giáo viên tránh không xen vào hoạt động của nhóm khi thảo luận

1.1.2.3 Đặc điểm

* Ưu điểm

- Tăng khả năng diễn đạt của học sinh

- Góp phần hình thành và phát triển các mối quan hệ giữa các học sinh với nhau, tin tưởng lẫn nhau trong học tập

- Kích thích trí sáng tạo và tưởng tượng của học sinh

- Tạo không khí thoải mái, cởi mở

* Nhược điểm

- Dễ có một số thành viên ỉ lại vào những thành viên khác trong nhóm

mà không chịu tham gia đóng góp xây dựng ý kiến cho nhóm

- Hạn hẹp về không gian và thời gian

1.1.2.4 Tổ chức hoạt động

Bước 1: Chia nhóm

Cách 1: Giáo viên có thể chia theo danh sách lớp

Với cách chia này đơn giản, không mất nhiều thời gian công sức của học sinh và giáo viên Tuy nhiên, việc chia nhóm theo cách này sẽ có thể có nhóm nhiều học sinh khá giỏi, có năng lực, có nhóm thì nhiều học sinh yếu và kém hơn dẫn đến tình trạng chênh lệch trình độ giữa các nhóm

Cách 2: Giáo viên cho học sinh bốc thăm một cách ngẫu nhiên

Trang 20

Chẳng hạn, một lớp học có 50 học sinh, giáo viên cho học sinh rút thăm

số nhóm một cách ngẫu nhiên, giáo viên có thể chia lớp học thành 10 nhóm, những học sinh nào có lá thăm trùng số với nhau sẽ được xếp vào một nhóm Với cách chia này sẽ giảm được chênh lệch trình độ giữa các nhóm sẽ tạo ra được sự công bằng, khách quan và khoa học hơn

Cách 3: Giáo viên cho học sinh tự nhận nhóm của mình

Đầu tiên giáo viên yêu cầu chia cả lớp thành các nhóm mỗi nhóm có số lượng người nhất định sau đó sẽ cho học sinh tự nhận nhóm của mình Với cách chia này, những học sinh chơi với nhau quen nhau sẽ nhận thành một nhóm, các thành viên trong nhóm sẽ hiểu nhau hơn, biết từng thành viên mạnh ở điểm nào Tuy nhiên cách chia này cũng làm chênh lệch trình độ giữa các nhóm

Bước 2: Giáo viên giao nhiệm vụ cho từng nhóm thực hiện

Giáo viên giao nhiệm vụ cho từng nhóm và yêu cầu học sinh thực hiện các công việc mà giáo viên giao cho

Bước 3: Thực hiện hoạt động nhóm

Giáo viên quan sát theo dõi khả năng làm việc nhóm của từng học sinh, từng thành viên trong nhóm hoàn thành nhiệm vụ của mình

Bước 4: Trình bày kết quả thảo luận

Giáo viên yêu cầu đại diện các nhóm lên trình bày kết quả thảo luận

của nhóm

1.1.2.5 Đánh giá hoạt động nhóm

- Đánh giá trong quá trình dạy học luôn được xem là khâu quyết định của quá trình dạy học Cách thức và tiêu chí đánh giá sẽ quyết định phương thức học, nội dung học và cách trả bài của người học, thậm chí quyết định cả phương thức dạy của thầy giáo

Trang 21

- Đánh giá trong hoạt động nhóm một mặt xác định được kiến thức mà học sinh nắm được trước đó, đặc biệt là khả năng giao tiếp, học hỏi lẫn nhau của học sinh, tinh thần hợp tác giữa các thành viên trong nhóm

- Theo thông tư 30 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, công tác đánh giá ở tiểu học không cho điểm như truyền thống, mà được thực hiện bằng cách đưa

ra các hoạt động cụ thể nhằm giúp người học nhận ra những thế mạnh và những điểm yếu của bản thân, từ đó có định hướng rõ ràng để điều chỉnh hoạt động cho phù hợp

a Mục tiêu đánh giá của hoạt động nhóm

Trong dạy học, việc đánh giá học sinh nhằm các mục đích chủ yếu sau:

- Đánh giá làm sáng tỏ mức độ đạt được và chưa đạt được về các mục tiêu dạy học, tình trạng kiến thức, kĩ năng, thái độ, định hướng năng lực của học sinh đối chiếu với yêu cầu của chương trình; phát hiện những nguyên nhân sai sót, giúp học sinh điều chỉnh hoạt động học

- Tạo cơ hội cho học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá, khuyến khích việc học tập của học sinh

- Giúp giáo viên có cơ sở thực tế để điều chỉnh hoạt động dạy

b Nội dung hoạt động nhóm

Đối với mọi bài học các tiêu chí đánh giá thường bao gồm: kiến thức,

kĩ năng, giá trị, năng lực

- Về kiến thức có các mức độ: biết, hiểu, vận dụng, ứng dụng, đề xuất vấn đề mới, giải quyết vấn đề trong tình huống mới, sáng tạo

- Về kĩ năng, có các mức độ: bắt chước, thuần thục, sáng tạo

Cơ sở chính để xác định nội dung đánh giá kết quả học tập là mục tiêu môn học, nội dung bài học và mục đích đánh giá

Khi xây dựng nội dung đánh giá cần tính đến sự cân đối về dung lượng

và thời lượng dành cho bài học

c Hình thức đánh giá hoạt động nhóm

Trang 22

Việc đánh giá cho mỗi bài học nói chung thường được thực hiện theo các cách thức sau:

- Đánh giá bằng quan sát quá trình hoạt động

+ Quan sát hoạt động các nhân

+ Thời gian tập chung chú ý

+ Cách thức học tập

+ Cách giải quyết vấn đề khi gặp khó khăn

+ Quan sát hoạt động nhóm

+ Phân công nhiệm vụ trong nhóm

+ Vai trò của các thành viên trong nhóm

+ Việc tham gia và hợp tác của các thành viên trong nhóm

+ Những đóng góp của các thành viên

+ Kết quả hoạt động nhóm

- Đánh giá bằng quan sát hoạt động và kết quả hoạt động

+ Nêu tiêu chí đánh giá

+ Học sinh tự đánh giá mình

+ Học sinh đánh giá lẫn nhau

+ Giáo viên đánh giá

1.1.3 Đánh giá hoạt động nhóm trong dạy học toán ở Tiểu học

1.1.3.1 Môn toán ở tiểu học

a Mục tiêu

Mục tiêu môn toán ở trường tiểu học là: Giúp học sinh

- Có những kiến thức cơ bản ban đầu về số học các số tự nhiên, phân

số, số thập phân; các đại lượng thông dụng; một số yếu tố hình học và thống

kê cơ bản

- Hình thành các kĩ năng thực hành: tính, đo lường, giải bài toán có nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống

Trang 23

- Góp phần bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp

lý và diễn đạt đúng (nói và viết), cách phát hiện và giải quyết các vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống, kích thích trí tưởng tượng; gây hứng thú học tập toán; góp phần hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có

kế hoạch, khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo

- Đại lượng và đo đại lượng (đo lường) Trong mạch kiến thức này còn

có tích hợp dạy học một số yếu tố thống kê nữa

- Giải toán có lời văn

Trong đó số học là mạch kiến thức trọng tâm của chương trình Nó đóng vai trò trục chuyển động chính, chi phối và hỗ trợ cho các mạch kiến thức còn lại

2 Về các vòng số:

Chương trình môn Toán được xây dựng theo nguyên tắc đồng tâm nghĩa là các kiến thức được lặp đi lặp lại qua nhiều vòng: vòng sau mở rộng hơn vòng trước, phát triển và củng cố các kiến thức, kĩ năng đã học trong vòng trước

Có thể coi toàn bộ chương trình gồm 7 vòng với “trục chính” là số học

như sau:

- Vòng 1: Vòng các số trong phạm vi 10 (học kì I lớp 1)

- Vòng 2: Vòng các số trong phạm vi 100 (học kì II lớp 1 + học kỳ 1 lớp 2 + nửa đầu học kỳ II lớp 2)

Trang 24

-Vòng 3: Vòng các số trong phạm vi 1000 (nửa sau học kì II lớp 2+ học

+Học kì II: Các phép tính với số đo thời gian

c Phương pháp (dạy học theo nhóm)

Trang 25

Đánh giá hoạt động nhóm được hiểu là quá trình rút ra những kết luận, nhận định, phán đoán về kết quả học tập, hoạt động của nhóm học sinh qua quá trình học tập môn toán ở tiểu học

- Phương pháp trắc nghiệm khách quan trong giáo dục là phương pháp dùng bài trắc nghiệm như một công cụ đo lường mức độ mà nhóm, cá nhân đạt được trong một lĩnh vực cụ thể Có thể chia phương pháp trắc nghiệm khách quan thành 5 loại:

+ Trắc nghiệm ghép đôi

+ Trắc nghiêm điền khuyết

+ Trắc nghiệm trả lời

+ Trắc nghiệm đúng sai

+ Trắc nghiệm nhiều lựa chọn

- Phương pháp quan sát là cách thức thu thập thông tin về đối tượng bằng cách tri giác trực tiếp đối tượng và các nhân tố cố liên quan đến đối tượng (dựa trên các công cụ quan sát đã thiết kế sẵn) Có hai loại quan sát là quan sát theo mẫu và quan sát không theo mẫu

- Phương pháp kiểm tra vấn đáp là cách thức thu thập thông tin về đối tượng trong đó giáo viên sử dụng một hệ thống câu hỏi/ yêu cầu đã chuẩn bị trước và căn cứ vào các câu trả lời của người học mà đo lường mức độ nắm vững kiến thức và kĩ năng của người học Có thể chia kiểm tra vấn đáp thành

3 loại:

+ Kiểm tra vấn đáp ghi nhớ - tái hiện đơn giản

+ Kiểm tra vấn đáp ghi nhớ tái hiện - sáng tạo

+ Kiểm tra vấn đáp ghi nhớ - vận dụng giải quyết vấn đề

Ví dụ: Hoạt động “kiểm tra bài cũ”: Ba tính chất nhận thức của hoạt

động kiểm tra bài cũ gồm ghi nhớ- tái hiện đơn giản, ghi nhớ - tái hiện sáng tạo, ghi nhớ-vận dụng, và ghi nhớ giải quyết vấn đề có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Ghi nhớ- tái hiện các chi tiết, dữ kiện, nguyên tắc, quy trình…cung

Ngày đăng: 06/11/2015, 09:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức trình bày sản phẩm - Một số biện pháp đánh giá hoạt động nhóm trong dạy học toán ở tiểu học
Hình th ức trình bày sản phẩm (Trang 42)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w