NGHIÊN CỨU BÓN ĐẠM VÀO THỜI KÌ LÀM ĐÒNG CHO LÚA VỤ XUÂN TẠI THÁI NGUYÊN
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
-o0o -
NGUYỄN THỊ LÂN
NGHIÊN CỨU BÓN ĐẠM VÀO THỜI KỲ LÀM ĐÒNG
CHO LÚA VỤ XUÂN TẠI THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Trồng trọt
Mã số: 62 62 01 01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN NĂM 2009
Trang 2Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS Lê Tất Khương
2 PGS.TS Hoàng Văn Phụ
Phản biện 1: GS.TS Bùi Đình Dinh
Hội Khoa học Đất Việt nam Phản biện 2: PGS.TS Vũ Văn Liết
Trường Đại học nông nghiệp Hà Nội Phản biện 3: PGS.TS Nguyễn Trí Hoàn
Viện cây Lương thực - Thực phẩm
Luận án được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án cấp nhà nước
Họp tại: Khoa Sau đại học, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên vào hồi 8 giờ 30 phút ngày 07 tháng 06 năm 2009
Có thể tìm hiểu luận án tại: Thư viện Quốc gia
Thư viện Trường ĐH Nông Lâm TN Khoa Sau đại học, trường ĐHNLTN
Trang 3TÀI ĐÃ CÔNG BỐ
1 Nguyen T Lan, Le Tat Khuong, Nguyen T Hung, Nguyen T Anh, Lee Buyn
Woo (2004), “Leaf selection for SPAD measurement to determine N
status of rice crop”, Korean Journal of Crop Science, 49(2), pp 164 – 165
2 Hung T Nguyen, Thanh D Nguyen, Lan T Nguyen, Anh T Nguyen and
Buyn - Woo Lee (2005), “Prescription of nitrogen topdressing rate at
panicle initiation stage based on fresh weight and SPAD value”, Eco –
Agricuture/Oganic Foot Expo Korea, pp 124 – 125
3 Hung T Nguyen, Jun Han Kim, Anh T Nguyen, Lan T Nguyen, Jin Chul
Shin, Byun-Woo Lee (2006), Using canopy reflectance and partial least squares regression to calculate within-field statistical variation on crop
growth anh nitrogen status of rice, precision Agric (7), pp 249 – 264
4 Nguyễn Thị Lân, Nguyễn Thế Hùng, Lê Sỹ Lợi, Lê Tất Khương, Hoàng Văn
Phụ (2008), Sử dụng máy đo chỉ số diệp lục để xác định lượng đạm bón
cho lúa vụ Xuân vào thời kỳ làm đòng tại Thái Nguyên, Tạp chí Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn số 6, tr 17 – 21
5 Nguyễn Thị Lân, Nguyễn Thế Hùng, Lê Sỹ Lợi, Lê Tất Khương, Hoàng Văn
Phụ (2008), Xác định lượng đạm bón thúc đòng cho lúa vụ Xuân tại Thái Nguyên dựa trên cơ sở đánh giá tình trạng dinh dưỡng đạm của cây
thông qua thang so màu lá, Tạp chí Khoa học và Công nghệ - Đại học
Thái Nguyên số 2, tập 1, tr 131 – 134
6 Nguyễn Thị Lân, Nguyễn Thế Hùng, Lê Sỹ Lợi, Lê Tất Khương, Hoàng Văn
Phụ (2008), Xác định đường giới hạn đạm cho sinh trưởng tối ưu của
giống lúa Khang dân 18 cấy vụ Xuân tại Thái Nguyên, Tạp chí Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn số 10, tr 19 – 23
7 Nguyễn Thế Hùng, Nguyễn Thị Lân, Lê Sỹ Lợi, Lê Tất Khương, Hoàng Văn
Phụ (2008), Nghiên cứu xác định liều lượng và hiệu quả sử dụng đạm cho giống Việt lai 20 cấy vụ Xuân trên đất dốc tụ pha cát tỉnh Thái
Nguyên, Tạp chí Khoa học và Công nghệ - Đại học Thái Nguyên số 3, tập 2,
tr.67 – 70
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhu cầu về đạm của lúa biến đổi rất lớn do sự khác nhau về khả năng cung cấp đạm của đất Vì vậy, bón đạm theo số lượng và số lần định sẵn không tránh khỏi khi thừa, khi thiếu đạm (Dobermann và cs., 2003; Nguyen, 2005) Để tăng hiệu quả sử dụng đạm thì liều lượng và thời gian bón cần được xác định dựa vào tình trạng dinh dưỡng đạm của lúa, vì hàm lượng đạm trong lá liên quan chặt với khả năng quang hợp (Dobermann và cs., 2003) Sự sinh trưởng và tình trạng dinh dưỡng đạm của lúa có thể sử dụng để dự đoán trước năng suất
và xác định lượng đạm cần bón ở giai đoạn làm đòng (Dobermann và cs., 2002; Gislum và cs., 2005; Kim, 2004; Nguyen, 2005; Peng và cs., 2005)
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam có diện tích đất trồng lúa là 70.800 ha Trong những năm qua người dân không ngừng cố gắng ứng dụng các tiến bộ mới như: giống, phân bón, phòng trừ dịnh hại… nên năng suất lúa tăng từ 38,7 tạ/ha (năm 2000) lên 46,3 tạ/ha (năm 2007) Tuy nhiên tỉnh vẫn áp dụng một quy trình bón phân của Trung tâm Khuyến nông với liều lượng và thời gian bón đạm cố định cho toàn bộ diện tích trồng lúa Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả sử dụng phân bón thấp Để nâng cao năng suất lúa và hiệu quả sử dụng đạm góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi
trường chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu bón đạm vào thời kỳ làm đòng
cho lúa vụ Xuân tại Thái Nguyên”
2 Mục tiêu nghiên cứu
1- Nghiên cứu xây dựng phương pháp bón đạm vào thời kỳ làm đòng trên
cơ sở đánh giá tình trạng dinh dưỡng đạm của lúa thông qua chỉ số diệp lục, màu sắc lá và đường giới hạn đạm cho sinh trưởng tối ưu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đạm, hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa vụ Xuân ở Thái Nguyên
2- Phổ triển phương pháp bón đạm vào thời kỳ làm đòng theo chỉ số diệp lục, màu sắc lá trên diện rộng thông qua việc đánh giá hiệu quả trên đồng ruộng nông dân và xây dựng mô hình sản xuất lúa áp dụng phương pháp bón đạm mới
3 Bố cục của Luận án
Luận án có187 trang gồm: 4 trang mở đầu, 43 trang tổng quan tài liệu, 11 trang đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu; 75 trang kết quả nghiên cứu và thảo luận; 2 trang kết luận và đề nghị; 1 trang các công trình khoa học đã công bố, 17 trang tài liệu tham khảo; 34 trang phụ lục Luận án có 37 bảng số liệu và 15 hình vẽ
Trang 54 Điểm mới của Đề tài Luận án
- Đề tài luận án đã xác định được hệ số và hiệu suất sử dụng đạm cho lúa
vụ Xuân ở từng giai đoạn sinh trưởng, trong đó bón đạm vào thời kỳ phân hoá đòng cho hiệu quả sử dụng đạm cao nhất
- Đã xác định được đường giới hạn đạm cho sinh trưởng tối ưu trong các giai đoạn sinh trưởng của lúa vụ Xuân
- Đã xây dựng quy trình kỹ thuật bón đạm cho lúa vụ Xuân tại Thái Nguyên dựa trên chỉ số diệp lục và màu sắc lá
và cs., 1987) Thời kỳ bón có ý nghĩa lớn trong việc nâng cao hiệu lực của đạm
và tăng năng suất (Nguyễn Văn Bộ và cs., 1996) Nghiên cứu của Patnaik và cs., (1967) cho kết quả, có 18% nguyên tử đánh dấu N15 được lúa hấp thu khi bón ở giai đoạn đẻ nhánh tối đa, 45% khi bón ở giai đoạn giữa làm đòng Nghiên cứu của Hung, (2006) thực hiện năm 2003 và 2004 trên 4 giống lúa ở Hàn Quốc cho kết quả: thời kỳ đẻ nhánh có hệ số sử dụng đạm rất thấp, đạt từ 24,4% (công thức bón 72 N) đến 33,1% (công thức bón 36 N), hiệu suất sử dụng đạm đạt 11,1 - 13,1 kg thóc/kg N, thấp hơn bón trước khi cấy (hệ số sử dụng đạm là 41,5%; hiệu suất sử dụng đạm là 23,3 kg thóc/kg N) Bón đạm vào thời kỳ làm đòng có hệ số sử dụng đạm cao nhất là 65,8% - 76,1% và hiệu suất
Trang 6sử dụng nhiều hơn Tuy nhiên những chỉ tiêu này phải làm trong phòng thí nghiệm và mất nhiều thời gian
Sử dụng máy đo chỉ số diệp lục (SPAD) và thang so màu lá (LCC) có thể đánh giá nhanh tình trạng dinh dưỡng đạm của cây trồng, sử dụng có hiệu quả cho lúa (Trần Thị Ngọc Huân và cs., 2002; Hussain và cs., 2000) Nghiên cứu của Peng và cs., (1996) cho kết quả là, thời gian từ 15 ngày sau khi cấy đến giữa thời kỳ làm đòng nếu CSDL ở lá thứ nhất nhỏ hơn 35 thì cần tiến hành bón đạm Năng suất hạt khi bón theo CSDL đạt khoảng 93 - 100% năng suất tối đa nhưng tổng lượng đạm bón thấp hơn, hệ số sử dụng đạm cao hơn so với công thức khuyến cáo (bón theo thời gian và lượng đạm định trước) Trần Thị Ngọc Huân và cs., (2002) đã tìm ra CSDL dưới 30 là ngưỡng thiếu đạm đối với lúa cao sản, bón đạm theo CSDL tiết kiệm được 20 - 40 kg N/ha so với lượng đạm khuyến cáo chung trong từng vụ và năng suất vẫn tăng 3 – 4 tạ /ha
Thí nghiệm trên đồng ruộng của nông dân khi nước không phải là yếu tố hạn chế ở Tây nam Bangladesh cho thấy: Sử dụng LCC cho việc quản lý dinh dưỡng đạm làm tăng năng suất hạt trung bình từ 0,1 – 0,7 tấn/ha, lợi nhuận tăng
từ 41 – 65 USD/ha/vụ phụ thuộc vào địa điểm và mùa vụ Nghiên cứu cũng xác định, giống lúa lai cần được bón 25 – 30 kg N/ha khi màu của lá thứ nhất xanh nhạt hơn thang màu 3,5 trong suốt giai đoạn từ đẻ nhánh đến giữa thời kỳ làm đòng (Murshedul Alam, 2005)
Ngô Ngọc Hưng và cs., (2004) nghiên cứu bón đạm cho lúa theo màu lá ở Cần Thơ đã tìm ra ngưỡng thiếu đạm của lúa khi màu lá xanh tương đương với màu 3 Trong khi Nguyễn Phước Tuyên và cs., (2005) khuyến cáo khi màu lá thấp hơn thang chuẩn là 5 thì cần bón bổ sung 50 kg urea/ha cho lúa, thời gian
áp dụng bảng so màu lá từ 14 – 49 ngày sau cấy Tuy nhiên cả hai nghiên cứu chưa xác định được lượng đạm cần bón ứng với từng thang màu chuẩn
Như vậy, có thể sử dụng SPAD, LCC để đánh giá nhanh tình trạng dinh dưỡng đạm và tính lượng đạm cần bón cho lúa Tuy nhiên sự tương quan giữa CSDL, màu lá với hàm lượng đạm trong cây phụ thuộc vào giống (Yamamoto
và cs., 2002), thời vụ trồng (Bullock và cs., 1998; Dwyer và cs., 1995), giai đoạn sinh trưởng (Chapman và cs., 1997), điều kiện trồng trọt (Simorte và cs., 2001) và kiểu gen (Peng và cs., 1993) Vì vậy sự tương quan phải xác định trong những điều kiện cụ thể
Trang 7Chương 2
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện trên 2 giống lúa là Khang dân 18 và Việt lai 20, cấy
vụ Xuân muộn trên đất dốc tụ pha cát
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm đến sinh trưởng, năng suất
và hiệu quả sử dụng đạm của lúa vụ Xuân tại Thái Nguyên
- Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian bón đạm thúc đòng đến sinh trưởng, năng suất và hiệu quả sử dụng đạm của lúa vụ Xuân
- Xác định lượng đạm bón đón đòng cho lúa vụ Xuân trên cơ sở đánh giá tình trạng dinh dưỡng đạm của lúa thông qua CSDL và màu sắc lá
- Ứng dụng phương pháp bón đạm đón đòng theo CSDL, màu sắc lá và xây dựng mô hình sản xuất thử trên đồng ruộng nông dân
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của tình trạng bón đạm khác nhau đến sinh
trưởng, năng suất, hiệu quả sử dụng đạm của lúa vụ Xuân năm 2005 và 2006
Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của thời gian bón đạm thúc đòng đến năng
suất, hiệu quả sử dụng đạm của lúa vụ Xuân năm 2005 và 2006
* Công thức 1, 2, 3: Bón đạm vào thời kỳ trước phân hóa đòng 10 ngày, phân hóa đòng và sau phân hóa đòng 10 ngày
Lượng đạm bón ở các thời kỳ (kg N/ha)
Trang 8Thí nghiệm 3: Xác định đường giới hạn đạm cho sinh trưởng tối ưu của
lúa vụ Xuân năm 2006 và 2007
* Công thức thí nghiệm (ĐVT: kg N/ha)
Lượng đạm bón vào thời gian sau cấy ngày
Thí nghiệm 4: Ứng dụng phương pháp bón đạm đón đòng theo CSDL
cho giống Khang dân 18, vụ Xuân năm 2007 và 2008 tại trường ĐHNLTN
Thí nghiệm 5: Ứng dụng phương pháp bón đạm đón đòng theo màu sắc
lá cho giống Khang dân18, vụ Xuân năm 2007 và 2008 tại trường ĐHNLTN
Công thức thí nghiệm: Bố trí giống thí nghiệm 4
Thí nghiệm 6: Ứng dụng phương pháp bón đạm đón đòng theo CSDL
trên đồng ruộng nông dân vụ Xuân năm 2007 và 2008
Thực hiện ở 3 xã, mỗi xã chọn 5 thửa ruộng, mỗi thửa ngăn làm 2 ô (ô 1 bón đạm theo quy trình kỹ thuật, ô 2 bón đạm thúc đòng theo CSDL)
Thí nghiệm 7: Ứng dụng phương pháp bón đạm đón đòng theo màu lá
trên đồng ruộng nông dân vụ Xuân năm 2007, 2008 (bố trí giống thí nghiệm 6)
Xây dựng mô hình sản xuất lúa vụ Xuân với phương pháp bón đạm mới
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu
- Các chỉ tiêu sinh trưởng, yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và xác
định tình trạng dinh dưỡng đạm của lúa tiến hành theo hướng dẫn của IRRI
- Đường giới hạn đạm cho sinh trưởng tối ưu của lúa vụ Xuân ở Thái Nguyên xác định theo phương pháp của Colenne và cs., (1999); Cui và cs., (2002)
Trang 9Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG ĐẠM NĂNG SUẤT VÀ HIỆU QUẢ SỬ
DỤNG ĐẠM CỦA LÚA VỤ XUÂN TẠI THÁI NGUYÊN
3.1.1 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến năng suất lúa
Bảng 3.6 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến năng suất lúa vụ Xuân năm
Việt lai 20
Khang dân 18
Việt lai 20
Khang dân 18
Việt lai 20
(CT: công thức, ns: không có ý nghĩa thống kê, x: tương tác)
* Ảnh hưởng của lượng đạm bón lót
Số liệu bảng 3.6 cho thấy: Công thức 2 (bón lót 40 kg N/ha) có năng suất
cao hơn chắc chắn công thức 1 (không bón đạm) từ 7,5 – 8,19 tạ/ha (giống
Khang dân 18); 11,87 – 13,21 tạ/ha (giống Việt lai 20) Như vậy bón lót 40 kg
N/ha làm tăng năng suất của cả giống lúa lai và lúa thuần, trong đó năng suất
của giống lúa lai tăng nhiều hơn
* Ảnh hưởng của lượng đạm bón thúc đẻ
Bón đạm thúc đẻ 30 kg N/ha (CT5) cho năng suất từ 44,19 – 47 tạ/ha
(giống Khang dân 18); 48,78 – 52,11 tạ/ha (giống Việt lai 20), sai khác không
có ý nghĩa thống kê so với công thức không bón thúc đẻ (CT2) Điều này có thể
Trang 10do công thức 2 được bón lót 40 kg N/ha trên nền 10 tấn phân chuồng hoai mục
đã đáp ứng đủ nhu cầu về đạm trong giai đoạn đẻ nhánh
* Ảnh hưởng của lượng đạm bón đón đòng
- Nhóm công thức không bón đạm thúc đẻ (CT 2, 3, 4): Bón đón đòng 30 – 60 kg N/ha (CT 3, 4) cho giống Khang dân18 có năng suất trung bình 2 vụ cao hơn công thức không bón đạm đón đòng (CT2) từ 7,29 – 9,66 tạ/ha Vụ Xuân 2005 năng suất lúa tăng theo lượng đạm bón, cao nhất ở công thức bón 60
kg N/ha (56,89 tạ/ha) Vụ Xuân 2006, bón 30 – 60 kg N/ha cho năng suất tương đương công thức không bón đạm đón đòng
Giống Việt lai 20, năng suất ở hai vụ đều có xu hướng tăng theo lượng đạm bón đón đòng Bón 60 kg N/ha (CT4) cho năng suất trung bình 2 vụ cao hơn chắc chắn công thức không bón đạm đón đòng (CT2) 9,96 tạ/ha Bón 30 kg N/ha (CT3) có năng suất sai khác không có ý nghĩa so với công thức không bón đạm đón đòng và công thức bón 60 kg N/ha
- Nhóm công thức được bón thúc đẻ 30 kg N/ha (CT 5, 6, 7): Bón 30 – 60
kg N/ha (CT 6, 7) cho giống Khang dân 18 có năng suất trung bình 2 vụ cao hơn chắc chắn công thức không bón đạm đón đòng (CT5) từ 6,35 – 6,49 tạ/ha Công thức bón 60 kg N/ha có năng suất giảm nhẹ so với công thức bón 30 kg N/ha Bón đón đòng 30 kg N/ha (CT6) cho giống Việt lai 20, năng suất trung bình 2 vụ cao hơn công thức không bón đạm (CT5) là 6,98 tạ/ha, bón 60 kg N/ha cho năng suất cao hơn công thức không bón đón đòng 7,92 tạ/ha
* So sánh hiệu quả của tổng lượng đạm bón cho lúa
Giống Khang dân 18: Công thức 3 có năng suất cao hơn công thức 5 là 6,25 tạ/ha chứng tỏ khi cùng bón 70 kg N/ha, chia hai lần thì bón lót 40 kg N/ha + 30 kg N đón đòng cho hiệu quả cao hơn bón lót 40 kg N/ha + 30 kg N thúc
đẻ Công thức 4 có năng suất sai khác không có ý nghĩa so với công thức 6 chứng tỏ cùng bón 100 kg N/ha chia làm hai thời kỳ: Bón lót 40 kg N + 60 kg N đón đòng có hiệu quả tương đương công thức bón lót 40 kg N + 30 kg N thúc
đẻ + 30 kg N đón đòng
Giống Việt lai 20 có năng suất cao hơn nhưng xu hướng biến động giữa các công thức tương tự giống Khang dân 18 Công thức 1 có năng suất là 36,26 tạ/ha tương đương công thức 1 của giống Khang dân 18 (36,71 tạ/ha), từ công thức 2 đến công thức 7 có năng suất cao hơn giống Khang dân 18 chứng tỏ bón đạm làm năng suất của giống Việt lai 20 tăng nhiều hơn giống Khang dân 18
Trang 113.1.2 Hiệu quả sử dụng đạm của giống Khang dân 18
Bảng 3.8 Hiệu quả sử dụng đạm của giống Khang dân 18 vụ Xuân năm
* Hiệu quả sử dụng đạm bón trước khi cấy
Số liệu bảng 3.8 cho thấy: Công thức 2 (bón lót 40 kg N/ha) có lượng
đạm cây hút cao hơn công thức 1 (không bón đạm) là 16,6 kg N/ha, lượng đạm
chênh lệch này do lúa lấy được từ phân bón Từ đó ta tính được hệ số sử dụng
đạm là 41,5% Tương tự, hiệu suất sử dụng đạm là 19,6 kg thóc/kg N
* Hiệu quả sử dụng đạm bón ở thời kỳ đẻ nhánh
Chênh lệch giữa lượng đạm cây hút của công thức 5 và công thức 2 là
lượng đạm cây lấy từ bón thúc đẻ Kết quả là, khi bón thúc đẻ 30 kg N/ha cây
chỉ hút được 12,2 kg N đạt 40,7% Từ chênh lệch về năng suất giữa công thức 2
và công thức 5 ta tính được hiệu suất sử dụng đạm là 3,5 kg thóc/kg N
* Hiệu quả sử dụng đạm bón đón đòng
Nhóm công thức không bón đạm thúc đẻ (CT 2, 3, 4): Bón 30 kg N/ha có
hệ số sử dụng đạm cao nhất là 77,7%; hiệu suất sử dụng đạm là 24,3 kg thóc/kg
N Bón 60 kg N/ha có hiệu quả sử dụng đạm tương ứng là 56,5% và 16,1 kg
thóc/kg N Như vậy hiệu quả sử dụng đạm phụ thuộc vào lượng đạm bón
Nhóm công thức được bón thúc đẻ 30 kg N/ha (CT 5, 6, 7): Hệ số sử
dụng đạm của công thức bón 30 kg N/ha đạt 69%; hiệu suất sử dụng đạm là
21,6 kg thóc/kg N Bón 60 kg N/ha có hệ số sử dụng đạm là 42,2%; hiệu suất sử
dụng đạm là 10,6 kg thóc/kg N
* So sánh hiệu quả của tổng lượng đạm bón cho lúa
Công thức 3 có hệ số dụng đạm cao nhất là 57%, hiệu suất suất sử dụng
đạm đạt 21,6 kg thóc/kg N chứng tỏ để đạt hiệu quả sử dụng đạm cao chỉ nên
Trang 12bón 70 kg N/ha Công thức 5 có hệ số sử dụng đạm đạt 41,1%, hiệu suất sử
dụng đạm đạt 12,7 kg thóc/kg N, thấp hơn công thức 3 tương ứng là 15,9%, 8,9
kg thóc/kg N cho thấy: Cùng bón 70 kg N/ha, thì việc chia 2 thời kỳ bót lót 40
kg N/ha + bón đón đòng 30 kg N/ha có hiệu quả cao hơn so với bón lót 40 kg
N/ha + 30 kg N/ha thúc đẻ
3.1.3 Hiệu quả sử dụng đạm của giống Việt lai 20
Bảng 3.9 Hiệu quả sử dụng đạm của giống Việt lai 20 vụ năm Xuân 2005
* Hiệu quả sử dụng đạm bón trước khi cấy
Bón đạm trước khi cấy (CT2 so với CT1) có hệ số sử dụng đạm trung
bình 2 vụ là 42,8%, cao hơn giống Khang dân 18 là 1,3% Hiệu suất sử dụng
đạm đạt 31,4 kg thóc/kg N, cao hơn giống Khang dân 18 là 11,8 kg thóc/kg N
* Hiệu quả sử dụng đạm bón ở thời kỳ đẻ nhánh
Bón 30 kg N vào thời kỳ đẻ nhánh, giống Việt lai 20 hút được 12,5 kg N
đạt 41,7% lượng đạm bón Năng suất chênh lệch giữa công thức 5 và công thức
2 là 1,64 tạ/ha từ đó tính hiệu suất sử dụng đạm là 5,5 kg thóc/kg N
* Hiệu quả sử dụng đạm bón đón đòng
Nhóm công thức không bón đạm thúc đẻ (CT 2, 3, 4): Hệ số sử dụng đạm
từ 56,8% (công thức bón 60 kg N/ha) đến 79,7% (công thức bón 30 kg N/ha)
Hiệu suất sử dụng đạm tương ứng là 16,6 – 25,4 kg thóc/kg N
Nhóm công thức được bón thúc đẻ 30 kg N/ha (CT 5, 6, 7): Bón đón đòng
30 kg N/ha có hệ số sử dụng đạm là 70,7%, hiệu suất sử dụng đạm là 23,3 kg
thóc/kg N Bón 60 kg N/ha có các hệ số tương ứng là 47,8% và 13,2 kg thóc/kg
N Như vậy, hệ số và hiệu suất sử dụng đạm của các công thức đều thấp hơn so
với nhóm không bón đạm vào thời kỳ đẻ nhánh
Trang 13* So sánh hiệu quả của tổng lượng đạm bón cho lúa
Hệ sử dụng đạm ở công thức 3 đạt cao nhất là 58,6%, hiệu suất sử dụng
đạm đạt 28,8 kg thóc/kg N chứng tỏ giống Việt lai 20 cũng chỉ cần bón 70 kg
N/ha cho cả thời kỳ sinh trưởng, phát triển Công thức 3 có hệ số sử dụng đạm
cao hơn công thức 5 là 16,3%, hiệu suất sử dụng đạm cao hơn 8,5 kg thóc/kg N
chứng tỏ cùng lượng đạm 70 kg N/ha, thì việc chia 40 kg N/ha bón lót + đón
đòng 30 kg N/ha cho kết quả tốt hơn
3.2 ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI GIAN BÓN ĐẠM THÚC ĐÒNG ĐẾN NĂNG SUẤT
Khang dân 18
Việt lai 20
Khang dân 18
Việt lai 20
(CT: Công thức, ns: không có ý nghĩa thống kê, x: tương tác)
Đối với nền 1: Công thức 1 có năng suất đạt 49,77 – 51,08 tạ/ha (giống
Khang dân 18); 53,19 – 54,58 tạ/ha (giống Việt lai 20), sai khác không có ý
nghĩa thống kê so với công thức 2 và 3 Công thức 3có năng suất thấp hơn chắc