NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG ĐẬU TƯƠNG XUÂN TRÊN ĐẤT DỐC Ở TỈNH BẮC CẠN
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRẦN VĂN ĐIỀN
NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG ĐẬU TƯƠNG XUÂN TRÊN ĐẤT DỐC
Ở TỈNH BẮC KẠN
Chuyên ngành: Trồng trọt
Mã số: 62 62 01 01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên, 2010
Trang 23 Thời vụ gieo đậu tương xuân trên đất dốc ở Tỉnh Bắc Kạn thích
hợp nhất là từ giữa đến cuối tháng 3 dương lịch, gieo ở thời vụ
này giống ĐT22 cho năng suất từ 21,61-23,67 tạ/ha, gieo sớm
hay muộn hơn thời vụ trên đều làm giảm năng suất
4 Mật độ gieo trồng giống đậu tương ĐT22 thích hợp nhất trong vụ
xuân trên đất dốc là 30-40 cây/m2, với mật độ gieo trồng này giống
đậu tương ĐT22 cho năng suất cao nhất từ 23,25 – 25,50 tạ/ha
5 Trong điều kiện vụ xuân trên đất dốc giống đậu tương ĐT22 cho
năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất khi áp dụng tổ hợp phân
bón có tỷ lệ 30 N + 90 P205 + 45 K2O trên nền bón vôi 300 kg/ha
Khi áp dụng tổ hợp phân bón này, năng suất hạt đạt được 25,77
tạ/ha và thu được lãi thuần là 11,45 triệu đồng/ha
6 Tất cả các công thức trồng ngô xen vào đậu tương đều mang lại
hiệu quả kinh tế (lãi thuần) cao hơn đậu tương trồng thuần Lãi
thuần của phương thức trồng xen ngô với mật độ 15.000 cây
ngô/ha (3 cây ngô/2 m2) cho hiệu quả kinh tế cao nhất đạt được
15,13 triệu đồng/ha
7 Các biện pháp che phủ bằng cỏ và rơm rạ khô, phân xanh hoặc nilon
kết hợp với các băng chắn xói mòn là những băng cỏ tự nhiên không
những giảm lượng đất bị xói mòn từ 35-66%, còn có tác dụng làm
tăng năng suất đậu tương lên từ 7-14% và tăng hiệu quả kinh tế từ
15-17% so với công thức không thiết lập băng cỏ hạn chế xói mòn
và không che phủ giữ ẩm
8 Các biện pháp kỹ thuật cải tiến đề xuất dựa trên kết quả nghiên cứu
đã được người dân ở Bắc Kạn triển khai trên 35 ha mô hình thâm
canh đậu tương xuân trên đất dốc cho năng suất bình quân đạt 19,57
tạ/ha, vượt năng suất đậu tương ngoài mô hình tới 48,4%
ĐỀ NGHỊ
1 Triển khai tiếp các nghiên cứu về quản lý sâu bệnh hại tổng hợp
(IPM) trên cây đậu tương xuân để giảm chi phí thuốc bảo vệ thực
vật và đảm bảo an toàn vệ sinh sản phẩm hạt đậu tương
2 Tiếp tục nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật đưa giống đậu tương
ĐT22 vào cơ cấu cây trồng vụ xuân cho chân đất ruộng 1 vụ lúa
không chủ động nước tại tỉnh Bắc Kạn
MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài: Tỉnh Bắc Kạn có 37,7 nghìn ha đất
cho sản xuất nông nghiệp, trong đó diện tích đất dốc dành cho các cây màu chiếm 12,5 nghìn ha (Cục Thống kê tỉnh Bắc Kạn, 2007) Đậu tương là một cây trồng quan trọng đứng thứ 3 sau cây lúa và cây ngô, nhưng hiện nay người dân ở tỉnh Bắc Kạn chủ yếu vẫn chỉ trồng một vụ đậu tương hè Khoảng 65% quỹ đất dốc (8,0 nghìn ha) của tỉnh
đã được khai thác trong vụ xuân trồng các cây màu như ngô, sắn, khoai
và đậu tương v.v tuy nhiên một diện tích đất dốc khá lớn khoảng 4,5 nghìn ha vẫn chưa được khai thác sử dụng (Ma Đình Quáng, 2005) Mặc dù tỉnh Bắc Kạn đã có chủ trương và nhiều giải pháp hỗ trợ người dân phát triển cây đậu tương trong vụ xuân, nhưng diện tích gieo trồng đậu tương trong vụ xuân trên đất dốc hàng năm vẫn rất ít, chỉ chiếm từ 2-3% (100-120 ha/năm) quỹ đất dốc hiện có chưa sử dụng (Sở NN & PTNT tỉnh Bắc Kạn, 2007) Có nhiều nguyên nhân hạn chế phát triển đậu tương vụ xuân trên đất dốc ở Bắc Kạn, nhưng thiếu một bộ giống đậu tương và một quy trình kỹ thuật thích hợp cho vụ xuân trên đất dốc được xác định là nguyên nhân chính cản trở sản xuất đậu tương của tỉnh Với lý do trên chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật trồng đậu tương
xuân trên đất dốc ở tỉnh Bắc Kạn”
Ý nghĩa khoa học: Đề tài là một công trình nghiên cứu điều
tra đánh giá thực trạng sản xuất đậu tương xuân, đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển và cho năng suất của một số giống đậu tương
và nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh tăng năng suất đậu tương gieo trồng trong vụ xuân trên đất dốc tại tỉnh Bắc Kạn Các kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh tăng năng suất đậu tương xuân trên đất dốc tại tỉnh Bắc Kạn cũng như các tỉnh khác thuộc vùng miền núi phía Bắc có điều kiện sinh thái tương tự Mặt khác kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là những cơ sở và gợi ý cho các nghiên cứu tiếp theo về cây đậu tương
ở vùng miền núi phía Bắc Việt Nam
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu giúp cho hệ thống
khuyến nông các cấp và nông dân của tỉnh Bắc Kạn lựa chọn được những giống đậu tương tốt và biện pháp kỹ thuật thâm canh phù hợp với điều kiện canh tác đất dốc trong vụ xuân ở tỉnh Kết quả nghiên
Trang 3cứu của đề tài giúp cho tỉnh phát triển thêm một vụ đậu tương xuân
trên những diện tích đất dốc thường bỏ hoá trong vụ xuân, tăng hệ số
sử dụng đất dốc, duy trì và cải thiện độ phì của đất, giảm bớt dư thừa
lao động nông thôn trong vụ xuân, góp phần vào phát triển kinh tế xã
hội xoá đói giảm nghèo cho người dân trong vùng
Mục đích: Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật chính nhằm
tăng năng suất cây đậu tương gieo trồng trong vụ xuân trên đất dốc,
góp phần hoàn thiện qui trình thâm canh và phát triển sản xuất đậu
tương xuân ở tỉnh Bắc Kạn
Yêu cầu: (i) Đánh giá được thực trạng bao gồm cả các yếu tố
thuận lợi và khó khăn trong sản xuất đậu tương xuân trên đất dốc tại
tỉnh Bắc Kạn; (ii) Xác định được giống đậu tương phù hợp với điều
kiện sinh thái của tỉnh; (iii) Xác định được một số biện pháp kỹ thuật
chủ yếu trong thâm canh tăng năng suất đậu tương xuân trên đất dốc;
(iv) Xây dựng được mô hình trình diễn, bước đầu đề xuất qui trình kỹ
thuật thâm canh đậu tương xuân trên đất dốc cho tỉnh Bắc Kạn
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu
chính là các giống đậu tương mới được chọn tạo ra từ các cơ quan
nghiên cứu trong nước, có tiềm năng cho năng suất cao trong vụ xuân và
có một số đặc điểm sinh trưởng phát triển phù hợp với điều kiện canh tác
trên đất dốc ở các tỉnh miền núi phía Bắc Các giống đậu tương được
đưa vào các thí nghiệm nghiên cứu bao gồm: DT84, DT96, ĐVN5,
ĐT22, VX93 và Vàng Cao Bằng Địa bàn nghiên cứu và ứng dụng
chính của đề tài là diện tích đất dốc dùng cho canh tác nông nghiệp ở
tỉnh Bắc Kạn Các nghiên cứu về điều tra tình hình sản xuất đậu tương,
xác định giống đậu tương phù hợp và biện pháp kỹ thuật thâm canh đậu
tương trên đất dốc được triển khai ở một số huyện đại diện có trồng
nhiều đậu tương của tỉnh như Ba Bể, Chợ Mới, Bạch Thông, Na Rì Các
thí nghiệm được bố trí trên đất vàng đỏ có độ dốc <15o chủ yếu dùng để
trồng cây màu trong vụ hè và bỏ hoá trong vụ xuân
Những đóng góp mới của luận án: Đề tài đã đánh giá được
Bắc Kạn là một tỉnh có tiềm năng lớn để phát triển đậu tương xuân
trên đất dốc, nhưng sản xuất đậu tương xuân của tỉnh lại chưa phát
triển Có tới 95,8% số hộ dân có đất dốc có thể trồng được đậu tương
xuân, nhưng mới chỉ 18,3% số hộ trồng đậu tương xuân với năng
suất thấp (9,9 tạ/ha) Những khó khăn chính cản trở phát triển sản
xuất đậu tương xuân trên đất dốc được xác định là thiếu giống thích
(49,5%) Kết quả áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới trong sản xuất đậu tương xuân đã đưa năng suất của 35 ha đậu tương xuân lên 19,57 tạ/ha vượt năng suất đậu tương ngoài mô hình là 5,81tạ/ha (48,4%)
Bảng 3.49 Diện tích và năng suất một số mô hình trồng đậu tương xuân trên đất dốc ở tỉnh Bắc Kạn trong năm 2007 và 2008
Mô hình áp dụng KT cải tiến Năm và địa điểm
Diện tích (ha)
NSTB (tạ/ha)
Số hộ (hộ)
NSTB ngoài mô hình
(tạ/ha)
Năm 2007
Khang Ninh - Huyện Ba Bể 4,5 18,27 17 14,93
Bình Văn - Huyện Chợ Mới 7,2 17,84 32 12,34
Tổng và trung bình năm 14,3 19,42 53 14,33
Năm 2008
Nông Hạ - Huyện Chợ Mới 8,9 19,56 178 13,12 Nông Thịnh - Huyện Chợ Mới 5,2 18,47 105 12,63 Lạng San - Huyện Na Rì 3,1 19,35 16 13,28 Văn Minh - Huyện Na Rì 3,7 21,49 21 13,74
Tổng và trung bình năm 20,9 19,72 320 13,19
Tổng và trung bình 2 năm 35,2 19,57 373 13,76
KT: Kỹ thuật; NSTB: Năng suất trung bình
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ KẾT LUẬN
1 Có tới 95,8% số hộ dân có đất dốc có thể trồng được đậu tương xuân, nhưng mới chỉ 18,3% số hộ trồng đậu tương xuân với năng suất thấp (9,9 tạ/ha) Có nhiều nguyên nhân hạn chế sản xuất cây đậu tương xuân trên đất dốc như khô hạn, rét, phá hoại của trâu
bò thả rông, tuy nhiên thiếu bộ giống thích hợp và quy trình kỹ thuật hướng dẫn trồng đậu tương vụ xuân trên đất dốc được coi là nguyên nhân hay khó khăn chính
2 Giống đậu tương ĐT22 có thời gian sinh trưởng biến động từ
94-96 ngày, cho năng suất cao và ổn định từ 18,72-22,29 tạ/ha, đặc biệt hạt có khả năng duy trì tỷ lệ nảy mầm tốt sau 1 năm bảo quản, được xác định là giống đậu tương phù hợp với điều kiện gieo trồng trong vụ xuân trên đất dốc ở tỉnh Bắc Kạn
Trang 43.4 Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào xây dựng mô hình thâm
canh đậu tương xuân trên đất dốc ở tỉnh Bắc Kạn
3.4.1 Đề xuất quy trình kỹ thuật thâm canh đậu tương xuân trên đất dốc
tại tỉnh Bắc Kạn
Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu của đề tài (về giống, thời
vụ, mật độ, phân bón, kỹ thuật canh tác đất dốc) kết hợp với những
kỹ thuật canh tác đậu tương truyền thống của người dân ở tỉnh Bắc
Kạn đang áp dụng, một quy trình kỹ thuật thâm canh tăng năng suất
đậu tương xuân trên đất dốc đã được đề xuất Các biện pháp kỹ thuật
cải tiến chính áp dụng trong thâm canh đậu tương đó là:
- Sử dụng giống đậu tương ĐT22;
- Thời vụ gieo: từ giữa đến cuối tháng 3 hàng năm (15-30/3);
- Mật độ gieo: 30-40 cây/m2;
- Phân bón: bón với liều lượng 30 N + 90 P2O5 + 45 K2O + 300
kg vôi bột;
- Phòng trừ sâu bệnh: Phun thuốc phòng trừ sâu bệnh 4 lần như
quy trình phòng trừ sâu bệnh của Trung tâm khuyến nông tỉnh
Bắc Kạn (2002);
- Biện pháp giữ ẩm và hạn chế xói mòn: Trên nương đậu tương
để băng cỏ tự nhiên rộng 0,5 m; đất trồng được che phủ bằng
cây phân xanh sẵn có tại địa phương với lượng 3 kg/m2;
- Với đậu tương trồng xen: Trồng xen ngô với mật độ 15000
cây/ha (3 cây ngô/2 m2);
- Các biện pháp kỹ thuật khác áp dụng như Quy trình trồng đậu
tương của Trung tâm khuyến nông tỉnh Bắc Kạn (2002)
Qui trình kỹ thuật đề xuất này đã được tập huấn cho người dân để
thực hiện xây dựng các mô hình trình diễn tại địa bàn sản xuất của tỉnh
3.4.2 Kết quả xây dựng một số mô hình thâm canh đậu tương
xuân trên đất dốc tại Bắc Kạn trong 2 năm 2007 và 2008
Kết quả triển khai một số mô hình trồng đậu tương tại một số
xã của tỉnh Bắc Kạn cho thấy giống đậu tương ĐT22 cho năng suất
khá cao và ổn định (Bảng 3.49) Năm 2007 với diện tích trồng 14,3
ha năng suất bình quân là 19,42 tạ/ha vượt năng suất đậu tương ngoài
mô hình là 5,09 tạ/ha (35,5%) Năm 2007 có 53 hộ tham gia ứng
dụng tiến bộ kỹ thuật mới trong sản xuất đậu tương Năm 2008 với
20,9 ha mô hình đậu tương kỹ thuật mới đã cho năng suất trung bình
là 19,57 tạ/ha vượt năng suất đậu tương ngoài mô hình 6,53 tạ/ha
hợp với vụ xuân, thiếu hướng dẫn về quy trình kỹ thuật, khô hạn và
rét ở đầu vụ, mưa nhiều ở cuối vụ và phá hại của trâu bò thả rông
Đề tài đã xác định được giống đậu tương mới ĐT22 là giống cho năng suất cao và ổn định, chống chịu khá với sâu bệnh, đặc biệt
là hạt có khả năng duy trì tỷ lệ nảy mầm cao trong điều kiện bảo quản thông thường ở gia đình nông dân, nên phù hợp với điều kiện sản xuất đậu tương xuân trên đất dốc ở Bắc Kạn
Đề tài đã xác định được một số biện pháp kỹ thuật chính trong thâm canh tăng năng suất đậu tương xuân trên đất dốc tại tỉnh Bắc Kạn đảm bảo hiệu quả kinh tế cao đó là: gieo ở thời vụ từ giữa đến cuối tháng 3 dương dịch; gieo với mật độ: 30-40 cây/m2; bón phân với liều lượng 30 N + 90 P2O5 + 45 K2O + 300 kg vôi; trồng xen ngô với đậu tương với mật độ 15000 cây ngô/ha (3 cây ngô/2 m2); và áp dụng phương pháp che phủ bằng cây phân xanh để giữ ẩm đất kết hợp với băng cỏ tự nhiên để hạn chế xói mòn
Khối lượng và cấu trúc luận án: Luận án gồm 195 trang, 49
bảng biểu, 2 biểu đồ, 8 ảnh minh họa, 180 tài liệu tham khảo Cấu trúc luận án gồm 8 phần: mở đầu, tổng quan tài liệu nghiên cứu trong
và ngoài nước, vật liệu nội dung và phương pháp nghiên cứu, kết quả
và thảo luận, kết luận và đề nghị, một số bài báo đã công bố liên quan đến nội dung luận án, tài liệu tham khảo và phụ lục
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cở sở khoa học của việc tăng năng suất cây đậu tương
Cơ sở sinh lý của việc tăng năng suất cây trồng đã được xây dựng bởi Charles-Edwards (1982) và nhiều nhà nghiên cứu khác thể hiện qua công thức: năng suất kinh tế là hàm số tích của tổng sinh khối tích lũy và hệ số thu hoạch (HI)
Năng suất kinh tế (NS) = Tổng sinh khối x HI
Các nhà chọn giống và nông học thường định hướng chọn giống và áp dụng các biện pháp kỹ thuật hợp lý để để đạt được năng suất kinh tế cao theo một số cơ chế sau:
1.1.1 Tăng khả năng tiếp nhận năng lượng để tăng tổng sinh khối
Trong điều kiện canh tác bình thường, tỷ lệ sinh trưởng của cây đậu tương là hàm tuyến tính của năng lượng ánh sáng hấp thụ được (Muchow and Charles-Edwards, 1982) Vì thế để tăng được tổng sinh
Trang 5khối cần tăng khả năng tiếp thu năng lượng ánh sáng mặt trời của bộ
lá (Charles-Edwards, 1982) Ánh sáng mặt trời chiếu xuống mặt đất
mà không được bộ lá của cây hấp thu sẽ lãng phí và ít có tác dụng, vì
vậy bộ lá của cây khép tán càng sớm hay ruộng đậu tương càng khép
tán sớm năng lượng tiếp thu được sẽ càng sớm và càng nhiều và sẽ có
tiềm năng sinh lý cho năng suất cao
1.1.2 Tối ưu chỉ số diện tích lá (LAI) trong từng thời kỳ sinh trưởng
Liu và các cs (2008) cho rằng trong một điều kiện môi trường cụ
thể năng suất đậu tương sẽ đạt đến mức tối đa nếu LAI tăng đến mức tối
thích trong từng giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây đậu tương Tác
giả đã kết luận rằng trong điều kiện ở Châu Á ngưỡng LAI tối ưu cho
năng suất hạt cao nhất biến động từ 5,0-6,0 m2 lá/m2 đất ở thời kỳ hình
thành và phát triển của hạt Ngoài LAI, tuổi thọ của bộ lá cũng đóng vai
trò vô cùng trọng đến năng suất Việc duy trì LAI trên mức 4 m2 lá/m2
đất sau giai đoạn hình thành hạt khoảng 30 ngày sẽ đảm bảo cho cây đậu
tương đạt được năng suất cao (Liu và các cs, 2008)
1.1.3 Tăng cường sự phân chia vật chất khô tích lũy về hạt
Hệ số thu hoạch (Harvest Index - HI) phụ thuộc vào mối quan hệ
tương đối giữa thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh
thực Nhìn chung, HI sẽ tăng lên khi thời gian sinh trưởng sinh thực
chiếm tỷ lệ lớn hơn trong toàn bộ thời gian sinh trưởng Chế độ ánh
sáng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến tập tính sinh trưởng của các giống
Ở đậu tương, điều kiện ánh sáng ngày dài sẽ làm giảm quá trình vận
chuyển vật chất khô và đạm tích lũy về hạt (Cure và các cs, 1982), làm
tăng khả năng sinh trưởng sinh dưỡng (Guiamet và Nakayama, 1984)
1.1.4 Tối ưu hóa những tính trạng có tương quan thuận với năng suất hạt
Mehetre và các cs (1998) chỉ ra rằng để chọn giống đậu tương có
năng suất cao và ổn định cho một vùng nên sử dụng các tính trạng có hệ
số di truyền cao và tương quan thuận với năng suất Ở Việt Nam, một số
nghiên cứu về tương quan giữa các tính trạng và năng suất hạt đậu tương
đã kết luận năng suất hạt có mối tương quan thuận chắc chắn với thời gian
sinh trưởng, số quả chắc/cây, số đốt mang quả, số đốt/thân chính, chiều
cao cây, số cành cấp 1 và số hạt/quả (Nguyễn Tấn Hinh, 1992), Vũ Đình
Chính, 1995, Nguyễn Văn Lâm và Nguyễn Tấn Hinh, 2003)
1.2 Một số nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật tăng năng suất đậu tương
1.2.1 Sử dụng giống đậu tương năng suất cao
Liu và các cs (2008) cho rằng chọn được giống đậu tương có
năng suất cao và ổn định phù hợp với một vùng sinh thái là bước
tương cho năng suất cao hơn Sự tương tác giữa biện pháp che phủ và băng cỏ hạn chế xói mòn cũng không có ý nghĩa đối với chỉ tiêu NSTT
Bảng 3.46 Ảnh hưởng của các biện pháp giữ ẩm và hạn chế xói mòn đến năng suất thực thu của giống đậu tương ĐT22
Đơn vị: tạ/ha
Công thức Không băng Băng cỏ Trung bình
Che phủ bằng cỏ và rơm rạ khô 25,76 27,71 26,73
Che phủ bằng phân xanh 26,10 28,88 27,49
Che phủ bằng nilon 27,71 29,27 28,49 Trung bình 25,88 27,91 26,89
CV(%) 7,9 LSD(0,05) che phủ 1,17
LSD(0,05) băng 1,64 LSD(0,05) che phủ x băng -
3.3.5.3 Hiệu quả kinh tế của các biện pháp giữ ẩm và hạn chế xói mòn
Nhìn chung các công thức áp dụng biện pháp băng chắn xói mòn và che phủ giữ ẩm có hiệu quả kinh tế cao hơn các công thức không có băng chắn hoặc có băng chắn xói mòn nhưng không áp dụng các biện pháp che phủ (Bảng 3.47)
Bảng 3.47 Hiệu quả kinh tế của các biện pháp giữ ẩm và hạn chế xói mòn trong gieo trồng đậu tương xuân trên đất dốc tại Bắc Kạn
Công thức
Tổng chi
(triệu đồng/ha)
Tổng thu
(triệu đồng/ha)
Thu - Chi
(triệu đồng/ha) CT1 (không băng + không che) 9,16 21,55 12,38 CT2 (không băng + cỏ và rơm) 10,66 23,18 12,52 CT3 (không băng + phân xanh) 11,06 23,49 12,43 CT4 (không băng + nilon) 11,76 24,94 13,17 CT5 (có băng + không che) 9,16 23,20 14,04 CT6 (có băng + cỏ và rơm) 10,66 24,94 14,27 CT7 (có băng + phân xanh) 11,06 25,99 14,93
CT8 (có băng + nilon) 11,76 26,34 14,58 Trong các công thức không thiết kế băng chắn xói mòn, công thức che phủ bằng nilon cho hiệu quả kinh tế cao nhất có lãi thuần đạt 13,17 triệu đồng/ha Còn trong các công thức có thiết kế băng chắn xói mòn thì công thức che phủ bằng cây phân xanh có hiệu quả kinh tế cao nhất có lãi thuần đạt tới 14,93 triệu đồng/ha
Trang 6Bảng 3.41 Ảnh hưởng của các biện pháp giữ ẩm và hạn chế xói
mòn đến lượng đất bị xói mòn sau một vụ trồng đậu tương xuân
Đơn vị: tấn/ha
Công thức Không băng Băng cỏ Trung bình
Che phủ bằng cỏ và rơm rạ khô 3,93 2,97 3,45
Che phủ bằng phân xanh 3,77 2,12 2,94
CV(%) 11,2
LSD(0,05) che phủ 1,16
LSD(0,05) băng 0,39
LSD(0,05) che phủ x băng -
Trong các công thức có che phủ, lượng đất bị xói mòn đã giảm một
cách có ý nghĩa với mức độ tin cậy tới 99% so với công thức không có che
phủ Công thức che phủ băng nilon có mức độ hạn chế lượng đất xói mòn
tốt nhất, sau 1 vụ trồng đậu tương lượng đất bị mất đi chỉ là 1,35 tấn/ha
trong ô có băng cỏ và 2,17 tấn/ha trong ô không có băng cỏ Trong khi đó
lượng đất bị xói mòn trong công thức không che phủ lên tới 6,18 tấn/ha
trong ô không có băng và tới 4,3 tấn/ha trong ô có băng cỏ Số liệu Bảng
3.45 cũng cho thấy có sự sai khác có ý nghĩa về lượng đất bị xói mòn giữa ô
có băng cỏ và không có băng cỏ với P<0,01 Kết quả này chỉ ra rằng băng
cỏ tự nhiên có vai trò tích cực trong hạn chế xói mòn khi gieo trồng đậu
tương trên đất dốc Sự tương tác giữa biện pháp che phủ và băng cỏ là
không có ý nghĩa đối với chỉ tiêu lượng đất bị xói mòn
3.3.5.2 Ảnh hưởng của các biện pháp giữ ẩm và hạn chế xói mòn
đến năng suất của giống đậu tương ĐT22
Che phủ đã có tác dụng làm tăng một cách có ý nghĩa năng suất của
giống đậu tương ĐT22 với mức độ tin cậy tới 99% (Bảng 3.46) Công thức
che phủ bằng nilon cho năng suất cao nhất đạt được 29,27 tạ/ha trong ô có
băng cỏ và đạt 27,71 tạ/ha trong ô không có băng cỏ Tiếp đến là công thức
che phủ băng cây phân xanh đạt 28,88 tạ/ha trong ô có băng cỏ và 26,10 tạ/ha
trong ô không có băng cỏ Sau đó là công thức che phủ bằng cỏ và rơm rạ
khô Số liệu bảng 3.46 cũng cho thấy có sự sai khác có ý nghĩa về NSTT giữa
ô có băng cỏ và ô không có băng cỏ với mức P<0,05 Tác dụng hạn chế xói
mòn đất hay giảm thiểu sự mất tầng mặt của các băng cỏ đã giúp cây đậu
đầu tiên quan trọng nhất đảm bảo sự thành công trong phát triển sản xuất đậu tương Các đặc trưng đặc tính cơ bản mà nhà chọn giống luôn quan tâm là giống phải có khả năng thích ứng rộng, khả năng chống chịu sâu bệnh, chống đổ, chống tách hạt và năng suất cao Theo Trần Đình Long
và Nguyễn Thị Chinh (2005) trong vòng 20 năm qua, đã có 25 giống đậu tương mới được công nhận giống tiến bộ kỹ thuật, các giống đậu tương mới này đa dạng về thời gian sinh trưởng, chống chịu và khả năng cho năng suất giữa các vùng sinh thái Nhiều giống đã được xác định cho năng suất cao,
ổn định và phù hợp với điều kiện canh tác ở các tỉnh miền núi phía Bắc như giống VX93 (Nguyễn Hữu Tâm, 2003), giống ĐVN5 (Đào Quang Vinh và các cs, 2004), giống DT84 và DT96 (Mai Quang Vinh và các cs, 2005), và giống ĐT22 (Trần Đình Long và các cs, 2007)
1.2.2 Trồng đậu tương luân canh và xen canh với cây trồng khác
Theo Ngô Thế Dân và các cs (1999) cho rằng trồng đậu tương luân canh và xen canh với cây trồng khác là một biện pháp kỹ thuật truyền thống trong canh tác đậu tương ở Việt Nam Tác giả cho biết một số công thức trồng xen rất phổ biến ở nước ta là: hai hàng ngô xen 4-6 hàng đậu tương hoặc một hàng ngô xen 2 hàng đậu tương, hoặc đậu tương trồng thuần và ngô được trồng xen với mật độ từ 1-2 vạn cây/ha (1-2 cây ngô/m2)
1.2.3 Sử dụng hạt giống có tỷ lệ nảy mầm cao
Các giống đậu tương có sự biến động và khác nhau về khả năng duy trì sức sống trong quá trình bảo quản (Banmurthy và Gupta, 1981) Cần chọn được giống có khả năng duy trì tỷ lệ nảy mầm cao trong thời gian bảo quản, vì hạt giống có tỷ lệ nảy mầm cao là cơ sở đảm bảo mật độ gieo trồng để đạt được năng suất cao
1.2.4 Chọn thời vụ gieo thích hợp
Cây đậu tương mẫn cảm với điều kiện thời tiết Thời vụ không những ảnh hưởng tới sinh trưởng phát triển của cây, năng suất, phẩm chất của hạt mà còn ảnh hưởng cả tới những cây trồng tiếp sau trong
hệ thống luân canh (Trần Đình Long và các cs, 2001) Ở nước ta đậu tương có thể được trồng nhiều vụ trong năm, nhưng xác định được thời vụ chính cho từng vùng là điều cần thiết cho sản suất Vũ Thúy Hằng và các cs (2007) cho thấy thời vụ gieo trồng và bản chất giống
có tương tác với nhau và ảnh hưởng lớn đến yếu tố cấu thành năng suất như số quả/cây, số quả 3 hạt, số hạt/cây và năng suất cá thể
1.2.5 Gieo với mật độ phù hợp
Trong điều kiện nhiệt đới nóng ẩm ở Việt Nam, mật độ phù hợp thay đổi rất lớn giữa các giống và các vụ gieo trồng Nhìn chung
Trang 7để xác định được mật độ gieo trồng đậu tương cần căn cứ vào đặc
tính của giống, thời vụ gieo trồng, độ phì của đất và mức độ thâm
canh (Ngô Thế Dân và các cs, 1999; Phạm Văn Thiều, 2002)
1.2.6 Bón phân đầy đủ và cân đối cho đậu tương
Nguyễn Tử Siêm và Thái Phiên (1998) cho rằng hiệu quả của
việc sử dụng các loại phân bón N, P, K cho cây trồng trên đất đồi
chua được xác định là P cho hiệu quả cao nhất, sau đó đến N và thấp
nhất là K Tác giả cũng cho rằng P là một trong những yếu tố hạn chế
lớn nhất đến năng suất tất cả các cây trồng cạn như sắn, lạc, đậu
tương và lúa cạn
1.2.7 Điều tiết nước và giữ ẩm
Trong điều kiện đất dốc quản lý tốt lớp cây che phủ, áp dụng các
biện pháp bảo vệ đất và nước thích hợp bao gồm các biện pháp nông học
và cơ giới sẽ duy trì sự thấm nước và giữ nước góp phần làm tăng năng
suất cây trồng (Trần Đình Long và các cs, 2005)
1.2.8 Giảm sự hư hỏng của hạt ở thời kỳ thu hoạch
Chất lượng của hạt đậu tương giảm nhanh trong điều kiện ẩm
ướt mưa cuối vụ không thu hoạch kịp thời Hạt bị giảm chất lượng
chủ yếu do nấm phá hại kết hợp với việc phân hủy sinh lý màng tế
bào, vì thế vỏ hạt cứng có thể làm giảm quá trình mất sức sống của
hạt (Pott và các cs, 1978) Trong điều kiện nóng và mưa nhiều cuối
vụ xuân ở Việt nam, khả năng chống tách vỏ quả để đảm bảo chất
lượng của hạt là một chỉ tiêu quan trọng cần được đánh giá
1.2.9 Phòng trừ sâu bệnh hại
Sâu bệnh hại là một trong những yếu tố hạn chế quan trọng
nhất đến năng suất đậu tương Theo Ngô Thế Dân và các cộng sự
(1999) ở Việt Nam, bệnh gỉ sắt đã gây thiệt hại trên tất cả các vùng
trồng đậu tương từ Bắc vào Nam Tác giả cũng cho rằng có hai nhóm
sâu hại phổ biến nhất trong sản xuất đậu tương là nhóm sâu hại lá và
nhóm sâu hại quả
1.3 Biện pháp canh tác bảo vệ đất và nước trên đất dốc
Nguyễn Văn Thắng và các cs (2005) cho rằng sử dụng băng cỏ
tự nhiên theo đường đồng mức để hạn chế xói mòn đất và hạn chế
dòng chảy là một giải pháp hấp dẫn, dễ tạo lập và quản lý phù hợp
với hệ thống canh tác đầu tư thấp Ở miền Bắc Việt Nam yếu tố quan
trọng nhất hạn chế sản xuất đậu tương trong vụ xuân là nhiệt độ thấp
và thiếu nước ở đầu vụ Trần Đình Long và các cs (2005) cho rằng
các biện pháp kỹ thuật che phủ đất bằng rơm rạ, nilon hoặc hóa chất
đều có tác dụng rất tốt trong việc giữ độ ẩm đất và nhiệt độ đất làm
tăng năng suất cây đậu đỗ trong vụ xuân
0 5 10 15 20 25 30
Công thức
Đậu tương Ngô
Biểu đồ 3.2 Năng suất của đậu tương và ngô trong các công thức
trồng xen
3.3.4.3 Hiệu quả kinh tế của các phương thức trồng xen ngô với đậu tương
Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế cho thấy tất cả các công thức trồng ngô xen vào đậu tương đều có hiệu quả kinh tế (lãi thuần) cao hơn đậu tương trồng thuần Công thức T4 trồng xen ngô với mật độ 15.000 cây/ha (3 cây ngô/2 m2 đậu tương) cho hiệu quả kinh tế cao nhất đạt 15,13 triệu đồng/ha
Bảng 3.38 Hiệu quả kinh tế của các công thức trồng xen ngô với
đậu tương Công
thức
Tổng chi
(triệu đồng/ha)
Tổng thu
(triệu đồng/ha)
Thu – Chi
(triệu đồng/ha) T1 8,45 20,97 12,52 T2 9,23 22,72 13,49 T3 10,02 23,52 13,50 T4 10,81 25,94 15,13 T5 11,60 24,49 12,89
T1: trồng thuần đậu tương; T2: xen 5000 cây ngô/ha đậu tương; T3: xen 10.000 cây ngô/ha đậu tương; T4: xen 15.000 cây ngô/ha đậu tương; T5: xen 20.000 cây ngô/ ha đậu tương;
3.3.5 Kết quả nghiên cứu một số biện pháp giữ ẩm và hạn chế xói mòn
3.3.5.1 Ảnh hưởng của các biện pháp giữ ẩm và hạn chế xói mòn đến lượng đất bị xói mòn
Các biện pháp che phủ và băng cỏ tự nhiên đã có tác dụng rất
rõ rệt trong việc hạn chế lượng đất bị xói mòn do mưa to gây ra sau 1
vụ gieo trồng đậu tương như trình bày trong số liệu Bảng 3.41
Trang 8Bảng 3.35 Ảnh hưởng của một số phương thức trồng xen ngô
đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống đậu
tương ĐT22 trong vụ xuân 2006 trên đất dốc ở Bắc Kạn
Công
thức
Tổng số quả
chắc
(quả/cây)
Số hạt/quả
(hạt)
P1000 hạt
(g)
NSLT
(tạ/ha)
NSTT
(tạ/ha)
P1000 hạt: Khối lượng 1000 hạt; NSLT: Năng suất lý thuyết; NSTT:
Năng suất thực thu
T1: trồng thuần đậu tương; T2: xen 5000 cây ngô/ha; T3: xen 10.000
cây ngô/ha; T4: xen 15.000 cây ngô/ha; T5: xen 20.000 cây ngô/ ha
Bảng 3.36 Thời gian sinh trưởng, các yếu tố cấu thành năng suất và
năng suất của ngô trong các công thức trồng xen ngô với đậu tương
Công thức TGST(ngày) bắp/cây Số
(bắp)
Số hàng/bắp
(hàng)
Số hạt/hàng
(hạt)
P1000 hạt
(g)
NSLT
(tạ/ha) NSTT(tạ/ha)
TGST: Thời gian sinh trưởng; P1000 hạt: Khối lượng 1000 hạt;
NSLT: Năng suất lý thuyết; NSTT: Năng suất thực thu;T1: trồng
thuần đậu tương; T2: xen 5000 cây ngô/ha đậu tương; T3: xen
10.000 cây ngô/ha đậu tương; T4: xen 15.000 cây ngô/ha đậu tương;
T5: xen 20.000 cây ngô/ ha đậu tương
Khi mật độ trồng xen ngô tăng từ 5000 cây đến 20.000 cây/ha đã làm
giảm khả năng sinh trưởng phát triển và cho NSTT của giống đậu tương
ĐT22 (giảm NSTT từ 26,21 xuống còn 18,67 tạ/ha), nhưng ngược lại làm
năng suất ngô tăng dần từ 7,54 đến 27,31 tạ/ha Sự biến động ngược chiều
về NSTT của ngô và đậu tương được thể hiện qua Biểu đồ 3.2
Mặc dù cây đậu tương đã được nghiên cứu khá sâu và toàn diện, nhưng đậu tương là một cây trồng rất nhạy cảm với điều kiện sinh thái Vì vậy để xây dựng được một quy trình thâm canh cây đậu tương xuân trên đất dốc cho tỉnh Bắc Kạn cần thiết phải có những nghiên cứu bổ sung tiếp theo
CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Vật liệu nghiên cứu
2.1.1 Các giống đậu tương tham gia thí nghiệm
Sáu giống đậu tương được xác định là có tiềm năng cho năng suất cao ở miền núi phía Bắc được lựa chọn làm vật liệu nghiên cứu cho đề tài
đó là DT84, DT96, ĐT22, ĐVN5, VX93 và giống Vàng Cao Bằng
2.1.2 Các vật liệu khác
- Phân bón: Đạm: Sử dụng đạm urê; Lân: sử dụng lân super; Ka li:
sử dụng kali clorua Vôi: sử dụng vôi bột sản xuất tại địa phương
- Vật liệu che phủ:
+ Cây phân xanh tươi: Cây chó đẻ (Chromolaena odorata L.)
+ Vật liệu che phủ khô: Cỏ và rơm rạ khô;
+ Nilon: Sử dụng nilon của Trung Quốc với tỷ lệ 1kg che được 28 m2
- Thuốc trừ sâu bệnh: Thuốc Ofatox 400EC và Neretox 95WP
được sử dụng trong phòng trừ các loại sâu Thuốc Score 250EC và Anvil 5SC được dùng để phòng trừ các loại bệnh
- Giống ngô trồng xen: Giống ngô lai NK4300 của Công ty
Syngenta đang trồng phổ biến ở Bắc Kạn được dùng là vật liệu trong thí nghiệm trồng xen
- Điều kiện đất đai: các thí nghiệm nghiên cứu được triển khai
trên loại đất vàng đỏ có độ dốc <15o
2.2 Nội dung nghiên cứu
Đề tài được triển khai theo 4 nội dụng chính sau:
i Điều tra đánh giá thực trạng sản xuất đậu tương xuân trên đất dốc tại Bắc Kạn;
ii Nghiên cứu xác định giống đậu tương cho năng suất cao và
ổn định trong vụ xuân trên đất dốc tại Bắc Kạn;
iii Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu trong thâm canh tăng năng suất đậu tương (thời vụ, mật độ, phân bón, kỹ thuật trồng xen và biện pháp giữ ẩm và hạn chế xói mòn);
iv Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào xây dựng mô hình sản xuất đậu tương xuân trên đất dốc tại Bắc Kạn, bước đầu đề xuất quy trình thâm canh đậu tương xuân để mở rộng diện tích cho vùng đất dốc ở tỉnh Bắc Kạn
Trang 92.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Điều tra đánh giá thực trạng sản xuất đậu tương xuân trên
đất dốc ở Bắc Kạn
Điều tra được tiến hành theo phương pháp sử dụng bộ mẫu câu
hỏi và số liệu thứ cấp Bộ câu hỏi được điều tra trên 120 hộ gia đình
chọn theo phương pháp lấy mẫu đại diện (10 hộ/thôn) của 12 thôn thuộc
4 xã (3 thôn/xã) của 4 huyện ở tỉnh Bắc Kạn theo phương pháp của IRRI
(1990) Tài liệu thứ cấp liên quan đến tình hình sản xuất đậu tương ở
tỉnh Bắc Kạn được thu thập ở các cấp từ xã, huyện và đến tỉnh
2.3.2 Xác định giống đậu tương cho năng suất cao và ổn định
trong vụ xuân trên đất dốc tại Bắc Kạn
Thí nghiệm 1: So sánh một số giống đậu tương gieo trồng trong vụ
xuân trên đất dốc tại Bắc Kạn
Vật liệu nghiên cứu là 6 giống đậu tương: DT84, DT96, ĐT22,
ĐVN5,VX93 và giống Vàng Cao Bằng Giống Vàng Cao Bằng đang sử
dụng phổ biến tại địa phương được sử dụng làm giống đối chứng Thí
nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCB) với 3 lần
nhắc lại với kích thước ô thí nghiệm là 20 m2 (5m x 4m) cho mỗi vụ Thí
nghiệm so sánh giống được triển khai liên tục trong 3 vụ xuân năm
2003, 2004 và 2005 Cây đậu tương được gieo trồng, chăm sóc và theo
dõi các chỉ tiêu theo hướng dẫn của quy trình khảo nghiệm giống đậu
tương 10TCN 339-98 (Bộ NN & PTNT, 2001)
2.3.3 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu trong thâm
canh tăng năng suất đậu tương
Thí nghiệm 2: Xác định thời vụ gieo trồng đậu tương xuân thích hợp
trên đất dốc tại Bắc Kạn
Thí nghiệm được thực hiện trong vụ xuân năm 2005 Giống
đậu tương ĐT22 có năng suất cao và ổn định nhất trong số các giống
tham gia thí nghiệm trong hai vụ xuân 2003 và 2004 được sử dụng là
vật liệu nghiên cứu Năm thời vụ gieo được nghiên cứu đó là: thời vụ
1 (TV1): gieo ngày 25/2; thời vụ 2 (TV2): gieo ngày 7/3; thời vụ 3
(TV3): gieo ngày 17/3; thời vụ 4 (TV4): gieo ngày 27/3 và thời vụ 5
(TV5): gieo ngày 6/4 Mỗi thời vụ cách nhau là 10 ngày Thí nghiệm
được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCB) với 3 lần
nhắc lại, với diện tích ô thí nghiệm là 20 m2 (5m x 4m) Cây đậu
tương được gieo trồng, chăm sóc và theo dõi như thí nghiệm 1
Thí nghiệm 3: Xác định mật độ gieo đậu tương xuân thích hợp trên đất
dốc tại Bắc Kạn
Thí nghiệm được triển khai trong vụ xuân năm 2005 Giống đậu
tương ĐT22 được sử dụng là vật liệu trong thí nghiệm nghiên cứu mật độ
NSTT biến động từ 11,46 tạ/ha ở công thức CT1 (không bón phân) đến 25,77 tạ/ha ở công thức CT4 Bảng 3.30 cho thấy khi lượng phân bón NPK tăng lên NSTT cũng tăng dần, tuy nhiên đến công thức CT4 và CT5 không có sự sai khác có ý nghĩa
3.3.3.2 Hiệu quả kinh tế của các tổ hợp phân bón
Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế của các công thức phân bón cho thấy mức thu - chi (lãi) giữa các công thức biến động từ 2,10 đến 11,45 triệu đồng/ha (Bảng 3.31) Công thức CT3 bón phân với mức 30 N + 90 P2O5 + 45 K2O cho hiệu quả kinh tế cao nhất với mức lãi thuần là 11,45 triệu đồng/ha
Bảng 3.31 Hiệu quả kinh tế của các tổ hợp phân bón
Công thức
Tổng chi
(triệu đồng/ha) (triệu đồng/ha) Tổng thu (triệu đồng/ha) Thu – Chi CT1 6,92 9,17 2,25 CT2 8,04 12,70 4,66 CT3 8,56 16,78 8,18 CT4 9,16 20,62 11,45 CT5 9,73 20,47 10,74
CT1: 0 N + 0 P 2 O 5 + 0 K 2 O + 0 vôi (đối chứng); CT2: 10 N + 30 P 2 O 5 + 15 K 2 O + 300 kg vôi; CT3: 20 N + 60 P 2 O 5 + 30 K 2 O + 300 kg vôi; CT4: 30 N + 90 P 2 O 5 + 45 K 2 O + 300 kg vôi;
CT5: 40 N + 120 P 2 O 5 + 60 K 2 O + 300 kg vôi;
3.3.4 Nghiên cứu phương thức trồng xen ngô với đậu tương xuân trên đất dốc ở Bắc Kạn
3.3.4.1.Ảnh hưởng các phương thức trồng xen ngô đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống đậu tương ĐT22
Số liệu Bảng 3.35 cho thấy cả NSLT và NSTT của đậu tương (cây trồng chính) khác nhau có ý nghĩa với độ tin cậy 99% cho NSLT
và 95% cho NSTT Năng suất của giống đậu tương ĐT22 giảm dần
từ 26,21 tạ/ha trong công thức trồng thuần xuống 18,67 tạ/ha ở công thức trồng xen 20.000 cây/ha
3.3.4.2 Năng suất của ngô trong các công thức trồng xen
Số liệu Bảng 3.36 cho thấy các yếu tố thành năng suất của ngô không khác nhau có ý nghĩa, nhưng do mật độ trồng xen khác nhau đã làm cho cả năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của các công thức khác nhau có ý nghĩa với mức độ tin cậy là 99% với NSLT và 95% với NSTT Năng suất ngô tăng dần khi mật độ trồng xen tăng và đạt năng suất cao nhất ở công thức T5 khi mật độ trồng xen là 20.000 cây/ha
Trang 10Bảng 3.26 Ảnh hưởng của mật độ gieo đến các yếu tố cấu thành
năng suất và năng suất của giống đậu tương ĐT22 trong vụ xuân
2005 trên đất dốc ở Bắc Kạn
Mật độ
(cây/m2)
Tổng số quả
chắc
(quả/cây)
Số hạt/quả
(hạt)
P1000 hạt
(g)
NSLT
(tạ/ha) NSTT (tạ/ha)
P1000 hạt: Khối lượng 1000 hạt; NSLT: Năng suất lý thuyết; NSTT:
Năng suất thực thu;
Kết quả nghiên cứu thu được từ thí nghiệm cho thấy trên đất
đồi dốc, giống đậu tương ĐT22 gieo trồng với mật độ 30 cây/m2 cho
năng suất cao nhất trong vụ xuân
3.3.3 Xác định tổ hợp phân bón thích hợp cho đậu tương xuân
gieo trồng trên đất dốc tại Bắc Kạn
Ảnh hưởng phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
Năng suất của giống đậu tương ĐT22 khác nhau có ý nghĩa
giữa các tổ hợp phân bón với độ tin cậy 99% (Bảng 3.30)
Bảng 3.30 Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến các yếu tố
cấu thành năng suất và năng suất của giống đậu tương ĐT22
trong vụ xuân 2005 trên đất dốc ở Bắc Kạn
Công thức
Tổng số quả chắc
(quả/cây)
Số hạt/quả
(hạt)
P1000 hạt
(g)
NSLT
(tạ/ha)
NSTT
(tạ/ha)
P1000 hạt: Khối lượng 1000 hạt; NSLT: Năng suất lý thuyết; NSTT: Năng suất thực thu
CT1: 0 N + 0 P 2 O 5 + 0 K 2 O + 0 vôi (đối chứng);CT2: 10 N + 30 P 2 O 5 + 15 K 2 O +
300 kg vôi;
CT3: 20 N + 60 P 2 O 5 + 30 K 2 O + 300 kg vôi;CT4: 30 N + 90 P 2 O 5 + 45 K 2 O + 300 kg vôi;
CT5: 40 N + 120 P 2 O 5 + 60 K 2 O + 300 kg vôi
Năm mật độ trồng được nghiên cứu trong thí nghiệm là: 20, 30, 40, 50, 60 cây/m2 Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCB) với 3 lần nhắc lại và có diện tích ô thí nghiệm là 20 m2 (5m x 4m) Cây đậu tương được gieo trồng, chăm sóc và theo dõi như thí nghiệm 1
Thí nghiệm 4: Xác định tổ hợp phân bón thích hợp cho đậu tương
xuân gieo trồng trên đất dốc tại Bắc Kạn
Thí nghiệm được thực hiện trong vụ xuân năm 2006 Giống đậu tương ĐT22 được sử dụng làm vật liệu nghiên cứu Năm tổ hợp phân bón được nghiên
cứu đó là: Công thức 1 (CT1): 0 N + 0 P 2 O 5 + 0 K 2 O + 0 vôi (đối chứng); Công thức 2 (CT2): 10 N + 30 P 2 O 5 + 15 K 2 O + 300 kg vôi; Công thức 3 (CT3): 20 N + 60 P 2 O 5 + 30 K 2 O + 300 kg vôi; Công thức 4 (CT4): 30 N + 90 P 2 O 5 + 45 K 2 O + 300 kg vôi; Công thức 5 (CT5): 40 N + 120 P 2 O 5 + 60 K 2 O + 300 kg vôi
Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCB) với 3 lần nhắc lại và với diện tích ô thí nghiệm là 20 m2 (5m x 4m) Cây đậu tương được gieo ở thời vụ như kết luận ở thí nghiệm 2 và mật độ tối ưu đã xác định
ở thí nghiệm 3 Các biện pháp kỹ thuật khác áp dụng như thí nghiệm 1 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi tương tự như thí nghiệm 1, nhưng theo dõi thêm hiệu quả kinh tế của các công thức phân bón
Thí nghiệm 5: Nghiên cứu phương thức trồng xen ngô thích hợp với
đậu tương xuân trên đất dốc tại Bắc Kạn
Thí nghiệm được triển khai trong vụ xuân năm 2006 Giống đậu tương ĐT22 được sử dụng là vật liệu trong thí nghiệm nghiên cứu phương thức trồng xen Giống ngô NK4300 được sử dụng là vật liệu nghiên cứu Các công thức trồng xen nghiên cứu bao gồm:
Công thức 1 (T1): trồng thuần đậu tương (đối chứng);
Công thức 2 (T2): xen 5.000 cây ngô/1 ha đậu tương (1 cây ngô/2 m 2 đậu tương); Công thức 3 (T3): xen 10.000 cây ngô/1 ha đậu tương (1 cây ngô/ 1 m 2 đậu tương); Công thức 4 (T4): xen 15.000 cây ngô/1 ha đậu tương (3 cây ngô/ 2 m 2 đậu tương); Công thức 5 (T5): xen 20.000 cây ngô/1 ha đậu tương (2 cây ngô/ 1 m 2 đậu tương)
Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCB) với 3 lần nhắc lại Diện tích ô thí nghiệm là 20 m2 (5m x 4m) Cây đậu tương được gieo ở thời vụ như kết luận ở thí nghiệm 2, và gieo với mật độ tối ưu đã được xác định ở thí nghiệm 3, phân bón áp dụng như kết luận của thí nghiệm 4, các biện pháp kỹ thuật khác áp dụng như thí nghiệm 1 Cây ngô được trồng và chăm sóc theo quy trình thâm canh ngô của Trung tâm Khuyến Nông tỉnh Bắc Kạn (2002) Các chỉ tiêu nghiên cứu ở cây đậu tương tương tự như thí nghiệm 1, nhưng theo dõi thêm một số chỉ tiêu như các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của ngô; năng suất quy đổi theo đậu tương và hiệu quả kinh tế của các công thức