HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP KỸ THUẬT NHẰM PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN QUY MÔ HỘ GIA ĐÌNH Ở VÙNG NÚI TÂY BẮ
Trang 1TRƯỜNG DAI HOC THUY SAN
HIEN TRANG VA GIAI PHAP KY THUAT NHAM PHAT TRIEN NUOI TRONG THUY SAN QUY MO HO GIA DINH 6
VUNG NUI TAY BAC
Thuộc chuyên ngành: Nuôi cá và nghề cá nước ngọt
Tóm tắt Luận án tiến sĩ nông nghiệp
2005
Trang 2Nguyễn Huy Điền 1999, "Sản xuất giống một số loài cá nuôi ở các
tỉnh miền núi phía Bắc", Tạp chí Thuỷ sản số 3 -1999
Nguyễn Huy Điền 2001, "Phát triển nuôi trồng thuỷ sản khu vực
miền núi", Tạp chí Thuỷ sản số 2 -2001
Nguyễn Huy Điền, Trần Văn Quỳnh, Mathias halwart and Dilip
Kumar 2001, “Promoting Rice-Based Aquaculture in
Mountainous Areas of Vietnam”, Jn Utilizing Different
Aquatic Resources For Livelihoods in Asia, IIRR, IDRC,
FAO, NACA and ICLARM, pp 227-231
Nguyễn Huy Điền, Trần Văn Quynh 2001, “Aquaculture in
Stream-Fed Flow-Through Ponds”, /n Urilizing Different
Aquatic Resources For Livelihoods in Asia, IIRR, IDRC,
FAO, NACA and ICLARM pp.232-234
Nguyén Huy Dién, Trén Van Quynh 2001, “Low-cost cage culture
in Upland Areas of Vietnam”, Jn Utilizing Different Aquatic
Resources For Livelihoods in Asia, TIRR, IDRC, FAO,
NACA and ICLARM pp.325-329
Nguyễn Huy Điền 2003, "Một số ý kiến góp phần hoàn thiện
công tác tổ chức quản lý hệ thống trại giống thuỷ sản", Tạp
chí thuỷ sản số 4 - 2003
Nguyễn Huy Điền 2005 Đẩy mạnh phát triển và nâng cao hiệu
quả mô hình VAC”, Tạp chí thuỷ sản số 4 -2005
Nguyễn Huy Điền 2005, "Giải pháp kỹ thuật góp phần phát triển
nuôi cá các tỉnh miền núi Tây Bác", Tạp chí thuỷ sản số 9 -
2005
Nguyễn Huy Điền 2005, "Nghiên cứu thực nghiệm nuôi cá ruộng
lúa quy mô nông hộ ở các tỉnh miền núi Tây Bắc", Tạp chí
thuỷ sản số 12 -2005
Người hướng dẫn khoa học
1 Tiến sĩ Harvey Demaine
2 Tiến sĩ Lê Thanh Lựu
7180001177
Phản biện 3: .2- 5555 5s s5 ssSsssses2
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Nhà HƯỚC hỌP ÍÌ -o o0 G G5 G5 9S 95 6 99990 099099.00 00988096 6608668699956 vào hồi giờ ngày thang năm
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện
Trang 34.1.7 Kết quả thực nghiệm cho thấy nuôi cá lồng ở miền núi có thể
góp phần ổn định sinh kế của một bộ phận dân nghèo Với việc đầu tư
thấp cộng với lao động nhàn rỗi và nguồn thức ăn xanh dồi dào, khi
áp dụng kỹ thuật phù hợp có thể đạt thu nhập khá cao, từ 4,1 đến 6,1
triệu đồng/ hộ/năm
4.1.8 Việc thử nghiệm các mô hình kỹ thuật nuôi cá đạt kết quả kết
hợp khoa học khuyến ngư phổ biến vào kỹ thuật sản xuất có tác dụng
thúc đẩy phát triển nuôi trồng thuỷ sản ở 3 tỉnh Tây Bắc góp phần ổn
định đời sống và giúp các hộ nông dân xoá đói giảm nghèo một cách
hữu hiệu
4.2 Đề xuất
4.2.1 Cần tiếp tục thực nghiệm mở rộng hơn các mô hình nuôi cá
lồng vì đây là tiềm năng lớn chưa được khai thác
4.2.2 Trong các mô hình đã thực hiện cần chỉ ra một số khiếm khuyết
và tiếp tục khuyến cáo cho các hộ nông dân nuôi cá nhất thiết phải
bón vôi tẩy dọn ao, thả đúng mật độ 1,5 -2 con/m” đối với ao nước
nh, 2-3 con/m đối với ao nước chảy, nên thả giống lưu giữ qua đông
có kích thước lớn 15-20 cm đối với cá trắm cỏ, cá mrigal và cá mè
trắng 8-10 cm, cá chép 6-8 cm và cá rô phi 5-7 cm
4.2.3 Các sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn của các tỉnh Hoà
Bình, Sơn La, Điện Biên và Lai Châu cần chỉ đạo các Trung tâm
khuyến nông, Trung tâm thuỷ sản nghiên cứu mô hình sản xuất gidng
tại chỗ, mô hình nuôi cá lúa, áp dụng tiêu chí kỹ thuật cho mô hình
nuôi cá trone hệ VAC Các Trung tâm khuyến nông, Trung tâm thuỷ
sản của 3 tỉnh cần tăng cường tập huấn và chuyển giao rộng rãi các
kỹ thuật canh tác đa dạng cho nông dân
MỞ ĐẦU
Nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) của Việt Nam tăng trưởng với nhịp độ cao, đến năm 2004 đã đạt sản lượng 1.150.100 tấn, sóp phần tích cực trong đảm bảo thực phẩm cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu Ở nước ta nuôi trồng thuỷ sản quy mô nông hộ là hình thức canh tác phổ biến, đóng góp
tới 70% sản lượng NTTS của cả nước Hình thức canh tác này đặc biệt
phù hợp người dân nghèo do có quy mô nhỏ, đầu tư thấp, tận dụng sức
lao động nông nhàn, thuận lợi với các giới, công nghệ tương đối đơn
giản, dễ giải quyết đầu ra của sản phẩm thu được
Các tỉnh miền núi Tây Bắc như Hoà Bình, Sơn La và Lai Châu có tỷ
lệ đói nghèo cao (tương ứng là 28,28%, 39,05% và 52,93%) [91] Trong khi đó xét về nguồn lợi tự nhiên cũng như các điều kiện kinh tế
- xã hội khác, các tỉnh này có va tiém nang thuỷ sản rất lớn Nhằm góp phần thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế-xã hội vùng Tây Bắc, đẩy nhanh tiến độ của công cuộc xoá đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc ở đây, Bộ thuỷ sản triển khai
Chương trình SAPA [115], Dự án VIE98/009/01/NEX [91] Mục tiêu
của chương trình, dự án là: sóp phần xoá đói giảm nghèo và tăng cường an ninh lương thực cho các cộng đồng các dân tộc miền núi thông qua việc phát triển nuôi trồng thuỷ sản ở quy mô nông hộ Để
đạt được mục tiêu trên, bên cạnh sự tham gia tích cực của cộng đồng các dân tộc, cán bộ khuyến ngư và các nhà khoa học nhằm phát triển
nghề nuôi thuỷ sản miền núi có năng suất, sản lượng và hiệu quả, cần một giải pháp về cải tiến quy trình kỹ thuật phù hợp với miền núi ở
quy mô nông hộ Chính vì vậy, đề tài khoa học chuyên sâu với tiêu
đề: " Hiện trạng và giải pháp kỹ thuật nhằm phát triển nuôi rồng thuỷ sản quy mô hộ gia đình ở ba tinh mién núi Táy Bắc” được
thực hiện.
Trang 41 Mục tiêu của đề tài:
Góp phần phát triển NTTS ở các tỉnh miền núi phía Bắc trên cơ sở
giới thiệu những giải pháp, đặc biệt là các giải pháp kỹ thuật -
công nghệ phù hợp với điều kiện tự nhiên và kinh tế- xã hội đặc
thù của vùng
2 Nội dung của đề tài :
- Điều tra tình hình kinh tế - xã hội nói chung và đánh giá tiềm năng nuôi
trồng thuỷ sản nói riêng của 3 tỉnh Hoà Bình, Sơn La và Lai Châu
- Xác định những khó khăn, đặc biệt là những tồn tại về mặt công
nghệ (kỹ thuật), trong nuôi trồng thuỷ sản ở các tỉnh nói trên
- Đề ra những giải pháp chung cũng như những công nghệ (kỹ thuật)
cải tiến phù hợp với vùng nghiên cứu và thử nghiệm các công nghệ đó
trên quy mô nông hộ Đánh giá hiệu quả của các giải pháp chung,
cũng như của các mô hình trong việc nâng cao năng suất, sản lượng,
và hiệu quả của sản xuất
3 Ý nghĩa của đề tài
Trước hết, về khoa học đã phát triển và thử nghiệm có kết quả các quy
trình kỹ thuật phù hợp với nuôi trồng thuỷ sản quy mô nông hộ cho các
dân tộc miền núi nhờ áp dụng phương pháp tham gia cộng đồng Qua đó
góp phần thúc đẩy phát triển nuôi trồng thuỷ sản miền núi
Ý nghĩa thực tiễn về kinh tế - xã hội của đề tài là góp phân quan trọng
cho sự thành công của dự án VIE/98/009/01/NEX, qua đó giúp người
dân phát triển sinh kế, tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo, bảo vệ môi
trường, giảm phá rừng Ngoài ra, luận án có thể được sử dụng làm
căn cứ cho xây dựng kế hoạch nghiên cứu cũng như các chương trình
khuyến ngư sát với thực tiễn hơn
4.1.2 Các tỉnh Hoà Bình, Sơn La và Lai Châu có tiềm năng mặt nước
cộng với nguồn nhân lực và nguồn lợi thức ăn xanh đồi dào thuận lợi
cho phát triển nuôi trồng thuỷ sản
4.1.3 Các khó khăn trở ngại đối với phát triển nuôi trồng thuỷ sản là
cá giống thiếu về số lượng và kém về chất lượng, không đáp ứng yêu cầu về mùa vụ, hệ thống canh tác chưa đa dạng (chủ yếu mới phát
triển nuôi cá ao), các biện pháp kỹ thuật phù hợp trong nuôi cá chưa được áp dụng
4.1.4 Xây dựng mạng lưới sản xuất giống tại chỗ quy mô nông hộ đã sóp phần nâng cao số lượng giống cung cấp cho nhân dân, cải thiện chất lượng con giống, đồng thời bản thân nông hộ ương nhân giống cũng thu được hiệu quả kinh tế cao (bình quân lãi 4l triệu đồng/ha/@vụ) Chất lượng giống đã nâng lên một bước đáng kể, năm
2002 đã có tới 90 đến 98% người dân nuôi cá đánh giá con giống có chất lượng trung bình và tốt (con số tương ứng của năm 2000 là 33 đến 45%)
4.1.5 Phát triển nuôi cá trong ruộng lúa là phương án phù hợp để đa
dạng hình thức canh tác tận dụng hợp lý hơn nguồn lợi, tài nguyên mặt nước ở các tỉnh Tây Bắc Nuôi cá trong ruộng lúa, vừa ổn định
năng suất và sản lượng lúa, đồng thời làm tăng hiệu quả kinh tế cho người dân, thu thêm khoảng từ 4-7 triệu đồng/ha Mô hình của đề tài
có thể mở rộng và giới thiệu cho các khu vực có tiềm năng
4.1.6 Nuôi cá ao trong hệ thống VAC với việc áp dụng tốt một số tiêu chuẩn kỹ thuật và có đầu tư phù hợp đã đạt kết quả cao: năng suất tăng hơn 2 lần (từ 1.595 kg lên 4.430 kg/ha), hiệu quả kinh tế cao (lãi
ròng từ 34,2- 41,4 triệu đồng/ha/năm) Tỷ lệ lãi suất nhìn chung đạt
trên 200% và thường thu được cao nhất ở mô hình có đầu tư vừa phải
Trang 5Thao luan chung
Các tỉnh Hoà Bình, Sơn La và Lai Châu được xếp trong vùng chậm
phát triển và có tỷ lệ nghèo đói cao Trong khi đó tiềm năng mọi mặt
cho phát triển nuôi trồng thuỷ sản ở đây được coi là khẳng định Một
trong những nguyên nhân đưa tới nghịch lý đó là những công nghệ
NTTS thích hợp cho vùng miền núi Tây Bắc với những điều kiện tự
nhiên và kinh tế-xã hội đặc thù chưa được phát triển, thử nghiệm và
phổ biến rộng rãi đến đồng bào các dân tộc ở đây để NTTS phát triển
mạnh mẽ
Phần thảo luận chung đã tập trung phân tích những thách thức và sự
cần thiết của các giải pháp chính như mở rộng hệ thống cung cấp
giống và đảm bảo chất lượng cá giống cho người nuôi, tính cấp bách
của vấn đề đa dạng hoá các loại hình nuôi cá, phát triển sinh kế và
tầm quan trọng của việc cải tiến những vấn đề cụ thể, chỉ tiết trong tất
cả các khâu của những công nghệ nuôi Phân tích hiệu quả của việc
vận dụng phương pháp tiếp cận mới trong điều tra đánh giá nông
thôn, thử nghiệm mô hình kỹ thuật và đẩy mạnh khuyến ngư cũng đã
được quan tâm Đó là phương pháp tham gia cộng đồng
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
4.1 Kết luận
4.1.1 Các tỉnh Hoà Bình, Sơn La và Lai Châu còn gặp nhiều khó
khăn trong phát triển kinh tế - xã hội và được đánh giá là các tỉnh có
hộ nghèo đói thuộc diện cao nhất nước Cơ sở hạ thiết yếu như điện,
đường, trường, trạm thiếu ảnh hưởng đến nâng cao trình độ dân trí
của người dân, nhân khẩu của nông hộ tương đối lớn; nghề nghiệp
chủ yếu là nông nghiệp (83-84,5%) nên nguồn thu nhập thấp
4 Điểm mới của đề tài
Lần đầu tiên ở nước ta vấn đề phát triển NTTS quy mô nhỏ (quy mô nông hộ) ở địa bàn miền núi với những điều kiện tự nhiên và kinh tế
xã hội khó khăn được tập trung giải quyết
Điểm mới thứ hai là trong thực hiện đề tài phương pháp tiếp cận phát triển kỹ thuật có sự tham gia cộng đồng được ứng dụng rộng rãi và có
hiệu quả
5 Bố cục luận án Luận án gồm 177 trang, với 21 hình và 33 bảng số liệu và 10 phụ lục,
bao gồm: Mở đầu 3 trang, Tổng quan tài liệu 21 trang, Phương pháp
nghiên cứu 9 trang, Kết quả nghiên cứu và thảo luận 67 trang, Kết luận và đề xuất ý kiến 2 trang, Danh mục các công trình công bố của tác gia l trang, Tài liệu tham khảo: 131 công bố (98 tài liệu tiếng
Anh và 33 tài liệu tiếng Việt) và Phụ lục 46 trang
CHƯƠNG 1: TONG QUAN TAI LIEU
Trong chương này đã tập trung vào việc cung cấp những thông tin chính trong 5 lĩnh vực:
I Đánh giá chung về tình hình nuôi trồng thuỷ sản trên thế giới và
Việt Nam trong những năm sần đây như sản lượng chuns, năng suất, giá trị và xu thế phát triển của lĩnh vực kinh tế này, đặc biệt đi sâu
phân tích các hệ thống canh tác rất đa dang cua NTTS
2 Làm rõ vai trò của NTTS, nhất là NTTS quy mô nhỏ, trong mối tương tác với phát triển nông thôn như phát triển sinh kế, xoá đói giảm nghèo, tăng thu nhập của dân nghèo và đảm bảo khẩu phần đạm
động vật quan trọng trong bữa ăn của người dân nông thôn
3 Điểm lại một số vấn đề chính trong quá trình phát triển phương
pháp tiếp cận mới và có vai trò rất quan trọng trong nghiên cứu nông thôn và khuyến ngư D6 là phương pháp tham gia cộng đồng.
Trang 64 Nêu lên một số đặc điểm chung nhất về điều kiện tự nhiên và kinh
tế xã hội của vùng nghiên cứu
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu
Phần thu số liệu điều tra và thử nghiệm công nghệ tại thực địa được
tiến hành từ tháng 2 năm 2000 đến tháng 4 năm 2003 tại 6 huyện
thuộc 3 tỉnh Hoà Bình, Sơn La và Lai Châu ( Lai Châu cũ bao gồm cả
tỉnh Điện Biên và Lai Châu hiện nay)
Đối tượng điều tra bao gồm 157 nông hộ nuôi cá được chọn ngẫu
nhiên thuộc 6 huyện trên Trong thử nghiệm kỹ thuật đã có 127 nông
hộ tham øgia (35 hộ ương cá giống, 30 hộ nuôi cá kết hợp lúa và 57
nông hộ phát triển nuôi cá ao trong hệ VAC và 5 hộ nuôi cá lồng)
2.2 Phương pháp điều tra kinh tế xã hội
- Thu thập số liệu thứ cấp nhờ các tài liệu tổng kết, lưu trữ, thống kê
hoặc các công bố khác về vùng nghiên cứu
- Điều tra trực tiếp bằng phương pháp phỏng vấn theo bộ câu hỏi Bộ
câu hỏi được xây dựng nhằm thu thông tin về tình hình kinh tế -xã hội
và hiện trạng kỹ thuật NTTS
2.3 Phương pháp thiết kế thử nghiệm trên quy mô nông hộ
Các thực nghiệm cải tiến kỹ thuật mới trong ương nuôi cá giống, nuôi
cá ruộng lúa, nuôi cá lồng và nuôi cá ao trong hệ VAC được áp dụng
cho các mô hình thực nghiệm Những vấn đề cải tiến kỹ thuật cụ thể
được thực nghiệm như bón vôi tẩy dọn ao, mật độ, quy cỡ cá giống
thả, quản lý chăm sóc và thu hoạch cho các hệ thống canh tác này
được trình bày chỉ tiết trong phần phụ lục (Phụ lục 2, 4, 5, 6, 7) Việc
thu thập số liệu về quá trình thực nghiệm theo mẫu thống nhất (Phụ
lục 3)
với họ xem như không đáng kể Mặc dù chi phí tiền giống còn chiếm
ty lé cao (gần 50%) trong tổng chi phí nhưng lãi vẫn đạt bình quân cho cả 3 tỉnh tới trên 39 triệu đồng Rõ ràng hiệu quả kinh tế đạt rất
cao và mô hình này đáng được nhân lên rộng rãi
Bảng 3.33: Hạch toán kinh tế cho Ì ha nuôi ca ao trong hé VAC
(nghìn đồngíha) Các thông số Hoà Bình Sơn La Lai Châu Tổng thể
Tổng thu 52.833,3+2.761,7 | 54.673,0£4.835,2 | 51.337,5+-3.586,2 53.155,8+2.331,9 Lãi 41.373.0+3.001,8 | 40.918,6+5.240,9 | 34.197,8+3.695,6 39,175,5+2.533,4
Trang 7
Mức tăng năng suất nuôi cá của các hộ áp dụng kỹ thuật mới được
dẫn ra ở Bảng 3.32 Chỉ số trung bình của cả 3 tinh dat 2.835 kg/ha
Tỉnh Sơn La mặc dù có năng suất khởi điểm (1999) cao nhất (2.064
kg/ha) nhưng mức tăng lại thấp nhất (2.492kg/ha), trong khi đó Lai
Châu có khởi điểm thấp nhất (1.312kg/ha) thì mức tăng lại đạt cao
nhất (2.966 kg/ha) Số liệu điều tra cho thấy trước thử nghiệm (1999)
năng suất cá nuôi ở 3 tỉnh khác nhau rõ rệt, và đạt độ tin cậy về mặt
thống kê, rõ nhất là giữa Sơn La và Lai Châu Tuy nhiên, dến năm
2002 sự sai khác này giảm mạnh và không còn có ý nghĩa giữa các
nhóm tham gia thực nghiệm của 3 tỉnh Điều đó chứng tỏ các hộ tham
gia thử nghiệm đều cố gắng áp dụng cải tiến kỹ thuật và trình độ tiếp
thu công nghệ mới tương đối đồng đều
Bang 3.32: Mức tăng năng suất nuôi cá (ke!lha) của 3 tính khi áp
dụng kỹ thuật từ năm 1999 so với năm 2002
Năng suất theo | Năng suất thực Mic tang, kg/ha
Trung binh Trung binh Trung binh P
Hoà Bình 1.622,0 +266,3 | 4.403,0+ 230,2 2.781,0 + 384,2 | 0,01
Son La 2.064,0+198,4 | 4.556,0+ 402,9 2.492,0 + 195,8 | 0,01
Lai Châu 1.312,0 + 64,7 4.278,0+298,9 2.966,0 + 195,8 | 0,01
Chung 3tỉỈnh | 1.595,0+91.4 4.430,0+ 194.3 2.835,0 + 188,5 | 0,01
Qua kiểm định giá trị í (7-fesf) có thể thấy năng suất cá nuôi của từng
tính trước và sau thử nghiệm đã tăng rõ rệt với độ tin cậy thống kê
99%
Khi hạch toán để thấy hiệu quả của nuôi cá trong hệ VAC chúng tôi
không tính đến chi phí nhân công chăm sóc cá, vì hầu hết các hộ
nông dân chỉ tranh thủ thời gian nhàn rỗi với thời lượng rất ít và đối
2.4 Phương pháp tiếp cận tổng quát của nghiên cứu
- Từ điều tra tình hình kinh tế xã hội, hiện trạng nuôi trồng thuỷ sản trong đó có chú trọng đến những khó khăn trở ngại của kỹ thuật, từ
đó phân tích những vấn đề cần giải quyết, phát triển kỹ thuật phù hợp
với sự tham gia cộng đồng Tiến hành thử nghiệm cấp nông hộ, tổng
kết kết quả đề thấy rõ tính thích hợp và đúng đắn của các giải pháp
- Cán bộ nghiên cứu hướng dẫn kỹ thuật tương ứng cho nông dân trong từng loại mô hình NTTTS ở nông hộ, giám sát, theo dõi việc thực
hiện và thu số liệu cần thiết trong suốt quá trình thử nghiệm
2.5 Phân tích số liệu điều tra và số liệu thu được từ thực nghiệm
nông hộ
Xử lý bằng chương trình thống kê đối với khoa học xã hội (SPSS/PC )
và EXCEL
- Trong phân tích kết quả thử nghiệm nuôi cá của các nông hộ đã áp dụng hàm số sản lượng Shang [79] để xác định mối quan hệ giữa năng suất nuôi và thu nhập, với các biến số đầu vào trone quá trình
nuôi như diện tích ao, số lượng thức ăn, phân bón, mật độ thả, kích
thước giống thả nhằm hoàn thiện thêm quy trình nuôi
CHƯƠNG 3: KẾT QUÁ NGHIÊN CỨU
3.1 Tiềm năng phát triển nuôi trông thuỷ sản ở các tỉnh Hoà
Bình, Sơn La, Lai Châu
Từ điều tra đánh giá tình hình kinh tế xã hội, có thể khẳng định rằng
ba tỉnh Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu có tiểm năng tương đối lớn về mặt nước, nguồn lợi thức ăn, nguồn lực lao động cho phát triển nuôi trồng thuỷ sản Các tỉnh này còn có truyền thống và tiềm năng nghề
nuôi cá ruộng, cá lồng bè trước đây đã phát triển trong vùng, song
không những không phát huy mà còn mai một gần như đã mất và trải
Trang 8qua nhiều thăng trầm, người dân cũng đã tích luỹ được một số bài hoc
kinh nghiệm
3.2 Hiện trạng kinh tế xã hội và kỹ thuật nuôi trồng thuỷ sản
nông hộ
3.2.1 Hiện trạng kinh tế xã hội
3.2.1.1 Quy mô nhân khẩu và lao động của các nông hộ :
Số liệu điều tra cho thấy: bình quân số nhân khẩu/hộ ở Hoà Bình (5,1
người/hộ) thấp hơn nhiều so với Sơn La (7,1 người/hộ) và Lai Châu
(7,5 người/hộ) Nhưng nhìn chung tỷ lệ này khá cao so với trune bình
nhiều địa phương trong cả nước Điều tra về tuổi chủ hộ ở khu vực
nghiên cứu cho thấy phần lớn nằm trong ba nhóm tuổi: 30-40
(khoảng 28%); 40-50 (32%) và 50-60 (20%) Đa số chủ hộ là nam
giới, tỷ lệ phụ nữ là chủ hộ rất thấp, chỉ chiếm bình quân 11,5% Kết
quả cũng cho thấy tỷ lệ giữ số lao động ( cả chính và phụ) và số
nhân khẩu trong hộ ở Hòa Bình đạt cao nhất (3,7/5,1), sau đến Sơn La
(4,6/7,1) va cuối cùng thấp nhất là Lai Chau (4,1/7,5) Điều này nói
lên sự cần thiết phải tìm phương án sản xuất đa dạng và phù hợp để
tận dụng hợp lý lao động chính và phụ của khu vực này
3.2.1.2 Thành phần dân tộc
Trong số các hộ điều tra, người Thái chiếm đến trên 75%, đứng thứ 2
là người Mường (khoảng 9%) Riêng đối với người Thái cũng có sự N/suét theo | Năng suất thực |Năng suất thực | Năng suất thực
khác nhau giữa 3 tỉnh (Hoà Bình 50%, Sơn La 93% và 72% ở Lai Tinh | điểu tral222 | nghiệm 2000 nghiệm 2001 nghiệm 2002
, : ¬ - - - Sơn 2.064,0+ 98,4 | 3.729,04360,9 3.994,0+549,6 4.556,0+402,9
Ty lệ chủ hộ có trình độ văn hoá cấp 2 chiếm phần chủ yếu (gần La
50%), tiếp đến là cấp 1 (hơn 30%), số có trình độ văn hoá từ cấp 3 trở Lại | 1:312,0% 64,7 | 3.385,08396,2 | 3.884,04298,8 | 4.278,0+298.9
au
lên chỉ đạt dưới 10% Trình độ văn hoá của chủ hộ ở đây tương đối Trung | 1.595,0+ 91.4 | 3.536,0£282,6 | 3.890,0+255,5 4.430,0+194,3
thấp cũng cần được lưu ý, vì có trình độ văn hoá cao thường biết lập bình
mà cỡ cá thu hoạch cũng có sự thay đổi rất lớn, điển hình như cá trắm
co trước năm 2000 thu hoạch từ cỡ 0,9 kg/con (Bảng 3.11), năm 2002 tăng lên trung bình 2,3 kg/ con (Bang 3.30) Vi vậy, năng suất cá nuôi
đã tăng đáng kể (Bảng 3.31) mà chất lượng sản phẩm cũng được nâng
cao hơn
3.4.3.3 Chế độ chăm sóc, thu hoạch cá Chế độ quản lý chăm sóc đã được khuyến cáo cho các hộ nông dân
tham gia thực nghiệm nuôi cá ao trong hệ VAC bằng những tài liệu hướng dẫn kỹ thuật (Phụ lục 5 và 7) Những vấn đề kỹ thuật rất cụ thể
về quản lý và chăm sóc đã được trình bày trong những hướng dẫn kỹ thuật nói trên
3.4.3.4 Năng suất nuôi cá ao trong hệ VAC của các hộ thực nghiệm
Nhờ áp dụng khá nghiêm chỉnh hướng dẫn kỹ thuật, năng suất cá nuôi írung bình của các hộ thử nghiệm ngày càng tăng rõ rệt (1.595,0
kg/ha năm 1999, 3.536 kg/ha năm 2000, 3.890 kg/ha và 4.430 kg/ha
năm 2002) (Bảng 3.31) Kiểm định giá trị / (7-resí) có thể thấy năng suất cá nuôi hàng năm của từng tỉnh trước và sau thử nghiệm đã tăng
rõ rệt với độ tin cậy thống kê > 95%
Bảng 3.31: Biến động năng suất nuôi cá (kelha) của 3 tỉnh khi áp
dụng kỹ thuật từ năm 1999-2002
Trang 9
Hoà Bình Có thể nói mô hình kết hợp cá-lúa đang được nhân lên
rộng rãi
3.4.2.2 Giới thiệu kỹ thuật nuôi cá lồng
Tuy số lượng các hộ tham gia thực nghiệm rất ít nhưng kết quả sơ bộ
thu được từ 2 mô hình thực nghiệm vẫn cho thấy hiệu quả kinh tế của
nuôi cá lồng miền núi Mô hình thứ nhất thu lãi là 6.108.000
đồng/năm, mô hình thứ 2 thu lãi 4.100.000 đồng, chủ yếu do công lao
động của gia đình đem lại
Điều này phần nào nói lên rằng nuôi cá lồng quy mô nhỏ nếu được
phát triển rộng rãi có thể góp phần quan trọng trong việc ổn định sinh
kế của bộ phận dân nghèo miền núi, đặc biệt đối với các nông hộ
không có ao, cũng không có khả năng nuôi cá theo mô hình cá lúa
3.4.3 Kết qua thực hiện giải pháp kỹ thuật nuôi cá ao rong hệ VAC
3.4.3.1 Chuẩn bị ao nuôi
Các hộ thực nghiệm đã đúng kỹ thuật từ tháo cạn, bón vôi và phơi đáy
ao làm giảm bớt các độc tố tại đáy ao và loại bỏ cá dữ cũng như các
sinh vật địch hại và mầm bệnh cho cá nuôi
3.4.3.2 Mat độ và cỡ cá giống tha
Một trong các giải pháp có tính chất quyết định năng suất và sản
lượng được đa số các hộ áp dụng đó là mật độ cá thả đã giảm trung
bình từ 8,2 con/mÝ trước năm 2000 xuống 2,0-3,0 con/m trong ao có
dòng nước chảy qua (Bảng 3.10, Phụ lục 5) và thậm chí 1,5 -2,0
con/nÝ đối với ao nước nh năm 2002 (Phụ lục 7) Tuy nhiên, trong
quá trình thực hiện, vẫn còn một số nông dân thả cá với mật độ cao,
từ 3,0-5,0 con/m’ và kết quả năng suất không cao như thả giống mật
độ vừa phải Kết quả nghiên cứu cho thấy khi nuôi cá ao với mật độ
giao động trong khoảng từ 1,5 đến 2,2 con/m cho năng suất cao nhất
(Hình 3.21) Chính vì mật độ và quy cỡ cá thả thay đổi (Bảng 3.29),
kế hoạch làm ăn tốt hơn, dễ tiếp thu cái mới và học hỏi những kinh
nghiệm hay hoặc các công nghệ mới dễ dàng hơn
3.2.1.4 Ngành nghề
Có thể thấy rằng, nghề nghiệp chính của chủ hộ được chia thành 5 nhóm, nhưng đại bộ phận số hộ có nghề chính là trồng trọt (70,5%) Một số (17,3%) chủ hộ hoạt động phi nông nghiệp như làm công ăn
lương, bộ đội nehỉ hưu, giáo viên, y tá, cán bộ thú y hoặc viên chức và
cán bộ khuyến nông, khuyến lân trong làng xã Khoảng 6% nông hộ
tự xác định nghề chính của họ là nuôi trồng thủy sản và chăn nuôi, vì nguồn thu nhập chính của gia đình là hai lĩnh vực sản xuất này
3.2.1.5 Tình hình thu nhập
Nguồn thu nhập chính của các hộ nông dân ở các tỉnh miền núi Tây Bắc là từ hoạt động sản xuất nông-lâm nghiệp Nguồn thu từ hoạt động nuôi trồng thuỷ sản rất nhỏ do chưa được quan tâm đầu tư thích
đáng Nhiều hộ chỉ xem đây là hoạt động kinh tế phụ
3.2.2 Hiện trạng kỹ thuật nuôi trồng thuỷ sản cấp nông hộ
3.2.2.1 Ao nudi
Ao nuôi cá ở các tỉnh miền núi thường được xây dựng theo địa hình nên diện tích dao động rất lớn, từ 60 đến 2500m7 Độ sâu trung bình
của các ao đạt từ 1,12m đến 1,30 m Số liệu điều tra cũng cho thấy
mối quan hệ giữa năng suất và diện tích ao được thể hiện khá chặt
chẽ Nguồn nước cho ao chủ yếu là nguồn nước mưa tự nhiên, một phần được lấy từ hệ thống thuỷ lợi, các suối và các khe Như vậy, mùa vụ thả và thời gian nuôi ở vùng này sẽ phụ thuộc rất lớn vào mùa mưa
3.2.2.2 Loại hình nuôi
Ở vùng nghiên cứu đại bộ phận các hộ gia đình nông dân nuôi cá thịt (98,7%) Đây là một trong những điểm đặc trưng của nuôi cá miễn
Trang 10núi ở phía Bắc Sản xuất giống kém phát triển thường gây ra tình
trạng thiếu con giống cả về lượng lẫn về chất Đây là thách thức lớn
đối với phát triển nuôi trồng thuỷ sản trong vùng nghiên cứu
3.2.2.3 Kỹ thuật chuẩn bị ao
Số liệu điều tra cho thấy cá trong ao của khoảng 90% hộ nông dân đã
bị mắc bệnh do không tẩy dọn và bón vôi cho ao Trong khi đó tỷ lệ
này thấp hơn rất nhiều đối với những hộ nông dân có tẩy dọn ao (47-
60%) dù việc tẩy dọn đó đã hoàn chỉnh hoặc còn đơn giản Số liệu về
mối tương quan nghịch giữa việc tẩy dọn ao với số ao cá bị nhiễm bệnh
đạt độ tin cậy ở mức P< 0,05
3.2.2.4 Vấn đề thả giống
Do điều kiện tiếp cận với nguồn mua cá giống hạn chế, nông dân thả
cá khi những người buôn cá giống mang đến Chỉ một ít gia đình có
khả năng tự túc được con giống Về nguồn gốc cá giống thì đa phần
số cá được thả do người bán rong cung cấp và chúng thường có chất
lượng thấp Một bộ phận người nuôi cá tuy đã mua giống từ các trại
giống tư nhân hoặc trại của nhà nước, nhưng cũng khó được đáp ứng
đầy đủ về mặt số lượng, chất lượng và mùa vụ thích hợp
Về quy cỡ cá thả, nhìn chung người nuôi cá ở vùng nghiên cứu còn sử
dụng cá giống nhỏ (Bảng 3.9) Có lẽ, khó khăn trong vận chuyển cá
giống có kích thước lớn cũng như tâm lý thích mua con giống nhỏ giá rẻ
là hai nguyên nhân chính giải thích cho hiện tượng này
Mật độ cá thả ở 3 tỉnh trung bình là 8,2 con/m So với tiêu chuẩn
ngành, thì mật độ thả cá ở các tỉnh này cao hơn nhiều lần, nhất là tỉnh
Hoà Bình cao hơn đến 5 lần Chính mật độ thả giống quá dầy là một
trone nhữne nguyên nhân dẫn đến cỡ cá thịt thu hoạch ở đây rất nhỏ
mà năng suất nuôi cũng khó đạt cao Những số liệu về điều tra kể trên
tuy chưa đầy đủ nhưng phản ánh phần nào tính yếu kém của hệ thống
các hộ thực nghiệm nuôi cá ruộng họ đều khẳng định rằng sản lượng lúa không siảm mà tăng so với ruộng không nuôi cá
Bảng 3.27 : Năng suất nuôi cá trong ruộng lúa của các hộ tham gia
thực nghiệm (kslhalnăm)
Tên tỉnh N Trung binh Nhỏ nhất | Lớn nhất
Hoà Bình |7 642,4 + 108,5 285,7 975,0
Bảng 3.25: Hạch toán kinh 1é so bộ cho l ha nuôi cá ruộng (nghìn
đồng!halnăm)
SỐ
Chi voi 53,9 + 8,6 73,6 + 9,4 86,5 + 10,2 729+5,9 Chi T/A 207,1 + 23,6 196,3 + 13,4 217,2 +23,9 205,1 + 10,7 xanh
Chi cam 239,1 +21,7 314,8 17,2 386,4 + 24,6 31,9+15,3 Chi P/ 340,9 +33,4 288,0 + 13,8 357,9 + 21,6 321,3 + 12,9
chuồng
Chi giống 1.670,0+ 62,1 1743,2 + 73,5 | 1874,4+47,8 | 1765,5 +52,9 Tong chi 2.511,1+206,6 2.615,9+ 78,6 | 2.922,4+ 57,8 | 2.683,4 + 67,3 Tong thu 9.636,0£1.627,5 | 6.104,94 65,5 | 4.950,0+ 26,4 | 6.582,3+ 03,1 Lai 7.124,941.799,4 | 3.488,94 58,7 | 2.027,64221,1 | 3.898,9+ 44,9 Hạch toán kinh té cho 1 ha nuôi cá ruộng (Bảng 3.28) cho thay mac
dù hiệu quả của nuôi cá ruộng mới đạt ở mức độ vừa phải, nhưng khi
ngành nông nghiệp đang xây dựng mô hình cánh đồng đạt tổng doanh
thu 50 triệu đồng/ha, thì sự đóng góp thêm của cá (cả doanh thu và lãi ròng) trong ruộng lúa ở miền núi rõ ràng là đáng kể, nhất là ở tỉnh