ĐÁNH GIÁ NGUỒN LỢI CÁ BẠC MÁ KHAI THÁC BẰNG NGHỀ LƯỚI VÂY Ở VÙNG BIỂN VEN BỜ TỪ NGHỆ AN ĐẾN BẾN TRE
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Bộ nông nghiệp
Trang 2Luận án được hoàn thành tại Phòng Nghiên cứu nguồn lợi biển, Viện Nghiên cứu Hải sản, Bộ Thuỷ sản
Người hướng dẫn khoa học:
1- GS TS Vũ Trung Tạng
2- TS Chu Tiến Vĩnh
Phản biện 1: GS TS Mai Đình Yên
Phản biện 2: PGS TSKH Trần Mai Thiên
Phản biện 3: PGS TS Nguyễn Đình Mão
Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước, họp tại: Viện Nghiên cứu Hải sản - Hải Phòng
Vào hồi 09 giờ, ngày 04 tháng 12 năm 2007
Có thể tìm hiểu luận án tại thứ viện Quốc gia, thư viện Viện Nghiên cứu Hải sản
Trang 3Mở đầu Biển Đông được đánh giá là biển có đa dạng sinh học cao và có nguồn lợi hải sản khá phong phú, trong đó cá nổi nhỏ là một trong những đối tượng khai thác quan trọng Một số loài cá nổi nhỏ thuộc giống cá Nục (Decapterus), cá Bạc má (Rastrelliger) phân bố rộng
ở vùng biển khu vực Đông Nam á
Cá Bạc má là một trong những loài luôn chiếm vị trí hàng đầu về
tỷ lệ trong sản lượng cá nổi nhỏ, và là loài cá được tiêu thụ nhiều trong thị trường nội địa, không những chỉ cho cộng đồng dân cư ven biển mà còn cung cấp nguồn đạm động vật cho cộng đồng dân cư ở vùng sâu, vùng xa, miền núi
Những năm gần đây, do tàu thuyền tập trung khai thác vùng ven bờ, nên nguồn lợi hải sản nói chung và nguồn lợi cá nổi nhỏ, trong đó có cá Bạc má có chiều hướng suy giảm Do đó, việc nghiên cứu đặc điểm sinh học, tập tính di cư , đánh giá nguồn lợi để phát triển nghề cá bền vững là rất cần thiết Vì tầm quan trọng của cá Bạc má, tác giả đ nhận đề tài “
Đánh giá nguồn lợi cá Bạc má Rastrelliger kanagurta (Cuvier, 1816) khai thác bằng nghề lưới vây ở vùng biển ven bờ từ Nghệ An
đến Bến Tre”
* Mục đích của luận án
- Đánh giá hiện trạng và biến động nguồn lợi cá Bạc má Rastrelliger kanagurta, góp phần xây dựng cơ sở khoa học nhằm đánh giá biến
động nguồn lợi cá nổi nhỏ ở vùng biển Việt Nam
- Đề xuất phương hướng khai thác hợp lý và bảo vệ nguồn lợi theo quan điểm phát triển nghề cá bền vững
* ý nghĩa khoa học của luận án
- Đóng góp vào công tác nghiên cứu cơ bản về các chỉ số quản lý nghề cá và quản lý nguồn lợi cá nổi nhỏ khai thác bằng nghề lưới vây
Trang 4ở biển Việt Nam, nhằm khai thác hợp lý, duy trì và phát triển bền vững nguồn lợi này
- Góp phần xây dựng cơ sở khoa học lý thuyết đánh giá biến động nguồn lợi cá nổi nhỏ ở vùng biển Việt Nam
* ý nghĩa thực tiễn của luận án
- Góp phần nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện nguồn lợi cá Bạc má khai thác bằng nghề lưới vây ở vùng biển Việt Nam
- Cung cấp được những dẫn liệu về xu hướng biến động sản lượng và năng suất khai thác nguồn lợi cá Bạc má theo đội tàu, không gian và thời gian ở biển Việt Nam
- Góp phần tìm hiểu và làm sáng tỏ nguyên nhân biến động nguồn lợi cá nổi nhỏ ở biển Việt Nam, từ đó thiết lập định lượng các mô hình dự báo biến động nguồn lợi cá ở vùng biển này trong tương lai gần, phục
Chương 1 : Tổng quan tài liệu
Chương 2 : Tài liệu và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 : Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Luận án đ sử dụng 165 tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt, Anh
Chương 1 Tổng quan tài liệu
1.1. Tình hình nghiên cứu cá Bạc má trên thế giới và trong khu vực
1.1.1 Thế giới
Trang 5Cá Bạc má là một đối tượng được quan tâm nghiên cứu từ rất sớm Trong đó, ở ấn Độ được coi là nước được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất, tiếp theo là vùng biển Mozambique, vùng biển Tây ấn
Độ - Thái Bình Dương, ả Rập và Zanzibar Từ những công trình đ công bố sớm nhất của Devanesen (1942), John & Menon (1942), Pradhan (1956) và Sheshappa (1958) cho đến công trình công bố gần
đây nhất của Zakaria và nnk (2000), Stephensan & Smedbol (2001), Cushing (2001) và Fernando (2002).Đối với các vùng biển khác như: Sri Lanka, Seychelles, Ai-Cập, New-Caledonia, Godavary, phía Bắc nước úc và Đài Loan chỉ tìm được 2 - 3 công trình công bố về cá Bạc má Các nghiên cứu đề cập các vấn đề như sau: Xác định các chỉ số quản lý nghề cá như: Thành phần sản lượng, tổng sản lượng, năng suất đánh bắt Xác định các chỉ số quản lý nguồn lợi: Biến động thành phần chiều dài, các tham số biến động chủng quần, kích thước tuổi đánh bắt, kích thước thành thục, đánh giá trữ lượng và khả năng khai thác Nghiên cứu đặc điểm sinh học: Sinh sản, sinh trưởng, dinh dưỡng, phân bố, di cư, hình thái và cấu trúc chủng quần
1.1.2 Trong khu vực
Cá Bạc má ở các nước trong khu vực như: Malaysia, Indonesia, Philippines, Thái Lan và Cămpuchia chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều so với các vùng biển khác trên thế giới.Nguồn lợi cá Bạc má ở các nước này đ có một số công trình nghiên cứu, đặc biệt trong những năm gần đây, việc nghiên cứu về trạng thái nguồn lợi, phân
bố sản lượng, đặc điểm sinh học và các tham số biến động chủng quần của loài này đ được quan tâm hơn.Tuy nhiên, nghiên cứu sâu hơn về biến động nguồn lợi của loài này, đặc biệt về đánh giá trữ lượng và dự báo khả năng khai thác còn rất hạn chế
Trang 61.2 Đặc điểm điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu
Khái quát các đặc điểm điều kiện tự nhiên như đặc điểm vị trí địa
lý thềm lục địa, đặc điểm khí tượng và thuỷ văn biển, phân bố sinh vật phù du, trứng cá và cá con là rất cần thiết để nghiên cứu nguồn lợi cá Trong mục này, tác giả đ tập hợp và tóm lược các tài liệu và một
số công trình nghiên cứu về biển và tài nguyên thuỷ sản được công
bố trong những năm gần đây của các tác giả Lê Đức Tố (1995), Bộ Thuỷ sản (1996), Đinh Văn Ưu (2000), Lê Đức Tố và nnk (2003), Phạm Thược và nnk (2003), Nguyễn Tiến Cảnh (1991), Nguyễn Hữu Phụng (1991) để đưa ra một số đặc điểm chung về điều kiện tự nhiên của vùng biển nghiên cứu có liên quan với nội dung luận án
1.3 Tình hình nghiên cứu cá Bạc má ở Việt Nam
Nghiên cứu cá Bạc má từ trước đến nay mới tập trung chủ yếu vào điều tra chung toàn bộ cá nổi nhỏ trên các vùng biển Việt Nam thuộc các chương trình điều tra của Viện Nghiên cứu Hải sản có hợp tác với các cơ quan nghiên cứu trong và ngoài nước khác kể từ năm 1961- 2006 Tuy vậy, có thể kể một số công bố về thành phần sản lượng của Bùi Đình Chung (1981) Bùi Đình Chung và nnk (1991), Nguyễn Xuân Lộc và nnk (1985), Phạm Thược (1991), về đặc điểm sinh học của Vũ Trung Tạng (1979), Chu Tiến Vĩnh (1980), Bùi Đình Chung và nnk (1998), Phạm Thược và nnk (2003) Nhìn chung, các nghiên cứu về sản lượng của cá Bạc má khai thác theo thời gian, không gian và theo đội tàu đánh bắt cho toàn vùng biển Việt Nam còn rất hạn chế Các tham số sinh trưởng, mức chết, tuổi đánh bắt thích hợp, nghiên cứu về đánh giá nguồn lợi, đặc biệt về đánh giá trữ lượng và dự báo khai thác của cá Bạc má ở biển Việt Nam còn rất ít Mô hình phân tích thế hệ và các mô hình dự báo đối với cá Bạc má còn chưa thấy công bố
Trang 7Chương 2 Tài liệu và phương pháp nghiên cứu 2.1 Tài liệu
Tài liệu chủ yếu được thu thập thông qua một số chương trình, dự
án, đề tài của Viện Nghiên cứu Hải sản đ tiến hành độc lập, hoặc với
sự hợp tác với nước ngoài như sau: Dự án “Đánh giá nguồn lợi sinh vật biển Việt Nam- ALMRV II” với hệ thống thu mẫu thống kê tại 28 tỉnh trong cả nước từ năm 1996 đến 2005 Đề tài “Nghiên cứu nguồn lợi cá nổi nhỏ, (chủ yếu là cá Nục, cá Bạc má, cá Cơm) ở biển Việt Nam”, thực hiện trên tàu Nghiên cứu Biển Đông bằng các thiết bị thuỷ âm và lưới kéo trung tầng và lưới kéo đáy từ năm 2003-2006 Đề tài “Xây dựng các Dự báo khai thác hải sản” (nhiệm vụ thường xuyên của Viện Nghiên cứu Hải sản) Dự án “ Thu thập thông tin nghề cá nổi nhỏ bền vững ở Biển Đông” thuộc chương trình hợp tác Trung tâm Phát triển Nghề cá Đông Nam á (SEAFDEC) hợp tác với các nước trong khu vực và Viện Nghiên cứu Hải sản tiến hành từ năm
2002 – 2006 là nguồn tài liệu chính trong luận án này
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Cá Bạc má Rastrelliger kanagurta (Cuvier, 1816) là loài cá nổi nhỏ quan trọng đ được chọn làm đối tượng nghiên cứu
2.3 Địa điểm nghiên cứu
- Thu thập số liệu trên các tàu nghiên cứu và khảo sát của Viện Nghiên cứu Hải sản tại các vùng biển Việt Nam (Phụ lục 2.3)
- Thu thập số liệu tại điểm lên cá của nghề lưới vây của 5 tỉnh (Phụ lục 2.4): Nghệ An (đại diện cho khu vực vịnh Bắc Bộ), Quảng Nam
và Khánh Hòa (đại diện cho khu vực miền Trung), Bình Thuận và Bến Tre (đại diện cho Đông Nam Bộ)
Trang 8Phụ lục 2.3 Các vùng biển và
hệ thống trạm nghiên cứu
(Dự án ALMRV)
Phụ lục 2.4 Địa điểm thu mẫu nghề cá thương phẩm vùng ven biển (dự án SEAFDEC) 2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Thu mẫu về sản lượng
- Phỏng vấn trực tiếp thuyền trưởng của các tàu lưới vây khi đi biển
về để thu thập các thông tin chung về chuyến biển
- Gửi biểu mẫu ghi kết quả đánh lưới cho đội tàu lưới vây và thu lại khi tàu về bến
2.4.2 Thu mẫu và phân tích sinh học
- Tại mỗi điểm lên cá, hàng tháng tiến hành đo chiều dài toàn thân hàng loạt 200 cá thể và phân tích sinh học 50 cá thể, đồng thời tiến hành thu tuyến sinh dục, thu dạ dày, thu vẩy và nhĩ thạch Tiến hành đo 20 chỉ tiêu hình thái cá Bạc má theo sơ đồ đo của SEAFDEC (2004) tại điểm Nghệ An và Khánh Hòa
- Phân tích độ chín muồi tuyến sinh dục bằng mắt thường theo thang 5 bậc của SEAFDEC (2004) Xác định độ no dạ dày theo
Trang 9thang 5 bậc của Nikolsky (1963) Phân tích dinh dưỡng và đếm số lượng trứng bằng kính giải phẫu soi nổi Vẩy sau khi làm sạch đọc trực tiếp dưới kính soi nổi có độ phóng đại 10 - 400 lần, theo hướng dẫn của Pravdin (1973) Đo chiều dài nhĩ thạch từ tâm đến các vòng năm bằng phần mềm Image-Pro Express 4.5
2.4.3 Phân tích và xử lý số liệu
- Xác định cấu trúc chủng quần cá: Chuẩn hoá số đo theo phương trình tương quan của Reist (1986) và phân tích bằng phần mềm thống kê sinh học: EXCEL và MINITAB 14.0
- Ước tính các tham số sinh trưởng: Sử dụng số liệu tần suất chiều dài
để tính các tham số sinh trưởng và chỉ số sinh trưởng theo mô hình sinh trưởng von Bertalanffy và ELEFAN I trong phần mềm FiSAT II
- Ước tính Lm50: được ước tính bằng phương pháp hồi quy không tuyến tính lặp theo công thức Udupa (1989)
- Các phương pháp xác định hệ số chết: Ước tính hệ số chết chung Z theo phương pháp đường cong sản lượng Powell-Wetherall trong phần mềm FiSAT II, tính hệ số chết tự nhiên M theo công thức của Pauly, tính hệ số chết do khai thác F bằng phương pháp Paloheimo, theo biểu thức F = Z - M dựa vào phần mềm FiSAT II
- Xác định xác suất đánh bắt: theo đường cong Logic Pauly (1984)
- Đánh giá trữ lượng: tính trữ lượng cho từng nhóm chiều dài bằng mô hình phân tích chủng quần ảo (VPA) trong phần mềm FiSAT II
- Sản lượng khai thác bền vững tối đa: tính sản lượng khai thác bền vững tối đa (MSY)theo công thức thực nghiệm Cadima
- Các phương pháp dự báo: dự báo định hướng và phương thức điều chỉnh và phát triển nghề cá hợp lý, nhằm đạt khả năng khai thác tối
đa trên một đơn vị bổ sung theo mô hình sản lượng trên lượng bổ sung tương đối của Beverton & Holt (1957)
Trang 10- Dự báo trữ lượng và sản lượng khai thác dưới áp lực khai thác khác nhau theo mô hình Thompson & Bell bằng phần mềm FiSAT II
Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 3.1 Đặc điểm hình thái, phân loại và cấu trúc chủng quần
3.1.1 Đặc điểm hình thái và phân loại
Cá Bạc má thuộc:
Ngành dây sống: Chordata; Phân ngành có xương sống: Vertebrata; Lớp cá xương: Osteichthyes, Bộ cá Vược: Perciformes,
Họ cá Thu ngừ: Scombridae, Giống cá Bạc má: Rastrelliger, Loài cá Bạc má: Rastrelliger kanagurta (Cuvier, 1816)
3.1.2 Cấu trúc chủng quần
Theo kết quả phân tích DA thì cá Bạc má ở hai vùng biển Nghệ
An và Khánh Hoà thuộc hai quần đàn khác nhau Đồ thị thống kê thành phần PCA giữa PC1 và PC2 (Hình 3.2) của tất cả cá thể cho thấy sự khác biệt rõ ràng giữa hai vùng biển này
Hình 3.2 Đồ thị PCA của cá Bạc má ở hai vùng biển
Nghệ An và Khánh Hoà
Trang 113.2 Phân bố, biến động sản lượng
3.2.1 Cơ cấu đội tàu nghề lưới vây
Các đội tàu khai thác hải sản ở các vùng biển vịnh Bắc Bộ, Trung
Bộ và Đông Nam Bộ đ được thống kê có 76.176 chiếc, trong đó đội tàu lưới vây là 6.024 chiếc chiếm 7,9% ở vùng biển vịnh Bắc Bộ, tàu lưới vây chiếm 2,9%, Trung Bộ chiếm 12,8% và Đông Nam Bộ chiếm 6,6% Dựa trên m lực máy chính, đội tàu của nghề lưới vây
được chia theo các nhóm công suất như sau: nhóm công suất < 20 cv, 20-50 cv, 50-90 cv, 90-150 cv, 150-400 cv và > 400cv (Bảng 3.4)
Bảng 3.4 Cơ cấu đội tàu lưới vây (chiếc) theo công suất máy
(Nguồn: Bộ Thuỷ sản, 2005) Vùng biển
Nhóm công
Tỷ lệ (%) của tổng
Thành phần sản lượng của cá đánh bắt được bằng nghề lưới vây của tỉnh Quảng Nam, chủ yếu là cá Nục thuôn (35,6%), sau đó
Trang 12cá Nục sồ (16,7%), cá Bạc má đứng thứ 3 chiếm 4,9% trong tổng sản lượng Tỷ lệ sản lượng cá Bạc má của tỉnh này, biến động lớn và có
xu hướng giảm dần từ năm 2003 đến năm 2005 Trong năm 2003 tỷ
lệ sản lượng của cá Bạc má là 5,6% đến năm 2005 giảm còn 4,7% Khánh Hoà, thành phần sản lượng của cá Bạc má đánh bắt được bằng nghề lưới vây rất thấp so với các tỉnh trên, chỉ chiếm 2,1% trong tổng sản lượng và biến động lớn qua các năm khai thác Trong năm 2003, thành phần sản lượng cá Bạc má chiếm tỷ lệ không đáng
kể trong tổng sản lượng khai thác, năm 2004 thành phần sản lượng cá Bạc má chiếm 4,2%, năm 2005 chiếm 1,8%
Thành phần sản lượng của cá Bạc má đánh bắt được bằng nghề lưới vây của tỉnh Bình Thuận, tương đối cao so với các tỉnh trên, chiếm 12,4% đứng thứ 3 sau cá Nục sồ (34,8%) và cá Nục thuôn (27,4%) Tỷ lệ sản lượng của cá Bạc má từ năm 2003 - 2005 biến
động lớn và có xu hướng tăng dần Tỷ lệ sản lượng của cá Bạc má, năm 2003 chiếm 7,8%, năm 2004 chiếm 11,9% và năm 2005 chiếm 17,6% trong tổng sản lượng khai thác của nghề lưới vây
Thành phần sản lượng của cá Bạc má đánh bắt được bằng nghề lưới vây của tỉnh Bến Tre, chỉ chiếm 4,0% trong tổng sản lượng khai thác, nhưng vẫn đứng thứ 3 sau cá Nục sồ (32,8%) và cá Nục thuôn (12,2%) Tỷ lệ sản lượng biến động không lớn, năm 2003 chiếm 3,6%, năm 2004 chiếm 2,9% và năm 2005 chiếm 5,5%
3.2.2.2 Sản lượng và năng suất đánh bắt
ở vùng biển vịnh Bắc Bộ, năng suất đánh bắt của các đội tàu và sản lượng khai thác tương đối cao và biến động rất lớn qua các tháng khai thác Cá Bạc má cho sản lượng khai thác và năng suất
đánh bắt cao trong các tháng 1, 2, 3, 9, 10, 11 và 12
ở vùng biển Trung Bộ, năng suất đánh bắt và sản lượng khai thác
Trang 13của cá Bạc má ở vùng biển này cũng tương tự như vùng biển vịnh Bắc
Bộ, biến động rất lớn qua các tháng khai thác Mùa vụ đánh bắt ở vùng biển này rất hạn chế thay đổi theo từng năm khai thác và phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện khí hậu, nên có những tháng không
có sản lượng
Còn ở vùng biển Đông Nam Bộ, giống các vùng biển trên, năng suất đánh bắt và sản lượng khai thác của cá Bạc má biến động rất lớn qua các tháng khai thác Các tháng 1, 2, 3, 10, 11 và 12 đều là những tháng cho sản lượng và năng suất đánh bắt cao so với các tháng khác
3.2.2.3 Tổng sản lượng cá Bạc má của nghề lưới vây
Sản lượng cá Bạc má của nghề lưới vây của các vùng biển nghiên cứu trên biến động lớn qua các năm khai thác và đều có xu hướng giảm xuống ở vùng biển vịnh Bắc Bộ, đ ước tính được sản lượng cá Bạc má là 4.190 tấn trong năm 2003, 6.633 tấn năm 2004 và 3.703 tấn năm 2005, trung bình khoảng 4.842 tấn ở vùng biển Trung, đ ước tính trong năm 2003 là 2.904 tấn, năm 2004 là 5.428 tấn và năm
2005 là 3.818 tấn, trung bình là 4.050 tấn ở vùng biển Đông Nam
Bộ, sản lượng cá Bạc má tương đối cao trong năm 2003 là 11.511 tấn
đến năm 2005 chỉ còn 3.769 tấn, trung bình là 6.560 tấn
3.2.3 Phân bố sản lượng
3.2.3.1 Phân bố sản lượng theo dải độ sâu
Mật độ của cá tăng dần từ độ sâu 20 m đến 50 m, năng suất đánh bắt tăng từ 0,27 kg/giờ đến 0,83 kg/giờ Tần số xuất hiện (%) của cá Bạc má trong phạm vi này cũng cao hơn ở các độ sâu khác ở những nơi có độ sâu lớn hơn 100 m hầu như không bắt được cá Bạc má bằng lưới kéo đáy Các dải độ sâu mà lưới kéo đáy đánh bắt được cá Bạc má có năng suất cao nhất là từ 30 - 50 m